1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm nghệ thuật truyện và ký lưu trọng lư

86 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ký Lưu Trọng Lư” với mong muốn tìm lại những giá trị đích thực trong văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư, đồng thời làm phong phú hơn những hiểu biết về Lưu Trọng Lư, hi vọng đóng góp một ti

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

LÊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN VÀ KÝ LƯU TRỌNG LƯ

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN PHONG NAM

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC ĐÀ NẲNG

LÊ THU HÀ

ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT TRUYỆN VÀ KÝ LƯU TRỌNG LƯ

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Đà Nẵng, Năm 2012

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Lưu Trọng Lư không chỉ là một nhà thơ, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam thế kỷ XX mà còn là cây bút văn xuôi đầy năng lực với rất nhiều thể loại Thế giới thơ Lưu Trọng Lư thật ra không tách rời, mà ngược lại có sự tiếp nối và hiện diện với thế giới văn xuôi do ông sáng tạo Đã có rất nhiều quan điểm đánh giá khác nhau về văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư trước

1945 nhưng nhìn chung các nhà nghiên cứu đều cùng gặp nhau ở một quan điểm đó là văn xuôi tự sự Lưu Trọng Lư có một phong cách rất riêng, rất lãng mạn

Sẽ bất công và sẽ thiệt thòi nếu chúng ta chỉ biết đến Lưu Trọng Lư như một nhà thơ, dù rằng ông là một nhà thơ rất nổi tiếng Lúc còn sống, Lưu Trọng Lư chỉ xuất bản 4 tập thơ, kể thêm tập di cảo “Bài ca tự tình” vừa được nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là 5 tập Văn xuôi mới thực là sự nghiệp đồ sộ của ông Lưu Trọng

Lư đã để lại cho chúng ta 38 tác phẩm văn xuôi (gồm tiểu thuyết, truyện dài và truyện vừa, bút ký, kịch, tiểu luận, phê bình) Riêng về lý luận, phê bình được xuất bản công khai trước Cách mạng tháng Tám 1945, thì tác phẩm “Văn chương và hành động” do Lưu Trọng Lư là đồng tác giả với Hoài Thanh và Lê Tràng Kiều là một tập tiểu luận rất có giá trị Vì tính chất tiến bộ của nó, cuốn sách đã bị thực dân Pháp cấm lưu hành và tái bản

Mặc dù từ trước đến nay, đã có nhiều các công trình nghiên cứu và khám phá

về thân thế con người và sự nghiệp của Lưu Trọng Lư song các đánh giá về vị trí và đóng góp của ông vẫn chưa hoàn thiện Đặc biệt chưa có một công trình nghiên cứu nào về đóng góp của Lưu Trọng Lư trong lĩnh vực truyện và ký, nhất là những nét riêng biệt nổi trội trong nghệ thuật

Trên cơ sở tiếp thu kết quả của các nhà nghiên cứu, phê bình và các tài liệu có liên quan, chúng tôi tìm hiểu đề tài: “Đặc điểm nghệ thuật truyện và

Trang 4

ký Lưu Trọng Lư” với mong muốn tìm lại những giá trị đích thực trong văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư, đồng thời làm phong phú hơn những hiểu biết

về Lưu Trọng Lư, hi vọng đóng góp một tiếng nói có ý nghĩa vào việc đánh giá đúng đắn những cống hiến sáng tạo nghệ thuật của nhà văn, nghệ sĩ Lưu Trọng Lư trong lĩnh vực truyện và ký

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

2.1 Tình hình nghiên cứu về Lưu Trọng Lư và các sáng tác thơ của ông

Lưu Trọng Lư là một hiện tượng độc đáo, bí ẩn Đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu và khám phá về thân thế, con người và sự nghiệp sáng tác của ông nhưng cho đến nay vẫn chưa đi đến ngã ngũ

