Trong dòng văn học hiện đại Việt Nam, Tô Hoài được đánh giá là một cây đại thụ
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài
Trong dòng văn học hiện đại Việt Nam, Tô Hoài được đánh giá làmột cây đại thụ Ông nhận giải thưởng Hồ Chí Minh vào năm 1996 Nhàphê bình Vương Trí Nhàn đã nhận xét : “So với các cây bút đương thời, TôHoài có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất Sống đến đâu viếtđến đấy Việc viết lách đối với ông là một thứ lao động hàng ngày” Giáo sư
Hà Minh Đức cho rằng “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đadạng” Quả thật, Tô Hoài đã miệt mài sáng tác 70 năm nay và đã cho ra đời
160 đầu sách Ông thành công ở nhiều thể loại như truyện ngắn, truyện dài,truyện đồng thoại, tiểu thuyết, kịch, hồi kí, chân dung văn học Nghiên cứunghệ thuật văn chương Tô Hoài sẽ giúp chúng ta đánh giá được đầy đủ hơnnhững đóng góp của ông với nền văn học nước nhà
Tô Hoài nổi tiếng với những tác phẩm như truyện dài Dế Mèn phiêu lưu
kí, Quê người, Quê nhà, Đêm mưa, Xóm giếng, tiểu thuyết Nhớ Mai Châu, Kẻ cướp bến Bỏi, hồi kí Cát bụi chân ai, Tự truyện, tập truyện ngắn Tây Bắc
Không chỉ thành công ở truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, ở thể loạitruyện ngắn ngay từ ngày đầu cầm bút, Tô Hoài đã tạo được cho mình mộtphong cách riêng Truyện ngắn của ông hấp dẫn người đọc ở mọi lứa tuổivới lời kể chuyện hóm hỉnh, tài quan sát và miêu tả, cách thể hiện nhân vậtsinh động Chuyện về một làng quê làm nghề dệt cửi với biết bao lo toan,xuôi ngược mà cuộc sống vẫn vất vả bộn bề đã để lại nhiều cảm xúc tronglòng người đọc
Ngày nay, truyện ngắn vẫn là một thể loại chiếm vị trí quan trọng trongđời sống văn học Nó có sức phát triển bền bỉ qua năm tháng Vì cuộc sốngcông nghiệp bận rộn, gấp gáp, nhiều người yêu văn đã tìm đọc truyện ngắn Họvẫn thấy ở truyện ngắn những bài học cuộc sống, những tâm tình về số phận
Trang 2con người, cả định hướng tương lai Các nhà văn tâm huyết với nghề cũngđang lao động không ngừng để tìm hướng phát triển mới của truyện ngắn
Với đề tài “Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách
mạng”, chúng tôi muốn có cái nhìn đầy đủ, trọn vẹn về những đóng góp của
Tô Hoài trong quá trình vận động và phát triển của truyện ngắn Việt Namhiện đại
II Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Tô Hoài bước vào con đường văn học khá sớm Ông cầm bút và nổidanh từ trước năm 1945 Đến nay, Tô Hoài vẫn là nhà văn viết nhiều, dẻodai, sung sức ở các thể loại Truyện ngắn Tô Hoài đã được giới phê bình vănhọc chú ý ngay từ những ngày đầu cầm bút
Các truyện ngắn của Tô Hoài trước năm 1945 được nhà xuất bản HoaTiên Sài Gòn in lai với tựa đề “Chuột thành phố”, năm 1967 đã khẳng định
“Các truyện ngắn O chuột, Gã chuột bạch, Con dế mèn, Đực, Cu Lặc, Tuổi trẻ, Một cuộc bể dâu… Đó là những tập truỵên ngắn xuất sắc, tiêu biểu cho
lối văn dí dỏm, tinh nghịch của nhà văn Tô Hoài Hầu hết những tập truyệnngắn này, tuy cái vỏ bên ngoài nó mang nhãn hiệu là truỵên loài vật, nhưngthực chất bên trong nó là sự phản ánh trung thực của truyện loài người, sốnggiữa giữa cuộc đảo điên của xã hội ngày nay…”[28, tr 1]
Những ý kiến đánh giá phê bình về truyện ngắn của Tô Hoài còn
được tập trung trong cuốn Tô Hoài về tác gia và tác phẩm, nhà xuất bản
Giáo dục, năm 2007 được tái bản nhiều lần, do Phong Lê (giới thiệu) và VânThanh (tuyển chọn)
Phong Lê cho rằng: “Đặc sắc của Tô Hoài trước năm 1945 là truyệnngắn, gồm truyện ngắn về loài vật và truyện ngắn về cảnh và người mộtvùng quê ven đô- quê ngoại và cũng là quê sinh - nơi tác giả đã sinh sốngsuối đời cho đến hôm nay.” [31, tr 30] Ngòi bút của Tô Hoài đã miêu tả sựthay đổi của cuộc sống xung quanh mình những năm trước năm 1945
Trang 3Vũ Ngọc Phan nhận ra ngay cả những truyện ngắn viết về loài vật của TôHoài người đọc cũng thấy thấp thoáng cuộc sống của người dân quê: “Dướicon mắt của Tô Hoài, những nhách chó nhỏ nằm vật lên nhau, rên ư ử màngủ kia Chính là “những đứa trẻ nằm mơ, những đứa trẻ khoai củ ở nhàquê” chị gà mái “là một người đàn bà giỏi giang, đa tình thì nhất mực đatình, mà khi vướng vào cái bổn phận dạy dỗ nuôi nấng con trẻ lại đáng nênmột bậc mẹ hiền gương mẫu.” [31, tr 64-65]
Khi nghiên cứu về Tô Hoài, Phan Cự Đệ nhận xét: “Tô Hoài có mộtkhả năng quan sát đặc biệt, rất thông minh, hóm hỉnh và tinh tế Khả năngnày giúp anh thành công khi miêu tả những hiện tượng bên ngoài, dễ trựctiếp quan sát và cảm thụ; cảnh vật thiên nhiên, sinh hoạt hằng ngày, phongtục lễ nghi, thế giới loài vật, vv nhưng khả năng này rõ ràng là không đủkhi nói về đời sống tâm lí bên trong, biện chứng tâm hồn, những quy lật bảnchất xã hội Mặt khác, giống như một số nhà văn hiện thực phê phán chuyểnmình sang phương pháp hiện thực chủ nghĩa, Tô Hoài miêu tả khá thànhcông các quan hệ gia đình, làng xóm, bạn bè, trai gái ”[31, tr 101]
Năm 2006, Mai Thị Nhung cho ra đời cuốn sách Phong cách nghệ thuật Tô Hoài và bài viết Đặc điểm thế giới nhân vật Tô Hoài trên tạp chí
văn học Trong đó, tác giả cũng đã thu thập rất nhiều ý kiến về nghệ thuậtviết văn Tô Hoài [38, tr 8, 9,10]
Phan Cự Đệ nhận thấy “Tô Hoài có khả năng quan sát đặc biệt, rấtthông minh, hóm hỉnh và tinh tế” Nguyễn Đăng Mạnh cũng đồng quanđiểm “Nhà văn có khiếu quan sát hết sức phong phú và sắc sảo, tài hoa” Hà
Minh Đức trong Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài khẳng định: “Tô Hoài có
một năng lực phát hiện và nắm bắt nhanh chóng thế giới khách quan” TrầnHữu Tá chỉ rõ năng lực đặc biệt của Tô Hoài chính là “nhãn quan phong tụcđặc biệt nhạy bén sắc sảo” Nguyễn Văn Long nhấn mạnh: “Ở Tô Hoài, cảmquan hiện thực nghiêng về phía sinh hoạt và phong tục” Vương Trí Nhàn quả
Trang 4quyết: “Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt”.Nguyễn Đăng Điệp khái quát: “Cái nhìn không nghiêm trọng hóa là nét trộitrong cảm quan nghệ thuật của Tô Hoài” Bên cạnh đó, Nguyễn Đăng Mạnh
trong bài viết Tô Hoài với quan niệm “con người là con người”, tác giả
khẳng định: “Tô Hoài quan niệm con người là con người, chỉ là con người,thế thôi” Về ngôn ngữ giọng điệu, Vân Thanh nhận định: “Ngôn ngữ TôHoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao động” Phan
Cự Đệ cũng có trùng một quan điểm như vậy: “Tô Hoài đã chú ý học tậpngôn ngữ nghề nghiệp và ngôn ngữ địa phương”, “Trong tác phẩm của TôHoài, nhìn chung ngôn ngữ của quần chúng đã được nâng cao, nghệ thuậthoá” Cùng với Phan Cự Đệ, Bùi Hiển thấy rằng: “Văn phong Tô Hoài chủyếu bằng những nét nhẹ, mảnh, nhuần nhị, tinh tế, đôi khi hơi mờ ảo nữa”.Nguyễn Đăng Điệp cũng nhận thấy những nét tiêu biểu về lối kể chuyện của
Tô Hoài: “Viết về cái của mình, quanh mình là định hướng nghệ thuật vàcũng là kênh thẩm mỹ của Tô Hoài Đúng hơn, đây là yếu tố cốt lõi làm nênquan điểm nghệ thuật của ông Nó khiến ông cho văn Tô Hoài có đượcphong cách, giọng điệu riêng Đó là một giọng kể nhẩn nha, hóm hỉnh vàtinh quái”
Năm 2007, cuốn Truyện ngắn Việt Nam lịch sử-thi pháp- chân dung”
do tác giả Phan Cự Đệ chủ biên đã viết về quá trình ra đời, phát triển củatruyện ngắn Việt Nam cùng với những gương mặt nhà văn tiêu biểu Trong
đó, Tô Hoài đựơc nhắc đến cùng với các tác giả tên tuổi như Nguyễn CôngHoan, Nguyên Hồng, Nam Cao Người viết đã nhấn mạnh một số đặctrưng nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài như “lối viết thông mình, hóm hỉnh,thậm chí tinh quái, một đôi nét tâm lí và triết lí đượm sắc thái buồn pha chútmùi vị chua chát kiểu Nam Cao”; “Những con vật trong tác phẩm Tô Hoài
có nét gì đó giống người, quen thuộc với người Tô Hoài bắt rất nhanhnhững nét đặc trưng trong tính cách của chúng.”; “Truyện ngắn Tô Hoài
Trang 5chịu nhiều ảnh hưởng của văn học dân gian Nhưng lối dẫn truyện, kết cấutruyện, giọng điệu trần thuật cũng như các thủ pháp khắc hoạ tính cách nhânvật đã thuộc về truyện ngắn hiện đại”; “Trong số truyện, cũng giống nhưNam Cao trong Chí Phèo, Tô Hòai đã sử dụng ngôn ngữ văn xuôi đa thanh,giọng điệu của người kể chuyện hoà lẫn với giọng điệu nhân vật”[5, tr 309,310]
Như vậy, những đặc điểm truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng đãđược đề cập trong một số bài viết và các công trình nghiên cứu Tuy nhiênchưa có một công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và có tính hệthống Chính vì thế, chúng tôi đã lựa chọn đề tài cho luận văn của mình là
“Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng”
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng
Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám
2 Phạm vi
Tuyển tập Tô Hoài, nhà xuất bản Văn học năm 1987, do giáo sư Hà
Minh Đức sưu tầm, tuyển chọn gồm 26 truyện ngắn
3 Một đêm gác rừng 16 Buổi chiều trong nhà
4 Chớp bể mưa nguồn 17 Khách nợ
5 Lá thư tình đầu tiên 18 Ông giăng không biết nói
7 Hết một buổi chiều 20 Người đàn bà có mang
8 Một chuyến định đi xa 21 Dấy binh lấy lau làm cờ
9 Một người đi xa về 22 Con gà trống ri
Trang 6Với đề tài nghiên cứu như trên, chúng tôi mong muốn:
+ Tìm ra những đặc điểm nổi bật về truyện ngắn của Tô Hoài trướcCách mạng
+ Đánh giá được những đóng góp của ông trong sự nghiệp văn chươngcủa dân tộc và đặc biệt là mảng truyện ngắn trước Cách mạng
2 Phương pháp
+ Phương pháp phân tích tác phẩm
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp tổng hợp, thống kê
+ Phương pháp nghiên cứu liên ngành như ngôn ngữ, văn hóa
V Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văngồm có bốn chương
Chương I Vài nét về diện mạo truyện ngắn Việt Nam 1930-1945 và
sự nghiệp văn chương Tô Hoài
Chương II Đặc điểm nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắncủa Tô Hoài trước Cách mạng
Chương III Đặc điểm kết cấu và tình huống trong truyện ngắn Tô Hoàitrước Cách mạng
Chương IV Đặc điểm ngôn ngữ và giọng điệu trong truyện ngắn TôHoài trước Cách mạng
Trang 7CHƯƠNG I
VÀI NÉT VỀ DIỆN MẠO TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM 1930-1945
VÀ SỰ NGHIỆP VĂN CHƯƠNG TÔ HOÀI
1.1 Diện mạo truyện ngắn Việt Nam 1930-1945
Truyện ngắn Việt Nam ra đời từ thời kì văn học trung đại Theo dòngthời gian, thể loại này ngày càng phong phú, đa dạng, hoàn thiện, chiếm một
vị trí quan trọng trong nền văn học nước nhà Có thể nói, giai đoạn
1930-1945, truyện ngắn Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt, với nhiều phong cách
các ký cổ, truyện cổ tích…Học trong các truyện ngắn cổ như Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, Thánh Tông di thảo của Lê Thánh Tông… Những
truyện này đáng được học tập với thái độ trân trọng vì nó rất sinh động, súctích và sáng tạo Truyện ngắn của ta nặng nề về kể và thường rất ngắn gọn,độc đáo” [ 50, tr 63]
Bước sang thế kỉ XX, chữ quốc ngữ bắt đầu thể hiện ưu thế trong việc
mở rộng công chúng văn học Với kĩ thuật in ấn, báo chí ngày càng pháttriển đã giúp cho các tác phẩm đến với công chúng dễ dàng và rộng lớn hơn,chứ không bị bó hẹp như trước Thể loại truyện ngắn đã có nhiều thay đổi
Trang 8đáng kể Bước đầu, truyện ngắn Việt Nam vẫn chịu ảnh hưởng của văn họcdân gian, văn học trung đại Việt Nam và Trung Quốc nhưng với sự xâmnhập mạnh mẽ của văn hoá phương Tây, truyện ngắn thời kì này đã có màusắc mới Truyện ngắn dân tộc đã dần dần chuyển mình hoà vào xu thế chungcủa thời đại, vào quá trình hiện đại hoá nền văn học nước nhà, vượt quanhững ảnh hưởng và hạn chế của các thế kỉ trước đó
Sự ra đời của truyện ngắn hiện đại Việt Nam được đánh dấu bằng tác
phẩm Truyện Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (1887) Đây là
truyện ngắn đầu tiên được viết bằng chữ Quốc ngữ, khởi đầu cho hàng loạttruyện ngắn bằng chữ quốc ngữ ở giai đoạn tiếp theo Truyện đã đưa đếnnhiều cái mới mẻ cho công chúng Truyện được kể ngắn gọn, sáng rõ, cốttruyện, tình tiết, chi tiết không quá phức tạp về một chuyện tình tay ba (thầyPhiền, vợ và bạn thân) Tác phẩm được viết theo lối kể chuyện ở ngôi thứnhất, kết cấu theo quy luật tâm lí chứ không theo trình tự thời gian, kết thúcbằng bi kịch của nhân vật chứ không phải kết thúc có hậu như những câuchuyện dân gian
Vào những năm 20 của thế kỉ XX, truyện ngắn Việt Nam đã có nhiềubước đi táo bạo với sự phát triển của nhiều khuynh hướng văn học
Truyện ngắn viết theo khuynh hướng đạo lí gắn liền với các tên tuổi nhưNguyễn Bá Học, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Chánh Sắt…Bản thân họxuất thân là nhà Nho Trước lối sống thực dụng của xã hội thị thành đang bị
Âu hoá, nền đạo đức Nho phong trong các gia đình phong kiến đã dần bịphá vỡ Những tác giả nhà Nho cảm thấy đau lòng Họ lên tiếng bênh vựcđạo đức truyền thống Quan niệm văn dĩ tải đạo vẫn chưa thoát khỏi cácphẩm của họ Các tác giả chưa chú trọng xây dựng nhân vật có cá tính đượcthể hiện ở chiều sâu tâm lí, ngôn ngữ, hành động Nhân vật thực chất là mộtmẫu hình để nhà văn thuyết giảng về đạo đức, vì vậy trở nên khô cứng, gò
bó, không có sức sống
Trang 9Khuynh hướng yêu nước và cách mạng gắn liền với tên tuổi Phan BộiChâu và Nguyễn Ái Quốc Tác phẩm của Phan Bội Châu có thể xem lànhững đoản thiên tiểu thuyết bổ sung cho chính sử, cho lịch sử cách mạngViệt Nam Phan Bội Châu sáng tác để đề cao anh hùng, liệt nữ, để cổ vũ chophong trào yêu nước, giải phóng dân tộc Ông nổi tiếng với những tác phẩm
Sùng bái giai nhân (1907), Chân tướng quân (1917), Tước Thái thiền sư (1917), Tái sinh sinh (1918), Truyện Phạm Hồng Thái (1925) Phan Bội
Châu còn chịu ảnh hưởng của bút pháp viết sử, sử bình của truyện kể trungđại Tuy nhiên, truyện của ông đã có những đổi mới, có những dấu hiệu củatruyện ngắn hiện đại Tác giả đóng vai là người kể chuyện, đứng ra dẫn dắtcâu chuyện Kết cấu truyện theo trình tự thời gian nhưng cũng có kết cấu
phá vỡ thời gian tuyến tính như Tái sinh sinh Truyện kí của Nguyễn Ái Quốc được đăng trên báo Nhân đạo của Đảng Cộng Sản Pháp và báo Người cùng khổ của Liên hiệp các dân tộc thuộc địa từ năm 1922 đến năm 1925.
Các tác phẩm nổi tiếng của Người vào thời kì này được độc giả luôn ghi nhớ
như Con rùa, Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu, Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Con người biết mùi hun khói…Phương pháp sáng tác
của Nguyễn Ái Quốc được các nhà nghiên cứu như Nguyễn Đức Nam, HàMinh Đức… khẳng định đó là phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa.Đánh giá về truyện ngắn Nguyễn Ái Quốc nửa đầu những năm hai mươi,Phan Cự Đệ viết: “Đó là những truyện ngắn cô đọng, vừa mang ý nghĩatượng trưng, có sức khái quát lớn Đó là những truyện được kể theo ngôi thứnhất hoặc ngôi thứ ba sử dụng ngôn ngữ trần thuật của người kể chuyện, cókhi sử dụng ngôn ngữ đa thanh nhiều nhân vật (bình phẩm về Va-ren) Đó lànhững truyện ngắn tính cách, những truyện có cốt truyện căng thẳng giàukịch tính và những truyện có màu sắc luận đề”[6, tr 281]
Khuynh hướng hiện thực có Phạm Duy Tốn và Nguyễn Công Hoan
Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn kể về nỗi khổ của những
Trang 10người dân và cảnh ăn chơi sa đoạ của tên quan hộ đê Phạm Duy Tốn cũng
sử dụng nghệ thuật đối lập, tăng cấp kiểu như Ván bài bi-a của nhà văn
Pháp Alphonse Daudet để tố cáo sự vô trách nhiệm của quan lại thời bấygiờ, đồng thời bộc lộ sự cảm thông trước nỗi thống khổ của nhân dân
So với thời kì trước đó, truyện ngắn những năm 1930-1945 phát triểnrực rỡ, phong phú hơn Tư duy hệ tư sản dần dần thắng thế tư tưởng phong
kiến Cái tôi được giải phóng, nhà văn phát huy sức sáng tạo của mình Vì
vậy, thời kì này xuất hiện nhiều cây bút độc đáo Hàng loạt các gương mặttiêu biểu như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, BùiHiển, Thạch Lam, Khái Hưng, Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Thạch Lam, HồDzếnh, Đỗ Tốn… Các khuynh hướng văn học ngày càng phân hoá rõ rệt vàđấu tranh, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau
Thạch Lam, Hồ Dzếnh, Thanh Tịnh, Đỗ Tốn, Nguyễn Tuân tiêu biểucho phong cách lãng mạn trữ tình
Thạch Lam viết truyện với nghệ thuật tinh tế nhất là việc sử dụng tươngphản và hài hoà giữa các âm thanh và các vùng ánh sáng Câu chuyện để lạitrong tâm hồn người đọc những dư vị đằm thắm của quê hương và sự cảmthương những cuộc đời thầm lặng như những chấm sáng lù mù nhoè đitrong bóng tối của một vùng quê tù đọng Thạch Lam ít sử dụng cốt truyệngiàu kịch tính Ông nghiêng về những cốt truyện tâm lí, hướng dến thế giới
bên trong con người, đặc biệt là thế giới ấn tượng và cảm giác như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Sợi tóc.
Cũng giống như Thạch Lam, Thanh Tịnh thiên về miêu tả thế giới nộitâm, cảm giác Truyện ngắn của ông thường chỉ có một tình huống Cái kếtbao giờ cũng là một kỉ niệm buồn man mác: kỉ niệm ngày đầu tiên đi học
[Tôi đi học], kỉ niệm những ngày ở làng Mĩ Lí [Quê mẹ] Lời văn giàu chất
thơ, nhẹ nhàng, tha thiết bày tỏ một niềm cảm thông với con người nghèo
Trang 11khổ Bên cạnh đó, những sáng tác của ông còn đậm chất truyền kì, những
truyện kinh dị, kì bí [Ngậm ngải tình trầm].
