Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Bùi Hiển

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 76 - 81)

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

3.1. QUAN ĐIỂM TRẦN THUẬT TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

3.1.2. Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Bùi Hiển

Truyện ngắn thuộc loại hình tự sự thế nên khi tạo ra tác phẩm, nhà văn phản ánh đúng cuộc sống hiện thực thông qua con người, sự kiện, sự việc.

Việc phản ánh đó cũng thể hiện cái nhận thức của bản thân người viết trước cuộc sống. Để truyền tải được ý đồ của mình, nhà văn phải xây dựng hình tượng nhân vật cũng như sự việc thông qua nhiều điểm nhìn khác nhau. Khảo sát các truyện ngắn trong tuyển tập I và tuyển tập II của Bùi Hiển, chúng tôi thấy phần lớn nhà văn sử dụng ngôn ngữ trần thuật theo hai kiểu cơ bản: kiểu trần thuật theo ngôi thứ nhất và kiểu trần thuật theo ngôi thứ ba.

Đối với điểm nhìn trần thuật theo ngôi thứ nhất, tức là kiểu trần thuật chủ quan của bản thân người viết, tác giả mượn nhân vật xưng “tôi” để bày tỏ cảm xúc và quan điểm trước những vấn đề, con người trong cuộc sống. Chính vì thế mà ngôn ngữ trần thuật này được thể hiện trên nhân vật. Nhà văn dùng ngôn ngữ của nhân vật để diễn tả tâm trạng của chính nhân vật đó. Nhưng cũng có khi nhà văn đóng vai trò người trần thuật để trực tiếp miêu tả lại sự vật, sự việc bằng thái độ chủ quan của mình. Đôi khi, người kể chuyện còn bộc lộ cảm xúc của bản thân trước sự việc đã xảy ra: “Vụ Yến ra toà xin ly dị diễn ra gọn gàng chóng vánh…Hoắng cũng chẳng phải bày mưu tính kế gì

trong việc này. Chẳng những thế, thời gian này, anh cố ý đứng tách biệt ra một chút. Ít tháng sau, Yến Hoằng cưới nhau. Thế rồi chỉ khoảng bốn năm tháng sau ngày cưới, sự rạn nứt bắt đầu thật là nhanh, nhanh hơn cả người chép truyện này dự kiến” [47, tr. 188].

Bùi Hiển sử dụng lời nói, ngôn ngữ trực tiếp của nhân vật để khắc họa nên tính cách của từng nhân vật. Nhà văn không nói thẳng ra tính cách của từng nhân vật nhưng người đọc tự cảm nhân được tính cách, bản chất của từng nhân vật qua những cuộc đối thoại. Xen trong cuộc đối thoại của các nhân vật là những cảm nhận hoặc lời giải thích của người kể chuyện. Truyện Hai anh học trò có vợ dựng lên hình ảnh của anh học trò nghèo thật thà:

“Hôm anh xin vào học, thầy giáo đã để ý ngay tới cái dáng lênh khênh và vẻ già dặn tuy hiền lành ngây ngô của anh ta. Thầy hỏi đùa:

- Anh có vợ rồi chứ?

Và Vịnh đã trả lời, giọng hoa mỹ kiểu xưa:

- Bẩm thầy, con đã yên bề gia thất từ lâu.

Học trò cười ầm lên, khiến Vinh ngơ ngác. Thầy lại đùa:

- Thế được mấy con rồi?

Mặt anh học trò mới bỗng sáng lên, trong cái kiêu hãnh người cha. Anh ta nói một hơi lưu loát cái câu khoe con mà hẳn anh đã có nhiều dịp nhắc đi nhắc lại:

- Cảm ơn thầy, con mới được một cháu. Nó còn bé lắm ạ; đẻ tháng chạp năm ngoái, thế là đi mười tháng, tính đến Tết này là cháu chịu ba tuổi.

Cả lớp lại phá lên cười. Sợ ông hiệu trưởng nghe tiếng ồn thầy giáo bảo:

- Anh lại ngồi cuối lớp kia, cạnh anh Cần” [7, tr.158].

Đoạn văn trên là sự xen kẽ cảm nhận của người kể chuyện giữa lời đối thoại của anh trò tên Vinh và thầy giáo. Thông qua lời chú thích thêm của

người kể chuyện, tính cách, tâm trạng của từng nhân vật hiện ra rõ nét hơn.

