Cân nhanh chóng xây dựng chính thức lộ trình phát triển KHCN cho ngành cơ khí chế tạo máy. Cho đến nay, sau khi Thủ tướng chính phủ Quyết định Chiến lược
phát triển của ngành cơ khí chế tạo máy và Chiến lược phát triển KHCN Việt Nam đến năm 2010 vẫn chưa có những hoạch định cụ thể phát triển KHCN của ngành.
Điều này là cực kỳ quan trọng với ý nghĩa chúng ta phát triển ngành phải dựa trên nền tảng KHCN. Mỗi nước khác nhau trên thế giới đều có bước đi rất khác nhau, có hoạch định chiến lược chính xác mới biết nhập công nghệ gì, đầu tư nghiên cứu gì...khâu nào cần đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực theo hướng nào...Có như vậy mới phát huy hết hiệu quả đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển thay vì chỉ thực hiện những nhiệm vụ quá vụn vặt như hiện nay.
4) Đâu tư tài chính vào hoạt động KHCN còn bạn hẹp đã làm cho ngành cơ khí không tự hiện đại hoá được chính mình.
Thực tế cho thấy đầu tư tài chính cho ngành cơ khí trong cả nước là rất nhỏ bé, cho đến trước năm 2000, ngoài một số doanh nghiệp EDI do mới đầu tư có công nghệ tương đối tiến tiến, cơ sở vật chất khang trang (chủ yếu trong lĩnh vực lắp ráp ôtô, xe máy, điện tử có khả năng sớm thu hồi vốn), các doanh nghiệp cơ khí nhà nước hầu như không được đầu tư. Từ năm 2000 đến nay số các doanh nghiệp được hễ trợ đầu tư mới bắt đầu tăng. Tuy vậy so với các ngành kinh tế khác số vốn là không đáng kể và còn rất nhiều khó khăn. Các doanh nghiệp phần nhiều không có cơ hội đầu tư đổi mới nâng cao trình độ công nghệ, do vậy đầu tư vào hoạt động nghiên cứu triển khai chỉ trông chờ vào nguồn vốn ít oi của Nhà nước. Quyết định 186/QĐ-TTg cho phép các doanh nghiệp được trích 2% doanh thu đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển nhưng rất ít doanh nghiệp thực hiện được việc này. Ngành cơ khí hiện đang có giá trị tổng sản lượng chiến đến 22,3% tổng giá trị của toàn ngành công nghiệp. Để phát triển chiếm lĩnh thị trường rất cần phải có sự trợ giúp thoả đáng từ phía Nhà nước.
3.4 chương trình nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ chế tạo máy giai đoạn 2001+2005.
Mở đầu kế hoạch khoa học công nghệ 5 năm 20012005, ngày 24/05/2001, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã ký quyết định số 82/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ Khoa học và Công nghệ chủ yếu và danh mục các Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn 5 nam 2001+2005.
Ngay 11 tháng 6 năm 2001, Bộ trưởng Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) đã ký các Quyết định phê duyệt mục tiêu, nội dung 10 Chương trình Khoa học và Công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước giai đoạn
2001+2005, trong đó có Chương trình Nghiên cứu Khoa học và phát triển Công nghệ Chế tạo máy mang mã số KC.05.
Mục tiêu và nội dung chủ yếu của Chương trình KC.05, trong Quyết định số 20/2001/QD-BKHCNMT 1a:
- XAy dung tiém luc Khoa học và Công nghệ làm cơ sở cho việc tiếp nhận thích nghi, làm chủ, cải tiến và phát triển Công nghệ Cơ khí Chế tạo máy.
- Nấm vững, áp dụng vào sản xuất và nâng cao các công nghệ cơ bản tiên tiến trong lĩnh vực chế tạo máy.
- Chế tạo được những máy móc, thiết bị dây chuyền công nghệ, phụ tùng thay thế thích hợp với điều kiện Việt Nam trong các lĩnh vực: Công nghiệp chế biến và sản xuất nông lâm hải sản, sản xuất hàng tiêu dòng, vật liệu xây dựng, dệt may, y tế, glao thông vận tải, xây đựng, quốc phòng, môi trường, đo kiểm, máy công cụ CNC.
