Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 91 - 96)

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

3.3. NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

3.3.1. Đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật

Hà Minh Đức quan niệm rằng: “Ngôn ngữ, đó chính là chất liệu, là phương tiện biểu hiện mang tính đặc trưng của văn học” [8,tr.148]. Đúng vậy, không có ngôn ngữ thì không có tác phẩm văn học. Ngôn ngữ là yếu tố đầu

tiên nhà văn sử dụng trong quá trình chuẩn bị và sáng tạo ra tác phẩm. Ngôn ngữ đời thường khi đi vào tác phẩm văn học, được nhà văn cách điệu hóa sẽ thành ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ chủ yếu dùng trong các tác phẩm văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, sắp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật - thẩm mĩ.

M. Gocki có nói: "Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học". Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng đều phản ánh cuộc sống, con người thông qua hình thức ngôn ngữ. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học không còn là ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường mà đã được đưa vào một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học mang tính hình tượng rất rõ. Có thể xem đây là đặc điểm đầu tiên của ngôn ngữ nghệ thuật. Trong thực tế cuộc sống thì lời nói hàng ngày khi có bóng bẩy, văn hoa, nghiêm trang, lịch sự. Điều này phụ thuộc vào người nói, hoàn cảnh nói và nói vì mục đích gì. Nhưng trong ngôn ngữ nghệ thuật thì lại khác. Ngôn ngữ trong tác phẩm văn học qua sự gọt dũa của nhà văn sẽ mang tính thẩm mỹ hơn ngôn ngữ đời thường. Mặt khác, nó cũng phải truyền tải được nội dung tư tưởng của tác giả và phản ánh đúng hiện thực đời sống.

Chính vì thế mà ngôn ngữ trong văn chương hay là ngôn ngữ nghệ thuật không được xa rồi ngôn ngữ đời sống thường nhật. Trong truyện ngắn Bùi Hiển nổi bật kiểu ngôn ngữ mang đậm sắc thái địa phương.

Đọc truyện ngắn Bùi Hiển có thể dễ dàng nhận dấu ấn thổ ngữ đậm nét trong từng trang viết. Dường như mọi phong tục, văn hóa, tín ngưỡng, lời ăn tiếng nói hằng ngày của người dân vùng quê nghèo miền Trung được tác giả đưa vào một cách khá khéo léo trong tác phẩm. Thành công của nhà văn chính là sử dụng khéo léo ngôn ngữ đời thường mang nhiều thổ âm vùng

miền để tạo thành một ngôn ngữ nghệ thuật có sức cuốn hút. Rất nhiều thổ ngữ của người dân vùng miền Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên được đưa vào truyện ngắn rất tự nhiên. Điều này đã tạo nên nét riêng biệt mới lạ nhưng lại vô cùng gần gũi cuốn hút bạn đọc. Truyện ngắn của Bùi Hiển chủ yếu sử dụng lời ăn tiếng nói trong đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng như sử dụng phong cách khẩu ngữ trong giao tiếp của người dân miền Trung. Nhà văn đã phát huy được tác dụng của ngôn ngữ đời thường trong các truyện ngắn của mình. Ở truyện Gặp gỡ chúng ta bắt gặp những câu văn như:

- Con nhà đầu bò đầu bướng thế đó. Để cha mi về tao mách cha mi đánh cho một trận. [7, tr. 266].

- Chuyên ăn cơm đi, không mệ đánh bây giờ. Chuyên ăn cá hí, chị gắp cho hí? [7, tr. 267.]

- Cứ gửi nơi mệ, mệ nuôi cho. Đừng sợ nhà mệ nghèo, nay mệ đã có bát cơm ăn, mệ nuôi được! [7, tr. 267]

Còn đây là một đoạn đối thoại trong truyện Thằng Xin : - Mụ Phiên đâu rồi, đến nhận thẻ, cà …[7, tr. 99]

- Đừng đè, đừng đè, bẹp lào của tôi mất. Làm thế thì đong một lào thật ra chỉ được đượcmột nửa …[7, tr. 99]

- Nói vậy ! Thế thì kẻ đi chài chẳng mấy lúc mà giàu to, ru! [7, tr. 100]

Truyện Đánh trận giặc lúa, nhà văn tạo lên hình ảnh mẹ Mãng hiền lành và tốt tính. Trong cuộc kháng chiến ác liệt, mẹ Mãng che giấu chiến sĩ tại nhà của mình, ngay trong vùng tạm chiến. Bà mẹ già phúc hậu hiện lên mộc mạc chân chất qua cuộc trò chuyện với các chiến sĩ: “Bữa trước tụi Tây đi lùng bên Xuân La, bắn chết tám con trâu. Có ông già tức quá xông vô chưởi:

Tổ cha bay!”, hắn bắn chết luôn… Bay nạ, nge nói lão lý trưởng Quý Sơn bị giam, ức quá, nhịn đói luôn hai bữa nay, đòi tự tử, À, có chuyện mấy thằng giặc đi ăn cướp văng hái, bị bà Thành trùm quần lên óc, thật vui. Bà Thành

xóm Bàng bên Sơn Lai, bay có nhớ không nạ?” [7, tr. 254]; “Đồ ngụy tặc!