Văn học lãng mạn còn xuất hiện một cái Tôi độc đáo- Nguyễn Tuân.Suốt đời đi tìm và tôn thờ cái Đẹp, Nguyễn Tuân đến với các nhân vật tàihoa, tài tử, những thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, trong văn hoá ẩm
thực Vang bóng một thời, ông đề cao những thú chơi cổ xưa Uống trà, chơi hoa là một thứ nghệ thuật trang trọng, cầu kì [Chén trà trong sương sớm, Thạch Lan Hương] Lối chơi chữ thể hiện khí phách của người quân tử, những con nguời có tài, có tâm [Chữ người tử tù] Nhân vật của Nguyễn
Tuân có cái ngông, lập dị không phải là những con người bình thường Dùđứng ở phía nào thiện hay ác, nhân vật đều có tài đặc biệt hơn người, được lítưởng hoá, được phóng đại theo thi pháp của chủ nghĩa lãng mạn Truyệncủa Nguyễn Tuân vẫn được kể theo trật tự thời gian tuyến tính, ở ngôi thứ
ba Cái tài của ông là xây dựng nhân vật Ông nắm bắt những nét đặc trưngnhất trong tính cánh của nhân vật, miêu tả những hành động theo cách riênghết sức độc đáo
Trong dòng văn học hiện thực phê phán, có những tên tuổi như NguyễnCông Hoan, Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Kim Lân…
Nguyễn Công Hoan là người đi đầu trong phương pháp hiện thực phêphán Ông được coi là lá cờ đầu của văn học hiện thực phê phá những năm1930-1945 Nguyễn Công Hoan viết về những câu chuyện về con người và
xã hội Việt Nam thời bấy giờ, với một lối kể chuyện hóm hỉnh hài hước cótính chất châm biếm Ông đả kích bọn quan lại và chế độ thực dân Nhữngmảng đề tài xã hội trước đây, Nguyễn Công Hoan nhanh chóng chuyển sang
đề tài phản ánh các sự kiện chính trị thời cuộc Những truyện ngắn của ôngtiểu biểu cho một thứ văn vui, thứ văn mà có lẽ từ khi nước Việt Nam cótiểu thuyết viết theo lối mới, người ta chỉ thấy ở ngòi bút của ông mà thôi.Những tác phẩm đầu tay của ông lấy từ đề tài những điều mắt thấy tai nghe
Trang 12như Kiếp hồng nhan, Sóng vũ môn, Cụ đồ Ba, Cô hàng nước Trần ai tri kỷ… Thái độ căm ghét bọn quan tân học, luyến tiếc những nhà Nho cũ được
thể hiện qua Sóng vũ môn, cảm tình với những người ăn ở chung thuỷ nhân
hậu được thể hiện qua Cô hàng nước, Trần ai tri kỉ Có truyện giàu yếu tố hiên thực, tiến bộ [Sóng vũ môn], có truyện còn yếu tố lãng mạn, bảo thủ [Kiếp hồng nhan] Nguyễn Công Hoan khai thác đề tài từ tin tức thời sự hàng ngày, hoặc mô tả những việt thật mà ông mắt thấy tai nghe như Oằn tà roằn, Thật là phúc, Lập Gioòng, Răng chó của nhà tư sản, Hai thằng khốn nạn… Chất hiện thực thấm đẫm trong tác phẩm của ông Chủ đề tập trung
công kích bọn quan lại, địa chủ, tư sản những xấu xa của xã hội thực dânnửa phong kiến Truyện có nhiều chi tiết sinh động, hấp dẫn, tạo nên tiếngcười châm biếm đả kích vào tầng lớp thị dân và nhiều kết thúc bất ngờ ảnhhưởng truyện dân gian
Nam Cao góp phần quan trọng trong quá trình hiện đại hoá văn họcvới kiểu kết cấu tâm lí, sử dụng một thứ ngôn ngữ đa thanh, giàu chất tạohình Nam Cao quan tâm đến những người nông dân bị xã hội thực dân nửaphong kiến đẩy vào con đường bần cùng hoá, lưu manh hoá Chí Phèo trongtác phẩm cùng tên đã để lại nhiều nhức nhối trong lòng người đọc Một anhChí nông dân, hiền lành, chân chất bị Bá Kiến, một tên lí trưởng của làng
Vũ Đại vì ghen tuông đã đẩy vào con đường tù tội Nhà tù thực dân đã thahoá, biến Chí Phèo trở thành con quỷ của làng Vũ Đại Bi kịch của Chí là bikịch không được thừa nhận là con người mặc dù Chí đã tha thiết trở về conđường lương thiện Hiện tượng người nông dân bị lưu manh hoá như ChíPhèo được lặp đi lặp lại như một quy luật qua một số nhân vật như NămThọ, Binh Chức, Trương Rự, Trạch Văn Đoành Nam Cao còn phản ánh bikịch của người trí thức nghèo Họ có khát vọng to lớn làm nên tác phẩm đểđời nhưng những nỗi lo toan cơm áo gạo tiền cứ ghì sát đất, nhà văn buộcphải cho ra đời những tác phẩm nhạt nhẽo, nghèo nàn để mưu sinh hàng
Trang 13ngày Họ sống trong nỗi tuyệt vọng, đau khổ [Đời Thừa, Trăng Sáng] Nam
Cao đã đưa ra những nguyên tắc sáng tác: “Văn chương không cần đếnngười thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn chương chỉdung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa aikhơi và sáng tạo những gì chưa có”
Tô Hoài được đánh giá là nhà văn có sở trường về truyện ngắn.Truyện của ông mang hương vị đồng quê với những phong tục tập quán lâuđời của người dân quê vùng ven ngoại thành Đằng sau cái màu sắc phongtục, ngòi bút của Tô Hoài đã miêu tả rất rõ một xã hội đói khổ của nhữngngười nông dân nghèo, những người thợ thủ công bị phá sản, những mốitình cảm dang dở và những cuộc ra đi vì mưu sinh Ông có tài phác hoạchân dung các kiểu người ở vùng quê ngọai thành Hà Nội thời đó Một ngòibút sắc sảo tinh tế và hóm hỉnh khi tả về những phong tục sinh hoạt, chândung và hành vi nhân vật
Nguyên Hồng là cây bút truỵên ngắn xuất sắc trong thời kì Mặt trậnDân chủ Truyện ngắn Nguyên Hồng đã làm sống dậy cuộc đời lam lũ, cơcực, bần cùng của những người lao động nghèo ở các vùng ngoại ô, ngõhẻm thành phố Hải Phòng Ông sử dụng thủ pháp nghệ thuật tương phản,
đối lập như trong các truyện Giọt máu, Cô gái quê, Nhà bố Nấu, Hai dòng sữa, Cái bào thai… Có những truyện mang tính chất luận đề rõ rệt và nhiều
chi tiết mang ý nghĩa tượng trưng, có những truyện kết cấu dàn trải theochiều dài cuộc đời bi thảm của nhân vật
Có thể nói, truyện ngắn Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạngtháng Tám đã dần dần khẳng định được vị trí riêng của mình trên con đườnghiện đại hoá văn học nước nhà Nhiều cây bút, nhiều phong cách mới lạ.Những tác phẩm văn chương không dừng ở nói chuyện đạo lí, lịch sử mangtrong mình hơi thở của cuộc sống Những câu văn dài ngắn hết sức linhhoạt, giống như lời ăn tiếng nói của nhân dân không bị gò bó như những câu
Trang 14văn biền ngẫu trong truỵên ngắn thời trung đại Nhân vật và chi tiết trong tácphẩm cũng đời thường không khuôn sáo, ước lệ như trước Đặc biệt các nhàvăn bộc lộ cái tôi của mình một cách độc đáo rõ nét Vì vậy, mỗi tác phẩm làmột cá tính sáng tạo riêng, một cách cảm nhận riêng về cuộc sống Trong sốnhững tác giả viết truyện ngắn có tên tuổi thời kì này, Tô Hoài được coi làmôt cây bút xuất sắc, đóng góp không nhỏ cho sự thành công của truyệnngắn nước nhà.
1.2 Sự nghiệp sáng tác văn chương Tô Hoài
1.2.1 Quan niệm của Tô Hoài về văn chương nghệ thuật
Tô Hoài sinh năm 1920, tên thật là Nguyễn Sen Ngoài tên thật khiviết báo, ông còn dùng những bút danh khác như: Mắt biển, Mai Trang, DuyPhương Quê nội ông ở thị trấn Kim Bài huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tâynhưng nhà văn lại sinh ra và lớn lên và rất gắn bó với quê ngoại ở làngNghĩa Đô, phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông Cũ (nay là phường Nghĩa Đô quậnCầu Giấy, Hà Nội Cái tên Tô Hoài đã trở nên gần gũi với bạn đọc suốt 70năm qua
Sớm đến với văn chương, ban đầu Tô Hoài cũng chịu ảnh hưởng của
xu hướng sáng tác lãng mạn đương thời, cây bút trẻ ấy cũng bắt đầu sựnghiệp bằng những bài thơ lãng mạn, nhưng sau này ông chuyển hướng
Trong Tự truyện, Tô Hoài tâm sự: “Chưa bao giờ tôi bắt chước theo truyện
của Khái Hưng, mặc dầu tôi thích đọc những truyện ấy Bởi lẽ giản dị: viếttruyện viển vông giang hồ kỳ hiệp, ai cũng có thể tưởng tượng, nhưng viếtcái giống thật thì nhân vật trong truyện của các ông nhà giàu con quan cóđồn điền như thế, tôi không viết những kiểu người ấy, không bắt chướcđược” [23, tr 218] Lời thổ lộ chân tình ấy của Tô Hoài đã bộc lộ rất rõ quanniệm của ông về văn chương Tô Hoài không thi vị hoá đời sống, không viết
về những đôi lứa “lá ngọc cành vàng” Tô Hoài chỉ viết những điều mà ôngnhìn thấy ở quanh mình, ở chính mình: “Đời sống xã hội quanh tôi, tư tưởng
Trang 15và hoàn cảnh của chính tôi đã vào cả những sáng tác của tôi, ý nghĩ tự nhiêncủa tôi bấy giờ là viết những sự thực xảy ra trong nhà, trong làng quanhmình” [23, tr 218]
Tô Hoài sống gần gũi quen thuộc với những người bình dân, nhữngcon người lam lũ, nghèo khổ, nhếch nhác Nhà văn từng bộc bạch: “Đờikhông suông nhạt của mảnh cổ tích nhăng cuội, ở những chuyện trai gáithông thường đem bôi nhèm trên giấy Tôi có thể viết vô vàn truyện mơmộng hoa lá Mà tôi viết không được Xưa nay, tôi chỉ quen với những gìvụn vặt, nhem nhọ” [31, tr 118]
Quan niệm văn chương phải bắt nguồn từ cuộc sống đã chi phối toàn
bộ các sáng tác của Tô Hoài Bên cạnh đó, ở thể loại truyện ngắn, Tô Hoàicũng có suy nghĩ riêng
Nhiều tác giả văn học đã có những quan điểm rất rõ ràng về nghệthuật truyện ngắn Môôm cho rằng: “Truyện ngắn là sự trình bày một sựkiện theo trình tự diễn biến của câu chuyện , hoặc theo trình tự tâm tình.Nhờ sự thống nhất có kịch tính, sự trình bày đó có thể loại trừ tất cả những
gì không cần thiết để bộc bạch suy nghĩ”[ 37, tr 84] Nhà văn Bùi Hiển khibàn về truyện ngắn cũng khẳng định: “Truyện ngắn lấy một khoảnh khắctrong cuộc đời một con người mà dựng lên Có khi nhân vật đặt trước mộtvấn đề phải băn khoăn suy nghĩ lựa chọn, quyết định Có khi chỉ là mộtcảnh sống và làm việc bình thường, trong đó nhân vật biểu lộ ý chí tìnhcảm của mình Có khi ở những hành động mãnh liệt, những tình tiết éo le…Cũng có khi chỉ là tâm trạng của một nỗi bồn vui, một ý tình chớm nở.Nhưng phải chọn khoảnh khắc mà nhân vật thể hiện đầy đủ nhất”[37, tr 17].Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Truyện ngắn mang rất rõ cái chất củangười viết, nhất là cái chất quả quyết, đột ngột… Truyện ngắn vốn cónhiều vẻ” [37, tr 27]
Trang 16Nguyễn Công Hoan thì chú ý nhiều hơn đến việc xây dựng truyệnngắn Theo ông, “Truyện ngắn không phải là truyện mà là vấn đề được xâydựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câudùng tiếng có cân nhắc… Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy mộttrong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện” [50, tr 25]
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán đã nhận định
về truyện ngắn như sau: “Thể tài tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằngvăn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đời sống con người và xã hội.Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyệnngắn thích hợp với người tiếp nhận đọc nó liền mạch không nghỉ… Cốt truyệncủa truỵên ngắn thường diễn ra trong không gian hạn chế, chức năng của nónói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kếtcấu của truyện ngắn không phân chia thành nhiều tầng bậc mà thường xâydựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp tường thuật củatruyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyệnngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mangnhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết”[18, tr 134,135]
Là người có sở trường viết truyện ngắn, ông đã có những quan điểm
rõ ràng nhất quán về thể loại này trong suốt cuộc đời hoạt động văn chươngcủa mình
Trong Sổ tay viết truyện ngắn, ông đã từng bày tỏ niềm say mê của
mình với truyện ngắn: “Tôi thích truyện ngắn, bao giờ cũng tìm đọc truyệnngắn bởi nó là thể loại có tính chiến đấu mạnh mẽ” Tô Hoài còn quan niệmtruyện ngắn là “cưa lấy một khúc đời sống” nhưng không thể vì ngắn gọn
mà làm mất đi “chất khoẻ khoắn của đời sống” [22, tr 8] Ông đã hiểu được
hiểu được tính hiệu quả của truyện ngắn Theo Tô Hoài, với truyện ngắn,
người viết phải biết tận dụng từng chữ, lo săn sóc từng chữ Truyện ngắn lànơi nhà văn có thể thử tìm phong cách cho mình
Trang 17Tô Hoài đã từng trăn trở về “truyện ngắn hay nhất”, làm thế nào đểviết ngắn “rút ngắn, rút ngắn nữa Cho chặt, cho chắc, cho tinh tế”[21, tr100] Và tác phẩm ấy phải chứa đựng những suy nghĩ của người viết vềcuộc đời: “Cái truyện ngắn hay nhất bao giờ cũng là truyện sẽ viết Ngườiviết thấy ra cái khó ấy, cái đau khổ ấy, niềm hy vọng không cùng ấy tronglúc cầm bút” [21, tr 101] Như với các thể loại khác, Tô Hoài khẳng địnhngười viết truyện ngắn cũng phải để lại cho bạn đọc một dư âm nào đó tronglòng, tránh lối viết nhạt nhẽo: “Chúng mình làm nghề viết, thành nghề viếtrồi, có thể viết cái gì viết cũng có thể được in, ít nhất thì cũng tàm tạm sạchnước cản Nhưng, anh cứ tưởng tượng xem, một sáng tác ra đời, bạn đọcxong rồi, dư luận im lặng Nghe như hòn gạch ném xuống giếng, sau tiếngrơi bõm vào lòng giếng, là cái im lặng mênh mông Đối với người cầm bútkhông có gì ghê rợn hơn, thất vọng hơn gặp phải cảnh như thế”[22, tr 65]
Quan niệm của Tô Hoài cũng giống với các nhà viết truyện ngắnkhác Song Tô Hoài nhấn mạnh hơn yếu tố ngắn gọn Đồng thời, ông khẳngđịnh một tác phẩm truyện ngắn có giá trị phải phản ánh hiện thực cuộc sống
và sự sáng tạo, hoài bão của nhà văn
Như vậy, truyện ngắn trước hết phải súc tích Người viết không được
kể dài dòng Các chi tiết hết sức tinh lọc, gây ám ảnh với người đọc, tạo nên
ấn tượng mạnh mẽ và những liên tưởng Dung lượng và cốt truyện tập trungmột vài biến cố, trong một khoảng thời gian nhất định Nhân vật thườngđựơc làm sáng tỏ thể hiện một trạng thái tâm thế con người thời đại Chi tiếtđóng vai trò quan trọng mang tính biểu tượng Truyện ngắn có khả năngmiêu tả sinh động cuộc sống và những vui buồn và khát vọng của conngười
1.2.2 Những thành công trong sự nghiệp văn chương Tô Hoài
Năm 1940, ông chính thức vào nghề văn từ truyện ngắn Nước lên Năm 1941, ông viết Dế Mèn phiêu lưu kí để lại một tiếng vang lớn trên văn
Trang 18đàn Việt Nam cho đến tận bây giờ Tác phẩm này được giới phê bình trongnước và ngoài nước đánh giá rất cao tiêu biểu là Gô-lôp-nep, Xô-lô-khin(1963), Trần Đăng Xuyền (1984), Nguyễn Lộc, Đỗ Quang Lưu (1990) Họcho rằng tác phẩm đã thể hiện tài “quan sát, nghiên cứu tỉ mỉ thế giới sinhvật nhỏ bé của nhà văn [31, tr 454].
