CÁC GIẢI PHÁP TỔNG HỢP

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 44 - 48)

GIẢI PHÁP BỘ PHẬN

II. CÁC GIẢI PHÁP TỔNG HỢP

1. Giải pháp nâng dần tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm trên cơ sở chuyển dịch công nghệ tiên tiến với quy mô CNH & HĐH lớn dần và tốc độ nhanh.

Công thức tính tỷ lệ nội địa hoá đã hình thành chủ yếu trong công nghiệp ôtô - xe máy những năm gần đây, cũng được mở rộng để tính cho nhiều sản phẩm khác như máy điều hoà, TV, tủ lạnh... Các công thức của nhiều công ty liên doanh được xây dựng theo giá trị (tính thành tiền) của các chỉ tiết hoặc bộ phận cấu thành sản phẩm hàng hoá, về cơ bản tương tự nhau. Tuy nhiên những công thức này không thể hiện độ phức tạp kỹ thuật - công nghệ, biểu thị trình độ công nghệ và bản chất của sự phát triển bền vững. Cần thiết phải xây dựng cách tính tỷ lệ nội địa hoá trên cơ sở công nghiệp chế tạo ra sản phẩm như một số nước đã làm. Những thí dụ đưới đây thể hiện các giải pháp tăng tỷ lệ nội địa hoá bên vững.

Trong công nghiệp đóng tàu, cần thiết:

1) Nhanh chóng hình thành và tập trung quy mô lớn sản xuất vật liệu hàng chất lượng cao, có công suất khoảng 8500 T/năm theo công nghệ và thiết bị tiên tiến của các nước công nghiệp phát triển, giảm dản nhập ngoại và đồng thời nghiên cứu sử dụng một số quặng trong nước (Hà Tĩnh) làm nguồn nguyên liệu thay thế nhập ngoại, tiến tới sản xuất máy hàn đồng bộ với các thiết bị CNC hàn cắt plasma ding trong công nghệ sản xuất vỏ tàu. Hiện Công ty đóng tàu Bến Kién đã có xí nghiệp sản xuất dây hàn và que hàn cho hàn vỏ tàu. Các cơ sở sản xuất que hàn khác (ở Phú Thọ, Thường Tín...) có trình độ công nghệ thấp hoặc trung bình không đủ điều kiện của ngành đóng tàu.

2) Thực hiện tự động hoá chế tạo, lắp ráp tôn vỏ tàu thuỷ cỡ lớn bằng cách:

- Ứng dụng tối ưu phần mềm AUTOSHIP mô phỏng vỏ tàu.

- Xây dựng phần mềm chuyên dụng điều khiển gam máy hàn cắt plasma CNC hoặc PLC các cỡ hướng tới hàn tự động hoàn toàn các tổng đoạn vỏ.

3) Về thiết bị:

- Thiết kế, chế tạo máy ép chấn tôn thủy lực đa chiều 1200 T PUC

~ Thiết kế, chế tạo cần cầu chân đế, tầm với 40m (kết hợp nhiều công ty cơ khí có truyền thống sản xuất loại thiết bị nâng cỡ lớn).

Các loại cổng trục 30T, 1O0T, 300T với kích thước tương ứng có thể đóng tàu với 50.000 T.

- Với các tàu phà sông biển cần hiện đại hoá mẫu động cơ thủy và chế tạo gam lớn dần tới 200CV hoặc lớn hơn.

5) Cần thiết phát triển mạnh loại tàu cỡ nhỏ, vỏ hợp kim nhôm, tốc độ lớn (xí nghiệp quốc phòng đang chế tạo tại Hải Phòng) tạo ra phương tiện vận tải du lịch rất có hiệu quả.

6) Tổ chức Hiệp hội các doanh nghiệp tham gia công nghiệp đóng tàu thực hiện quá trình sản xuất cơ khí mở, sử dụng tối ưu thiết bị, công nghệ và con người, thông tin cập nhật cho ngành đóng tàu.

Trong công nghiệp ôtô khách và ôtô tải:

1) Trước mắt nhanh chóng xây dựng các cơ sở chế tạo khung gầm phục vụ chung toàn quốc, có quy mô lớn, có trình độ công nghệ tiên tiến, tập trung đầu tư nhanh, có thể nhận chuyển giao công nghệ từ Hàn Quốc hoặc Trung Quốc.