Qua những câu hỏi của thầy giáo ta có thể hình dung thầy giáo có cái nhìn phân biệt giữa trò quê và trò thành phố. Những lời thầy giáo hỏi thăm chỉ ngụ ý đem Vinh ra làm trò đùa cho cả lớp chứ không có ý hỏi thăm vì quan tâm.

Đối lập với tính cách của thầy giáo là anh trò Vinh thật thà, chất phác. Vinh hiền lành, thật thà đến độ trả lời rất thật và chi tiết những câu hỏi của ông thầy mà không nhận ra là mình đang làm trò hề cho cả lớp. Ngôn ngữ của từng nhân vât vì thế cũng khác nhau. Thầy giáo sử dụng ngôn ngữ của người thuộc vị trí trên, hỏi ngắn ngọn. Anh học trò Vinh thì như một đứa học trò ngoan ngoãn, trả lời rất lễ phép, dạ thưa. Còn ngôn ngữ của người kể chuyện chủ yếu là giọng chủ quan đánh giá, bình thêm.

Bên cạnh việc sử dụng lời nói trực tiếp, nhà văn còn để cho nhân vật của mình đối thoại: “Tôi cảm thấy có ai nãy giờ đứng chỗ cửa này chờ đợi tôi, và mới bỏ đi vừa đây thôi. Ai ? Một anh bạn đến về công việc? Không phải.

Nếu là anh bạn, chắc tôi không thể có cái dự cảm băn khoăn hồi hộp đến thế này. Chẳng lẽ lại là Thư ? Nhưng Thư đến có việc gì, giữa lúc mưa gió? Tôi định ghé hỏi chung quanh xem, nghĩ thế nào, lại thôi. Chợt thấy cái gì xanh xanh giắt trên phên cửa. Một nhánh tre đọt, với hai nét lá thon mảnh. Nó rơi vướng vào đây chăng? Hay ai giắt? Dường như nó được cài vào dưới nẹp phên, như một lời nhắn gửi. Người tôi cứ náo nức cả lên. Tôi hình dung chính những ngón tay trắng trẻo của Thư đã cắm nhánh tre xanh nõn lên đó, một lời nhắn nửa kín đáo nửa tinh nghịch. Tôi cứ muốn tin chính là Thư đã đội mưa gió đếm tìm tôi, vì lí do gì, không rõ, nhưng chắc chắn là thế! Chẳng biết cái gì xui, tôi dắt xe quay trở ra, nhảy phóc lên xe, đi tìm!” [47, tr. 130]. Đoạn văn trên trên là lời độc thoại nhưng dưới hình thức đối thoại nội tâm. Thông qua việc độc thoại này, việc miêu tả nội tâm của nhân vật đa dạng, sâu sắc hơn. Những truyện ngắn của Bùi Hiển sau năm 1975 thường sử dụng khá

nhiều hình thức này. Thông thường những truyện ngắn của Bùi Hiển kể theo phương thức chủ quan thì nhân vật là người kể chuyện đồng thời cũng là vai chính trong truyện. Điều này, ta thấy rõ ở truyện Cái mũ, Chuyến xe thời gian, Sai phạm cuối đời, Kỷ niệm về người con đi xa

Điểm nhìn trần thuật theo kiểu chủ quan này không chỉ thể hiện qua hình thức đối thoại của các nhân vật hoặc độc thoại trong chính bản thân của nhân vật. Ngôn ngữ này còn thể hiện cảm nhận của người kể đối với nhân vật.

Trong truyện ngắn Đợi, người kể đã thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của mình qua chính nhân vật Bình: “Bình tự nhủ từ nay đừng nên đùa cợt như thế nữa. Anh nghiệm lại mình, mấy ngày đầu tiên, đứng trước cái vóc người bé choắt của Đợi, anh quen coi o như đứa con nít, anh không thể nhớ được rằng o ta ngang tuổi người chị của anh, hiện đã có ba con. Anh hầu như có định kiến là một con người còi cọc như vậy, những suy nghĩ, tình cảm chắc cũng rất đơn giản, thô sơ. Sự thực, đã có lần o ta tỏ ra ý tứ lắm đấy chứ” [7, tr. 403]. Bùi Hiển đã sử dụng khá nhiều ngôn ngữ của từng nhân vật thông qua phương thức trần thuật chủ quan.