Từ đó cho đến nay,Tô Hoài đã hơn bảy mươi năm lao động miệt màikhông nghỉ Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp văn chương đồ sộ, hơn
160 đầu sách đã xuất bản Nhiều tác phẩm của Tô Hoài đã được dịch ra cáctiếng nước ngoài như Nga, Trung Quốc, Pháp, Ba Lan, Séc, Đức, Bungari,
Cu Ba, Mông Cổ, Nhật Bản… Một số tác phẩm được đạt giải như Truyện Tây Bắc, giải nhất tiểu thuyết của Hội văn nghệ Việt Nam, năm 1956 Miền Tây, giải thưởng Hội nhà văn Á-Phi, năm 1970 Quê nhà, giải A giải thưởng
Hội văn nghệ Hà Nội, năm 1980 Ông còn đạt giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt
1 năm 1996
Tô Hoài là một trong số ít nhà văn hiện đại nước ta đạt con số kỷ lụctrong sự nghiệp sáng tác của mình Ông đã trải qua những mốc lịch sử vàvăn học đặc biệt: trước và sau Cách mạng tháng Tám; trong chiến tranh vàtrong hòa bình; trước và sau thời kỳ đổi mới văn học Sáng tác của Tô Hoài
đa dạng về đề tài và thể loại: từ đề tài miền ngược đến đề tài miền xuôi; từtruyện ngắn đến tiểu thuyết, truyện đồng thoại đến kịch bản phim Ở đề tài
và thể loại nào, ông cũng ghi lại những dấu ấn riêng
Là một trong những nhà văn thành công ở thể loại hồi kí, tự truyện,
Tô Hoài được người đọc biết đến qua những tác phẩm Cỏ dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều Những tác phẩm này ghi lại những chặng đường đời khác nhau của nhà văn Cỏ dại ghi lại kí ức về một thời thơ dại với những kỉ niệm buồn trong những “ngày cũ buồn bã” Tự truyện tái hiện
lại chặng đường thời niên thiếu từ lúc còn là học sinh lớp nhất trường YênPhụ cho đến khi phải nghỉ học, lang thang khắp đất Kẻ Chợ đến cảng Hải
Trang 19Phòng tìm việc, rồi vào nghề văn, tiếp tục những ngày “phiêu lưu kiểu kiến
bò cho qua cơn trống trải” cùng các nghệ sĩ đến những ngày tháng sôi nổi
hoạt động cách mạng trong phong trào Văn hoá cứu quốc Đến Cát bụi chân
ai và Chiều chiều, những chi tiết đời tư mờ dần, tác giả không kể nhiều về
mình, về gia đình mình Nội dung chủ yếu của tác phẩm là những câuchuyện về cuộc đời, về bạn bè, đồng nghiệp, về những người đã từng gặp gỡtrong công tác xã hội hoặc ngoài đời thường…
Tô Hoài còn thử sức trong lĩnh vực sân khấu nghệ thuật Ông viết
kịch bản phim: Vợ chồng A Phủ (NXB Văn học), Mường Giơn (Tạp chí Văn nghệ Quân đội), Kim Đồng (NXB Kim Đồng), Ông Gióng (NXB Văn hóa), Trâu húc (NXB Hà Nội), Xây thành Cổ Loa (NXB Kim Đồng), Sự tích Thăng Long (báo Văn nghệ) Tô Hoài còn tham gia viết kịch nói, kịch múa rối: Thạch Sanh (NXB Kim Đồng), Con mèo lười (NXB Thanh Niên), Ông Gióng (Hội Văn nghệ Hà Nội) Hầu hết những đóng góp của ông đã gây
Tác phẩm mới, Giải thưởng của Hội Văn nghệ Hà Nội) Các truyện dài của
Tô Hoài đã tạo dựng nên một bức tranh đời sống xã hội rộng lớn, lôi cuốnngười đọc bởi một bản sắc dân tộc rất đậm đà và độc đáo, một thế giới nhânvật bình dị, đời thường, một lối kể chuyện “tự nhiên mà thủ thỉ cái tiếng nói
Trang 20hồn nhiên của bản thân cuộc sống” [31, tr 24] Trong số đó, những tác phẩm nổi tiếng của ông đựơc người đọc nhắc đến nhiều nhất là Quê người, Mười năm, Miền Tây, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Đảo hoang, Chuyện nỏ thần Ở Quê người, Vũ Ngọc Phan nhận thấy Tô Hoài là “một nhà tiểu
thuyết có con mắt quan sát sâu sắc Những tính tình u ẩn phô diễn ra ởnhững cử chỉ rất nhỏ của người dân quê, những thói hủ bại, những ngôn ngữ
kỳ quặc của người dân quê và cả những cách sống cùng cực rất đáng thươngcủa người dân quê, ông đều cặn kẽ” [31, tr 53] Dưới ngòi bút tả chân của
Tô Hoài, ngoài những cảnh làm lụng chật vật của người dân quê, người tathấy rất nhiều thói tục có thể là những tài liệu chân thực cho những nhà xãhội học muốn khảo sát về phong tục
Tô Hoài để lại dấu ấn đặc biệt ở thể loại truyện ngắn Thực sự ông đãtrở thành cây bút truyện ngắn độc đáo, hấp dẫn
Trước năm 1945 là truyện ngắn gồm các tập truyện về loài vật và truyệnngắn về cảnh và người ở một vùng quê ven đô, nơi tác giả sinh sống suốt đời
cho đến ngày hôm nay O chuột (1943, nhà xuất bản Tân dân) là cả một tập truyện gồm 8 truyện về loài vật, lấy tên O chuột để gọi chung Vũ Ngọc Phan
viết “Tô Hoài tỏ ra không giống một nhà văn nào trước ông và không giốngmột nhà văn nào mới nhập tịch làng văn như ông Truyện của ông có tính
chất nửa tâm lý, nửa triết lý mà các vai lại là loài vật O chuột là truyện
ngắn đầu tiên của Tô Hoài và cũng là tác phẩm tiêu biểu cho lối văn đặc biệtcủa ông, một lối văn viết dí dỏm, tinh quái đầy những phong vị và màu sắcthôn quê Cái tinh ma và cái xác thực có lẽ gặp nhau ở chỗ này” [31, tr 63]
Nhà nghèo ( là một tập truyện ngắn viết về nông thôn Tô Hoài
thường nhìn nông thôn thiên về phía phong tục với cặp mắt hóm hỉnh, sắcsảo Có lẽ đây là chỗ hấp dẫn đặc biệt của ngòi bút Tô Hoài: ông nói về tục
tảo hôn (Vợ chồng trẻ con), tục đòi nợ (Khách nợ), tục cúng bái mê tín, cả
Trang 21đến “tục” vợ chồng cãi nhau, làng xóm nhiếc móc nhau (Nhà nghèo, Mẹ già )
Phong Lê nhận định rằng “Trước Cách mạng, truyện của Tô Hoài inrất đậm cảm quan nghệ thuật và giọng điệu riêng của ông- một cây bút sungsức, đứng bên Nam Cao, làm nên dấu ấn đặt trưng cho trào lưu văn học hiện
thực Việt Nam những năm tiền Cách mạng” [31,tr 29].