Tao tra nậy như thế này rồi, bay còn chọc chồng với con” [7, tr. 255]. Trong rất nhiều truyện ngắn của Bùi Hiển, nhà văn sử dụng rất nhiều từ địa phương như: chi, mô, tê, răng rứa, o, ả, con nít, cái nố ta, cà ru... Tất cả các từ ngữ đó xuất hiện với mật độ dày dặc trong từng truyện ngắn. Ngôn ngữ địa phương này xuất hiện ngay cả giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám. Với cách sử dụng linh hoạt và khéo léo các ngôn từ địa phương cũng như ngôn ngữ, cách nói chuyện của người dân vùng miền nơi đây, Bùi Hiển đã làm cho từng câu chuyện của mình trở nên mộc mạc, thật và gắn bó với cuộc sống hiện thực hơn. Đọc Chuyện ông Ba Bị dân chài, người đọc như bị cuốn vào cuộc hối thoại rất “chất” vùng miền Trung:

“Anh nói hơi ấp úng:

- Ả Ngò cho tôi hỏi một chuyện?

Chị Ngò dừng tay ngước nhìn. Tự quyết định, anh Can nói rất nhanh:

-Để tôi đóng cho cái giường mộc thật to, thật chắc, có ưng không?”

[7, tr. 97]

Lời tỏ tình của ông Ba Bị với chị Ngò rất mộc mạc, giản dị. Nó thể hiện cái tình chân thành của người đàn ông lớn tuổi khao khát một cuộc sống gia đình. Cũng như thể hiện được bản tính chân thành, chất phác của người dân lao động. Không cần phải nói năng hoa mỹ, bóng bẩy mà diễn tả bằng những gì là chân thật nhất.

Tác giả đã biết cách lọc lấy những cái hay, cái đẹp, tinh túy nhất trong từng câu chuyện. Truyện ngắn Bùi Hiển vì thế vừa có cái gọt dũa của tầng lớp ngôn từ văn chương vừa có thêm sự dễ thương, mộc mạc của lối nói người dân Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên. Đoạn nhà văn tả cảnh chị Nết mua dầu dừa của bà cụ ở chợ trong Một câu chuyện trong chiến tranh khiến người đọc cảm thấy con người nơi đây sao mà gần gũi thân thương đến thế:

- Bán cho con hai đồng, mệ - Thêm vô mệ nờ

- Được rồi đó, con nờ - Con đi, mệ nờ

Cuộc đối thoại của chị Nết với bà cụ với những từ như mệ, nờ khiến người ta có thể liên tưởng ngay đến giọng điệu, cách nói chuyện của người dân miền Trung. Lớp ngôn từ đầy biểu cảm, biểu lộ rõ sắc thái địa phương khiến người đọc cảm thấy sự gần gũi, thân thiết không chỉ với nhân vật mà còn với cả những con người chất phác nơi đây.

Trong truyện ngắn Dọc đường, cuộc trò chuyện ngô nghê, thân mật giữa cậu bé và anh bộ đội làm ta thấy yêu hơn ngôn từ nơi đây: “Vụ ni được mùa hung. Chú đi qua chỗ lô cốt đầu làng có thấy cái đám nổi lùm lùm mâm xôi lên không? Người ta nói “mâm xôi” hình tượng quá chú . Ruộng thí nghiệm trường bọn cháu làm đó. Lớp cháu cũng có tham gia làm cỏ, bắt sâu, bỏ phân, vui loạn! Lúa của hợp cũng tốt đều, mai mốt chỉ là gặt. Chú cũng có ở đây quan sát vụ gặt để viết bài chứ chú? Trong hợp kì ni phấn khởi lắm chú nạ. Các cụ các mẹ bàn tán nhiều câu hay lắm, họ nói… họ nói..., khoan, cứ để cháu nhớ lại, cháu kể dần cho chú, rồi chú tả một bài thiệt hay chú nge!” [7, tr. 416]. Dù mới lần đầu gặp nhưng cậu bé Chiến bi bô kể chuyện suốt. Sự tự nhiên, thật thà, có gì nói nấy của cậu bé cũng chính là một phần bản tính người dân nơi đây.

Dù đôi khi nhà văn hơi lạm dụng ngôn từ địa phương nhưng không vì thế mà làm cho tác phẩm kém hay. Nhìn một cách khái quát và tổng thể thì tầng lớp ngôn ngữ này làm cho văn chương Bùi Hiển mang một nét riêng là giản dị trên từng câu chữ. Vấn đề sử dụng thổ ngữ được Bùi Hiển sử dụng, biến hóa rất linh hoạt, khéo léo và chắc tay. Nhà văn biết cách chọn lọc những ngôn ngữ mang tính nổi bật riêng, cái đặc trưng của từng địa phương kết hợp

với ngôn ngữ văn chương để tạo nên một tác phẩm hoàn chỉnh nhất. Thế nên người ta vừa thấy ngôn ngữ trong truyện ngắn Bùi Hiển vừa giữ được vẻ đẹp của ngôn ngữ tiếng Việt phổ thông vừa mang dấu ấn rất riêng của lối nói Nghệ Tĩnh, Thừa Thiên. Bùi Hiển không chỉ thành công trong việc đưa ngôn ngữ địa phương vào tác phẩm từ tác phẩm đầu tay Nằm vạ mà sau này tập Ánh mắt cũng thể hiện rõ cái sắc thái vùng miền đó. Ngôn ngữ đậm chất địa phương này đã phần nào giúp nhà văn miêu tả được tính cách, bản sắc riêng của từng nhân vật. Đó cũng chính là một đặc trưng trong phong cách sáng tác của ông, không trau chuốt khoa trương mà mộc mạc, chân thành dễ hiểu.

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 91 - 96)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)