Thế nên, khi nhắc đến Bùi Hiển người ta lại nhớ đến những truyện ngắn mang đậm hơi thở cuộc sống, nhớ đến một nhà văn luôn cố gắng, không ngừng học hỏi, lao động hết sức mình.. Phan Cự Đ
Trang 1-NGUYỄN ĐỖ VÂN ANH
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 2-NGUYỄN ĐỖ VÂN ANH
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS NGUYỄN PHONG NAM
Đà Nẵng, Năm 2013
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kì công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Đỗ Vân Anh
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 9
5 Bố cục 9
CHƯƠNG 1 BÙI HIỂN- CÂY BÚT NỔI BẬT CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 10
1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG BÙI HIỂN 10
1.1.1 Vài nét về cuộc đời Bùi Hiển 10
1.1.2 Sự nghiệp văn chương Bùi Hiển 14
1.2 VỊ TRÍ CỦA BÙI HIỂN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM 22
1.2.1 Nhà văn có quan niệm nghệ thuật riêng biệt, độc đáo 22
1.2.2 Bùi Hiển và sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam 35
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN 41
2.1 ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN 42
2.1.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 42
2.1.2 Những hình tượng nhân vật tiêu biểu 46
2.2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN 56
2.2.1 Đặc điểm không gian nghệ thuật 56
2.2.2 Đặc điểm thời gian nghệ thuật 62
Trang 53.1 QUAN ĐIỂM TRẦN THUẬT TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN 69
3.1.1 Trần thuật, điểm nhìn trần thuật 69
3.1.2 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Bùi Hiển 71
3.2 ĐẶC ĐIỂM CỐT TRUYỆN, KẾT CẤU TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN 76 3.2.1 Cốt truyện giản dị, ít biến cố 76
3.2.2 Kết cấu truyện đơn giản, đơn tuyến 81
3.3 NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN
BÙI HIỂN 86
3.3.1 Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật 86
3.3.2 Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật 91
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bùi Hiển thuộc thế hệ nhà văn hiện thực xuất hiện vào những năm bốn mươi của thế kỷ hai mươi Nổi bật trong sáng tác nghệ thuật của ông chính là truyện ngắn Hơn sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, nhà văn đã tạo cho mình một vị trí vững chắc trên văn đàn Việt Nam Cho đến bây giờ, Bùi Hiển vẫn là một trong những nhà văn viết truyện ngắn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại Truyện ngắn của Bùi Hiển được viết cách khá lâu nhưng
đến nay vẫn là những truyện ngắn hay và không hề xưa cũ
Với thể loại truyện ngắn, Bùi Hiển đã thể hiện được sự quan sát nhạy bén cùng cảm nhận sâu sắc của người cầm bút Nhà văn diễn tả một cách chân thực hiện thực đời sống qua cái nhìn tinh tế, hóm hỉnh, tươi vui mà lại rất giản
dị Đó được xem như là một đặc trưng trong phong cách sáng tác truyện ngắn Bùi Hiển Thế nên, khi nhắc đến Bùi Hiển người ta lại nhớ đến những truyện ngắn mang đậm hơi thở cuộc sống, nhớ đến một nhà văn luôn cố gắng, không ngừng học hỏi, lao động hết sức mình
Sự góp mặt của truyện ngắn Bùi Hiển đã làm phong phú thêm diện mạo của nền văn học Việt Nam hiện đại Tác phẩm của Bùi Hiển đã khơi dậy trong lòng người đọc những tình cảm nồng ấm về con người, về quê hương Truyện ngắn nhà văn tuy chưa có sự phổ biến rộng rãi trong đông đảo quần chúng, nhưng lại có sự đóng góp riêng về nội dụng và nghệ thuật đối với nền văn học nước nhà
Bước vào thế giới nghệ thuật truyện ngắn Bùi Hiển chúng tôi càng hiểu
rõ hơn cái tâm của người theo sự nghiệp văn chương Đồng thời đây cũng là một cơ hội để khám phá sâu hơn nữa những đặc điểm rất riêng trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Chính vì
Trang 7thế, chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài: Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bùi Hiển
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Bùi Hiển là một nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại Ông
là nhà văn có cái nhìn nhạy bén và một trái tim nhân hậu, luôn san sẻ, yêu thương con người Đã có nhiều công trình nghiên cứu về Bùi Hiển cũng như
sự ghiệp văn chương của ông được công bố
Khi nghiên cứu về Bùi Hiển, nhiều bài viết đã khẳng định ông là một trong những nhà văn tạo được phong cách cũng như dấu ấn riêng trên văn đàn Việt Nam
Là người gắn bó với Bùi Hiển trong suốt một thời gian khá dài nên Hoàng Minh Châu hiểu phần nào con người của nhà văn Khi nhận xét về con người cũng như cách viết văn của Bùi Hiển, Hoàng Minh Châu đã nói rằng:
“Tính tình Bùi Hiển cẩn thận, điềm đạm, dí dỏm có bề sâu, đọc nhiều rồi mới viết, viết xong lại ngẫm mình Nghe anh, ngẫm về anh, tôi cũng đã có đôi ba bài viết về anh, về “một bậc thầy truyện ngắn”[47, tr.9] Hoàng Minh Châu còn cho rằng dù là viết về ai, vấn đề gì, có ý nghĩa nội dung gì thì “chỉ bằng tình tiết ngôn ngữ của nhân vật thoảng qua cũng gợi nhớ tới nhân vật chính là tác giả, một người muốn nuôi sống hoà hợ p với tự nhiên, với “ đạo trời như anh tâm sự””[6, tr.13]
Một số công trình khác còn so sánh Bùi Hiển trong dòng chảy văn học
cùng một số tên tuổi nhà văn khác Phan Cự Đệ trong cuốn Truyện ngắn Việt Nam, Lịch sử- Thi pháp- Chân dung Đệ đã nhận định: “Cùng với Thạch Lam,
Nam Cao và những nhà văn khác, Bùi Hiển từng mong muốn mỗi tác phẩm của mình là một món quà khiêm tốn khơi dậy những gì tốt đẹp vẫn tàng ẩn trong bất cứ con người nào… Bùi Hiển không đơn thuần chỉ đưa lại sự việc của bản thân nó, mà nó bắt người đọc tự đánh giá, tự suy nghĩ, thậm chí đấu
Trang 8tranh để hoàn thiện mình” [8, tr 550] Bùi Hiển là nhà văn luôn tận tụy và có tâm với nghề, “ông có cái nhìn nhạy bén, một trái tim nhân hậu, luôn san sẻ, yêu thương con người Biết bao cảnh, bao người đã hiện lên rất thật, gần gũi, đáng yêu một cách lạ thường” [37, tr.13]
Phan Cự Đệ khẳng định sự đóng góp to lớn của nhà văn Bùi Hiển trong
sự nghiệp văn học: “Khối lượng truyện ngắn thật là phong phú, đa dạng, đã góp phần phản ánh trung thực những chặng đường của Cách mạng Việt Nam, khắc họa được những khuôn mặt đẹp, những điển hình của con người Việt Nam mới trong cuộc đời và sản xuất cũng như trong sinh hoạt thường ngày” [7, tr 48]
Nhà văn Hà Minh Đức có lời đánh giá về sự nghiệp văn học của Bùi Hiển như sau: “Mỗi truyện ngắn của Bùi Hiển đều gắn liền với những vấn đề
cơ bản của đời sống cách mạng… Nhưng quan trọng hơn là đi sâu vào miêu
tả những tính cách, nhữngmối quan hệ giữa con người với nhau để từ đó nói lên những vấn đề sâu sắc của hiện thực”(1970) và “Bùi Hiển vẫn được xem là một tác giả viết truyện ngắn đều tay”[47, tr.413]
Thành tựu nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn là thể loại truyện ngắn Thế nên truyện ngắn Bùi Hiển đã dành không ít sự quan tâm, nghiên cứu, đánh giá, nhận xét của các nhà nghiên cứu, phê bình… Theo Phan Cự Đệ thì: “Truyện ngắn của Bùi Hiển luôn ẩn chứa bên trong một tâm hồn trong sáng, một tấm lòng đôn hậu, một nụ cười hiền lành hóm hỉnh, một
sự mực thước giản dị” [8, tr 566] Phạm Đình Ân trong Lời nói đầu của Bùi Hiển tuyển tập đã cho rằng: “Truyện ngắn của Bùi Hiển thường ngắn gọn,
linh hoạt Ông viết kỹ lưỡng và thận trọng Tác phong điềm đạm, mực thước, cái duyên, cái hóm, cái đôn hậu của con người ông từ lâu đã có ảnh hưởng tíc cực đến văn của ông” [51, tr 6]
Trang 9Năm 1941, tập truyện ngắn Nằm vạ ra đời, bước đầu đã góp phần
khẳng định dấu ấn phong cách của nhà văn Chính vì thế, có rất nhiều nghiên cứu về tập truyện này:
Nguyễn Đăng Mạnh trong Từ điển tác gia tác phẩm văn học Việt Nam
có viết: “tập truyện viết về những người dân làng chài vùng biển Quỳnh Lưu,
tập quán nhiều khi ngộ nghĩnh Cuộc sống của họ tuy đầy gian khổ nhưng họ
vẫn hết sức hồn nhiên, yêu đời (Nằm vạ, Chiếc sương, Ma đậu, Thằng Xin…)” [30, tr 29]
Cuốn sách Bùi Hiển- tác phẩm và dư luận cũng đã có những bài nghiên cứu sâu sắc về Nằm vạ: “Truyện ngắn Bùi Hiển đã ghi lại một cách trung thực
đời sống đầy vật lộn gian lao của những người dân vùng biển quê ông cũng như cuộc sống nhỏ nhoi, mòn mỏi, bế tắc và hết sức tẻ nhạt của giới viên
chức nghèo thành thị”[40, tr 5] Đọc những truyện trong tập Nằm vạ của Bùi
Hiển ta càng hiểu và thêm gắn bó với cái vùng Lạch Quèn, Lạch Thơi thoang thoảng vị nồng của biển cả, “Trong các trang viết của ông chúng ta bắt gặp những con người chân chất, mộc mạc Những anh Đỏ, chị Hoe, lão Năm Xười với tâm hồn chất phác, đôn hậu còn mê tín dị đoan nhưng vui vẻ, lạc quan; những ông “Ba Bị dân chài” trông có vẻ dữ tướng nhưng thật thà tốt bụng; những lão Nhiệm Bình vừa đan lưới vừa kể chuyện ma biển” [7, tr 11] Chính ở những trang viết ấy, Bùi Hiển đã chứng tỏ là một cây bút “vừa độc đáo lại vừa quen thuộc, phổ biến”