Truyện ngắn viết về loài vật được đánh giá là sở trường của Tô Hoài.Nhà văn có khả năng quan sát tinh tế, sắc sảo, có tấm lòng thực sự yêu mến ,thực sự sống trong thế giới nhân vật của mình Vì thế những con vật gần gũi
thân thuộc như con mèo, con chó, con ngan, con vịt, con chuột… cũng có
tâm tình, có cá tính và có cả số phận nữa Tô Hoài là người biết tạo yếu tốtruyện, phát hiện yếu tố truyện trong đời sống tự nhiên của loài vật “Đườngdây truyện không nhiều mầu vẻ phức tạp mà đôi lức đơn giản: đôi ri đá làm
tổ, chú gà trống ri đi tìm người bạn tình, một đời vênh vang và tàn phai của
Gà chọi, cuộc phiêu lưu của Dế Mèn Và chính trên mạch truyện tự nhiên
ấy, ngòi bút của tác giả đã biến hoá tạo nên những lí thú cho các “nhân vậthỗn tạp và đa dạng” của mình Ngoài bút của Tô Hoài đã phát hiện cái ngộnghĩnh, lố lăng, khoe mẽ, đa điệu của một số loài vật” [31, tr 469]
Truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng là những trang viết đầy hấpdẫn, thấm đẫm chất phong tục Ông viết về làng quê Nghĩa Đô, một vùngngoại thành Hà Nội Ở đó, người nông dân còn có nghề thủ công dệt lụa, dệtlĩnh, ở nơi đó có những phong tục tập quán của một làng quê truyền thống
Tô Hoài có một khả năng đặc biệt trong việc sử dụng ngôn ngữ địa phương.Tiếng nói của trong xóm, trong làng, của anh em được đưa vào tác phẩm TôHoài nhẹ nhàng đã giúp ông trở thành nhà văn có biệt tài viết về những cảnhnghèo nàn của dân quê
Cách mạng tháng Tám thành công, Tô Hoài là nhà văn nhiệt tình thamgia cách mạng và ông cũng viết rất sôi nổi về đời sống của người dân vùng
Trang 22tạm chiến, vùng tự do, về quá trình giác ngộ cách mạng của quần chúng nhân
dân Các truyện ngắn như Đồng chí Hùng Vương, Nà Luộc, Tào Lường, Công tác xa… Tất cả đều hướng về mảng đề tài chung là cuộc sống của các dân tộc ít người ở những triền núi Cứu quốc, căn cứ địa cách mạng “Núi cứu quốc tuy nghệ thuật còn đơn giản nhưng có thể đem lại cho ta một hình ảnh
tương đối đúng về đồng bào miền núi, khác hẳn những truyện đường rừngtượng tượng của một số nhà văn lãng mạn hồi xưa… Tác phẩm cho ta hiểucon người miền núi đúng với bản chất của họ là những con người thật thà,chất phác, chung thuỷ, có một lòng tin mãnh liệt ở cách mạng Tác giả đặcbiệt nhấn mạnh lòng trung thành với cách mạng của những con người miền
núi khi họ đã giác ngộ.” [32, tr 71] Tập truyện Tây Bắc, nhà văn Bùi Hiển nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của Tô Hoài trong Vợ chồng A Phủ là
“thiên về thị giác, một thứ thị giác tinh nhạy, đầy màu sắc và ấn tượng, cảmxúc, nói rộng ra hơn nữa là thiên về cảm giác, về cảm nhận trực quan cụ thể,
về biểu hiện các sắc thái tình cảm gần gũi, thầm kín” [32, tr 103]
Tiểu kết
Có thể nói, Tô Hoài là một cây đại thụ trong nền văn học hiện đại ViệtNam Ông đã dành trọn cụôc đời cống hiến cho sự nghiệp văn chương TôHoài đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ khiến người đọc vô cùng cảmphục Ở mảng đề tài nào, thể loại nào, nhà văn cũng có con đường đi riêng,tạo nên được phong cách độc đáo Trong đó, đặc biệt là thể loại truyện ngắn,
Tô Hoài đã ghi lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong lòng độc giả So với truỵênngắn trước Cách mạng, truyện ngắn sau Cách mạng của Tô Hoài có mở rộnghơn về phạm vi đề tài và nhận thức của một người cầm bút cách mạng đặcbiệt Tuy nhiên, truỵên ngắn được viết trước Cách mạng tháng Tám cũng cómột phong vị riêng, đánh dấu những thành công trong cuộc đời sáng tác củanhà văn Tô Hoài, giúp ông khẳng định được vị trí của mình trong nền văn
Trang 23học Việt Nam, là một trong số những cây bút hàng đầu bên cạnh các tên tuổinhư Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Nguyên Hồng, Thạch Lam…
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT
TRONG TRUYỆN NGẮN TÔ HOÀI TRƯỚC CÁCH MẠNG
2.1 Khái niệm về nhân vật
“Nhân vật văn học là hình tượng nghệ thuật về con người, một trongnhững dấu hiệu về sự tồn tại toàn vẹn của con người trong nghệ thuật ngôn
từ Bên cạnh con người, nhân vật văn học có đôi khi là các con vật, các loàicây, các sinh thể hoang đường được gắn cho những đặc điểm giống với conngười” [2, tr 249]
Có thể nói rằng, nhân vật chính là linh hồn của tác phẩm, là con đẻtinh thần của nhà văn Thông qua thế giới hình tượng trong tác phẩm, nhàvăn bộc lộ cảm quan của mình trước cuộc sống, gửi gắm vào nhân vậtnhững tư tưởng mơ ước khát vọng hay những tâm sự thầm kín của mình.Nhân vật cũng là nơi để nhà văn thể hiện quan điểm nghệ thuật và lí tưởngthẩm mĩ của chính bản thân mình về con người Bản thân Tô Hoài cũng chorằng: “Nhân vật là nơi duy nhất, tập trung hết thảy, giải quyết hết thảy trongmột sáng tác”[19, tr 45] Mỗi một nhà văn tuỳ theo cảm quan hiện thực đờisống, tuỳ theo quan niệm của mình mà có những kiểu nhân vật riêng
2.2 Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám
Tô Hoài quan niệm chỉ viết về những điều mà ông nhìn thấy ở quanhmình, ở chính mình, viết những sự thực xảy ra trong nhà, trong làng quanhmình Ngòi bút Tô Hoài hướng đến những con người, những câu chuyện củalàng quê ông
Trang 24Viết về người dân quê, nhà văn có cái nhìn giản dị và xác thực về họ.Theo ông, con người trước khi là một ai đó thì trước hết phải là chính mình,phải là mình với tất cả những gì mà tạo hoá đã sinh ra chúng ta Có xấu, cótốt, có dở, có những thói tật của riêng mình Con người không phải là thánhnhân cũng không phải là các gì đó siêu phàm Bên cạnh những tính tốt conngười con người còn có những hạn chế, thậm chí những thói xấu Con người
có những phần cao cả nhưng cũng có gì khuất lấp ẩn sâu trong tâm hồn
Vì vậy, nhân vật trong truyện ngắn của ông không xa lạ, họ là nhữngngười nông dân, người thợ thủ công, những người trí thức sống ở làngNghĩa Đô, ngay cả đến loài vật cũng hết sức bình thường, gần gũi trongcuộc sống hàng ngày
2.2.1 Nhân vật nông dân, thợ thủ công
Nhân vật chiếm đa số trong những trang truyện ngắn của Tô Hoàitrước Cách mạng là những người nông dân thợ thủ công Họ là hình ảnhngười dân làng Nghĩa Đô, là người chính người thân trong gia đình Tô Hoài
Không giống như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài viết vềngười nông dân, người thợ thủ công, ông không đi vào những sự kiện quantrọng, những tình huống gây bất ngờ, hay những cuộc đấu tranh giai cấp.Dưới con mắt của Tô Hoài, những người nông dân, những người thợ thủcông đều là con người bình thường, có suy nghĩ, tâm trạng vận động theoquy luật đời thường Có lẽ vì vậy, nhân vật của ông không phải là những con
người hành động kiên cường giống như chị Dậu trong Tắt đèn của Ngô Tất
Tố, những kẻ quá ngờ nghệch dốt nát như con mẹ nuôi trong Đồng hào có
ma của tác giả Nguyễn Công Hoan Thực sự, nhân vật của Tô Hoài là những
con người đời thường Họ phải chịu cảnh đói nghèo, thất nghiệp vì nhữngbiến động của xã hội Họ có mặt tốt mặt xấu, có những suy nghĩ hết sức vụnvặt, những lo toan tính toán trong cuộc sống thường nhật
Trang 25Thời ấy, làng Nghĩa Đô, người dân sống chủ yếu bằng nghề dệt cửi,
sự sống loanh quanh buộc vào mấy khung cửi mọt Xung quanh Tô Hoài làcảnh sống khó khăn túng quẫn của gia đình, của làng xóm nghề dệt thủ công
dần dần phá sản Tô Hoài đã ghi lại cảnh gia đình trong Tự truyện Những
ngày chợ phiên hàng ế hàng, không khí gia đình càng trở nên nặng nề: “Nhàtôi, ngày chợ không sinh chuyện này thì chuyện khác Hàng ít lại xấu, khôngđều, không ai mua Thế là xảy ra xô xát giữa bà ngoại tôi và các dì tôi Ôngngoại tôi ngồi uống rượu Cuối cùng, bao giờ ông tôi cũng vác gậy đuổiđánh tất cả Mọi người chạy toán loạn đêm mới về ( ) Sáng hôm sau, lạivẫn cãi vã, làm ầm cả xóm”
Những kí ức ấy đã ăn sâu trong tâm trí của cậu bé Tô Hoài Vì vậy,chúng ta hiểu tại sao những nhân vật nông dân và thợ thủ công trong truyệnngắn của ông đựơc quan tâm nhiều nhất và đều là những con người nghèođói, khốn khổ, cùng cực
Trong Đôi ri đá, Tô Hoài đã dựng lại khung cảnh làng quê tiêu điều.
Người ta ăn tết Nguyên Đán trong thầm lặng, trong nỗi buồn tê tái “Bởi vìlàng có một nghề làm lĩnh lụa thì lĩnh lụa lại ế Nhiều khung cửi phải xếplại Những guồng tơ bỏ trống Vắng tiếng lóc cóc van vỉ của cái vày tơ.Ngày phiên không có bác thợ cửi say rượu, mặt đỏ gay, đi chệnh choạngtrên đường cái làng Công việc chẳng có Người ta phải quẩy đất thuê, đilàm thợ nề và ra Hà Nội kéo xe tay Có những kẻ liều lĩnh đã ký giấy “mộphu” sang “Tân thế giới” [ 27, tr 314]
Cái nghèo cũng ám ảnh gia đình anh Duỵên trong Nhà nghèo Suốt
đời hai vợ chồng anh Duyện chỉ biết cắm mặt làm lụng tối ngày mà gia đìnhanh vẫn nghèo chẳng đủ ăn Nhà nghèo đến mức chẳng có một cái gì đánggiá, thậm chí không có một chút lửa “Mỗi bận thổi cơm, cái Gái vẫn phải ratận đầu xóm xin lửa Và tối thì mọi người trong nhà đi ngủ cùng với mặttrời, không cần đèn.” Cơn mưa mùa hạ xối xả, rào rào, trắng xoá gợi bao
Trang 26sung sướng Họ nghĩ đến bữa cơm “có thịt nhái nướng thơm phức chấm vớimuối ớt, nhai ròn rau ráu, ngon tuyệt.” Kết thúc truyện bất ngờ khiến ngườiđọc vô cùng đau xót, cái Gái đứa con gái đầu của hai vợ chồng anh Duyện
đã bị rắn cắn chết trong tư thế “hai tay ôm khư khư cái giỏ nhái Lưng nótrần xám ngắt Chân nó co queo lại” Phải chăng ngay trong lúc nguy hiểm,
nó vẫn mơ tưởng đến món thịt nhái nướng, đến cảnh gia đình đầm ấm quanhmón ăn này Anh Duyện đau đớn và nghĩ đến cái khổ của con gái mình:
“bấy lâu nó vào cửa vợ chồng anh, cực khổ trăm đường Người nó có baonhiêu xương sườn, giơ hết cả ra.”