2) Sản xuất đạng lắp ráp có phần chế tạo chỉ tiết dập ôtô tải như đang đầu tư chuyển giao công nghệ đã qua sử dụng từ Hàn Quốc, quy mô trung bình, trình độ công nghệ tiên tiến, nhưng không thể đạt mức tiên tiến đương đại, lại có ý nghĩa tối ưu về kinh tế kỹ thuật trong nền kinh tế chuyển dịch hiện thời.

3) Đầu tư qua chuyển giao công nghệ phần lớn hoặc một phần quan trọng, bước đầu có thể từ hình thức lắp ráp các loại ôtô tải tới 40T phục vụ lắp ráp xe tải cỡ nhỏ, tỷ lệ nội địa hoá còn thấp.

Trong công nghiệp sản xuất xe máy:

Hiện tỷ lệ nội địa hoá khá cao, tới gần 70%, nhưng chỉ số trình độ công nghệ chế tạo sản phẩm của hàng trăm cơ sở thấp và phân bố trong phổ rộng. Có thể lượng định các chỉ số của 4 thành tố công nghệ xe máy như sau:

T=0, 35 +0,8; 0,8 - cho những cơ sở có công nghệ, thiết bị tiên tiến.

H=0,5+0,7 ; 0,7 - nguồn nhân lực công nghiệp chưa đáp ứng với việc khai thác tối ưu công nghệ - thiết bị mới.

I=0,4+0,7 ; vì quy mô nhỏ nên ứng dụng công nghệ thông tin ít O=0,6+0,8 ; 0,8 - trong các cơ sở liên doanh.

Chỉ số trình độ công nghệ tổng hợp Icn = 0, 35 - 0,6 (so với 1) chứng tỏ chất lượng không ổn định, tính công nghiệp của sản phẩm không đồng mức, tuổi thọ

không đều và thấp, suy giảm nhanh, nhất là các loại ra đời mang thương hiệu Việt Nam của các đoanh nghiệp tư nhân địa phương (các động cơ, hộp số... có xuất xứ từ Trung Quốc địa phương).

2. Trong công nghiệp chế tạo thiết bị toàn cầu

Sản phẩm thiết bị toàn bộ có ý nghĩa quan trọng nhất ở giai đoạn cuối của nền kinh tế chuyển đổi, đặc biệt ở Việt Nam hiện thời. Đó là: các dây chuyền tự động toàn bộ như: các đây chuyển sản xuất chỉ tiết xe máy, các dây chuyển sản xuất sản phẩm bằng cao su (xăm lốp ôtô máy bay...), giầy dép, hoá chất.... phục vụ cho Cơ khí hoá và tự động hoá chuyên dùng. Các dây chuyển thiết bị toàn bộ có độ phức tạp kỹ thuật tự động tổ hợp cao... Tất cả đều phải qua chuyển giao công nghệ để khai thác có hiệu quả đến thành thạo, đến thiết kế theo mẫu, có cải tiến và chế tạo được trong nước.

Phải thực hiện từ Nghiên cứu ứng dụng và triển khai đến làm chủ thiết kế - công nghệ và triển khai ở mức cao hơn kiểu hiện đại hoá và tối ưu hoá (viết tất quá trình chuyển đổi này là: từ R&D đến D&R). Qua chuyển giao công nghệ từ chính nước đã sáng chế

và phát triển ổn định loại dây chuyển trang thiết bị toàn bộ (thí dụ như Nhật các dây chuyền sản xuất các chỉ tiết xe máy, dây chuyền sản xuất cụm kết cấu chính xác cao như vit me - bi..., các đây chuyển sản xuất thép cốt bê tông xây dựng ở Ý có sự cải tiến ở HP về các con lăn cán để cán ra thép gai cuộn cỡ nhỏ làm cốt bê tông trần...) hoặc qua nước đã tiếp nhận CGCN thành công từ chính nước gốc như Đài Loan... Cần có điều tra thực trạng về các dây chuyền thiết bị toàn bộ này đang trực tiếp sản xuất các sản phẩm công nghiệp trong mọi ngành ở Việt Nam (kể cả liên doanh, hoặc 100%

