DINH HUONG PHAT TRIEN

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 191 - 194)

IL. VAI TRO CUA CONG NGHE DUC O VIET NAM, TINH HINH VA PHAT TRIEN

IV. DINH HUONG PHAT TRIEN

Theo Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt nam thì mục tiêu chiến lược 10 năm tới mà nội dung cơ bản là : Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tỉnh thân của nhân dân; tạo nên tầng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiêm lực kinh tế, quốc phòng, an nình được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước

ta trên trường quốc tế được nâng cao.

Theo đó, định hướng phát triển của ngành cơ khí là :

e Tập trung đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, hiện đại hoá một số khâu then chốt trong chế tạo,...

e Tăng khả năng chế tạo các dây chuyền thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ cho chế biến;

nông cụ và máy nông nghiệp; các loại thiết bị cho các cơ sở công nghiệp vừa và nhỏ; phương tiện vận tải, máy công cụ, máy xây dựng, cơ khí tiêu dùng.

e Từng bước đưa ngành cơ khí thành ngành công nghiệp mạnh, đáp ứng khoảng 25%

nhu cầu chế tạo thiết bị cho nền kinh tế và nội địa hoá khoảng 70 - 80% các loại phụ tùng xe máy và 30% phụ tùng lắp ráp ô tô.

e

Về thép :

Quy hoạch phát triển ngành thép Việt Nam tới năm 2020 cho hay sản lượng thép bình quân trên 1 đầu người như sau :

Năm 2001 /2005 : 75 kg Năm 2006 / 2010 : 123 kg Nam 2010/2015: 170 kg Nam 2015 /2010: 240 kg

Sản lượng vật đúc thép tính đến năm 2010 ước tính đạt 100 000 - 120 000 tấn/năm.

Về gang đúc :

dự tính đến năm 2010 đạt 120 000 - 150 000 tấn / năm, trong đó gang câu đạt khoảng 20 000 - 30 000 tấn/năm (chiếm tỷ trọng từ 10 - 20%).

Về hợp kim mầu và các hợp kim đặc biệt khác

dự tính đến năm 2010 đạt khoảng 12 000 - 15 000 tấn/năm.

Sau đó phát triển ổn định bình quân các loại hợp kim hàng năm với tốc độ tăng trưởng khoảng 5%.

Sự nghiệp phát triển các ngành công nghiệp khác liên quan đến lĩnh vực chế tạo cơ khí nước ta ( trong đó tỷ trọng công việc về đúc cũng rất lớn ) rất nhiều, nhất là trong quốc phòng, trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc. Có thể kể tới một vài ví dụ sau :

190

Nhu cầu về điện ở nước ta nam 2000 1a 30 ty KWh, nam 2003 1a 35,1 ty KWh, đến năm 2010 sẽ là 102 tỷ KWh va năm 2015 sẽ là 150 tỷ KWh, trang thiết bị phục vụ cho việc chuyển tải điện có rất nhiều chi tiết đúc. Ngoài ra, chương trình điện khí hoá các xã đồng bằng và 80% xã vùng cao vùng xa, tới năm 2010 cũng đã phải có 200 máy biến thế cỡ 220 KV và 110 KV, dung lượng 20 000 - 25 000 KVA và trên 30 000 máy biến thế trung áp có đưới 20 KV... Mức độ Đình quân trang bị thiết bị động lực trong lĩnh vực nông nghiệp cả nước là 0,75 đến 1kw / I lao động, riêng động cơ nhỏ (dưới 15 mã lực) mỗi năm cả nước cần tới khoảng 45 000 cái,..., là những yêu cầu cụ thể, cấp thiết đòi hôi ngành chế tạo cơ khí nói chung và công nghệ đúc nói riêng phải đáp ứng.

Các dự án đầu tư công nghệ và thiết bị nên đi theo hai hướng : Phục vụ thiết thực nhu cầu sản xuất trước mắt song không được phá vỡ yêu cầu phát triển hiện đại và đồng bộ trong tương lai. Các trang thiết bị cần bổ sung trước mắt nên tính tới vai trò sử dụng của nó lâu dài trong nhiều năm sau, thay thế dần các thiết bị lạc hậu, quá cũ, quá hư hỏng khiến cho việc sử dụng không thuận lợi, kém hiệu quả; Hoặc do khả năng kinh tế hạn chế thì chỉ nên đầu tư các trang thiết bị đơn giản, rẻ tiền, khấu hao nhanh mà không ảnh hưởng tới quá trình phát triển ổn định sau này. Chú ý tăng cường tin học hoá quá trình sản xuất đúc.

Cần nghiên cứu các phương án sản xuất tập trung với quy mô vừa và liên hợp đồng bộ theo sự quản lý thống nhất và điều tiết của nhà nước, tiến tới hiện đại hoá sản xuất theo hướng cơ khí hoá, điện khí hoá, tin học hoá,... cung cấp phôi và sản phẩm có chất lượng cao cho công nghiệp chế tạo cơ khí. Như vậy sẽ có điều kiện đầu tư các thiết bị chuyên dùng, chuyên môn hoá sâu hơn làm cho bộ mặt của các cơ sở đúc hiện đại hơn, sản phẩm đa dạng hơn, phát huy được thế mạnh của từng cơ sở đo lịch sử và điều kiện tự nhiên tạo ra.

Có chính sách thích đáng sử dựng và bồi dưỡng nhân tài theo các hướng đào tạo trong nước cũng như mở rộng hợp tác với nước ngoài trong mọi hình thức.

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 191 - 194)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(233 trang)