Cái nghèo đeo đẳng cuộc sống của dân quê, đe doạ đến hạnh phúc của
của họ Trong Chớp bể mưa nguồn, anh Mi vì quá nghèo mà không đủ tiền
lấy vợ Cuối cùng một ngừơi phụ nữ đã theo về nhà, làm vợ anh Bà Móm
vô cùng phản đối vì bà cho rằng đó là người đàn bà đốn mạt, không cướixin, lại đàng hoàng đến nằm vạ nhà bà Nhưng bà cũng xót xa vì nhận rahoàn cảnh gia đình mình: “Bà không có tiền ấy vợ cho nó à? Đâu bà cómuốn thế Chẳng qua là cái ông trời cay đắng kia chưa muốn cho bà khá Ngày xưa, bà đi lấy chồng, nghèo khó lắm Vậy mà hàng xóm cũng đượcnhai bỏm bẻm miếng trầu Làng nước cũng nhận được năm chục viên gạch
thay tiền cheo ” Tình huống “nhặt” vợ cũng đựơc đề cập trong truyện Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân Anh Tràng cũng không đủ tiền cưới vợ, một
người phụ nữ cũng vì đói kém quá mà theo anh về Cuộc sống còn khó khănnhưng gia đình họ hoà thuận, êm ấm, hạnh phúc được thắp lên từ những ảmđạm tối tăm của đói nghèo Giống với tình huống của nhà văn Kim Lânnhưng Tô Hoài lại khai thác ở khía cạnh bi kịch Bà Móm không chấp nhận
vợ anh Mí, vì cho rằng đó là người đàn bà đốn mạt Bà hành hạ cô con dâucủa mình bằng tiếng chửi rủa hàng ngày tưởng như không bao giờ dứt.Người đàn bà ấy đã không chịu đựng được đành phải bỏ đi và người con trai
bà cũng bỏ bà mà ra đi Một người phụ nữ đánh đá, chua ngoa như bà Móm
Trang 27cuối cùng cũng phải ôm mặt, hu hu khóc “Ối con ơi!” Tiếng khóc ăn nănhối hận, tiếc nuối, tiếng khóc thương cho con trai khốn khổ, khóc thươngcho cuộc đời tăm tối của bà Người nông dân đã khốn khổ vì nghèo đói, họcòn khốn khổ vì những hủ tục làng xã đeo bám Nếu bà Móm chấp nhậnngười con dâu ấy và vun vén vào cho con trai thì đâu đến nỗi gia đình bànhà tan cửa nát, mỗi người một nơi Cuối cùng chỉ còn mỗi mình bà trongcăn nhà trống huếch, trống hoác và chịu dằn vặt trong nỗi cô đơn
Còn chuyện gia đình anh Hối trong Buổi chiều ở trong nhà cũng gợi
cho người đọc bao nỗi xót xa Câu chuyện mở ra một khung cảnh gia đìnhđầm ấm ba bố con quây quần bên nhau: “Hai đứa trẻ thích bố quá Bố vừacho ăn kẹo bột, bố lại hát cho mà nghe” Có hạnh phúc nào hơn thế Cái khungcảnh làm cho ta cảm thấy thú vị nhẹ nhàng Sự kiện bắt đầu khi người mẹ pháthiện bị mất chai đựng dầu Anh Hối đã mang một chai dầu đem bán để muakẹo cho cả nhà Anh không biết rằng một chai dầu khác đã được bán đi để cótiền mua thuốc cho con lúc ốm Hơn nữa với anh chị, từ trước đến nay, thắpđèn vào ban tối là một chuyện tiêu hoang Nhưng giờ đây chị Hối muốn thắpđèn vì mất hai xu dầu, anh chị có thể làm thêm được năm xu việc vào buổitối Không có cái chai ấy làm sao anh chị có thể làm thêm, chị sẽ còn trôngvào đâu Chị Hối đã rất giận chồng Lời qua tiếng lại, dẫn đến xô xát Ngườiđọc thấy buồn chỉ vì một chai dầu mà họ đã đánh chửi nhau Cái nghèo cáiđói luôn bao trùm trong gia đình họ khiến họ trở nên dễ dàng cáu giận
Khách nợ góp phần hòan thiện bức tranh cuộc sống cùng khổ của
những người nông dân Ba mươi tết, anh hương Cay phải đi trốn vì lái Khếđến đòi nợ Cảnh nhà anh hương Cay tan hoang, chẳng có gì Lái Khế
“nhòm cả xuống gầm phản Chiếc phản đã mọt sủng, mối đùn dưới gậmtừng đống đất to xù Cầm cái hèo, lão đi xét thật nhanh gõ đốp đốp vào bứcvách Từng tảng đất vách, trấu trắng phếch ngã xuống, lăn lóc Rồi gã ra sân.Mảnh vườn sân non những cây ké dại thấp lè tè, đốm hoa vòng sọng Quanh
Trang 28năm dáng chẳng ai bước vào đây.” Tết đến xuân về là dịp cả nhà sum họpđầm ấm Người ta quét dọn nhà cửa, sửa sang bàn thờ tổ tiên cho sạch sẽ.Vậy mà nhà anh hương Cay vắng lạnh như không hề biết đến ngày tết Dẫnđến tình cảnh này là bởi anh có món nợ truyền kiếp từ bà cụ, cái món nợđược truyền bằng văn tự miệng Để rồi hôm nay, khi ngày tết đến, khôngmột nén hương, mẩu nến, trăm vàng Hai bố con phải chay đi trốn nợ Anhhương Cay còn bị lái Khế lấy đi bát hương, bài vị tổ tiên Làm sao ông vải,những người thân của anh đã về nơi suối vàng có thể trở về sum họp với giađình trong những ngày tết ?
Tô Hoài viết về những con người thật bình thường, những chuyệndiễn ra hàng ngày Ông còn nhìn thấy ở những người nông dân thợ thủ côngnhững cái hay cũng như cái dở, cái xấu và cái tốt Con người miêu tả mộtcách tự nhiên, không tô vẽ, con người với đúng nghĩa là “con người” Vìvậy, ở họ còn nhiều thói tật Đàn ông nóng nảy, đàn bà lắm điều Vợ chồng
anh Duyện (Nhà nghèo) cãi nhau cũng vì những cớ rất nhỏ Anh chồng đang
hát nghêu ngao trong nhà, vợ nhiều lời làm cho cụt hứng Lời qua tiếng lại,chị Duyện càng bù lu bù loa khiến anh chống tức điên: “Ông giết cả lũ! Ônggiết cả lũ chúng mày rồi ông đâm cổ ông sau Những của nợ kia, ông nhấtquyết sửa chúng mày trước rồi đến con mẹ chúng mày.” Còn chị Duyện ômváy chạy ra đầu ngõ rồi tiếp tục nheo nhéo nói vào: “Nào tôi bòn rút của chìmcủa nổi gì của ai Một nhời nói một đọi máu, ăn nói còn có giời đất, có quỷthần hai vai chứ”, “Ối ông cả bà nhớn ơi! Nó đốt nhà Thằng Duyện nó đốtnhà ” Lúc đầu chỉ là chuyện cãi vã, anh Duyện uất run người đòi đốt nhà
“Họ thường xuyên cãi nhau vì những cớ rất nhỏ không có nghĩa Cái đó cũngthành một thói quen Lúc nào ngứa miệng, to tiếng là to tiếng liền”[20, tr77]
Điều đáng nói khi xây dựng nhân vât, Tô Hoài không chỉ nhìn ra sựthấp kém của những nông dân thợ thủ công, ông còn nhận thấy những phẩmchất đáng quí ở họ
Trang 29Đằng sau những cuộc cãi vã, những vụ ẩu đả, họ lại trở về với conngười thực- đó là con người giàu tình yêu thương, yêu gia đình, và khátkhao hi vọng về một cuộc sống tươi đẹp hơn Gia đình anh Duyện cãi nhaukịch liệt nhưng cơn mưa rào ập đến họ lai nhanh chóng tất tả đi bắt nháidường như chẳng có vụ đánh chửi nào xảy ra Thấy chồng cặm cụi bắt nhái,bao nhiêu yêu thương lại dâng lên Họ cáu gắt cũng vì mệt nhọc, vì đói kémchứ bản chất thì hiền lành, chăm chỉ, cũng mong muốn có một cái gì tốt đẹphơn dù đơn giản chỉ là một bữa cơm với món nhái nướng Anh Hối bán mộtchai dầu mua kẹo để cho anh và vợ con ăn Anh sung sướng bên cạnh nhữngđứa nhỏ vừa cho chúng ăn kẹo và hát cho chúng nghe Niềm vui ngập tràntrong lòng anh, khi vợ về, anh muốn chia sẻ ngay điều đó với vợ “Nhà ra tôicho cái kẹo này” Niềm vui sướng của anh cũng thật giản dị Đó là sự đồngcảm, chia sẻ bên người thân ngay từ những điều nhỏ nhặt nhất Bà Móm lắmđiều, ác nghiệt là thế Nhưng thực sự trong lòng bà đâu muốn Bà đau xóthối hận khi con trai bỏ đi, một mình bà ở lại trong nỗi cô đơn, tuổi già và
bệnh tật Anh Cuông (Lá thư tình đầu tiên) sống trong niềm tin hi vọng Anh
yêu thầm nhớ trộm cô Mi, một người con gái có đôi mắt trong thẳm và đenláy, một người mà biết bao trai làng ngưỡng mộ và mong ước được lấy làm
vợ Cô Mi đẹp nhất làng còn là người hay chữ nên cô không chấp nhận mộtngười chồng lại không biết chữ Thế là anh chàng Cuông hiền lành chânchất dạy sớm thức khuya âm thầm học chữ Bức thư tình đầu tiên anh đãhoàn thành, gửi gắm vào đó những tình cảm yêu thương chân thành thiết thacủa anh với cô Mi Bức thư tình ấy không thực hiện đựơc sứ mệnh của nó.Bởi vì cô Mi đã đi lấy chồng và vẫn không biết được tấm chân tình của anh.Câu chuyện thật nhẹ nhàng để lại trong lòng người đọc niềm thương cảm.Mặc dù đó chỉ là tình yêu đơn phương nhưng ta cảm nhận được những tìnhcảm yêu thương đằm thắm của anh Cuông Tình yêu đã giúp anh vươn lêntrong cuộc sống giúp anh có nghị lực, có chí hơn Anh trở thành người biết
Trang 30chữ trong cái làng mà ít người được học hành như thế này Anh Tại [Một người đi xa về] cho dù bị người yêu phụ bạc nhưng anh không sa vào tuyệt
vọng, tự huỷ hoại mình, trả thù đời Anh cay đắng nhận ra rằng người yêu
bỏ anh đi lấy người khác vì anh không có đồng bạc trắng Anh quyết chí đilàm ăn xa vào tận đất Sài Gòn Anh trở về làng quê trong tư thế của ngườichiến thắng, người có nhiều tiền để lại cho cô Pha những ngậm ngùi tiếcnuối “giá như thế này thế nọ ta đã chẳng khổ như bây giờ.”
Nhân vật người nông dân thợ thủ công trong truyện ngắn của Tô Hoàitrước Cách mạng tháng Tám có những nét riêng, độc đáo Họ có cái khổ, cáiđói và thất bại, họ chịu đau đớn nhưng họ không ác, không buông xuôi và
họ có ước mơ hi vọng Bên ngoài, đôi lúc họ thô kệch, nóng nảy, chua ngoanhưng sâu thẳm trong tâm hồn họ, đó là những con người hiền lành, chânchất và giàu tình yêu thương
2.2.2 Nhân vật trí thức
Truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng không đề cập nhiều đến nhânvật trí thức như Nam Cao Tuy vậy, những nhân vật này thể hiện một phầnnào đó tư tưởng của sáng tác của ông
Tầng lớp trí thức tiểu tư sản được đề cập nhiều trong văn học thời kỳnày Nam Cao là nhà văn rất thành công với hình ảnh người trí thức tiểu tưsản Đó là những con người có tài năng , đức đức độ, có niềm say mê nghềnghiệp Vì có ý thức trách nhiệm cao với nghiệp cầm bút nên cuối cùng họcũng tìm ra được chân lí nghề nghiệp; “Nghệ thuật không phải là ánh trănglừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối Nghệ thuật phải là những tiếng đau
khổ kia phát ra từ những kiếp lầm than.” [Trăng sáng] Nhưng vì cuộc sống
mưu sinh, vì cơm áo hàng ngày, nhiều người trí thức đã cho ra đời những tác
phẩm vội vàng như anh Hộ [Đời thừa] Hộ chán nản vì những lí tưởng
không thực hiện được Bên cạnh đó, anh vẫn phải đối diện với những đòi hỏithường ngày Anh phải viết vội, viết cẩu thả để cứu cả gia đình khỏi chết
Trang 31đói Hộ rơi vào bi kịch tinh thần, đau khổ vì những tác phẩm nhạt nhẽo củamình nhưng không biết làm sao.