Nhà văn Phan Cự Đệ đã nhận xét: “Những nhân vật trong Nằm vạ phần
lớn có nguyên mẫu từ những ông cậu ruột, ông dượng và nhiều bà con họ hàng làm nghề đánh cá trên biển” [7, tr.12]
Bùi Hiển luôn quan niệm văn chương phải bắt nguồn từ hơi thở cuộc sống Chính vì thế mà ông chỉ viết về những gì là điển hình nhất, những gì đã
tận mắt chứng kiến, quan sát “Tập Nằm vạ thể hiện rõ nhất cho quan niệm
Trang 10này của nhà văn: cuộc sống của người dân làng chài ven biển miền Trung và đời người công chức bé nhỏ trong xã hội thực dân phong kiến đều là những không gian in dấu ấn đậm nét vào Bùi Hiển từ lúc nhỏ tới khi trưởng thành” [8, tr 549] Cuộc sống người dân chài nơi tác giả sinh ra dường như đã thấm vào mạch máu cảm xúc đến nỗi “có cảm giác Bùi Hiển viết về đề tài này với tất cả sự hiểu biết, thương yêu và tình cảm gắn bó máu thịt tận đáy lòng” [8,
tr 551]
Một số công trình nghiên cứu khác còn cập đến mặt hạn chế về giá trị
tư tưởng của tập truyện Nằm vạ Phan Cự Đệ có viết: “Nằm vạ chưa có cái
nhìn bao quát toàn xã hội, chưa có cái căm giận, cái tỉnh táo, sắc sảo như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng khi đập phá cái xã hội người bóc lột người, khi lột mặt nạ từng tên tai to mặt lớn trong tầng lớp thượng lưu lúc bấy giờ” [7, tr.15]
Sau Cách mạng tháng Tám, Bùi Hiển tập trung khai thác mảng đề tài
kháng chiến Ánh mắt (1962) là tập truyện viết về cuộc kháng chiến chống
Pháp Nội dung của tập truyện phản ánh “cuộc sống kháng chiến gian khổ, anh dũng song vẫn ánh lên nụ cười và niềm tin chiến thắng” [8, tr 552]; Với tập truyện ngắn này, Bùi Hiển đã phát huy được sở trường của mình, đó là:
“vốn sống phong phú, hiện thực phản ánh sinh động, những nét miêu tả tinh
tế, nụ cười hóm hình nhẹ nhàng, ngôn ngữ đậm chất địa phương” [8, tr 553]
Phan Cự Đệ cũng đã có cái nhìn khá khái quát về Ánh mắt: “Trong Ánh mắt,
Bùi Hiển không miêu tả những hành động anh hùng đột xuất và ngời sáng, cũng ít khi nhân vật vào những xung đột gay gắt, trực diện… Mỗi nhà văn có phong cách thể hiện riêng của mình Dường như anh muốn tập trung miêu tả
“sự chiến thắng bên trong” tâm hồn những người dân kháng chiến” [7, tr 21]
Không những thế, ông còn cho rằng: “Ánh mắt cắm một mốc rất quan trọng
Trang 11của Bùi Hiển trên con đường chuyển biến từ chủ nghĩa hiện thực phê phán sang chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa” [7, tr 24]
Hai tập truyện Ý nghĩ ban mai (1980) và Tâm tưởng (1985): “là sự
chiêm nghiệm của nhà văn trước những vấn đề cuộc sống: mối quan hệ cá nhân- cộng đồng, sự đấu tranh bên trong mỗi con người trước những phức tạp của đời sống, tình cảm con người trong xã hội đang biến đổi [8, tr 553]
Với Tiếng hát hậu phương (1970), Hoa và thép (1972) thể hiện “một
lối viết lắng sâu mang đậm chất triết lí Nụ cười hóm hỉnh dần nhường chỗ cho sự già dặn của lời văn… Tác giả đặc biệt khai thác những chiều sâu tâm lí con người, người đọc dễ dàng nhận thấy sự hòa quyện giữa nhân vật và tâm tưởng trong truyện ngắn giai đoạn này của Bùi Hiển” [8, tr 554]
Nhiều nhà văn, nhà thơ cũng đánh giá cao sự đóng góp về mặt nghệ thuật truyện ngắn của Bùi Hiển Đại đa số đi vào nét nổi trội, mới lạ trên phương diện đề tài, giọng văn, nhân vật, ngôn ngữ… trong truyện ngắn của ông
Phan Cự Đệ đã nhận xét rất xác đáng về văn phong truyện ngắn Bùi Hiển: “Bùi Hiển có một giọng văn riêng không lẫn với ai: một giọng văn chừng mực xen lẫn nụ cười nhự nhàng, hóm hỉnh rất có duyên… Điểm đặc sắc ttrong giọng văn của Bùi Hiển ấy là nụ cười riêng, nụ cười này đặc biệt xuất hiện nhiều ở giai đoạn đầu sáng tác của nhà văn”[8, tr 563]
Phong cách sáng tác truyện ngắn của nhà văn có sự thay đổi theo thời gian: “Trong nghệ thuật viết truyện ngắn, Bùi Hiển chuyển dần từ “hướng ngoại” đến “hướng nội” nhưng bao giờ cũng có ý thức tìm một sự kết hợp hài hoà giữa hai khuynh hướng đó”[7, tr 46] Những năm về sau này “truyện ngắn Bùi Hiển có khuynh hướng thiên về luận đề Thường tác giả đưa ra một kiểu người, đại diện cho một cách sống, một sự lựa chọn, từ đó nâng lên một vấn đề có ý nghĩa khái quát; dường như nhà văn không có ý định xây dựng
Trang 12một tính cách đa dạng, một con người được cá thể hóa hay theo dõi một số phận… Nhiều truyện gần đây của Bùi Hiển giàu chất suy tư chiêm nghiệm,
lấp lánh một vẻ đẹp trí tuệ” [7, tr 38] Trong cuốn Tác gia văn học Việt Nam,
tập 2, Nguyễn Đăng Mạnh viết: “Từ các trang viết, người đọc thấy lấp lánh một cái nhìn hóm hỉnh nhưng đôn hậu của tác giả, bộc lộ một khả năng quan sát tỉ mỉ và tấm lòng giàu tình thương của một người viết khiến cho truyện của ông có một sức hấp dẫn riêng” [27, tr.13]
Nghiên cứu về nhân vật trong truyện ngắn, trong bài Đọc “Hoa và thép” – Nhân vật thanh niên trong những truyện ngắn của Bùi Hiển, Hà Vinh
viết: “Vẫn cái nhìn trân trọng, yêu thương và tin cậy, vẫn một nhiệt tình đằm thắm, với một quan điểm đúng về lớp trẻ, trong Hoa và thép nhà văn lớn tuổi Bùi Hiển lại xây dựng nhiều nhân vật thanh niên trong những truyện ngắn của anh” [47, tr 419] Tiếp đến, người viết nhận xét rất xác đáng về việc nhà văn Bùi Hiển chọn lựa nhân vật cho việc xây dựng truyện ngắn: “Anh dành sự chú
ý nhất định tìm hiểu và biểu hiện lớp trẻ sẵn lòng yêu mến thanh niên cộng với một cách nhìn đúng đắn, hòa mình vào đội ngũ nhân vật đông đảo ấy, lắng nghe họ…”[47, tr 421]
Nghiên cứu về giọng văn của Bùi Hiển, nhà văn Vũ Tú Nam có ý kiến:
“Văn anh có cái duyên tươi tươi, nghịch nghịch…” Và ông còn cho rằng
“Bùi Hiển là một nhà văn hết sức thận trọng tỉ mỉ trong từng ý định, từng câu chữ, từng chi tiết Điều đó khiến bạn đọc càng tin yêu và quí mến anh” [47, tr 14]
Cũng ở vấn đề giọng văn Bùi Hiển, Hoàng Trung Thông cho rằng:
“Giọng văn anh nói chung giản dị khỏe khoắn, đôi lúc hài hước nhẹ nhàng nhưng khi cần thì cũng châm biếm ra trò”[47, tr 606]
Trang 13Nhà báo Phan Quang đánh giá rất cao việc chọn lựa từ ngữ trong khi viết truyện ngắn của Bùi Hiển: “Đôi khi chỉ bằng một từ thôi, anh đã tạo nên một hình ảnh sinh động” [40, tr 404]
Tìm hiểu về hình thức nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn Bùi Hiển, Hoàng Minh Châu nhận định: “Truyện của Bùi Hiển cô đọng mà đa dạng” [40, tr 9] Tác giả còn nhấn mạnh đến tính sáng tạo trong việc xây dựng kết cấu của truyện, khẳng định phong cách riêng của Bùi Hiển: “… Truyện của anh không cốt để kể lại đầu đuôi, thường gợi diễn biến, tiến triển trong khi đọc, cuối cùng để lại một dấu ấn của người viết có nghề…, nhưng nếu nói phong cách rõ nét riêng trong truyện ngắn Việt Nam có thể dẫn ra ba người đầu tiên: Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan và Bùi Hiển” [47, tr 11]
Về con người và sự nghiệp văn chương Bùi Hiển được khá nhiều người nghiên cứu Những bài viết, nghiên cứu chủ yếu xoay quanh những vấn đề về thời đại, nội dung tư tưởng, phong cách nghệ thuật của nhà văn Nổi lên đó là những bài viết công phu của một số nhà nghiên cứu như Phan Cự Đệ, Nguyễn Đăng Mạnh, Hà Minh Đức và một số bài viết khác của các tác giả như Vũ Tú Nam, Anh Thu, Bích Thu, Bùi Quang Tú, Võ Văn Trực, Hà Vinh, Nguyễn Huy Thắng.… Tất cả đã góp phần đáng kể trong việc khẳng định tên tuổi và
sự nghiệp truyện ngắn của Bủi Hiển Đây cũng là cơ sở để chúng tôi tham
khảo, nghiên cứu sâu hơn Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bùi Hiển
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các bình diện nổi trội về nội dung và hình thức của truyện ngắn Bùi Hiển Đặc biệt tập trung vào thế giới hình tượng và nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Bùi Hiển Ở phương diện nghệ thuật trần thuật, chúng tôi nghiên cứu: điểm nhìn trần thuật, cốt truyện, kết cấu cũng như giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật
Trong giới hạn của đề tài, luận văn đi vào khảo sát những tập truyện sau:
Trang 141 Tuyển tập Bùi Hiển, tập I, (NXB Văn học, Hà Nội, 1987)
2 Tuyển tập Bùi Hiển, tập II (NXB Văn học, Hà Nội, 1997)
3 Ánh mắt, (NXB Văn học, Hà Nội, 1961)
4 Nằm vạ, (NXB Dân Trí, 2012)
5 Bùi Hiển Tuyển tập, (NXB Văn học, 2012)
4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bùi Hiển, luận văn sử
dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
Phương pháp hệ thống- cấu trúc: Các truyện ngắn Bùi Hiển được xem xét với tư cách một chỉnh thể nghệ thuật Chúng tôi sẽ khảo sát các yếu tố cụ thể trong tương quan hệ thống để nêu lên những đặc điểm giá trị của chúng Phương pháp hệ thông- cấu trúc cũng là phương pháp chủ yếu được vận dụng xuyên suốt luận văn