Theo giới nghiên cứu, sự nghiệp văn nghệ Lưu Trọng Lư (1911-1991) với tư cách là nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam thế kỉ XX, cho cả đến những năm đầu thế kỉ XXI vẫn chủ yếu nghiêng về một nhà thi sĩ lãng mạn Lưu Trọng Lư được biết đến với tư cách là nhà thơ hơn là tác giả với truyện ngắn, ký và tiểu thuyết Nói đến thơ hiện đại, thơ mới Việt Nam, người yêu thơ không thể không nhắc đến Lưu Trọng Lư, người tiên phong, người có công trong cuộc đấu

tranh cho sự chiến thắng của Thơ mới, người nghệ sĩ tài hoa, tác giả của Tiếng thu

bất hủ từng làm “thổn thức”, “vương vấn” trái tim bao thế hệ công chúng trong nhiều thập kỉ qua

Trong công trình do Mai Hương tuyển chọn và biên soạn, Nhà xuất bản Văn

hoá thông tin (Hà Nội - 2000): Thơ Lưu Trọng Lư - Những lời bình, có các bài

nghiên cứu phê bình tiêu biểu của Hoài Chân – Hoài Thanh, Lê Tràng Kiều, Vũ Ngọc Phan… Phần lớn các bài viết nghiêng về tiếp nhận và đánh giá tài năng thơ

của nhà thi sĩ họ Lưu Chẳng hạn Hoài Thanh đánh giá: Tác giả của tập thơ Tiếng thu có lẽ là một trong những trường hợp: “Văn tức là người” Hoài Thanh cũng từng nhận xét: “Giá một ngày kia Lư có nhảy xuống sông ôm bóng trăng mà chết ta cũng không nên ngạc nhiên tí nào Tôi biết có kẻ trách Lư cẩu thả, lười biếng, không

Trang 5

biết chọn chữ, không chịu khó gọt dũa câu thơ Nhưng Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy Tình đã gửi trong lời thơ Lư không còn đoái hoài đến nữa, Lư vứt chỗ này một bài, chỗ khác một bài, với cái phóng khoáng của kẻ khinh hết thảy những cái gọi rằng quý ở đời này.” [42]

Trong bài Lưu Trọng Lư, Vũ Ngọc Phan viết: “ Có thể tóm tắt tất cả những ý trong thơ của Lưu Trọng Lư vào hai chữ tình và mộng”, ông cũng viết về bài Tiếng thu như sau: “Tiếng thu của Lưu Trọng Lư thật không khác gì những tiếng đàn thu não nùng của Verlaine trong Bài hát thu về.Thật nó nhẹ nhàng từ âm điệu đến ý tưởng, mà cám dỗ ta bằng sự mơn man, rồi thấm dần vào cõi lòng ta phải ngây ngất về cái hiu quạnh ở bên sự sống của loài người Người cô phụ, con nai vàng, bất cứ là người hay vật, đã góp phần vào cuộc sống thì phải rạo rực, ngơ ngác về cái tiếng thổn thức của mùa thu dưới ánh trăng mờ.” [31]

Với cách đánh giá như vậy, Lưu Trọng Lư được biết đến với tư cách một nhà thơ Việt Nam hiện đại

2.2 Những công trình nghiên cứu về truyện và ký Lưu Trọng Lư

Tuy xuất hiện trong vai trò người mở đầu, có vị trí tiên phong trong phong trào Thơ mới, nhưng Lưu Trọng Lư cũng ít nhiều gây chấn động qua

tập truyện Người Sơn nhân – 1933, với lời giới thiệu của Hoài Thanh Tập truyện sau khi ra mắt nhận được ngay bài khen của Phan Khôi, trên Phụ nữ

thời đàm (số 5; 15-10-1933): “Đọc cuốn sách này rồi thấy cái dấu tiến bộ

trong cõi văn nghệ ta vài mươi năm nay rõ ràng lắm Muốn đo cái trình độ tâm linh, tình cảm, cả đến thiên tài nữa từ của bọn tác giả Nguyễn Khắc Hiếu, Hoàng Ngọc Phách cho đến Lưu Trọng Lư xa cách bao nhiêu, thì hãy đọc từ