Người trí thức của Tô Hoài cũng rơi vào hoàn cảnh giống như vậy.Tác giả không đi sâu miêu tả những bi kịch tinh thần của họ như Nam Cao
Tô Hoài viết một cách nhẹ nhàng tự nhiên những suy nghĩ, hành động của
nhân vật Truyện Hết một buổi chiều kể về một nhân vật trí thức mà tác giả
gọi ở ngôi thứ ba “gã” Cả một buổi chiều, anh ta loay hoay không biết làmthế nào để sáng tác Cái bàn cái ghế không hợp đôi Bàn thì thấp ghế lại quácao khiến anh đau vai mỏi cổ Anh loay hoay kê cái bàn cao hơn bằng bốnviên gạch nhưng cái bàn cuối cùng cũng bị đổ chổng kềnh Chỉ còn cách cưacái ghế nhưng cái ghế là của bà chủ nhà thì làm sao anh cưa được Hình ảnhcái bàn cái ghế khập khiễng không đi đôi với nhau phải chăng là hình ảnh ẩn
dụ về cuộc sống Người trí thức luôn phải đối diện với hiện thực nghèo khổ,khiến họ quẩn quanh không lối thoát Đó cũng là cuộc sống nhếch nhác tạm
bợ của người trí thức thời bấy giờ “Gã” cũng phải đối diện với một hiệnthực giống như Độ “phải viết”, nếu không “toà soạn sẽ kêu lên rằng dạo nàyhắn lười quá Gã không dám lười bởi gã cần tiền” Chấp nhận hiện thực nhưviệc chấp nhận cái bàn, cái ghế khập khiễng, gã bắt đầu viết Một cái têntruyện rất đẹp “Ấp hồ” Đấy là một truyện diễm tình và suông hết sức Gãcảm thấy ngượng Bởi gã nhận ra rằng: “Mạch sống cuộc đời táp nham nàycòn có gì đáng lồng vào một dòng nước, một nhành hoa, một làn mây trắng…Bên cạnh gã, cả một xóm lao động rách rưới vang rầm lên những tiếng rên la,gầm rít Những cái gì là trăng, là sao, là thu vàng mờ mịt trong đầu gã.” Nhận
ra hiện thực cuộc sống, người trí thức không thể cất bút nói những chuyện
mơ mộng hão huyền Mặc dù viết về những trăn trở của người trí thứcnhưng Tô Hoài không đi sâu vào những bi kịch giống như Nam Cao Ôngcòn thắp lên niềm hi vọng trong họ Ngày mai, gã sẽ tiếp tục viết một tácphẩm văn chương nói lên hiện thực cuộc đời “Mai mình viết Mai”
Trang 32Nhân vật trí thức của Tô Hoài cũng hiện ra là những con người đời
thường Đi tắm đêm kể về những chàng trai nghịch ngợm tinh quái Họ cũng
tò mò, thú vị tình cờ được ngắm những cô gái đang tắm dưới bến “nhữngthành vai trăng nõn, tóc buông loà xoà trên mặt nước, gợn những vòng vàng
vì ánh trăng.” Họ cũng có cái bồn chồn thao thức trước vẻ đẹp đầy nữ tính
ấy Suốt đêm, Căn thao thức không ngủ “Chúng nó đẹp như tiên sa” Nhiềuđêm trăng, Căn đã rình mò những cô gái tắm Bị các cô vạch mặt, Căn xấu
hổ và tìm cách trả thù Anh đã cất hết quần áo của các cô và còn giả làm ma
để các cô sợ phát khiếp Từ đó, các cô không còn dám chua ngoa như trướcnữa Rõ ràng, người trí thức trong truyện ngắn của Tô Hoài không được lítưởng hoá như là những con người mang trọng trách lớn lao “khơi nhữngnguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có.” Tác giả đề cập đến conngười đời thường của họ cũng tò mò, thích thú, giận hờn, ghen ghét, và cũngtrả thù vặt vãnh…
2.2.3 Hình tượng loài vật
Tô Hoài là một trong những nhà văn viết về loài vật thành công nhất
Hà Minh Đức nhận xét: “Tô Hoài là nhà văn viết thành công nhất, hấp dẫnnhất về các loài vật” [31, tr 444] Còn tác giả Vũ Ngọc Phan “Tô Hoài tỏ rakhông giống một nhà văn nào trước ông và cũng không giống một nhà vănnào mới nhập tịch làng văn như ông Truyện của ông có những tính chất nửatâm lí, nửa triết lý, mà các vai là loài vật.” “Nó là những truyện tả chân vềloài vật, về cụôc sống của loài vật, tuy bề ngoài ra vẻ lặng lẽ, nhưng phầntrong có lắm cái “ồn ào”, vui có, buồn có.”[31, tr 63]
Thế giới loài vật trong truyện của Tô Hoài là những con vật hết sức dịđời thường, những con vật đã gắn bó với tuổi thơ Tô Hoài Ẩn chứa trongmỗi trang truyện về loài vật là câu chuyện về con người Hà Minh Đức nhậnxét: “Truyện loài vật của Tô Hoài làm cho người đọc tưởng tượng và liêntưởng đến cuộc sống hằng ngày của những dân thường ở quê.” [31, tr 445],
Trang 33“có thể nói ý nghĩa xã hội của chuyện loài vật của Tô Hoài khá phong phú”[31, tr 446].
Truyện gã chuột bạch gợi chúng ta hình dung về cuộc đời luẩn quẩn
của những người nông dân, bó hẹp sau luỹ tre làng Hai vợ chồng chuộtbạch sống trong một cái lồng nhỏ hình vuông, đan bằng tre Giữa lồng,người ta treo hai cái vòng thép nhỏ, san sát từng cánh như hai chiếc đu tiên
tí hon Chúng chỉ có việc: ăn, đánh vòng và ngủ Đó là tóm tắt những côngviệc của đôi chuột bạch Thậm chí ngay cả lúc những đứa trẻ tinh nghịchquên đóng cửa lồng Ấy vậy mà đôi vợ chồng ấy cũng chẳng dám ra khỏilồng, chỉ tha thẩn bò ra ngoài Hai cái bóng lồm cồm hếch chiếc mũi nhọn
lên ngơ ngác nhìn quanh quẩn Cũng như vậy O chuột kể về anh chàng mèo
“cơ chừng gã mèo mướp phải dành tất cả cái hoa niên của mình để mà chỉquẩn quanh đi o chuột” “O chuột” ở đây không phải là danh từ mà là động
từ có thể hiểu là o ép, bắt nạt Gã mèo cũng chẳng oai phong gì, cả đời mìnhhắn chỉ rình mò, bắt nạt mấy con chuột nhép ở xó bếp
Cuộc đời của vợ chồng Đôi ri đá có khác gì cuộc đời những người
ngụ cư ở làng Nghĩa Đô Chúng đến ngụ cư ở cây hồng bì Hàng ngày tầntảo kiếm ăn làm tổ, sinh con đẻ cái Cuộc sống cũng đầy những nhọc nhằn:
“Bốn con ri cũng nhớn nhao Bố mẹ chúng rạc cả người, về nỗi đi kiếm mồicho con.” Có lần tổ của chúng bị phá hỏng nhưng đôi chim ri ấy vẫn bền bỉxây một chiếc tổ khác Chúng ăn ở dè lén bình lặng, chịu khó, ít ồn ã “Cuộcđời trôi chảy âm thầm dưới khe lá xanh, y như cuộc đời của những ngườiNghĩa Đô, cần cù và nghèo khổ trên cái khung cửi trong bốn luỹ tre già”.Cuối cùng, chúng không thể ngụ cư ở cây hồng bì đành rời bỏ đi nơi khácgợi ta nhớ đến những người con làng Nghĩa Đô vì cùng cực khốn đốn đànhphải bỏ làng đi làm ăn xa.“Đôi vợ chồng ri đá chịu khó và nhẫn nại kia,cùng một đàn bốn con thơ dại, tan tác bay đi, không bao giờ còn trở về cây.Chẳng ai biết được cái bầu đoàn khốn khổ ấy long đong bạt đi đâu và sau ra
Trang 34làm sao” Hình ảnh một đôi chim ri trở lại có thể là đôi chim ri cũ nhưngcũng có thể lại là đôi chim ri mới Điều đó muốn nói rằng, cuộc sống vẫntrôi chảy âm thầm, đôi chim lại tiếp tục đối diện với những thử thách nhưbao thế hệ người dân làng Nghĩa Đô vẫn âm thầm nhọc nhằn kiếm sống
Ở truyện Con gà trống ri và Một cuộc bể dâu, tác giả kể về cuộc đời
của những con gà bề ngoài tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng đằng sau
ấy là chứa chất bao tâm sự của những số phận, những cảnh đời Con gàtrống ri gặp phải bi kịch tình yêu Nó là một thứ gà bé nhất của loại gànhưng nó vẫn có đủ tư thế hùng dũng của loài gà trống, nó vẫn giữ địa vịmột ông thống soái dẫn đầu” Khi lớn lên, hắn có đặc tính chung của loài gà
“đa tình lắm” Nhưng sự đa tình của hắn lại như một bi kịch của cuộc đời.Trong sân, hắn chẳng tìm đâu được một người tri kỉ, bởi sự thấp kém về vócdáng của hắn: “Xung quanh khu vực chỗ nó ở, tuyệt nhiên không có đến haicon gà ri Cũng giống như con người, không tìm được bạn tri kỷ, học đòi đikiếm ăn xa: “hắn đi theo tiếng gọi của tình ái” Nhưng cuộc đời vốn hợp lạitan, tìm được chị gà mái ri, nhưng cái cuộc tình của hai con gà ri ấy khôngđược bao lâu Cái chết của người tình lại đưa con gà trống trở lại nhữngtháng năm buồn tẻ “Rồi gã đi biệt hẳn Chắc chẳng phải là nỗi nhớ thương
cô ả má đào bạc mệnh ấy Gã vốn tính mau quên” Cái bản tính mau quê
nhắc ta đến Lụa và Nguyên trong truyện Lụa, hai người yêu nhau tha thiết,
họ đã thề nguyền với nhau Lụa nếu không lấy được Nguyên, cô sẽ đi tu.Còn Nguyên mà không lấy được Lụa, anh sẽ bỏ đi Sài Gòn Nhưng rồi chỉ íttháng sau đó, Lụa lấy chồng còn Nguyên lấy vợ ngay tại làng, dường nhưchẳng có lời thề nguyền hôm nào
Một cuộc bể dâu kể lại cuộc đời của anh gà chọi, một tay hảo hán Cái
anh hùng trọc trời khuấy nước hiện lên thật hùng dũng: “Da chàng đỏ gay,
đỏ gắt, đỏ tía, đỏ bóng lên như có quét một nước sơn thắm” Cái oai phong
Trang 35lãm liệt mà tác giả mệnh danh là Từ Hải cũng không thoát được lưỡi hái của
tử thần, bệch dịch đến, cái xóm gà vịt trở nên tan tác chia lìa
Mỗi con vật trong truyện ngắn của Tô Hoài hiện lên thật sinh độngvới nhiều tính cách khác nhau Ả gà mái phong trần khiếp lắm nhưng khilàm mẹ, mụ là một người mẹ tuyệt vời Mụ không dám rời lũ con nửa bước.Chăm chỉ kiếm ăn nuôi con, có khi chỉ bới được một hạt dền nhỏ mụ lại gọichúng đến, cho chúng ăn Mụ vừa “nhìn các con, vừa nói chuyện vui vẻ”.Chẳng may con mụ gặp nguy hiểm, mụ “cong chòm đuôi lên, sù vành lôngcổ”, “nhảy lên như choi choi”, bảo vệ cho kỳ được những đứa con yêu quýcủa mình” Hình ảnh ả gà mái khiến người ta liên tưởng đến con người “Mụmải mê chăn nuôi con đến quên cả mình Chả thế mà trong khi có trẻ, thânhình mụ gày xác, gầy xơ… Phải gọi mụ là một bà lý ở nhà quê, một bà líhào chỉ biết có tảo tần buồn bán để nuôi con cho đi thả chim thả diều và nuôichồng một ngày hai bữa rượu
Tô Hoài miêu tả những con vật hết sức bình dị, quen thuộc với cuộcsống người dân Trong cảm quan Tô Hoài, chúng hiện lên thật sinh động,ngộ nghĩnh, có tính cách, số phận khác nhau Chúng nói lên thân phận củanhững người dân làng Nghĩa Đô, những con người nghèo đói, tần tảo, chịuthương, chịu khó, những con người thuần hậu Hà Minh Đức thật đúng khicho rằng: “Có thể nói ý nghĩa xã hội của chuyện loài vật của Tô Hoài kháphong phú Trong cuộc đời cũ truyện của loài vật gợi đến thân thận conngười, và cuộc đời mới đời sống được nâng cao hơn, nhất là ở những vùngthôn quê cũng chi phối đến môi trường sinh sống của loài vật” [31, tr 446]
2.3 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong truyện ngắn Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám
Nhân vật là linh hồn của tác phẩm Các phương diện thể hiện nhân vậthết sức đa dạng Nhà văn miêu tả chân dung, ngoại hình, tả hành động tâmtrạng hoặc đưa những chi tiết mô tả ngoại cảnh, môi trường, đồ vật xung
Trang 36quanh con người làm nổi bật bức chân dung về con người Nhân vật trongtruyện ngắn Tô Hoài được miêu tả những tâm trạng suy nghĩ phức tạp Nhânvật được xây dựng trong môi trường lao động, sinh hoạt, được đặc tả ởngoại hình, lời nói, được tác giả thể hiện ở những chi tiết rất đặc sắc thú vị
2.3.1 Nhân vật gắn với môi trường lao động, sinh hoạt
Thực ra vịêc đặt nhân vật trong môi truờng lao động, sinh hoạt để xâydựng nhân vật không phải là điều mới mẻ chỉ có ở Tô Hoài Trong ca dao,người xưa từng viết:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâuChồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa”
“Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”
Đọc văn học hiện thực phê phán, ta mới thấy được cách thức nàyđược nhiều tác giả sử dụng như Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, NguyênHồng Bởi muốn phản ánh đầy đủ tính cách của con người trong hiện thựckhông có gì đầy đủ bằng đặt họ trong môi trường lao động, sinh hoạt
Nhưng Tô Hoài cũng có nét riêng biệt Ông không quá cầu kì vào việclựa chọn môi trường lao động sinh hoạt, ông viết đơn giản tự nhiên những gìdiễn ra xung quanh mình Đó là môi trường lao động và sinh hoạt của người
ở làng quê Nghĩa Đô
Vàng phai, mối tình của anh Hẹn và cô Mây nảy nở trong lao động.