Phương pháp so sánh: Chúng tôi sẽ so sánh truyện của Bùi Hiển với một số nhà văn khác như Nam Cao, Tô Hoài, Thạch Lam Từ đó tìm ra những đặc điểm đặc trưng riêng biệt của truyện ngắn Bùi Hiển
Phương pháp phân tích- tổng hợp: Khảo sát, phân tích, xem xét, lý giải từng vấn đề trong từng truyện ngắn của nhà văn Sau đó tổng hợp khái quát những nét tiêu biểu đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Bùi Hiển Đây cũng là một phương pháp được chúng tôi sử dụng xuyên suốt trong luận văn
Trang 15CHƯƠNG 1
BÙI HIỂN- CÂY BÚT NỔI BẬT CỦA VĂN HỌC
VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
Truyện ngắn Việt Nam những năm 1930- 1945 ghi nhận những tên tuổi lớn như Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nam Cao, Tô Hoài, Bùi Hiển, Kim Lân… So với các nhà văn còn lại, sự nghiệp sáng tác của Bùi Hiển chưa được biết đến một cách đầy đủ và có hệ thống Người ta chỉ biết
đến ông ở những giai đoạn đầu sáng tác bởi tập truyện ngắn Nằm vạ (1941)
còn giai đoạn sáng tác sau nhà văn ít được mọi người biết đến, có chăng là một số nhà nghiên cứu, phê bình văn học bàn chung về các truyện ngắn mà họ cho là tâm đắc Nhưng nhìn lại sự nghiệp văn chương Bùi Hiển từ trước Cách mạng tháng Tám đến nay có thể thấy nhà văn là một trong những ngòi bút truyện ngắn tiêu biểu của nền văn học Việt Nam hiện đại Những đóng góp của nhà văn không chỉ là ở những ở nội dung mà còn ở hình thức nghệ thuật
Đánh giá sự đóng góp về mặt văn học của Bùi Hiển cho nền văn xuôi Việt Nam, Quang Tuấn đã khẳng định: “Hơn 60 năm cầm bút với khoảng 40 đầu sách và đều có thành công nhất định ở các thể loại bút ký, truyện thiếu nhi, sách dịch, tiểu luận văn học, song nói cho đến cùng truyện ngắn mới là cái “nghiệp” thật sự của ông” [47, tr 14]
Từ những quan niệm nghệ thuật mới lạ, riêng biệt và độc đáo, Bùi Hiển
đã sáng tác nên những truyện ngắn miêu tả mang đậm tính hiện thực Với những gì đã đóng góp và để lại cho đời, nhà văn xứng đáng là một trong những cây bút nổi bật của nền văn học Việt Nam hiện đại
1.1 CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG BÙI HIỂN
1.1.1 Vài nét về cuộc đời Bùi Hiển
Nhà văn Bùi Hiển sinh ngày 22- 11- 1919, mất ngày 11-3-2008 Quê ông ở làng Phú Nghĩa Hạ, nay là xã Tiến Thủy, (có tài liệu cho rằng thuộc xã
Trang 16Quỳnh Tiên), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An Bùi Hiển sinh ra và lớn lên ở một vùng quê nghèo ven biển Tuổi thơ ông sớm chứng kiến cuộc sống lam lũ của những người dân quê Cát trắng, gió Lào, hơi nồng của muối biển theo suốt nhà văn trong những năm đầu đời Mảnh đất Quỳnh Lưu cùng cuộc sống của bà con làng chài ven biển đã in đậm vào những năm tháng tuổi thơ nhà văn Mảnh đất này với những phong tục, tập quán tín ngưỡng về sau chính là
đề tài một thời trong những truyện ngắn của tác giả Làng quê ven biển Phú Nghĩa Hạ chính là nơi khơi nguồn cảm hứng bất tận của nhà văn Mãi về sau, trong những câu chuyện của Bùi Hiển luôn có hình bóng người dân chài quê mình và cả những người nghèo của nhiều vùng quê khác Ông đã luôn sống trong cảm xúc của người dân để viết lên những tác phẩm với nỗi lòng cảm thông sâu sắc
Theo những ghi chép của Võ Văn Trực thì thời trẻ, Bùi Hiển theo học trường quốc học Vinh (nay là trường Huỳnh Thúc Kháng), thời gian này nhà văn ở trọ với một người bạn mê đọc văn học Pháp, tên là Hồ Phi Thức Hồ Phi Thức là người yêu văn chương, thường thức rất khuya đọc sách Dần dần Bùi Hiển cũng mê lây thói quen đọc sách văn học của người bạn này Vào lúc này, văn học Việt Nam có sự cách tân mạnh mẽ và nở rộ với nhiều sắc thái mới mẻ Những năm 1932-1933 nhà văn say mê tìm đọc những thiên truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan và những tiểu thuyết luận đề của các nhà văn trong nhóm Tự lực Văn đoàn như Thạch Lam, Thế Lữ, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng Từ đó, nhà văn bắt đầu có ý thức và hiểu rõ hơn trách nhiệm của người cầm bút
Sau khi ra trường, nhà văn về dạy tư ở quê rồi ra tỉnh đi làm công chức Thời gian rảnh rỗi, Bùi Hiển tập dịch một vài truyện ngắn của Maupassant và
cả tập viết văn, viết báo Các tác phẩm của ông chủ yếu kể về những phong tục, về mê tín dị đoan của người dân quê xứ Nghệ Tại đây, nhà văn bắt đầu
Trang 17tham gia phong trào truyền bá quốc ngữ Thời gian sống với nhân dân, cùng
tham gia những phong trào hoạt động cách mạng đã giúp Bùi Hiển đi sâu vào cuộc sống gian khổ của nhân dân Đây cũng là cơ hội để nhà văn trích lũy vốn sống, kinh nghiệm thực tiễn Từ đó nhà văn thêm hiểu về cuộc đời mà người dân nghèo phải chịu trong xã hội thực dân Trong giai đoạn này, nhà văn có thêm nhiều thời gian và điều kiện tiếp xúc văn chương Dù trong bất kì hoàn cảnh nào thì ông vẫn say mê tìm đọc những tác phẩm của những văn nghệ sĩ trong nước (Nguyên Hồng, Huy Cận, Nam Cao, Xuân Diệu) và nước ngoài (Mérimée, Tchékhov, Gorơki…)
Trước và trong thời gian diễn ra Cách mạng tháng Tám, Bùi Hiển tham gia tổng khởi nghĩa ở Vinh rồi sau đó làm chủ tịch Hội Văn hóa cứu quốc đồng thời giữ trọng trách của một Trưởng ty Thông tin tuyên truyền Nghệ An
Từ giữa năm 1949 đến 1950, Bùi Hiển công tác ở vùng địch hậu Bình Trị Thiên Cuối năm 1950, tác giả được bổ sung vào thường vụ Chi hội Văn nghệ Liên khu IV Cuộc chiến gian khổ của quân và dân được ông diễn tả một
cách chân thực trong tác phẩm (Ánh mắt) Cũng trong giai đoạn này, tại chiến
khu Thừa Thiên, nhà văn được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương Đây cũng là thời gian Bùi Hiển cùng sống trong không khí chiến đấu với các đoàn dân công Thậm chí ông còn tham gia chiến đấu trong một số trận đánh của tiểu đoàn chủ lực và các đơn vị dân quân du kích, đại đội địa phương Không ngại khó khăn, tác giả đi sâu vào các vùng địch chiếm đóng để làm công tác tuyên tuyền, báo chí xây dựng văn nghệ cơ sở Cứ thế, tác giả dần đi đời sống quần chúng một cách nhẹ nhàng, tự nhiên gần gũi nhất Những sự kiện, những
gì tác giả chứng kiến tận mắt giai đoạn này là cả một tài liệu đáng quý hữu ích
để nhà văn viết nên những tác phẩm đậm tính hiện thực
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Bùi Hiển đã có thời gian thực tế tại vùng khu IV cũ Những ngày tháng gắn bó nơi đây, nhà văn thuật
Trang 18lại gần như nguyên vẹn những gian khổ, hi sinh, mất mát, đau thương hết sức chân thật trong một số tác phẩm của mình Sáng tác của ông trong thời gian này có tính chiến đấu cao và có sức lay động lòng người Nhiều năm liền, nhà văn luôn có mặt tại các chiến trường khốc liệt
Năm 1957, Bùi Hiển gia nhập Hội nhà văn và giữ cương vị Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam liên tục các khóa I (1958-1961), II (1962-1972), III (1973-1982)
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Bùi Hiển thường hay vào Đồng Hới (Quảng Bình) rồi vào Hồ Xá, đến bến Hiền Lương (Quảng Trị) chứng kiến không khí chiến tranh để viết về đề tài kháng chiến Thừa Thiên Không chỉ thực tế ở chiến trường, nhà văn còn trở về một số vùng quê như hợp tác xã Đại Phong, lâm trường trồng cây chống cát ở phía nam Quảng Bình, nông trường Rạng Đông tại Hà Nam Ninh và một số hợp tác xã khác đang hăng hái tham gia sản xuất… Tại những vùng quê này, Bùi Hiển tìm hiểu tính cách con người, đi sâu vào các phong tục, sinh hoạt của từng vùng miền Nhà văn ca ngợi tinh thần chiến đấu hăng say, tăng gia sản xuất của bà con hậu phương Đến những năm 1965- 1968 Bùi Hiển vẫn có mặt ở vùng tuyến lửa để quan sát, ghi chép, tái hiện biểu dương tình cảm giữa
con người với con người trong thời chiến
Khi miền Nam được giải phóng, Bùi Hiển vẫn là cây bút xông xáo trên nhiều mặt trận Tác giả có thêm điều kiện để đặt chân đến đồng bằng Cửu Long, U Minh, Tây Nguyên… cho ra đời nhiều tác phẩm mang phong thái biểu hiện thanh thoát và hào hứng, phấn chấn hơn Nhà văn viết khá nhiều về
đề tài ngưỡi phụ nữ anh hùng, đó là người nữ chiến sĩ từng đóng giả trai đi đánh giặc, nữ y sĩ dân tộc Ê-đê, chị Năm Sương- thường vụ huyện ủy Ba Tri tỉnh Bến Tre, và cả về những người con gái từng sa ngã giờ đang cố làm lại cuộc đời
Trang 19Năm 1975, Bùi Hiển được làm trưởng đoàn Hội nhà văn theo chân Quân giải phóng vào Huế và Đà Nẵng Sau 1975, ông tiếp tục công tác trong Hội nhà văn Việt Nam và giữ chức chủ tịch Hội đồng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam khóa IV
Năm 2001, ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ
thuật cho các tác phẩm Bạn bè một thuở, Tuyển tập Bùi Hiển, Ánh mắt, Ngơ ngẩn mùa xuân
1.1.2 Sự nghiệp văn chương Bùi Hiển
Trên sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, Bùi Hiển để lại một gia tài văn học khá đồ sộ và đa dạng trên nhiều thể loại Ông viết rất sớm, từ trước Cách mạng tháng Tám, những tác phẩm của ông cũng đã được in trước trên
các tờ báo Hà Nội như: Ngày nay, Hà Nội tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc Chủ nhật, Thanh Nghị, Bạn đường Nhà văn không chỉ thành công ở thể
loại truyện ngắn mà còn thành công ở thể loại kí, dịch thuật, tiểu luận văn học Với những gì đã đóng góp và để lại cho đời, Bùi Hiển đã được trao tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2001, giải thưởng ghi nhận những thành tựu văn học suốt một đời cầm bút
Trong suốt cuộc đời sáng tác của mình, Sự nghiệp sáng tác của Bùi Hiển có thể chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám
và giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám
Thời gian trước Cách mạng tháng Tám, sau khi tốt nghiệp Cao đẳng tiểu học ở Vinh, tác giả về quê dạy tư Nhà văn bắt đầu tập viết văn, dịch sách, sáng tác truyện ngắn, làm thơ Về sau, Bùi Hiển thôi dạy tư chuyển qua làm thầy kí tại Vinh Trong quãng thời gian này, tác giả tìm đọc những tác phẩm của Nguyên Hồng, Nam Cao, Xuân Diệu, Huy Cận, các truyện ngắn của Mérimé, A Gide, S Maugham… Tại đây, nhà văn vẫn say mê viết lách,
mà mạch nguồn là cảm hứng là từ cuộc sống nghèo của người dân làng chài
Trang 20quê mình và cuộc sống khốn khổ của đời sống viên chức Ông cộng tác với
nhiều báo như Ngày nay, Trung Bắc chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy, Thanh nghị, Hà Nội tân văn, Bạn đường, Chủ nhật Truyện ngắn đầu tiên Bùi Hiển gửi đăng báo Phong hóa là truyện Hương tình vào năm 1940 Tuy nhiên
truyện này không để lại dấu ấn nhiều bởi chưa có chiều sâu và chưa đạt đến
độ chính của một tác phẩm văn học thực sự Đến năm 1941, Bùi Hiển mới
được chú ý bởi truyện ngắn Nằm vạ đăng trên báo Ngày nay Về sau, nhà in Đời Nay cho xuất bản tập truyện ngắn cùng tên với tác phẩm đầu tay: Nằm vạ… Thành công của Bùi Hiển thời gian này chính là truyện ngắn Trước
cách mạng tháng Tám, sáng tác của nhà văn xoay quanh hai đề tài: đời sống dân chài và đời sống tiểu tư sản trí thức, viên chức nghèo
Về đề tài người dân chài, Bùi Hiển đi sâu vào cuộc sống của chính người dân vùng chài ven biển quê hương nhà văn Quê hương tác giả thuộc vùng biển miền Trung với những điều kiện sinh sống, phong tục tập quán riêng không trộn lẫn với các vùng quê khác Chính vì thế mà đời sống người dân quê trong truyện ngắn Bùi Hiển khác với đời sống sống người dân làng quê trong truyện ngắn của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Tô
Hoài, Kim Lân … Nổi bật trong giai đoạn này tập truyện ngắn Nằm vạ (báo Ngày nay, 1941) Nằm vạ khắc họa rõ nét cuộc sống, phong tục tập quán, sinh
hoạt của người dân miền Trung Đại đa số nhân vật trong tập truyện này đều lấy nguyên mẫu từ bà con họ hàng, hàng xóm làm nghề đánh cá của tác giả Tập truyện thể hiện cái nhìn tinh tế, mới mẻ cùng cách viết giản dị, chân thật Cách viết nhẹ nhàng, dí dỏm, pha chút trữ tình đem đến cho người đọc những
cảm giác hiện thực Tập truyện Nằm vạ cũng đã tập trung miêu tả cuộc sống
vật lộn gay go ác liệt giữa con người với sự khắc nghiệt của thiên nhiên Nhà văn đã từng sống trong không khí sôi động tấp nập của người làng chài đồng thời cũng chứng kiến những cảnh tượng thương tâm Tất cả hiện về trong
Trang 21những ghi chép của nhà văn Không chỉ đau thương, lo lắng cuộc sống người dân mà nhà văn còn đồng cảm với cuộc đời cơ cực của họ Bùi Hiển xót thương cho những cuộc đời bất hạnh, những kẻ chết vô thừa nhận, một lão ăn mày ghẻ lở, một cụ già lang thang đói bụng nằm leo lắt trong đêm sương, một
cháu bé chết đuối ở bờ sông… Tất cả hiện lên chi tiết trong Chiều sương, Một trận bão cuối năm, Chuyện ông Ba Bị dân chài, Thằng Xỉn, Nhà xác,… Tuy nhiên tập truyện ngắn Nằm vạ chưa phản ánh được cuộc đấu tranh giai cấp
vùng nông thôn miền biển Nó cũng chưa có cái nhìn bao quát xã hội, “chưa
có cái căm giận, cái tỉnh táo, sắc sảo như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,
Vũ Trọng Phụng khi đập phá cái xã hội người bóc lột người, khi lột mặt nạ từng tên tai to mặt lớn trong tầng lớp thượng lưu lúc bấy giờ” [7, tr 15]
Viết về đề tài đời sống tiểu tư sản thành thị và viên chức nghèo Bùi Hiển không đi sâu vào khai thác tấn bi kịch cũng như đời sống nội tâm của
họ Nhân vật trí thức trong sáng tác của Nam Cao thường là những nhân vật
có sự giằng xé nội tâm và hay rơi vào bi kịch vỡ mộng như Hộ trong Đời thừa Thứ trong Trăng sáng Bùi Hiển ít khi tự đặt mình vào tâm trạng của nhân vật Những nhân vật trong tập Nằm vạ được nhà văn miêu tả xoay quanh đời
sống hằng ngày,với những khó khăn thường trực và không có những diễn biến tâm trạng phức tạp Tác giả viết về nhân vật của mình với thái độ cảm thông pha lẫn chút châm biếm nhẹ nhàng, cũng có khi là sự đùa vui hóm hỉnh Bùi Hiển ít khi đặt nhân vật của mình rơi vào tâm trạng bi quan, tuyệt vọng Điều
này thể hiện rõ trong Cái đồng hồ, Những nỗi lòng, Hai anh học trò có vợ, Ác cảm… Truyện ngắn Bùi Hiển trước Cách mạng tháng Tám đôi khi nhà văn
chưa bao quát xã hội, chưa đi sâu vào cái cốt lõi, gốc rễ của chế độ phong kiến lúc bấy giờ nhưng nhà văn đã đi vào những đề tài, những vấn đề mà ít nhà văn cùng thời chú ý đến
Trang 22Thời gian sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn tiếp tục công tác văn hóa văn nghệ, viết văn, viết báo phục vụ cách mạng và kháng chiến Truyện ngắn Bùi Hiển khai thác xung quanh hai cuộc đấu tranh của dân tộc Nhà văn dấn thân trên các mặt trận, chiến trường đi sâu vào quần chúng nhân dân
Một số truyện ngắn tiêu biểu như Đánh trận giặc lúa (1951), Gặp gỡ (1953)
Sau 1954, Bùi Hiển bám sát hiện thực cuộc chiến của đất nước, cuộc sống của nhân dân để đi vào miêu tả, phản ánh công cuộc lao động xây dựng chủ nghĩa
xã hội của nhân dân miền Bắc và cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân
vùng tuyến lửa Nổi bật là tác phẩm Trong gió cát (1965) Nếu trước Cách mạng tháng Tám, nhà văn thành công với tập Nằm vạ thì thời gian này Bùi Hiển khá gây ấn tượng bởi tập Ánh mắt Ánh mắt tập hợp những truyện ngắn viết trong mười năm từ năm 1951- 1961 Tập truyện thể hiện vốn sống phong
phú cũng như những tình cảm sâu sắc của nhà văn về chiến trường Thiên Những trang văn khắc họa sinh động, chân thực cảnh cướp bốc, càn quét, bắn giết người già, trẻ em, hãm hiếp phụ nữ, làng xóm ngập chìm trong bụi lửa ở hậu phương, và cảnh đói rét, bệnh tật, đau đớn, hi sinh ở chiến trường Tác phẩm tập trung miêu tả những còn người mới từ những chiến sĩ
Bình-Trị-trẻ cầm súng (Anh đội viên mới), những đứa bé dũng cảm dùng mưu sống giặt (Cái sẹo), những bà mẹ, những người vợ những cán bộ vùng địch hậu (Gặp
gỡ, Một tấm lòng, Một câu chuyện trong chiến tranh) Bên cạnh đó, Bùi Hiển
tập trung ca ngợi hình ảnh người phụ nữ Đó là những cô gái, người chị, bà
mẹ bình thường nhưng khi chiến tranh đến họ là cô du kích, là chiến sĩ, là cán
bộ đầy trách nhiệm và giàu lòng hi sinh Nhân vật nữ trong Gặp gỡ, Người vợ… vừa mang phẩm chất kiên cường của người chiến sĩ vừa mang đậm tính
cách của người phụ nữ truyền thống Tập truyện đánh dấu sự chuyển biến từ chủ nghĩa hiện thực phê phán sang chủ nghĩa hiện thưc xã hội chủ nghĩa Tập
truyện Ánh mắt đã chú ý đến những cảnh ngộ, những hoàn cảnh, những tình
Trang 23huống điển hình của chiến tranh Tập truyện cũng tập trung miêu tả quá trình hình thành và lớn lên những phẩm chất mới của con người trong kháng chiến
Truyện ngắn Đợi, Chiếc lá phản ánh số phận con người thông qua tính cách
nhân vật Nếu như trước Cách mạng tháng Tám tác giả có cái nhìn ngoài cuộc
và chưa phản ánh được hiện thực xã hội thì những truyện ngắn về sau của tác giả đã đi sâu vào miêu tả tính cách, tâm trạng nhân vật Bùi Hiển đặt ra những vấn đề có ý nghĩa khái quát thu hút sự quan tâm của bạn đọc Nhà văn chú ý theo dõi những diễn biến tâm lý từ ánh mắt, đến hành động, lời nói của từng
nhân vật Bùi Hiển phát hiện bên trong người con gái Đợi (truyện ngắn Đợi)
là cả một tâm hồn phong phú, là cả nghị lực sống khát khao được sống, mong muốn được góp chút công sức bé nhỏ của mình cho xã hội Khi đứng trước đám bèo hoa dâu phát triển, nhà văn nhận ra “Người con gái già, thể xác đã bị thui tẹt, tuồng như ngạc nhiên- cái ngạc nhiên vui sướng- trước sự sinh sôi kỳ diệu của cái giống cây hạ đẳng, bé tí xíu, xôm xốp, mỏng manh, bồng bềnh