Giấc mộng con, Tố Tâm cho đến Người Sơn nhân mà đo xem cái văn phẩm và

cái văn tánh xa cách bao nhiêu Hay là tôi cũng có thể nói rằng: hết thảy từ

Giấc mộng con cho đến Nửa chừng xuân đều là những tác phẩm để thúc kết

Trang 6

cho cõi tư tưởng của văn nghệ cũ, còn Người Sơn nhân là tác phẩm để mở đầu cho cõi tư tưởng của văn nghệ mới” [18] Riêng truyện Người sơn nhân, tiếp

đó còn trở thành tâm điểm cho sự so đọ khác biệt về đánh giá giữa Nguyễn

Thị Kiêm trên Phụ nữ tân văn ở Sài Gòn và Thụy An trên Phụ nữ thời đàm ở

Hà Nội Phan Khôi cho rằng Người sơn nhân (của Lưu Trọng Lư) và Hồn

bướm mơ tiên (của Khái Hưng) là hai tác phẩm văn học khá nhất trong năm

1933

Trong loạt bài mang tiêu đề chung “Văn học Việt Nam hiện đại” đăng nhiều kỳ trên tuần báo Loa ở Hà Nội từ tháng 7 đến tháng 10/1935, nhà phê

bình Trương Tửu đánh giá cao các truyện Người sơn nhân, Ly Tao tuyệt vọng,

Tiếng địch trong rừng sim (tức Khói lam chiều), coi Lưu Trọng Lư là một

trong ba nhà văn có lối tả cảnh mới mẻ nhất, tính đến thời điểm ấy (sự tả cảnh

ở Thế Lữ có tính cách kỳ thú /pistoresque/; ở Lan Khai có tính cách xúc cảm /émotionnel/; ở Lưu Trọng Lư có tính cách thần bí /mystique/)… “Bốn truyện

Người sơn nhân, Tiếng địch trong rừng sim, Hương Giang sử, Ly Tao tuyệt vọng đã thiết lập cho ông một vị trí chức sắc trong làng văn hiện đại”

Khi truyện Khói lam chiều được in thành sách riêng (1936), báo chí

văn nghệ Hà Nội có khá nhiều bài khen ngợi, và nhân đó, đã đánh giá rất cao

về tương lai tác giả

Thế nhưng, sang đến đầu những năm 1940, vị trí của Lưu Trọng Lư trong thể loại tiểu thuyết, dưới cái nhìn của giới phê bình có sự thay đổi Đáng kể nhất về

mặt này là ý kiến của Vũ Ngọc Phan trong sách Nhà văn hiện đại (1942) Theo Vũ

Ngọc Phan, về thơ thì Lưu Trọng Lư là “một thi sỹ có biệt tài”, nhưng về văn xuôi

tự sự thì Lưu Trọng Lư lại là “một nhà tiểu thuyết rất tầm thường” Càng về sau, giới đồng nghiệp và học thuật càng không đánh giá cao sự nghiệp văn xuôi của Lưu

Trọng Lư Vì vậy “giới phê bình và nghiên cứu đương thời và sau này đã không đưa Lưu Trọng Lư vào lịch sử văn học trong tư cách một tác gia văn xuôi hoặc một dòng viết nào của văn xuôi thời 1930- 1945” (Phong Lê)

Trang 7

Còn trong hồi ký Nửa đêm sực tỉnh (1989), bản thân Lưu Trọng Lư cũng đã

có những nhận xét về mình: “Tôi viết tập truyện ngắn Người Sơn nhân, cụ Phan

Khôi cho tôi là người viết truyện giỏi nhất từ Hoàng Ngọc Phách đến Tự lực văn

đoàn không ai hơn tôi Tôi đâu phải như thế! Tôi biết rõ sự kém cỏi của tôi Người Sơn nhân của tôi là một sự bế tắc dầy đặc của tâm hồn tôi, nhưng tôi không bao giờ

rẫy ơn cụ Phan Khôi, người thật lòng đề cao tôi” [4]

Đặc điểm nghệ thuật truyện và ký Lưu Trọng Lư là một đề tài có rất ít các công trình nghiên cứu Sau đây, là một số ý kiến đánh giá đáng lưu ý:

