ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 162 - 167)

Ngày 3 tháng 12 năm 2002 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt chiến lược phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt nam đến năm 2010, tầm nhìn tới năm 2020. Mục tiêu của chiến lược nhằm hướng vào sản xuất loại sản phẩm sau:

- Ôtô thông dụng (xe tải nhỏ, xe du lịch, xe chở khách nhỏ, xe buýt...) và xe chuyên dùng (xe chở xăng, xe cứu hoả, xe cứu thương loại nhỏ, xe đông lạnh, xe chở xi măng, xe phun nước rửa đường...) có giá cạnh tranh và phù hợp với các điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Đối với xe thông dụng: Đáp ứng 40 + 50% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội địa hoá (NĐH) 40% vào năm 2005, đáp ứng trên 80% nhụ cầu trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ nội dia ho4(NDH) 60% vào năm 2010 (riêng động cơ phấn đấu

đạt tỉ lệ NĐH 50% và hộp số 90%).

Về loại xe chuyên dùng: Đáp ứng 30% nhu cầu trong nước về số lượng và đạt tỉ lệ NĐH 60% vào năm 2010.

- Các loại xe cao cấp để đáp ứng hợp lý nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đây là các loại xe do các liên doanh sản xuất, cần phấn đấu đạt tỉ lệ NĐH 20 + 25% vào năm 2005 và 40 + 45% vào năm 2010 đối với các loại xe du lịch, đáp ứng 80% nhu

cầu các loại xe tải, xe buýt cao cấp đạt tỉ lệ NDH 20% vào năm 2005 và 35 + 40%

vào năm 2010.

- Động cơ ôtô cho các loại ôtô thông dụng và xe chuyên dùng đạt tỉ lệ NĐH 50% vào năm 2010.

Như vậy, bên cạnh dòng xe cao cấp, các ôtô thông dụng và chuyên dùng được sản xuất trong nước với tỉ lệ NĐH ngày một nâng cao sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam.

Phải thấy rằng, sản xuất ôtô là một ngành công nghiệp rất phức tạp, đòi hỏi có các công nghệ cao và sự phát triển đồng bộ của các ngành công nghiệp phù trợ như vậy liệu kim loại và phi kim loại, luyện kim, điện và điện tử, gia công cơ khí, kiểm tra thử nghiệm vv... Để có được sản phẩm ôtô như hiện nay, các nước có ngành công nghiệp ôtô phát triển như Mỹ, các nước Tây và Bắc Âu đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm, hoặc Nhật Bản cũng phải mất tới 50 năm và Hàn Quốc, một nước phát triển sau các nước trên được thừa hưởng nhiều thành quả trong công nghệ sản xuất ôtô thế giới cũng phải mất ít nhất là 30 năm. Thời gian dài hay ngắn phụ thuộc vào sự phát triển chung của nền kinh tế, vào thu nhập GDP theo đầu người, vào sự quyết tâm và

chính sách phát triển hợp lý của nhà nước.

Để đạt được yêu cầu này phải có các chính sách và giải pháp sau:

1. Nhà nước cần đưa chương trình sản xuất ôtô thông dụng và chuyên dùng và động cơ của các loại ôtô này vào chương trình sản phẩm công nghiệp cơ khí trọng

điểm từ nay đến 2010. Trên cơ sở qui hoạch phát triển công nghiệp ôtô Việt Nam để xây dựng các dự án sản xuất, lắp ráp ôtô thông dụng và chuyên dùng, bao gồm cả sản xuất động cơ và phụ tùng, tại một cụm công nghiệp sản xuất ôtô ở miền Bắc và miền Nam.

Các dự án đầu tư sản xuất ôtô thông dụng và chuyên dùng theo đúng qui hoạch được hưởng một số ưu đãi về thuế đất đai, vay vốn tín dụng, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, hỗ trợ nghiên cứu khoa học và các hỗ trợ đầu tư ngoài hàng rào khác theo hướng khuyến khích sản xuất động cơ, hệ truyền lực, khung - thân xe.

2. Đối với các doanh nghiệp FDI (có vốn đầu tư nước ngoài dưới dạng liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài), bên cạnh các loại xe cao cấp, khuyến khích họ sản xuất các loại xe thông dụng, trừ trường hợp sản xuất các loại xe có tải trọng lớn trên 15T. Có chính sách ưu đãi về thuế đất đai, về các loại thuế doanh nghiệp để thu hút và gọi vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sản xuất phụ tùng, bộ phận và linh kiện ôtô với sản lượng lớn, chất lượng cao phục vụ cho chương trình nội địa hoá và đặc biệt để xuất khẩu.