Anh Hẹn đương dệt cửi lại nhớ đến cô Mây mà viết thư tình gửi đến Mây Ởphiên chợ, họ đã gặp nhau và trao đổi thư từ cho nhau Nhận được thư đáp lại,lòng anh Hẹn vô cùng sung sướng Những đêm dệt cửi, tiếng hát của anhvang lên hoà lẫn với tiếng đưa thoi: “Những đêm dệt cửi canh khuya, dướiánh đèn dầu hiu hiu, anh Hẹn cao giọng hát ngâm từng câu một Tiếng vang
Trang 37ngân ngư lẫn với tiếng thoi chạy thậm thọt qua mặt lụa kêu lách cách.” Cũng
từ đó, anh Hẹn vừa dệt cửi, vừa nghĩ đến chuyện làm thơ tặng người yêu
“Anh nay vội việc cửi canh
Khi nào thong thả chỉ dành làm thơ Những là bối rối lòng tơ
Nào ai ăn ở hững hờ với ai.”
Trong Hết một buổi chiều, gã trí thức chỉ loanh quanh với chuyện bàn
ghế, mãi rồi mới bắt tay vào viết, dòng tâm trí của hắn hướng đến nhữngchuyện chàng nàng, gã thấy chán ngán bởi xung quanh hắn là hiện thực đaukhổ của người dân làng quê này
Bức chân dung nhân vật hiện lên trong truyện ngắn Tô Hoài trướcCách mạng chủ yếu trong sinh hoạt hàng ngày Có lẽ nó xuất phát từ cáiquan điểm của ông về con người: Con người trước hết là con người Thói tậtcủa con người hầu hết được bộc lộ hết trong những sinh hoạt đời thường
Ông dỗi thuật lại một bữa cơm chiều của gia đình lão Múi Ông Múi
hậm hực vì bà vợ chỉ cho ăn hai bát cơm Thế là ông dỗi mấy ngày chẳng ăncơm Ông tự mò cua bắt ốc để có cái ăn Cuối cùng, ông bị đau bụng mộttrận và đành phải làm hoà với vợ
Nhà có ma kể lại chuyện hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau Anh
chồng hay chè chén đến đêm mới về, đánh chửi vợ con trong lúc say Tiếngthở dài của người vợ tiếng trẻ con khóc, tiếng huỵch huỵch người chồngđấm vợ văng vẳng trong đêm khiến người khách trọ không sao ngủ được.Trong đêm khuya, những tiếng động ấy càng trở nên quái gở, tưởng như nhà
có ma
2.3.2 Nhân vật được chú trọng miêu tả ở ngoại hình, hành động, lời nói
Tô Hoài có biệt tài miêu tả ngoại hình nhân vật Mỗi bức chân dungcon người trong truyện ngắn của ông thật sinh động, cụ thể và riêng biệt
Trang 38Những cô gái thôn quê mượt mà đằm thắm: “Cô Mì mười tám Đếntuổi ấy, từ mùa xuân trở đi, đôi mắt người con gái trong thẳm và đen layláy Cô nhìn sang hai bên, con mắt lừ đưa nghiêng nghiêng Ôi chao là saysưa Miệng hoa múm mím Mỗi khi mỉm cười một nụ cười nhỏ, đôi má hâykhẽ gợn lum xuống hai nét vòng yêu.”, các cô gái đi tắm đêm “những bờvai trắng nõn, tóc buông loà xoà trên mặt nước, gợn những vòng vàng vìánh trăng”
Những người phụ nữ quê khốn khổ Tuổi già, nghèo đói và những hủtục đã quây lấy họ khiến hình hài của những con người ấy cũng trở nên biếndạng Bà Móm ngồi đấy, ngay phía ngoài đầu hè “Váy áo vẫn còn ướt sũng.Cái màu nâu bệch, giúng thềm vào nước và bùn, thâm xỉn lại Khuôn mặtxịu xuống Đôi vành mắt khép lại Tất cả những nếp răn trên khuôn mặt cằmđều chảy giạt xuống phía cằm Chiếc cằm méo mó thủng một hõm mồm.Cái mồm móm mém ấy thế mà kêu to Giá cứ yên lặng mãi, thoạt nhìn,người ta tưởng đấy là một đống rạ nát như những đống rạ nát ở xung quanh
[Chớp bể mưa nguồn, tr171]
Những kẻ đòi nợ thuê vừa có vẻ dữ dằn lại vừa đáng thương “Đầulão bịt một vành khăn tai chó, hai tai khăn vểnh như đôi tai trâu Trẻ contưởng lão mới mọc hai chiếc sừng bò trên đầu Lái Khế mặc một tấm áo nâudài dày cộp, chó cắn có thể gẫy răng Ngang lưng cuốn một vòng thắt lưngđiều, rách xơ xác Tay lão ta xách một cây hèo lua tua mấy sợi tơ nhỏ.”
Những người đi làm ăn ở các đồn điền cao su mắc chứng bệnh sốt rét
Họ tiều tuỵ, đen đúa, tội nghiệp Trông họ chẳng khác nào những bóng mavật vờ “Những bóng đen bước lùi lũi Không phải tại trời tối, bởi trời chưatối hẳn, mà chính mặt mũi họ đen thực Nước da thâm xịt, đen và xám bủng,tưởng như sờ dến thì óc sạn cát dính vào bàn tay Tóc ngắn, rụng lưa thưa
Những cẳng tay cẳng chân gầy tóp”[Một đêm gác rừng, tr 163] Tương phản
với chân tay, bụng ai cũng to phềnh “Những cái bụng vượt ngực, phình như
Trang 39những chiếc bụng giun của trẻ con Phần nhiều người ta run đây đẩy Ai đicũng khoanh hai tay, cái cổ rụt lại, đầu gối giơ cao, gieo những bước chân
líu ríu.””[Một đêm gác rừng, tr 163]
Bên cạnh đó, Tô Hoài còn miêu tả chân dung con người với nhiều sựbiến đổi sau những ngày phải đi tha hương cầu thực Anh Tại phẫn uất vìngười yêu chê anh nghèo bỏ đi lấy người khác Anh đã đi làm ăn xa támchín năm trời mới trở về Cả làng ngạc nhiên, tò mò trước sự thay đổi củaanh Trang phục anh khác hẳn những người vốn quen với áo nâu giản dị Nóvừa mang phong cách Tây, vừa ta, lại cả Tàu Trang phục kiểu phương Tây
là chiếc mũ cát két bằng vải mông-ta-nhắc, sọc đen sọc trắng lẫn lộn, cáilưỡi trai lại được lật ngược ra đằng sau gáy Chiếc áo bành tô vàng sọng, cómột chuỗi khuy đồng trước ngực Ở cửa tay, ở hai bên cổ, ở những miệngtúi, cả hai bên ngực, cũng rải rác những khuy Và đến túi cũng lắm Túi nhỏ,túi lớn Túi ở hai bên bẹn, túi ở hai bên ngực, túi ở hai bên trong lườn Bởithế nó quá lộn xộn vì nhiều khuy, nhiều túi Anh Tại còn vận một cái quầnlĩnh đen bóng nhoáng Nền lĩnh lấm tấm hoa dâu óng ánh theo kiểu ta
“Nhưng đôi giầy tàu bằng nhung đúng hệt đôi giầy của một ông tướng võ,một ông Triệu Tử Long chẳng hạn, trong những phường hát đám tháng
giêng” [Một người đi xa về, tr 204].
Không chỉ tả hình dáng, trang phục, các nhà văn cũng chú ý đến đặc
tả khuôn mặt Đến với sáng tác của Nam Cao, người đọc không thể quên bộmặt của Lang Rận Đó là cái bộ mặt “nặng chình chĩch như người phù, danhư da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang Cái trán ngắn ngủn,ngắn ngùn lại gồ lên Đôi mắt thì húp lại như mắt lợn sề” của Lang Rận
Hay như cái bộ mặt của Trạch Văn Đoành trong Đôi móng giò: “Cái mặt
hắn vênh vênh lên Đôi lưỡng quyền nhô ra như gây sự với người ta ( ).Những cái răng dọa nạt ai, như một con chó khi nó gừ gừ với một con chókhác.” Bộ mặt ấy như phô trương ra ngoài tính ngỗ ngược, ngang bướng bất
Trang 40cần đời của hắn Còn cái bộ mặt “vằn dọc, vằn ngang không biết thứ tự baonhiêu là sẹo” như cái mặt thớt của Chí Phèo làm cho hắn không thể trở vềcuộc đời lương thiện, cái mặt xấu đến mức ma chê quỷ hờn của Thị Nở làmcho ai cũng phải xa lánh, không dám lấy thị làm vợ
Nếu Nam Cao miêu tả khuôn mặt chủ yếu bộc lộ tính cách và cuộcđời số phận thì Tô Hoài chủ yếu để diễn tả trạng thái cảm xúc nhiều hơn Đó
là cái mặt của lão Móm giỗi cơm vợ: “Cái mặt đầy ngòm những râu ria rậmrạp thì thưỡn ra Đôi mắt cá ngão, giương bạnh, tròn xoe Y như lối ngồi củamột chú ễch ương bụng ỏng và lồi mắt Bấy giờ chiếc mặt thưỡi ấy mớiđộng đậy Chòm râu hơi rung rung Thực cho đến lúc cái chòm vừa râu vừaria ghê gớm ấy chuyển động, người ta mới kịp nhớ để biết rằng trong đó,còn có cái miệng ông lão Miệng ông lão mấp máy Đầu tiên, nảy ra mấytiếng tóp tép, tóp tép Rồi ông thở khà Và chợt cười nức lên một hồi khớkhớ Những tiếng khớ khớ quái quỉ như nứt vỡ ở trong cổ họng và đưa rangoài từng tiếng, từng tiếng.” Đó là khuôn mặt của cô Mây thẹn thùng khigặp người yêu: “Mây thì Mây cứ cười tít đi Mây hay cười quá Đôi máphúng phính lúm lại và đỏ hây Cặp mắt long lanh giữa đôi mí húp híp Cáimắt mới tình tứ làm sao! Mây cười cả má, cả mắt Khi anh Hẹn cầm tay,
“mặt Mây đỏ hồng, đôi môi ngon và mòng mọng như hai múi quýt.” Đó là
vẻ mặt đầy sung sướng của Mây khi được bác quyền Vực ôm hôn: “Quyền
ta bèn cúi xuống hôn đánh choét một cái vào má Mây Cái má phính ngonlành và nóng rừ” Đó là khuôn mặt dữ dằn của một kẻ lên cơn dại Lão láiKhế cái mặt đỏ xuống tận quanh cổ Hai tay lão cũng đỏ tía “Mắt lão trợnngược lên, đục ngầu, thắm đòng đọc Sốt lâu qúa Lão cứ phải luôn hámiệng Cái lưỡi lão thè lè ra thê lễ” Đó là khuôn mặt buồn rầu đến thẫn thờ
vì phải xa người yêu của Lụa và Nguyên: “Mắt đờ đẫn, nhìn bâng quơ Lụabứt mấy ngọn cỏ Chừng như đã lâu, đôi bên chưa nói với nhau một câu nào
Sự im lặng ngẩn ngơ trên những nét mặt băn khoăn.”