Nội dung chủ yếu của chương trình:
- Nghiên cứu nắm vững, làm chủ và nâng cao các công nghệ cơ bản tiên tiến như: công nghệ tạo phôi, công nghệ gia công cơ khí, công nghệ xử lý bề mặt, công nghệ lắp ráp bằng những công nghệ cao để áp dụng vào chế tạo máy, thiết bị, dây chuyền công nghệ, phụ tùng thay thế.
- Nghiên cứu áp dụng các thành quả của tin học, vật liệu mới, phóng sinh học, tự động hóa,... vào lĩnh vực chế tạo máy.
- Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế thuộc các lĩnh vực: công nghiệp chế biến và sản xuất nông lâm hải sản, sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, y tế, giao thông vận tải, xây dựng, quốc phòng, môi
trường, đo kiểm, máy công cụ CNC.
- Nghiên cứu các vấn đề khoa học và công nghệ trong lĩnh vực chế tạo, phục hồi, sửa chữa các máy móc, thiết bị, phụ tùng thay thế và chẩn đoán tình trạng kỹ thuật của máy móc, thiết bị và hệ thống.
- Nghiên cứu các vấn đề về kinh tế - kỹ thuật trong chế tạo máy theo hướng chuyên môn hóa và hợp tác hóa cao.
Từ mục tiêu và nội dung chủ yếu nêu trên, trong quá trình thực hiện với những đòi hỏi bức xúc của thực tế sản xuất, với tư duy đổi mới, Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho phép Chương trình hàng năm tuyển chọn thêm các Đề tài, Dự án mới. Tính đến nay Chương trình đang triển khai 24 Đề tài nghiên cứu và 6 Dự án sản xuất thử nghiệm, thu hút nhiều trường Đại học, hàng chục Viện nghiên cứu, hàng chục Cơ sở sản xuất từ Bắc đến Nam chủ trì hoặc tham gia phối hợp nghiên cứu thử nghiệm. Các Đề tài, Dự án này bao quát hầu hết các nội dung Khoa học Công nghệ của chế tạo máy: từ nghiên cứu ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong chế tạo máy đến thiết kế, chế tạo các mẫu máy móc, thiết bị, phụ tùng, dây chuyển công nghệ thuộc nhiều lĩnh vực sản xuất và đời sống thay thế cho hàng nhập khẩu, hướng tới xuất khẩu.
Nhiều để tài đã có sản phẩm đưa vào ứng dụng trong sản xuất hoặc có sản phẩm thay thế nhập ngoại, như các Đề tài:
KC.05.01 "Nghiên cứu công nghệ tạo mẫu nhanh để gia công các chi tiết có bể mặt phức tạp", KC.05.02 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo động cơ Diezel loại từ 1 đến 3 xi lanh công suất từ 30HP đến 45HP và nghiên cứu sản xuất phụ tùng cho động cơ Diezel công suất từ 400HP đến 600HP”, KC.05.04 "Nghiên cứu công nghệ chế tạo và lắp ráp các linh kiện quang học của thiết bị nhìn đêm dựa trên nguyên lý khuyếch đại ánh sáng mờ", KC.05.05 "Nghiên cứu công nghệ đúc các chỉ tiết máy đặc biệt bằng 32
gang cầu cường độ cao, gang hợp kim", KC.05.06 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo hệ thống máy phay, tiện điều khiển số bằng máy tính (CNC) phục vụ cho đào tạo nghề cơ khí", KC.05.07 "Nghiên cứu thiết kế và công nghệ để chế tạo thiết bị đóng cọc nhiều hướng trên xà lan 2000 tấn phục vụ thi công công trình thủy”, KC.05.11
"Nghiên cứu ứng dụng hệ thống tính toán song song hiệu năng cao để lập trình gia công bề mặt khuôn mẫu trên máy công cụ CNC", KC.05.13 "Nghiên cứu qui trình công nghệ kiểm soát đánh giá trạng thái kỹ thuật của máy móc, thiết bị bằng phương pháp phân tích dao động, nhiệt độ và dầu bôi trơn", KC.05.16 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo các khuôn dập vỏ ô tô", KC.05.17 "Nghiên cứu thiết kế chế tạo máy ép thuỷ
lực 400 tấn có điều khiển Logic theo chương trình (PLC)”.