3. Về chính sách thuế và nội địa hoá.

Các loại xe cao cấp, xe phổ thông và xe chuyên dùng sản xuất trong nước được ưu đãi với hệ số khuyến khích tỉ lệ NĐH ở mức cao nhất, đặc biệt là các loại xe có ti lệ NĐH động cơ, bộ truyền động (hộp số) ở mức qui định với phương pháp xác định ti lệ NĐH thống nhất được Bộ Công nghiệp chấp nhận. Nghiên cứu ban hành và áp dụng chính sách thuế nhập khẩu theo tỉ lệ NĐH ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô các loại càng sớm càng tốt. Qui định mức thuế nhập khẩu cao đối với các loại phụ tùng, linh kiện ôtô mà trong nước đã sản xuất được.Nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh cụ thể phương pháp tính tỉ lệ nội địa hoá phụ tùng ôtô trong thời gian 1 đến 2 năm nữa.

162

Điều chỉnh mức thuế nhập khẩu các loại xe thông dụng và xe chuyên dùng theo mức thích hợp và tiến trình thích hợp nhằm khuyến khích sản xuất xe thông dụng và xe chuyên dùng trong nước (trừ các loại xe chuyên dùng đặc biệt trong nước chưa hoặc không sản xuất được như xe cứu hoả, xe cứu thương đặc biệt, xe truyền hình ...).

Với khoảng cách chênh lệch quá lớn về mức thuế nhập khẩu giữa ôtô nguyên chiếc và linh kiện rời: 100% đối với ôtô nguyên chiếc và 7% đối với dạng rời IKD tuy phù hợp ban đầu cho lắp rắp ôtô nhưng nếu kéo đài sẽ hạn chế sự gia tăng tỉ lệ NĐH và không thúc đẩy sự phát triển của ngành Công nghiệp ôtô Việt Nam. Cần có sự điều chỉnh thích hợp khoảng cách giữa mức thuế này.

Đối với dự án đầu tư sản xuất phụ tùng, đề nghị:

- Được miễn thuế thu nhập đoanh nghiệp trong 2 năm đầu tư sản xuất, kể từ khi phát sinh thu nhập chịu thuế và giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp trong 10 năm tiếp theo để đầu tư vào phát triển sản xuất;

- Nhà nước xem xét hỗ trợ một phần tư kinh phí cho chuyển giao công nghệ như mua thiết kế, công nghệ, thuê chuyên gia, đào tạo phục vụ các dự án sản xuất động cơ, hệ truyền lực;

- Được trích từ 3 đến 5% trên doanh số sản phẩm phụ tùng ôtô bán ra để lập quỹ nghiên cứu và phát triển;

- Riêng đối với Dự án sản xuất động cơ ôtô và hệ truyền lực còn được hưởng các ưu đãi khác như đối với sản phẩm cơ khí trọng điểm.

4. Hạn chế việc nhập khẩu xe cũ, xe đã qua sử dụng và tiến tới cấm nhập khẩu các loại xe này phù hợp với tiến trình tăng dần tỷ lệ NĐH ngành sản xuất lắp ráp ôtô Việt Nam.

Nhà nước cần có chính sách phù hợp với thông lệ quốc tế quy định niên hạn sử dụng ôtô hợp lý, phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm thải loại xe cũ, khuyến khích

dùng xe mới, thúc đẩy sản xuất phát triển.

5. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích nhu cầu sử dụng ôtô đặc biệt là ôtô thông dung như xe tải nhỏ, xe chở khách nhỏ, xe buýt v.v... Trong các tầng lớp nhân dân, trong nông dân và các chủ trang trại ở khắp mọi miền đất nước thông qua các hình thức:

- Cho vay với hình thức ưu đãi và thời gian trả vốn vay thích hợp để các khách hàng mua ôtô thông dụng sản xuất trong nước, mà trước hết là cho nông dân, chủ trang trại mua xe nông dụng, các khách hàng mua xe chở khách nhỏ để vận chuyển khách hàng trong huyện và liên huyện.