trên mặt nước kia” [7, tr 392] Truyên ngắn Chiếc lá cũng đề cập đến một số
phận bất hạnh khác Cô gái tên Lựu không may bị mù từ năm lên bốn và sống mặc cảm với uy nghĩ “Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi” [7,
tr 413] Thời gian chữa bệnh tại bệnh viện, Lựu ấp ủ hi vọng có thể chữa lành mắt nhưng không may cô bị chết trong một trận ném bom của giặc Cái chết của Lựu gây xúc động lớn trong lòng tác giả: “Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một hi vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát
vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ” [7, tr 413] Chiếc
lá mang một ý nghĩa tố cáo khá sâu sắc về tội ác hèn hạ của đế quốc Mĩ đã hủy diệt mọi sự sống kể cả những người không có khả năng tự vệ Không chỉ
có Chiếc lá, Đợi mà nhiều truyện ngắn khác trong giai đoạn này cũng khơi dậy những yêu thương, sự cảm thông chia sẻ trong lòng mọi người Ánh mắt
vì thế mang tính khái quát, điển hình và có thông điệp ý nghĩa hơn
Trang 24Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Bùi Hiển còn để lại cho đời một
số tác phẩm có tính chất cắm mốc chuyển từ chủ nghĩa hiện thực phê phán
sang chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa như Lò lửa, Địa ngục, Đôi mắt, Truyện Tây Bắc… Trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa miền Bắc, nhà
văn cũng có những đóng góp nhiệt tình Thông qua truyện ngắn của mình, tác giả phần nào miêu tả được không khí, đời sống bà con trong công cuộc xây
dựng đất nước Trong gió cát, Ngày công đầu tiên của cu Ti, Chị Mẫn… là một trong nhiều truyện ngắn phản ánh được cái tinh thần đó
Theo nhận xét của Vương Trí Nhàn về văn chương Bùi Hiển trong giai đoạn chống Mỹ thì “Nói cho đúng ra, thời kỳ chống Mỹ là thời gian Bùi Hiển hoạt động rất khoẻ” [58] Quả thật vậy, nhà văn không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn mà còn thành công ở thể loại ký Thời gian này nhà văn có mặt ở vùng tuyến lửa ngay từ những ngày đầu giặc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc Ông sống và viết về cuộc chiến đấu anh hùng của các chiến sĩ và
bà con từ Nghệ An đến Hà Tĩnh, Quảng Bình, Vĩnh Linh Chính những năm tháng sống và gắn bó với vùng đất này, Bùi Hiển đã có dịp quan sát, ghi chép, tái hiện biểu dương tình cảm giữa con người với con người trong thời chiến
Tất cả hiện diện trong Kỷ niệm về người con đi xa, Những con số một, Ý nghĩa ban mai… Nổi bật là truyện ngắn Kỷ niệm về người con đi xa- tác phẩm được
trưng cầu ý kiến của độc giả đánh giá là truyện ngắn xuất sắc trong số các
truyện đăng trên tuần báo Văn nghệ năm 1970 Kỷ niệm về người con đi xa
dựng lên vấn đề hai thế hệ: cha và con Dù cha và con thuộc hai thế hệ khác nhau nhưng cùng đứng chung trên chiến trường chống Mỹ Tình cảm của cha con hòa lẫn với tình đồng chí, tình đồng đội, cùng chung một chí hướng, lý tưởng cách mạng
Những truyện ngắn trong thời kì này có khi lặng lẽ dõi theo số phận một số cuộc đời, cũng có khi ghi nhận vẻ đẹp thầm kín của con người chống
Trang 25Mỹ, có khi miêu tả những tổn thất, mất mát, hi sinh Bên cạnh đó, nhiều tác phẩm cũng được tác giả viết với niềm tin yêu về vẻ đẹp lý tưởng và những
chiến công mà họ đã đạt được Đó là những con người trong Những đêm, Chuyện làng, Giản dị, Nhớ về một mùa thị chín và những tia lạc, Một cuộc đời, Mai đây những buôn làng đẹp Tác phẩm ghi lại quá trình khám phá, tìm hiểu vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ trẻ như: Những tiếng hát hậu phương, Hoa và Thép hay Nhi, Cái mũ, Hạt vàng… Trong đó, Cái mũ như báo hiệu sự xuất
hiện một loạt truyện ngắn đi sâu vào thế giới bên trong ít nhiều có màu sắc tư duy, chiêm nghiệm những truyện ngắn sau này
Sau ngày miền Nam được giải phóng năm 1975, Bùi Hiển đã có tuổi nhưng ông vẫn là cây bút xông xáo trên nhiều chiến trường Hòa bình lập lại, tác giả có nhiều thời gian để ngao du, trải nghiệm trên nhiều miền Nhà văn trải lòng mình với những vùng đất mới như U Minh Thượng, U Minh hạ, Tây Nguyên Đề tài về người phụ nữ là đề tài được Bùi Hiển quan tâm khá nhiều
Sáng tác thể hiện sự thành công của nhà văn ở đề tài này đó là: Một cuộc đời, Mai đây những buôn làng đẹp, Gặp gỡ ở Ba Tri, Lên đường may mắn `
Sau 1975, truyện ngắn Bùi Hiển tiếp tục đi sâu vào nội tâm con người Nhiều truyện của ông mang tính chất là những “truyện ngắn luận đề” Hai tập
truyện nổi bật thời kì này là Ý nghĩ ban mai (1980) và Tâm tưởng (1985) Nếu
như trong hai cuộc chiến tranh, truyện ngắn của Bùi Hiển nặng về khuynh hướng “hướng ngoại” thì trong những năm gần đây ngòi bút của nhà văn lại thiên về “hướng nội”, nghiêng về khuynh hướng có tính luận đề Nhà văn thường đưa ra một kiểu người đại diện cho một cách sống, một sự lựa chọn từ
đó nâng lên một vấn đề có ý nghĩa khái quát Nổi bật trong hai tập truyện này
là sự chiêm nghiệm của nhà văn trước những vấn đề cuộc sống: mối quan hệ
cá nhân- cộng đồng, sự đấu tranh bên trong mỗi con người trước những phức tạp của đời sống, là những biến đổi về tình cảm con người trong xã hội Nhiều
Trang 26truyện có tính phê phán ra đời Truyện ngắn Cái bóng cọc mở đầu cho những truyện ngắn mang âm hưởng phê phán sau 1975 Còn Những con số một lại
đặt ra mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng Trong các truyện mang âm
hưởng phê phán như Cái bóng cọc, Hòa Hiệp… thì Anh bạn Kỉnh của tôi
phản ánh trực tiếp những vấn đề xã hội thời đó như chuyện kéo bè kéo cánh,
về chuyện tranh giành địa vị ở một số cơ quan, chuyện đục khoát tài sản công, chèn ép người hiền lành vô tội…
Trong suốt thời gian hoạt động nghệ thuật, nhà văn đã để lại cho nền văn học nước nhà khoảng 16 tập truyện ngắn Lòng say mê công việc và ý thức trách nhiệm của người cầm bút đã giúp nhà văn ngày càng thành công hơn trong sự nghiệp
Trong sự nghiệp văn chương của mình, Bùi Hiển thành công nhất với
thể loại truyện ngắn Đó là những truyện: Những tiếng hát hậu phương (1970), Hoa và thép (1972), Một cuộc đời (1976), Ý nghĩ ban mai (1980), Tâm tưởng (1985), Ngơ ngẩn mùa xuân (1995), Hai mươi lăm truyện ngắn 1940 - 1995 (1996), Tuyển tập Bùi Hiển (tập I, 1987; Tập II, 1997)
Do yêu cầu của nền văn nghệ cách mạng, Bùi Hiển còn mở rộng sáng
tác thêm ở nhiều thể loại khác như bút ký, truyện ký: Trong gió cát (1965), Đường lớn (1966), Cao Bá Tuyết và đồng đội (1967), Người mẹ trẻ (1967),Những mẩu truyện về một bệnh viện anh hùng (1968), Một cuộc đời (1976), Mai đây những buôn làng đẹp (1978)
Ngoài ra nhà văn còn viết nhiều cuốn sách như: Bước đầu viết truyện: kinh nghiệm viết mẫu truyện và truyện ngắn được xuất bản năm 1960; Hướng
về đâu văn học (tiểu luận, 1996); Bạn bè một thuở (1999)
Bùi Hiển còn dịch nhiều tác phẩm khác: Viết truyện ngắn (Antônốp, Liên Xô) (1956), Đội cận vệ Thanh niên (A.Phađêép, Liên Xô) (1960), Những người chết còn trẻ mãi (A.Dêgớc, CHDC Đức) (1963), Guylive đến nước Tý
Trang 27Hon (1957), Guylive đến nước khổng lồ (1957), Những người yêu nữ thần biển, nhiều tác giả (1993), Bản di chúc Pháp, Andrei Makine (1998), Những truyện ngắn phương Đông, Marguerite Yourcenar (1996)
Không chỉ dừng lại ở đó, nhà văn còn viết sách cho thiếu nhi Nổi lên
là những tác phẩm như: Bên đồn địch (1962), Quỳnh xóm cháy (1965), Nhớ về một mùa thị chín (1983)
Nhìn lại cuộc đời sáng tác văn chương của Bùi Hiển ta có thể thấy nhà văn là người có khả năng sáng tác trên nhiều thể loại Ở thể loại nào nhà văn cũng tìm cho mình những lối viết thích hợp Và dù là những sáng tác trước Cách mạng tháng Tám hay sau Cách mạng tháng Tám thì văn chương Bùi Hiển bao giờ cũng bình dị, súc tích, ngắn gọn, thấm đẫm xúc cảm Nó chất chứa nhiều nỗi lòng của nhà văn trên từng lời văn, mẩu chuyện
1.2 VỊ TRÍ CỦA BÙI HIỂN TRONG LỊCH SỬ VĂN HỌC VIỆT NAM
1.2.1 Nhà văn có quan niệm nghệ thuật riêng biệt, độc đáo
Trong quá trình sáng tác Bùi Hiển luôn tỉ mỉ, cẩn thận trong từng vấn
đề nhỏ Ông là một trong ít nhà văn viết riêng sách nói về kinh nghiệm viết mẩu truyện và truyện ngắn Ngay từ thưở đầu ông đã tự tạo dựng cho mình một quan niệm nghệ thuật riêng Nhà văn nhấn mạnh đến: “Chất sống” trong văn chương, văn chương phải “thật hơn sự thật”, và văn chương phải có “tính thiện”
Bùi Hiển luôn đề cao “chất sống” trong văn chương Ông cho rằng văn chương phải bắt nguồn từ hơi thở cuộc sống và gắn chặt với hiện thực đời sống “Chất sống” chính là một trong những quan điểm nghệ thuật tiêu biểu của nhà văn Có thể nói quan điểm này đã chi phối khá đến cách tạo ra những sáng tác của nhà văn Ông quan niệm “chất sống” là vật liệu tối ưu để tạo nên tác phẩm Thế nên ta bắt gặp nhiều tác phẩm phản ánh cuộc sống của những con người bình dị xung quanh Nhà văn cho rằng: “nhà văn viết và hình thành