vốn nước ngoài) để đánh giá đúng trình độ công nghệ và có giải pháp phân loại, tổ

chức và đào tạo đội ngũ con người Việt Nam công nghiệp hệ chuyên gia đủ khả năng thiết kế chế tạo tại Việt Nam với chu trình thời gian ngắn (thí dụ đầu tư một dây chuyền toàn bộ sản xuất ống xả xe máy, mẫu hình hoàn toàn Nhật, nhưng chế tạo tại Đài Loan đo các Công ty ở Đài Loan làm chủ toàn bộ kỹ thuật - công nghệ trên cơ sở có sự tổ hợp kỹ thuật cao - công nghệ cao ở một số bộ phận như hệ thuỷ lực - Nhật chế tạo, bộ điều khiển PLC gốc Siemens..., do nhà đầu tư chọn lựa và nhà thầu giới

44

thiệu day đủ tính năng kỹ thuật, gốc xuất xứ các cụm kỹ thuật cao... Đặc biệt từ khi mở thầu và chọn xong nhà thầu, gửi tín dụng thư, đến thời gian giao hàng chỉ từ 3 tháng đến 12 tháng. Vì vậy việc tổ chức đội ngũ con người chuyên gia trong lĩnh vực thiết bị toàn bộ và xây dựng dự án quyết định đầu tư, xây dựng chuẩn kỹ thuật cho đây chuyền định đầu tư, đến chuẩn bị vốn và nhận CGCN chỉ trong thời gian rất ngắn.

Tư duy thực hiện theo chu kỳ ngắn và chuẩn mực kỹ thuật, hiệu quả kinh tế để thể hiện tốc độ CNH & HĐH nhanh có ý nghĩa quyết định, mà con người lẫn guồng máy của ta hiện thời còn rất trì trệ đến mất hết thời cơ !

3. Về tự động hoá ứng dụng công nghệ thông fin

Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các doanh nghiệp công hữu ngành cơ khí mới chỉ ở mức ban đầu và thấp, không đáng kể. Một mặt do sản xuất trình độ thấp, quy mô nhỏ tản mạn nên vai trò của (in học kỹ thuật ứng dụng còn nhỏ bé, đôi khi chỉ có tính phong trào bể ngoài. Các doanh nghiệp đã chuyển đổi mạnh, tăng trưởng cao, đầu tư các đây chuyền sản xuất như sản xuất sản phẩm khuôn mẫu, sản phẩm mạch in nhiều lớp, các sản phẩm phần tử tự động hoá... đã có khoảng 5 năm phát triển và đang trưởng thành thực hiện đúng CAD/CAM/CAE CNC và nối mạng SKADA..., cùng với các trang thông tin điện tử giới thiệu doanh nghiệp và thương hiệu trong nước, quốc tế...

Để phát triển nhanh và bền vững, cần nâng cấp trình độ công nghệ tiên tiến

trong các doanh nghiệp kết hợp với đào tạo chuẩn và thường xuyên ngành Cơ Tin - Điện tử (Mechatronics), đó là ngành Cơ khí mới của thế kỷ 21.

Đồng thời hình thành tổ, nhóm (trong các cơ sở) đến trung tâm và viện kỹ thuật tự động hoá, tăng dần tỷ lệ nội địa hoá trong ngành này. Thực tế chứng tỏ con người Việt Nam công nghệ có trình độ tiếp thu nhanh và dễ nội địa hoá thuộc lĩnh vực tin học ứng dụng.

4. Về con người Việt Nam công nghiệp trong thời kỳ CNH & HĐH hướng tới nên kinh tế tri thức những thập nên đầu của thế kỷ 21, từ giai đoạn cuối của nền kinh tế Việt nam chuyển đổi, là yếu tố quyết định thành công của CNH &

HĐH đương đại này.

Qua đánh giá trình độ công nghệ các doanh nghiệp ngành cơ khí Việt Nam và qua đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước về con người Việt Nam công nghiệp, đã phân ra thành 3 loại hình: con người VNCN hệ sản xuất, con người Việt Nam công nghiệp hệ chuyên gia và con người VINCN hệ điều hành.