- Có qui hoạch cụ thể nâng cấp mạng lưới giao thông trong cả nước trước hết là đường xá, bãi đỗ xe trong các đô thị, đường giao thông nông thôn liên xã liên huyện v.v... Trong các khu đô thị mới phải thiết kế đường đủ rộng để hai làn ôtô đi lại dé dàng. Các cơ quan, công sở, nhà hàng, siêu thị lớn khi cải tạo hoặc xây dựng mới phải bố trí được nơi để ôtô cho công chức, viên chức và khách hàng.

6. Từ năm 2003 trở đi cùng với việc phải đưa vào cắt giảm thuế toàn bộ các mặt hàng cam kết giảm thuế để thực hiện AFTA, Việt Nam còn phải thực hiện một loạt các cam kết khác về thuế và phi thuế đối với ôtô, ví dụ để thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa kỳ trong thời gian tới, Việt nam phải xóa bỏ các ưu đãi về thuế nhập khẩu theo tỉ lệ NĐH sản phẩm, xóa bỏ cơ chế áp dụng giá tối thiểu thực hiện áp dụng trị giá tính thuế cho Hiệp định trị giá GATT, xoá bỏ chính sách phân biệt đối xử về thuế tiêu thụ đặc biệt giữa ôtô sản xuất trong nước với ôtô nhập khẩu. Để thúc đẩy

ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô Việt Nam có bước phát triển ban đầu thuận lợi, cần chủ động đàm phán với các tổ chức khu vực và thế giới để giữ được mức thuế nhập khẩu và NDH trong thời gian đủ để nên cộng nghiệp ôtô Việt Nam đủ sức cạnh

tranh khi hội nhập hoàn toàn.

7. Tổ chức lại ngành công nghiệp sản xuất ôtô Việt nam một cách thích hợp, có hiệu quả, tránh sự chồng chéo trong sản xuất giữa Bộ Công nghiệp và Bộ giao thông vận tải, khai thác tối đa năng lực của ngành cơ khí phục vụ cho việc sản xuất ôtô thông dụng và chuyên dùng của Việt nam. Trước mắt cần hình thành một cụm công nghiệp chế tạo ôtô phía Nam. Mỗi cụm Công nghiệp chế tạo ôtô sẽ bao gồm các nhà máy chế tạo ôtô và phụ tùng chế tạo ôtô của Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công nghiệp.

Các nhà máy tham gia thiết bị theo các dự án đầu tư được nhà nước phê duyệt, có nghĩa vụ và quyền lợi rõ ràng khi tham gia vào cụm công nghiệp ôtô. Điều hành các cụm công nghiệp ôtô là Tổng Công ty Cơ khí giao thông vận tải (Bộ giao thông vận tải) hoặc Tổng Công ty máy động lực và máy nông nghiệp (Bộ Công nghiệp). Khi các

cụm công nghiệp ôtô đủ mạnh có thể tách ra để thành lập Tổng Công ty Công nghiệp

ôtô Việt Nam.

Các cụm công nghiệp ôtô có thể xem như một tập đoàn sản xuất và lắp ráp ôtô, chế tạo các phụ tùng, linh kiện ôtô cần có một bộ phận chuyên nghiên cứu thiết kế các sản phẩm mới, cải tiến mẫu mã các sản phẩm cũ, nghiên cứu công nghệ chế tạo các phụ tùng, linh kiện ôtô, nhận chuyển giao các công nghệ mới vào sản xuất. Có thể xem đây là một viện nghiên cứu chuyên ngành phục vụ cho sản xuất của tập thể đoàn sản xuất ôtô Việt Nam. Tuy thời gian thích hợp chúng ta phải thành lập Viện nghiên cứu ôtô quốc gia.