Trang 28tác phẩm nhanh hay chậm là do sự nhuần nhuyễn đến đâu của chất sống trong nhà văn quyết định, tác phẩm của nhà văn hay hay dở, thành hay bại là do mức độ nhuần nhị của vốn sống nhà văn, và rồi, tác phẩm ấy có lợi hay có hại
là do chất sống đã nhuần thấm đến đâu vào con người nhà văn” [8, tr 549] Vấn đề “chất sống” theo quan niệm của Bùi Hiển chính là hiện thực đời sống đang diễn ra, là những cảnh đời đang trải Tác giả vì thế viết bằng cả cảm nhận, bằng sự trải nghiệm của chính bản thân Ông luôn viết về những gì mình đã có dịp quan sát, chứng kiến và nhập cuộc Chính tính thật trong từng câu chuyện, lời văn cùng với sự cảm nhận trải nghiệm của bản thân người cầm bút sẽ làm văn chương có “chất sống” hơn Tập truyện ngắn đầu tay của Bùi Hiển đã thể hiện rất rõ cái “chất sống” ấy Sự am hiểu về phong tục, tập quán, sinh hoạt, công việc làm ăn, cuộc sống của những người dân chài đã giúp Bùi Hiển bắt sâu hơn vào cái mạch quần chúng Hiện thực đời sống khi đưa vào tác phẩm, được gọt dũa qua câu chữ của tác giả vô tình trở thành
“chất sống” nuôi dưỡng tác phẩm Những nhân vật trong tập truyện phần lớn
có nguyên mẫu từ những người thân của nhà văn Nằm vạ hầu như đã đưa
cuộc sống của người dân chài vào trong từng câu chuyện Mỗi truyện ngắn là mỗi câu chuyện khác nhau Tất cả rất thật và sinh động Không những tả cảnh vật lộn của ngư dân với biển cả trong những lần đánh bắt cá xa bờ nhà văn còn có những nhận xét tinh tế về nghề câu cá, đánh cá, những kinh nghiệm xem thời tiết của người dân chài Những câu văn miêu tả sóng biển ngoài khơi thật đến nỗi khiến người tan liên tưởng, tưởng tượng ngay đến khung cảnh hãi hùng đó như đang ra trước mắt mình: “Sóng dâng cao, xô đẩy nhau nháo nhác Biển phình hẳn lên, sùi bọt trắng Phía phương nam mây đen kéo nghịt, thoáng cái đã tới đỉnh đầu chúng tôi và thả xuống một làn nước rào rạt Rồi lại một đám rải nữa, mọc lên không biết từ đâu; một trận mưa nữa tiếp liền Gió phùn phụt mỗi lúc một mạnh, phải hạ buồm mũi xuống Thuyền nghiêng
Trang 29chếch về phía tay phải, cứ thế mà đi như người làm xiếc”- Bám biển [7, tr
22] Bên trong nét đẹp về một miền quê với những con người chất phác, hiền lành, yêu đời lạc quan thì vẫn có một số điểm xấu khác Tác giả miêu tả cả một số tập tục cỗ hủ, mê tín ngay trong chính người dân Đó nỗi sợ hãi về sự huyền bí của biển cả, trước sự hoành hành của dịch tễ và mọi thiên tai của trời
đất Đó là nỗi ám ảnh về ma đậu, ma biển, thần trùng, quan ôn (Ma đậu, Chiều sương) Cuộc sống nghèo khó, túng quẫn đôi khi đẩy họ đến những hành động nóng nảy, liều lĩnh, cục cằn (Thằng Xin)
“Chất sống” trong truyện ngắn Bùi Hiển còn là sự chú ý, quan sát cả những chi tiết, sự việc nhỏ bé trong cuộc sống Những tình tiết tưởng chừng nhỏ bé đơn giản ấy khi đưa vào văn chương qua cái nhìn tinh tế của nhà văn
lại có sức lay động lòng người Không chỉ có Nằm vạ thể hiện “chất sống” mà
về sau tập Ánh mắt cũng thể hiện cái “chất sống” rất rõ nét Ánh mắt là tập
truyện thể hiện tình cảm thiết tha, cảm phục của nhà văn đối với nhân dân Bình Trị Thiên trong năm kháng chiến gian khổ Nhiều truyện ngắn trong tập truyện đã đi sâu miêu tả kĩ lưỡng từng khía cạnh, từng con người trong trận chiến Đôi khi nhà văn đi sâu vào tình cảm, tình huống điển hình trong chiến tranh Đó là cuộc gặp gỡ của đôi vợ chồng trẻ trên đường đi công tác, là sự lựa chọn đấu tranh giữa một bên là tình cảm riêng và một bên là trách nhiệm
đối với công việc, trách nhiệm nghĩa vụ đối với nhân dân Truyện ngắn Gặp
gỡ khiến không ít người bùi ngùi xúc động, xót thương Tác giả đi sâu vào
diễn biến tâm lý cũng như những trăn trở của hai vợ chồng Miên- Đương:
“Hồi chiều em thấy thằng Chuyên con chị Hoàng hắn chơi ngó dễ ghét quá… Đôi khi cũng có một đứa con nít mà bồng… Nhưng mà trở ngại công tác lắm Thôi, chờ khhi nào kháng chiến thành công đã…” [7, tr 277]
Những câu chuyện riêng tư của đôi vợ chồng được nhà văn miêu tả qua những câu văn hết sức bình dị Đó đều là những con người vì công việc chung
Trang 30mà quên đi tình riêng cá nhân Những chi tiết nhỏ tưởng chừng vụn vặt ít người để ý lại chính là “chất sống” cho một tác phẩm văn học
“Chất sống” còn từ việc người viết phải biết cách đi vào tâm hồn những con người bất hạnh để miêu tả cuộc sống của họ Nhà văn đi từ sự đồng cảm với một số hoàn cảnh không may trong cuộc sống Từ sự đồng cảm, chia sẻ nỗi đau của những người bất hạnh, độc giả có thêm cái nhìn cảm mới thông hơn trước số phận cuộc đời của từng nhân vật Chất sống chính là từ sự đồng
cảm, đồng điệu đó Chiếc lá đề cập đến số phận của cô gái mù tên Lựu từ nhỏ
Mặc cảm bản thân, Lựu luôn có suy nghĩ: “Tôi giừ thì thủ phận, cốt sao đỡ gánh nặng cho xã hội là may rồi… Cái lá tre rụng ngoài ngõ còn có tác dụng hơn tôi” [7, tr 441] Dù có suy ngĩ như vậy nhưng bên trong cô gái này vẫn tiềm tàng niềm khát khao sống mãnh liệt Bị mù nhưng Lựu vẫn tham gia những đêm tát nước ngoài đồng Dăm Phe cùng tốp thanh niên trong làng Cô vẫn nuôi niềm hi vọng chữa lành mắt để có cuộc sống mới, sống có ích, làm nhiều việc cho đời hơn Cơ hội đến, nhưng thật không may, Lựu hi sinh trong lần đánh bom của giặc Mỹ xâm lược Sự ra đi của cô không chỉ khiến tác giả bùi ngùi xúc động mà còn khiến bạn độc xót xa, thương cảm Đối với Bùi Hiển thì nhân vật Lựu “chưa bao giờ chịu đành phận làm một chiếc lá thui chột hoặc tàn úa, dính lỏng lẻo trên cành Em muốn góp phần chuyển chút nhựa làm nên hoa trái của cuộc đời Đối với tôi, em mãi mãi là chiếc lá xanh non căng nhựa, một hi vọng hoa thơm và quả ngọt, một khát vọng đẹp tươi không bao giờ tắt, không gì có thể phai mờ” [7, tr 462] Cái chết của Lựu đã mang một ý nghĩa tố cáo tội ác giặc Mỹ sâu sắc Không chỉ đồng cảm với số
phận nhân vật Lựu, ở truyện ngắn Đợi, nhà văn cũng đã chú trọng đến những
biến đổi trong tâm hồn nhân vật Đợi Đợi hay Lựu đều là những nhân vật có
số phận không may nhưng luôn khát khao sống sao cho có ích với đời Chính
Trang 31nét đẹp trong tâm hồn của hai nhân vật này đã làm cho tác phẩm có sức sống hơn trong lòng độc giả bao thế hệ
“Chất sống” trong văn chương của Bùi Hiển không chỉ tập trung miêu
tả những con người với những phẩm chất đẹp mà con miêu tả nhiều khía cạnh Tác phẩm Bùi Hiển vì thế mà rất thật, y như những gì cuộc sống đang diễn ra
Suy ngẫm về văn chương, Bùi Hiển cho rằng văn chương phải “thật hơn sự thật” Nhà văn luôn chú trọng đến vấn đề hiện thực trong sáng tác Ông cho rằng “phải biết vận dụng khả năng sáng tạo của ngòi bút để làm nên
một thứ văn mà ông gọi là “thật hơn cả sự thật” để “nâng chất thật và thường lên thành chất cũng vẫn thật nhưng cao hơn thường”” [8, tr 549] Trong
nhiều tác phẩm của mình, nhà văn miêu tả những chi tiết, sự việc thực ngoài đời bằng lối viết tinh tế khéo léo Tất cả hiện lên như thật, người đọc như tận mắt chứng kiến cái hiện thực cuộc sống đó qua mỗi trang văn Bùi Hiển hiểu
rõ sự gắn kết khăng khít giữa hiện thực đời sống và văn học Văn học phải bắt
rễ sâu vào cuộc sống Nếu nhổ cái rễ ấy khỏi đời sống thực tế thì văn học sẽ chết Nhà văn là người phải hiểu rõ, sức sống cho mỗi tác phẩm chính là khởi nguồn từ hiện thực đời sống Không khoa trương, không bịa đặt chủ quan
sáng tạo… mà là phản ánh đúng hiện thực Trong bài viết Nghề nghiệp truyện ngắn ông cũng đã khẳng định rằng: “Nói chung những nhân vật chủ yếu của
tôi đều có nguyên mẫu trong đời sống Đó là những con người mà tôi quen biết, tôi hiểu họ đến một mức nào đó khiến có thể dựng, không những các nét
bề ngoài mà cái tâm lý cốt yếu bên trong và khi đặt họ vào một tình huống mới do mình tưởng tượng, thì tôi có thể đoán biết họ sẽ ăn nói sử xự ra sao.”[37, tr.19]
Vấn đề “thật hơn sự thật” trong văn Bùi Hiển được thể hiện qua việc miêu tả chi tiết cuộc sống khốn khó của người dân Trong truyện ngắn Bạc và
Trang 32Chuyện ông Ba Bị dân chài, Bùi Hiển đã phản ánh sinh động vấn đề cuộc
sống nghèo khó nên thiếu thốn nhiều thứ, người dân chưa ý thức giữ gìn vệ
sinh trong ăn uống, sinh hoạt Trong truyện ngắn Bạc miêu tả quán thịt cầy rất
thô sơ ở chợ phủ của một mụ già: cãi chõng, cút rượu, vài cái chén cáu bẩn Hằng ngày mụ bán cho khách những “đĩa thật cầy, trông đen đen hơi bẩn” [47, tr 8] Khi khách đến ăn thì “Mụ hàng lanh lẹn lấy thêm rượu, đặt thêm một đôi đũa và một cái chén mà mụ đã thò ngón tay ngoáy cho bớt bẩn” [47,
tr 9] Tất cả những chi tiết, hành động hiện lên rất thật Cái cảm giác hơi ghê