Con người VNCN hệ điều hành đóng vai trò đầu tầu cho sự tế chức và tăng trưởng bền vững của doanh nghiệp. Chỉ số trình độ công nghệ O biểu thị cho đội ngũ này còn thấp, O„ = 0,6 trong phổ phân tán từ 0,3 + 0,75. Đề tài thực hiện tham vấn (điều tra xã hội học công nghiệp) cho trên 60 GÐ trong các vùng công nghiệp từ Hà Nội Cần Thơ, thu được chỉ số trình độ I,„ = 0,7 trong phổ phân bố từ 0,65 + 0,9 (vì việc điều tra chỉ tiến hành ở các doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng lớn nhiều năm liên tục, nếu điều tra xã hội học công nghiệp cho các GÐ của các doanh nghiệp suy thoái và khủng hoảng - chiếm phần lớn trong tổng số các doanh nghiệp công hữu toàn quốc, thì chỉ số này thấp hơn nhiều. Đem so với các GĐ doanh nghiệp khối NICS là (1) thì cần có thời gian hành nghề, học tập kinh nghiệm và vận hành trong guồng máy công nghiệp thị trường mở trình độ cao. Nhà nước cân có chiến lược đào tạo (theo mẫu hình G7) và sử dụng đúng con người GĐÐ VN công nghiệp. Sản phẩm công

nghiệp có chất lượng và sức cạnh tranh thị trường bền vững là do chất lượng thực sự và cao của con người GĐViệt Nam công nghiệp này.

Con người VNCN hệ chuyên gia hiện có số lượng đông đảo và đủ cấp trình độ đo các trường ĐH kỹ thuật - công nghệ, kinh tế, quản trị kinh doanh, luật pháp đào tạo nhiều năm qua, chủ yếu trong các nước và từ các nước XHCN cũ. Đội ngũ này tương thích với trình độ công nghệ của thời kỳ CNH & HĐH thứ hai ở Việt Nam. Do Việt Nam thực hiện nên kinh tế chuyển đổi CNH & HĐH ở thời kỳ thứ ba này, thì toàn bộ phải đào tạo lại. Hiện toàn bộ hệ thống đào tạo đều lạc hậu và xuống cấp toàn điện vì toàn bộ cơ sở vật chất công nghiệp hoá Việt Nam thấp không thể tạo sức hút cho thị trường đào tạo. Cơ sở nào thì chất lượng đào tạo tương thích. Các nhà máy hiện thời không dành chỗ cho đào tạo đại học thực hành. Các phương tiện thực hành tại trường đào tạo đều có tính mô hình (Didactic) và một ít nửa công nghiệp. Cho nên đội ngũ đào tạo trẻ và đội ngũ KS mới ra trường có khoảng cách trình độ công nghệ lớn so với cơ sở sản xuất đang hiện đại hóa. Tuy nhiên phải từ thực trạng ấy mà có giải pháp chuyển dịch từng phần, từng địa phương công nghiệp, từng loại hình sản phẩm công nghiệp để đào tạo tại chỗ, trực tiếp, liên tục có chọn lọc sau khi tốt nghiệp từ trường DH ra. Đội ngũ này là lực lượng cơ bản của nền kinh tế tri thức, quyết định cho quy mô và tốc độ CNH & HĐH ở thời kỳ thứ ba của Việt Nam tới năm 2020.

Đối với loại hình con người VNCN hệ sản xuất thì nghề cơ khí là tiêu biểu cho nhận thức, tác phong và tư duy công nghiệp. Tuy nhiên sự chuyển dịch nghề hiện đại gồm "tay nghề và trí thức, kết hợp hữu cơ" sẽ tăng dần hàm lượng trí nghề và giảm càng nhiều hàm lượng tay nghề khi sản xuất công nghiệp tự động hoá và chuyên đùng hóa linh hoạt ngày càng cao. Các quan hệ về tỷ lệ giữa các loại hình theo cơ cấu của thời kỳ CNH & HĐH thứ nhất và thứ hai không thể đúng cho thời kỳ CNH & HĐH thứ ba này.

46

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 44 - 48)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(233 trang)