8. Trừ các doanh nghiệp FDI, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam sẽ sản xuất và lắp ráp ôtô thông dụng và chuyên dùng. Đây là sản phẩm có cấp chất lượng thấp hơn các sản phẩm cao cấp do các doanh nghiệp EDI sản xuất một cấp. Phải làm rõ các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm ôtô thông dụng và chuyên dùng khi thiết kế sản phẩm và nhận chuyển giao các tiêu chuẩn tối thiểu về ôtô và phụ tùng. Tuy là sản phẩm có cấp chất lượng thấp hơn so với các sản phẩm cao cấp, nhưng ôtô thông dụng và chuyên dùng của Việt Nam phải có độ an toàn cao, đễ sử đụng và bảo quản, tính mỹ thuật công nghiệp, tính tiện nghi, sang trọng và hiện đại ở mức vừa phải và phải có tuổi thọ bằng 80% so với tuổi thọ của các ôtô cao cấp tương tự. Để đạt được yêu cầu trên, các công nghệ chế tạo máy cơ bản phải là các công nghệ tương đối tiên tiến như công nghệ hàn tự động, hàn rôbốt, công nghệ gia công áp lực với các máy ép thuỷ lực và khuôn được chế tạo chính xác, công nghệ đúc tiên tiến, công nghệ gia công. Vật liệu cho chế tạo phụ tùng ôtô và các phương pháp xử lý vật liệu để tăng bền phải được nghiên cứu thấu đáo trước khi áp dụng vào sản xuất. Nói một cách khác để sản xuất được các sản phẩm ôtô thông dụng và chuyên đùng đạt mức chất lượng 80% so với các sản phẩm cao cấp cùng loại, bên cạnh việc nhập công nghệ từ các nước có nền công nghiệp ôtô phát triển cần có sự hỗ trợ của nhà nước về Khoa học - Công nghệ cho ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp ôtô thông qua các đề tài, Dự án R-D các cấp.

Nội địa hoá sản xuất ôtô, đặc biệt là NĐH sản xuất động cơ và bộ truyền động của ôtô là bước đi tất yếu của tất cả các nước có sản xuất ôtô. Song đây là vấn dé không đơn giản, cần phải có cách tiếp cận và lộ trình tối ưu nhất. Đối với động cơ 616,

nếu không nhận chuyển giao công nghệ chế tạo toàn bộ một loại động cơ nào đó thì

con đường tốt nhất phải đi là từ công nghệ lắp ráp CKD, rồi tiến tới IKD trên cơ sở nhận chuyển giao công nghệ chế tạo các chỉ tiết khó và nghiên cứu công nghệ chế tạo các chỉ tiết đơn giản hơn. Các phụ tùng, chỉ tiết được NĐH. Muốn vậy phải có sự đầu tư đủ mức và có trọng điểm, tránh sự dàn trải, chấp vá, không đạt yêu cầu về công nghệ.

. 9. Đặc biệt về hội nhập AFTA 2008, công nghệ ôtô Việt Nam gặp thách thức lớn và phải theo đúng biểu thuế khu vực đã quy định. Sự bảo hộ của Nhà nước phải hội nhập được AFTA từ 2008.

Kết luân:

Mặc dù GDP bình quân theo đầu người hàng năm của nước ta còn thấp nhưng nhu cầu về ôtô các loại trong đó phải kể đến ôtô thông dụng như xe buýt, xe tải nhỏ ngày càng tăng. Đó là cơ sở cho sự phát triển của ngành công nghiệp chế tạo ôtô thông đụng và chuyên dùng của Việt Nam hiện nay.

Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam hình thành chậm và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức cả trước mắt lẫn lâu dài.

Tuy nhiên, do vị trí vai trò quan trọng của nó đối với nên kinh tế quốc dân, ngành Công nghiệp ôtô cần được Nhà nước ưu tiên phát triển. Những nhà sản xuất tham gia vào chương trình sản xuất ôtô này không hy vọng sẽ có lợi nhuận đáng kể trong giai đoạn đầu vì loạt sản xuất chưa lớn, mức độ chuyên môn hoá và hợp tác hoá chưa cao, chỉ phí lớn.Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá đất nước, chúng ta không thể không phát triển công nghiệp sản xuất ôtô và phụ tùng ôtô. Một khi nhà nước đã có chủ trương phát triển công nghiệp ôtô, các cơ quan quản lý và hoạch định chính sách của nhà nước hỗ trợ tới mức cao nhất, các nhà sản xuất lắp ráp ôtô và chế tạo phụ tùng và các nhà khoa học trong lĩnh vực này có quyết tâm thì nhất định đến năm 2010 Việt Nam sẽ có ngành công nghiệp ôtô bắt đầu phát triển. Vấn đề còn lại là vốn cho đầu tư phát triển, lựa chọn phương thức đầu tư có hiệu quả, lựa chọn các công nghệ chế tạo ôtô thích hợp và đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng cho quá trình sản xuất, lắp ráp ôtô và chế tạo phụ tùng.

10. CÔNG NGHỆ ĐÚC, HIỆN TRANG VA PHAT TRIEN

Một phần của tài liệu Nghiên cứu xây dựng định hướng công nghệ cơ khí chế tạo Việt Nam từ nay đến năm 2010 (Trang 162 - 167)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(233 trang)