cứ hiện lên trong đầu những ai đọc ngang qua Còn trong Chuyện ông Ba Bị dân chài thì thằng Còi- con chị Ngò bị mọc mụn ghẻ lở được Bùi Hiển miêu
tả khá chi tiết “ Thằng bé bị lở lói; những nốt lở mưng mủ làm một vòng vàng vàng, xanh xanh quanh cái vảy tròn nâu thẫm; khi tắm, nốt lở bị cọ loét để lộ những chấm thịt hồng” [7, tr 93] Cuộc sống nghèo khó, vấn đề vệ sinh chưa được người dân coi trọng Không chỉ quan sát mô tả vấn đề sinh hoạt ăn uống của người dân, Bùi Hiển còn chú ý tới những nguyên nhân làm nảy sinh tính cách xấu của con người Cuộc sống khốn khó không chỉ ảnh hưởng đến cái
ăn, cái mặc mà còn làm nảy sinh một số tính xấu như tham lam, độc ác, ăn
cắp, nóng nảy, bạo lực… Nhân vật Xin trong Thằng Xin là một ví dụ điển
hình Vì thiếu thốn nó có thể nhẫn nại ngồi rình để bốc trộm một nắm cá trong
rổ của người dân chài Nhưng bao nhiêu bực tức, ấm ức, tủi nhục nó lại gắt lên với người mẹ già Không chấp nhận được cuộc sống thực tại thằng Xin có những hành động chống đối lại hiện thực “Mỗi khi ăn không đủ no, hắn đá phắt niêu cơm rõng, vừa chửi đổng vừa nhìn mẹ hắn và mấy đứa em gái đông lít nhít bằng cái nhìn thấm thía Mùa đông, những đêm quá rét, không ngủ được hắn xé toạc cả những chăn bì vứt lung tung, lấy chổi hoặc giật tranh mái nhà đốt ngồi sưởi”[7, tr 102] Nhưng đỉnh điểm của sự chống đối lại cuộc sống khốn khó đó chính là hành động giết chết thằng Năm Chột vì nghi ngờ
Trang 33Năm Chột lấy trộm tiền tiết kiệm của mình Người đọc không khỏi xót xa thương cảm cho Xin khi trước cái chết của đồng loại thì y vẫn bình tĩnh như không có vấn đề gì Điều y quan tâm nhất vẫn là “ngồi đè lên hòm tiền như sợ mất cắp lượt nữa” [7, tr 106] Sống trong cảnh thiếu thốn, thằng Xin muốn được làm một chân phụ ở thuyền đánh cá Hắn đã để dành được một chút ít tiền và ước ao được hầu hạ bạn chài, được thổi cơm tát nước, dành dụm tiền
để hỏi cưới vợ Ước mơ nào có xấu xa, ước mơ được tự tay lao động và tận hưởng từ công sức lao động Nhưng thật xót xa Bùi Hiển tỏ ra cảm thông và đồng cảm với những nỗi buồn, những mơ ước của từng người dân
Truyện ngắn của Bùi Hiển đã khám phá được những nét rất thường của cuộc sống người dân lao động Mỗi truyện ngắn của nhà văn đều thể hiện một khía cạnh đáng quan tâm trong cuộc sống Những vấn đề mà ông đề cập đến
kì thực rất nhỏ bé, vẫn đang hiện hữu xung quanh cuộc sống hằng ngày của người dân quê hương ông Tất cả đều hiện lên qua cái nhìn đầy tinh tế, cảm nhận sâu lắng và đầy trải nghiệm của chính nhà văn
Không chỉ miêu tả sự thay đổi trong bản tính con người, Bùi Hiển còn miêu tả rất thực cuộc vật lộn gay go quyết liệt của ngư dân trước biển cả Dường như đã quá quen với cảnh hoành hành của bão nên người dân nơi đây rất bình tĩnh khi bão ập tới bất ngờ Nhà văn miêu tả khá kĩ lưỡng sự nổi giận
của biển cả trong nhiều truyện ngắn khác nhau như Chiều sương, Bám biển, Một trận bão cuối năm…: “Quá nửa đêm, gió càng lên mạnh Ngoài kia bể
réo sôi, sự náo động của những sức mạnh phi thường, bởi diễn trong bóng tối dầy, càng rợn một sự dọa mạt ghê sợ Làng đã tỉnh dậy, bỗng rộn hẳn lên Tiếng người gọi nhau, gió mưa át mang đi Ngoài sông, một giọng còn ngái ngủ la hét hốt hoảng: có chiếc thuyền nào đã bứt dây neo, trôi đi theo chiều gió Người ta hồi hộp chờ đợi một tiếng đụng rầm rột…”[7, tr 84] Đối với ngư dân sự sống và cái chết khi đánh bắt cá xa bờ cận kề trong gang tấc
Trang 34Sương mù, mưa to, gió lớn, bão tố… thiên tai với vô vàn tình huống rất dễ gặp nạn giữa biển khơi Có khi sự chóng chọi đó nguyên đêm Thuyền nào cũng sũng nước Lạnh và đói nhưng nỗi lo sợ nhất vẫn là nỗi sợ không được sống sót trở về đất liền
Viết về nỗi khổ đi biển của người dân quê, Bùi Hiển đã miêu tả khá chi tiết, cận cảnh những vấn đề mà người dân phải gánh chịu Không màu mè, tô trát, không dùng những câu từ mỹ miều, tác giả diễn tả đúng như những gì nó đang diễn ra Cùng với việc sử dụng từ ngữ địa phương đã làm cho truyện ngắn của Bùi Hiển rất thật như đúng những gì mà nó đang mang Tác giả đã
có sự linh hoạt chọn lọc để biến thứ ngôn ngữ đời thường của người dân quê thành ngôn ngữ của văn chương Tầng lớp ngôn ngữ đó đi vào trang sáchrất dỗi tự nhiên, rất thật và lấy được sự đồng cảm, thích thú của nhiều độc giả hơn Viết về cuộc sống người dân chài, nhà văn đã tỏ ra rất am hiểu và cảm thông sâu sắc trước khó khăn, nguy hiểm mà người dân phải phải gánh chịu
Đối với Bùi Hiển, văn chương phải phản ánh sự thật nhưng như vậy không có nghĩa là đưa nguyên xi hiện thực vào trong trang văn Hiện thực đời sống phải được “tái tạo”, cách điệu qua lăng kính của nhà văn Để có được sự cách điệu hóa này đòi hỏi nhà văn phải có sự trải nghiệm tinh tế Người viết qua việc quan sát cuộc sống, tự cảm nhận, tạo cho mình một thế giới quan hoàn chỉnh để truyền tải cái ý nghĩa của cuộc sống qua từng câu chữ lời văn Văn chương có khả năng nhận thức vô cùng to lớn trên nhiều bình diện của hiện thực đời sống về tự nhiên cũng như về xã hội Hơn hết, nhà văn phải là người giúp người đọc nhận thức cuộc sống và hiện thực qua những khám phá
và sáng tạo của nhà văn Khi miêu tả hiện thực đời sống, nhà văn cho rằng
“người viết phải bằng con mắt bên trong, thấy biểu hiện lên đối tượng mình miêu tả, mình có thấy mới làm cho người đọc có thấy Có thấy rõ mới biết lấy
ra những cái chủ yếu để làm nổi bật trong mấy nét bút gọn, sắc Không tỉa tót,
Trang 35tỉ mỉ, rườm rà Đôi ba nét phác họa, gây được ấn tượng có thể thay cho một đoạn tả dài” [37, tr 21] Văn chương không thể hời hợt, bởi nếu hời hợt, thoáng qua hoặc xa rời hiện thực thì không còn là văn chương nữa Có thể thấy Bùi Hiển đòi hỏi khá cao sự nhạy bén cũng như khả năng quan sát, cảm nhận, làm chủ ngòi bút của người cầm viết
Không những quan niệm về “chất sống” và hiện thực trong văn chương, Bùi Hiển còn quan niệm văn chương phải có “tính thiện” Quan niệm
này cũng chính là điểm gặp gỡ chung của những nhà văn chân chính Bùi
Hiển luôn mong muốn mỗi tác phẩm văn chương phải khơi dậy những gì tốt đẹp, lòng trắc ẩn bên trong mỗi con người Nó làm cho con người gần nhau hơn Những câu chuyện trong tác phẩm của nhà văn đơn giản chỉ là tái hiện hiện thực đời sống của những con người với những số phận, những mảnh đời khác nhau Người ta nhìn vào đó, đồng cảm, thấu hiểu để rồi từ đó tự hoàn
chỉnh bản thân mình Xét cho cùng “tính thiện” cũng chính là một phương
diện của chủ nghĩa nhân đạo của văn học Giá trị nhân đạo dựa trên niềm cảm thương sâu sắc của nhà văn đối với số phận nhân vật Nhà văn từ lòng thương người mà lên án tố cáo những thế lực đã chà đạp lên quyền sống của con người Cũng từ lòng nhân đạo, nhà văn cũng phát hiện, ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của con người và kêu gọi giải phóng cá nhân ra khỏi những khổ đau và bất hạnh
Trong các tác phẩm của mình, Bùi Hiển luôn thể hiện cái “tính thiện”
đó qua sự đồng cảm, cảm thông xót xa trước những số phận và những kiếp người bất hạnh Đó là những con người khốn khó với nghề đi biển, là cuộc sống tẻ nhạt, nhẫn nhục, mòn mỏi của viên chức, dân nghèo thành thị
Viết về người dân đi biển, Bùi Hiển nhìn thấy những đau thương, mất
mát sau mỗi trận bão ngoài khơi xa Trong Chiều sương, bạn chài tìm thấy
anh Hoe Chước trong hoàn cảnh khiến người ta xót xa: “Tay anh co quắp còn
Trang 36cắp chặt trong nách một cái chèo ngắn, mặt anh ta tái nhợ, mắt nhắm nghiền, hai hàm răng cắn khít…” [7, tr 71] Những người bạn chài của anh Hoe Chước thì bị sóng quật vào lèn đá đến rã xương Rồi có những lúc, giữa đêm trên biển, ngư dân gặp phải những con thuyền ma, thuyền đụng phải khối núi
đá, sóng biển… Rất nhiều mối nguy hiểm rình rập khiến con người ta lúc nào cũng lo âu hoang mang Nhưng vì bát cơm manh áo, vì cuộc sống gia đình mà người dân vẫn phải ra biển đánh bắt cá kiếm sống dù có phải đánh đổi bằng cả tín mạng của mình Biết bao gia đình dân chài phải chịu cảnh tang tóc, thê lương Chồng chị Ngò bỏ mạng trong một trận bão đã hai năm nay Chồng mụ Xin thì bị cá mập nuốt: “bác Xin lặn xuống gỡ lưới, hồi lâu, bỗng một bong bóng rất lớn nổi lên vỡ bùng trên mặt nước: thế là hết” [7, tr 102] Cảm hứng
nhân đạo hiện rõ trong tập truyện Nằm vạ qua những tác phẩm như Nhà xác, Những nỗi lòng, Một trận bão cuối năm và về sau là Đợi, chiếc lá, và các bút
ký Nợ máu
Còn trong những truyện ngắn viết về người viên chức và dân nghèo thành thị, Bùi Hiển cho rằng họ khổ vì họ nhu nhược, hèn yếu không dám hành động để thoát khỏi hoàn cảnh nghèo khó đó Người viên chức luôn phải sống trong sự dằn vặt, trăn trở vì đã lừa dối mọi người và tự lừa dối cả bản thân Họ đau khổ vì không dám nhìn thẳng vào sự thật vấn đề, sự việc đó