Không chỉ có điểm nhìn trần thuật chủ quan, Bùi Hiển vận dụng cả điểm nhìn trần thuật khách quan. Nhà văn dùng lời kể gián tiếp để tái hiện lại câu chuyện, sự việc. Ông để cho bản thân nhân vật và người kể chuyện tự thể hiện nên ngôn ngữ này mang tính khách quan của bản thân nhân vật nhiều hơn. Ở truyện ngắn Chị Mẫn, ngoài lời người kể còn có những đoạn độc thoại nội tâm của nhân vật. Với vai trò là người kể chuyện, nhà văn đã để cho nhân vật tự nói lên nỗi lòng của mình. Chị Mẫn hờn giận anh Nhương, nhưng không thốt được nên lời. Hàng loạt câu độc thoại thể hiện cái bực tức, khó chịu của chị: “Chị Mẫn thấy có cái gì uất nghẹn trong cổ. Cái lối gì hỏi người ta lại hỏi trống không như thế? Người ta có phải là vợ anh đâu? Mà có là vợ đi chăng nữa thì anh cũng không có quyền thắt buộc như thế kia mà. Vợ

chồng thì cũng phải có bàn qua bàn lại chứ, có phải như thời phong kiến đế quốc đâu! “Tôi chẳng đi vác gỗ mà cũng chẳng đi gánh bùn”. Chị muốn độp ngay một câu. Nhưng cái câu ấy cứ vướng phải cục uất ngang cổ, không thoát ra đuợc… “Ai mà là vợ con ông ấy thì chỉ tổ khổ với ông ấy thôi, chẳng sung sướng gì đâu” chị nghĩ thầm” [7, tr. 386].

Lời trần thuật tuy ở vị trí khách quan nhưng khoảng cách giữa tác giả và nhân vật không nhiều. Đôi khi ta thấy nhà văn như hoà mình vào nhân vật.

Đó là những lúc nhà văn vừa kể lại sự việc đồng thời vừa đi sâu khám phá thế giới nội tâm nhân vật. Ở truyện ngắn Người vợ chủ thể kể thường xuyên thâm nhập vào ý thức của nhân vật, do đó có sự pha trộn giữa lời kể gián tiếp của tác giả với những lời độc thoại nội tâm của nhân vật tạo thành lời nửa trực tiếp. Những ý nghĩ bắt đầu tuồn đến trong óc, thành một thứ lộn xộn không phân biệt, và cứ như bị một nỗi bực tức, giận dữ bao trùm lên tất cả, át đi tất cả: “Vợ anh có mang! Anh nhớ tới những lời dèm pha vợ hồi chưa cưới. Hồi ấy còn say mê vợ, anh không tin. Và mấy tháng nay hoạt động xa nhà, anh cũng chưa hề có một phút nào nghĩ vợ mình có thể thay lòng đổi dạ… Anh tưởng tượng đến cái ngày vợ đẻ ra một đứa con nít mũi nhọn, mắt xanh lè, hoặc da đen cháy, tóc quăn tít, anh thấy khổ tâm quá” [7, tr. 303]. Rồi hình ảnh của vợ cứ hiện về lên trong tâm trí anh. Anh không sao dứt được cái dòng cảm xúc, hình ảnh về vợ. Mọi cái trở nên lộn xộn, anh càng cố suy nghĩ thì mọi cái càng rối tung. Anh không biết phải làm gì và cư xử thế nào “Đầu anh như một mớ bòng bong… “Thôi, chuyện riêng là việc nhỏ, ta gác một bên đã.

Đến đâu hay đấy.” Nghĩ thế anh rảo buớc” [7, tr. 304]. Chưa hết, tác giả còn để cho nhân vật Luyến đi từ tâm trạng, cảm xúc này đến tâm trạng cảm xúc khác. Mọi cái với nhân vật trở nên nặng nề. Đây là lời gián tiếp của người trần thuật nhưng trong lời nói đã thể hiện rõ ngữ điệu, tình cảm và suy nghĩ của nhân vật. Chủ thể trần thuật đi vào ý thức nhân vật làm cho khoảng cách

giữa tác giả và người kể được rút ngắn dần. Nó thể hiện sự đồng cảm của tác giả đối với nhân vật. Lời văn lúc này là của tác giả nhưng chứa đựng ý thức nhân vật và ngược lại.

Tóm lại, dù là ở điểm nhìn nào thì mỗi điểm nhìn vẫn rất đa dạng. Nhà văn Bùi Hiển rất khéo léo và linh hoạt khi thể hiện ngôn ngữ trần thuật qua lời văn nghệ thuật. Mỗi lời văn là cả một khối ngôn ngữ đồ sộ. Nó làm cho điểm nhìn trần thuật truyện ngắn của Bùi Hiển vì thế mà đa dạng, biến hóa hơn.

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 76 - 81)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)