Các Dự án sản xuất thử nghiệm sau đây đã cho những sản phẩm đầu tiên phục vụ sản xuất:
Dự án KC.05.DA.01 "Chế tạo dây chuyền chế biến thức ăn gia súc đến 3tấn/giờ có điều khiển tự động", Dự án KC.05.DA.02 "Hoàn thiện công nghệ chế tạo hộp giảm tốc cỡ lớn".
Có những Đề tài đã cho thấy hiệu quả khoa học và hiệu quả kinh tế tương đối rõ nét nhu Dé tai KC.05.01, KC.05.02, KC.05.04, KC.05.05, KC.05.06, KC.05.07, KC.05.11, KC.05.13, KC.05.16, v.v...
Nhìn chung việc quản lý, đánh giá thực chất các Đề tài trong Chương trình tương đối chặt chẽ do có sự phối hợp nhịp nhàng giữa Ban Chủ nhiệm Chương trình với các Vụ hữu quan của Bộ Khoa học và Công nghệ, với các Cơ quan thực hiện Đề tài trong những lần kiểm tra.
Chương trình KC.05 theo hướng gắn chặt hơn nữa việc nghiên cứu với sản xuất và tăng cường sự hợp tác giữa các Viện nghiên cứu, các Trường Đại học và các Cơ sở sản xuất trong và ngoài nước thuộc lĩnh vực KHCN Clế tạo máy.
Theo định hướng trên, được sự chỉ đạo của Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và Bộ Khoa học và Công nghệ, Ban Chủ nhiệm Chương trình KC.05 phối hợp với Hội KHKT Cơ khí Việt Nam, Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam tổ chức Hội thảo "Khoa học Công nghệ với sự phát triển ngành chế tạo cơ khí Việt Nam". Trong tương lai gần cần giải quyết các vấn đề sau:
- Xác định mối quan hệ giữa Nghiên cứu và Sản xuất, giữa Cơ khí Chế tạo máy và các ngành khác.
- Xác định những nhiệm vụ KHCN bức xúc cần tập trung giải quyết trong 8 lĩnh vực đã nêu trong Quyết định số 186/2002/QĐ-TTg, nêu cách đi, kể cả cách tổ chức lực lượng và phương pháp tiến hành.
- Hình thức tổ chức triển khai: Chương trình, Đề tài, Dự án... cách quản lý tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu và các chính sách lớn nhằm khuyến khích áp dụng các kết quả nghiên cứu vào sản xuất và đời sống.
- Những thông tin cập nhật về tình hình phát triển KHCN Chế tạo máy trong nước và trên thế giới.
Các doanh nghiệp đâu tư vào hoạt động khoa học và công nghệ nhằm đổi mới, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất kinh doanh, bao gồm:
1. Hoạt động nghiên cứu triển khai (bao gồm nghiên cứu cơ bản - nghiên cứu
ứng dụng, triển khai thực nghiệm) do doanh nghiệp tự thực hiện.
2. Ứng dụng các kết quả khoa học và công nghệ đổi mới công nghệ, sản xuất sản
phẩm mới.
3. Các dịch vụ về khoa học công nghệ:
a) b)
€) d)
e)
- Hướng dẫn lắp đặt và vận hành dây chuyển công nghệ.
- Phục hồi sửa chữa, hiệu chỉnh máy móc, thiết bị, dụng cụ thử nghiệm.
- Phương pháp đo kiểm, thiết bị KHKT có bộ phận điều khiển tự động.
- Lập báo cáo tiền khả thi và khả thi.
- Các hoạt động về chuyển giao công nghệ, áp đụng kỹ thuật mới vào sản xuất.
- Các dịch vụ thông tin tư vấn KHCN đào tạo cán bộ kỹ thuật, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức quản lý kinh doanh.
- Xử lý số liệu, tính toán phân tích phục vụ trực tiếp nghiên cứu - triển khai, kiểm định và thử nghiệm.
Các doanh nghiệp sản xuất Cơ khí được trích tối đa <2% doanh số bán ra cho nghiên cứu và phát triển. Đồng thời Nhà nước ưu tiên đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo ngành Cơ khí và hỗ trợ kinh phí cử cán bộ, công nhân giỏi đi đào tạo và thực tập tại nước ngoài theo các chương trình, dự án được phê duyệt.
Các chính sách hỗ trợ của Chính phủ cho đầu tư vào KHCN phải thực sự được biến thành các nội dung cụ thể và thiết thực.
34