Truyện ngắn Người chồng, viết về anh công chức làm ở buồng sở Lục Lộ –
thông Bân Công việc buồng sở tẻ nhạt, đơn điệu, thời gian dư giả khá nhiều khiến cho thông Cần, thông Chu, ông Chánh nói chuyện vặt, châm chọc, chế giễu lẫn nhau Nhân vật thông Bân khá hiền, kém ăn nói nên là mục tiêu trêu ghẹo của bạn bè nơi công sở “Bân bị giễu, mặt đỏ bừng, rồi tái đi, đôi môi bầm rung lập bập Anh ta cắm đầu, giả cách làm việc Vốn tính xung động, lòng Bân nóng sôi liền Nhưng lại vì nhát, cũng như những lần trước; anh ta nín lặng, chịu nhịn Đã bao lần như thế, dần dà nỗi tức giận chuyển thành một
Trang 37niềm nhẫn nhục chua xót và đè nén” [7, tr 122] Thông Bân có thể phản kháng để chấm dứt mọi sự trêu nghẹo của bạn bè nhưng y đã chọn cho mình con đường nhẫn nhịn đè nén nỗi tức giận để rồi về nhà trút tức giận, ra vẻ oai nghiêm trước người vợ tội nghiệp Nhưng một ngày, bất ngờ vợ y phản kháng một cách mạnh mẽ Trạng thái chống đối của vợ làm thông Bân ngạc nhiên xen lẫn nể phục Từ đây anh chấp nhận phục tùng vợ y như mình đã từng cam chịu phục ông chủ và bạn đồng nghiệp nơi công sở “Người chồng thấy nẩy
nở trong lòng một tình cảm mới gần như sự kính nể Anh cảm thấy trước mình sẽ chịu phục tòng vợ, như bao lâu nay anh đã cam chịu phục tùng ông chánh và bọn đồng nghiệp trên sở lam” [7, tr 130] Thông Bân muốn quên đi
áp lực nơi công sở thì quay về hạch sách vợ, nhưng cuối cùng cũng phải phục tùng vợ Nếu như anh chịu phản kháng, đối đáng lại như vợ thì chắc hẳn những trò đùa nghịch, khích kháy của bạn bè ở buồng sở Lục Lộ sẽ không còn Kết thúc câu chuyện là sự nể phục kính nể vợ và nhẫn nhục chấp nhận sự trêu đùa đồng nghiệp chứ chưa có hành động phản kháng để thoát khỏi hoàn cảnh Hoàn cảnh của thông Bân khiến người ta cảm thấy y vừa đáng trách vừa đáng thương Những người viên chức khác vì công việc nhàm chán nơi công
sở, lại tìm đến các thú tiêu khiển vô bổ: uống rượu, hát ả đào, hút thuốc phiện… Thế nhưng, sau những giờ phút say sưa, trụy lạc họ phải trở về với cuộc sống đời thường và càng cảm thấy ngột ngạt, chán nản hơn Nhà văn không đi sâu vào miêu tả diễn biến tâm lý, những dằn vặt bản thân của nhân vật, mà chỉ đi vào miêu tả cuộc sống của nhân vật để rồi từ đó cảm thương họ Cách xây dựng nhân vật của Bùi Hiển có nét khác với những nhà văn cùng thời như Nam Cao và Thạch Lam Nam Cao là nhà văn thường đi vào miêu tả
bi kịch tinh thần, bi kịch vỡ mộng của nhân vật còn Thạch Lam lại mượn nhân vật để gián tiếp lên án, phê phán xã hội Nhân vật Hộ trong truyện ngắn
Đời thừa của Nam Cao vì có một hoài bão lớn đó là ấp ủ sáng tác nên những
Trang 38tác phẩm văn học “chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao, vừa mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi Nó ca tụng tình thương lòng bác ái, sự công
bình… Nó làm cho người gần người hơn” (Đời thừa) Hộ luôn có sự dằn vặt
giữa ước mơ, hoài bão và hiện thực Nam Cao đi vào diễn biến tâm trạng
nhân vật Hộ hết sức chi tiết Với truyện ngắn Đói, nhà văn Thạch Lam đã kể
về cuộc sống nghèo khổ, tù túng, đau khổ vì đói của viên chức Sinh Thông qua tác phẩm, nhà văn cũng đã gián tiếp lên án sự khốc liệt của xã hội đương thời Một nhà văn nữa cũng viết về viên chức thành thị đó là Tô Hoài Với
truyện Giữa thành phố, Tô Hoài giúp chúng ta hiểu cuộc sống ngột ngạt, tù
túng của người viên chức “Chú dẫn cháu vào một cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu Cái cửa hàng đó ở giữa một giữa một phố cụt, lúc nhúc những nhà hẹp và tối, rộng bằng bề ngang của những bao diêm để cạnh nhau… Hai người ngồi trong cái gác thì vừa vặn Những tiếng lắc rắc chuyển động xung quanh cái mộng ván nghe đều đều vui tai nhưng sao cứ cảm như mảnh ván bập bênh có
thể sập xuống như một cái cạm chuột, lúc nào không biết chung” (Giữa thành phố - Tô Hoài)
Khi viết về người viên chức, Bùi Hiển không chú trọng đến việc miêu
tả đời sống vật chất, miêu tả bi kịch vỡ mộng mà lại đi vào cuộc sống tù túng, chán nản của họ Thậm chí, đôi chỗ nhà văn còn bóc trần cái thói sĩ diện, giả tạo cố che đậy cái nghèo khổ của tầng lớp này Tất cả đều hết sức bình dị, nhẹ nhàng nhưng càng ngẫm càng thấy hay và tinh túy Anh viên chức hoạ đồ sở
đạc điền trong truyện ngắn Cái đồng hồ của Bùi Hiển chỉ vì một thú vui muốn
mua cho mình một cái đồng hồ mà đã trở thành kẻ nô lệ, phục tùng cho nó
Nhân vật anh viên chức trong truyện ngắn Cái đồng hồ đã để lại trong lòng
người đọc một tình cảm xót xa
Bùi Hiển cảm thông, đáng thương với nhiều kiếp người với những mảnh đời tăm tối, nghèo túng Bên cạnh đó, nhà văn còn chú ý đến số phận
Trang 39của những người phụ nữ Cuộc sống tạm bợ của các cô gái ả đào cũng được nhà văn đề cập Nhìn cuộc sống bên ngoài của những cô gái ả đào cảnh trí thật trang nhã, thế nhưng kì thực bên trong thì nhàu nát, cũ kĩ Những người thân của họ cũng sống chung đụng trong những gian buồng dơ bẩn, chật hẹp:
“Đi sâu chút nữa,cảnh nghèo nàn phơi bầy; chiếc ghế khập khiễng, cánh cửa
sổ sún hai ô kính, tấm chăn bông nâu sỉn vứt đống bừa bãi, trên giường trải chiếc chiếu sờn rách dệch deo… Người ta sống chung lộn xen kẽ đến kỳ lạ… người bố, người mẹ, ba đứa con vừa trai vừa gái cỡ trên dưới mười tuổi ”[47,
tr 22] Trong Những nỗi lòng, Bùi Hiển đề cập đến cuộc sống khá tẻ nhạt của
hai cô “nhị kiều” Hai cô trọ ở một căn gác thấp, ẩm ướt, rẻ tiền Cứ thế, họ sống ngày này sang ngày khác, không hề quan tâm đến ai, ít tiếp xúc bên ngoài “Họ chuyên nghề đánh suốt ống … Họ sống trong bóng mờ của căn nhà thấp bé và ẩm ướt, nom xanh xao ẻo lả như những cây mềm thiếu ánh sáng, thiếu khí trời Họ ít ra ngoài; việc chợ búa do một vú già trông nom”[7, tr 140]
Trong những tác phẩm của Bùi Hiển ít nhiều truyện mang tính chất phê phán Nhưng với Bùi Hiển, phê phán là để xây dựng, để vươn tới, để cố gắng sống tốt hơn Nhiều truyện ngắn người đọc tự soi chiếu bản thân mình tự rút
ra những bài học có ích hơn trong cuộc sống Cũng có những tác phẩm mang tính chất ca ngợi cốt để đưa đến cho người đọc những tấm gương nhằm mục đích hướng tới sống một cuộc sống thiết thực hơn Dường như trách nhiệm, ý thức của người cầm bút luôn thường trực sẵn trong con người nhà văn Chính
vì thế mà nhiều tác phẩm của ông luôn thấm đượm cái “tính thiện” và “lòng bác ái” sâu sắc
Bùi Hiển là nhà văn có quan niệm nghệ thuật khá rõ ràng và nhất quán trong suốt cuộc đời sáng tác Đó là phẩm chất của một nhà văn có trách nhiệm với nghề luôn ý thức về trách nhiệm của người cầm bút trước những trang văn
Trang 40viết về cuộc đời Chính điều đó làm cho nhà văn cũng như những sáng tác của ông mãi về sau vẫn dành đươc sự quan tâm của nhiều người
1.2.2 Bùi Hiển và sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam
Trên sáu mươi năm hoạt động nghệ thuật, Bùi Hiển đã tạo dựng cho mình một sự nghiệp văn học riêng không lẫn vào đâu được Ông thành công với khá nhiều thể loại nhưng truyện ngắn vẫn là thể loại đặc sắc và gặt hái nhiều thành công nhất Bùi Hiển được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá khá cao
Nguyễn Đăng Mạnh trong cuốn Từ điển tác gia tác phẩm văn học Việt Nam
khẳng định: “Cho đến nay ông vẫn là một trong những cây truyện ngắn tiêu biểu của nền văn xuôi Việt Nam hiện đại” [30, tr 30] Trong suốt những năm gắn bó với văn chương, Bùi Hiển đã chứng tỏ được sự tận tụy của một nhà văn có trách nhiệm với nghề và với xã hội Tác giả có cái nhìn nhạy bén, một trái tim ngập tràn tình yêu thương con người Hoàng Minh Châu cho rằng dù
là viết về ai, vấn đề gì đi chăng nữa thì “chỉ bằng tình tiết ngôn ngữ của nhân vật thoảng qua cũng gợi nhớ tới nhân vật chính là tác giả, một người muốn nuôi sống hòa hợp với tự nhiên, với “đạo trời như anh tâm sự”” [6, tr 13]
Ngòi bút của Bùi Hiển đã thể hiện được tài quan sát tinh tế, cặn kẽ những vấn đề xung quanh cuộc sống Nếu trước Cách mạng tháng Tám nhà văn tập trung đi vào miêu tả cuộc sống người dân chài ven biển thì sau Cách mạng tháng Tám nhà văn đi sâu vào một số hình ảnh con người mang tính chất điển hình Lần đầu tiên người đọc được biết đến hình ảnh con người vùng biển xứ Nghệ Theo Bùi Hiển thì “người dân vùng biển có nhiều nét kỳ
lạ lắm… ” Đối với Bùi Hiển, vùng ven biển thuộc làng Phú Nghĩa Hạ, tỉnh Nghệ An luôn là mạch nguồn cảm hứng cho những sáng tác của nhà văn trước Cách mạng tháng Tám Truyện ngắn của Bùi Hiển thường ngắn gọn, linh hoạt Nhà văn bao giờ cũng viết rất kỹ lưỡng và thận trọng