Nhận xét khái quát về sự nghiệp văn nghệ của Lưu Trọng Lư, nhà nghiên

cứu Lại Nguyên Ân đánh giá: “Lưu Trọng Lư (1911-1991) với tư cách là nhà thơ, nhà văn, nhà hoạt động sân khấu Việt Nam thế kỷ XX, thoạt nhìn cho đến những năm đầu thế kỷ XXI, tưởng chừng như đã được ghi nhận và đánh giá ổn thoả; nhưng nhìn kỹ, lại thấy nhiều nét trái ngược”.[4]

Theo Lại Nguyên Ân, trong hành trình sưu tầm và xuất bản mảng văn xuôi của Lưu Trọng Lư, chỉ tính ở phương diện tiểu thuyết và truyện ngắn thôi, trong

giới phê bình, thì Lưu Trọng Lư "trải qua một lịch trình từ thăng xuống trầm, từ chỗ được đánh giá cao đến chỗ dần dần bị coi nhẹ"

Lại Nguyên Ân cho rằng: “Lưu Trọng Lư trước hết là một nhà thơ, nhưng thế giới thơ Lưu Trọng Lư thật ra không tách rời, mà ngược lại, có sự tiếp nối với thế giới văn xuôi do ông sáng tạo, đó là cuộc sống trong các truyện ngắn, truyện dài ông viết” Hai tập tác phẩm, Lưu Trọng Lư truyện ngắn và tiểu thuyết đã được

ấn hành nhân dịp kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của tác gia họ Lưu Đây là toàn bộ những tiểu thuyết và truyện ngắn của ông đã xuất bản trước đó, và đăng rải rác trên

các báo xưa như Phụ nữ thời đàm (1933-1934), Tân Thiếu niên (1933), Hà Nội báo

(1936-1937)… và rất nhiều tờ báo cùng thời khác

Theo Phong Lê: “Lưu Trọng Lư có một khối lượng tác phẩm văn xuôi đồ sộ

và phong phú không kém phần thơ, và không chỉ có giá trị về mặt số lượng, mà

Trang 8

những tác phẩm văn xuôi của ông, có thể sánh ngang hoặc vượt hơn nhiều cây bút văn xuôi tiêu biểu cùng thời như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Bùi Hiển…”

[20]

Cũng theo đánh giá của Phong Lê, trong bài viết Lưu Trọng Lư - người viết văn xuôi, nhân lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Lưu Trọng Lư do Hội Nhà văn tổ

chức, ông có một cái nhìn xâu chuỗi về hành trình viết văn xuôi của Lưu Trọng Lư,

và khẳng định: "những truyện viết về một thời quá vãng, dựa trên hồi ức của bản thân về tuổi thơ với người thân, nhất là về người mẹ qua đời quá sớm lại có nhiều trang hay và cảm động như Chiếc cáng xanh… Và cuốn hồi ký Nửa đêm sực tỉnh, ông viết vào tuổi 77, là một cuốn hồi ký thuộc loại hay trong số ít ỏi các hồi ký của thế hệ nhà văn tiền chiến như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Tố Hữu, Huy Cận… tính cho đến nay”

Nhà phê bình Trần Mạnh Hảo phát biểu, không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng,

Lưu Trọng Lư còn xứng đáng là một nhà văn lớn "Với văn xuôi, Lưu Trọng Lư có những tác phẩm rất hay Còn với cuốn Nửa đêm sực tỉnh, có thể nói ông còn là một người viết hồi ký rất tài"

Còn Lưu Khánh Thơ, thì nhận xét, "nhìn chung các sáng tác văn xuôi của Lưu Trọng Lư thời trước cách mạng in đậm dấu ấn của một tâm hồn thi nhân Ông thường để cảm xúc của mình tràn lên trang giấy, ít tuân thủ những nguyên tắc cần thiết đặc trưng của thể loại văn xuôi như xây dựng cốt truyện, khắc họa tính cách"…

Những đánh giá của các nhà nghiên cứu tại lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của nhà thơ Lưu Trọng Lư, cùng nỗ lực của các nhà sưu tầm trong việc ra mắt hai cuốn sách văn xuôi của ông, đã giúp người đọc và giới phê bình có một cái nhìn

đúng đắn và đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp của con người tài hoa này

Trang 9

Như đã nói ở trên, tuy có một số bài viết nghiên cứu về Lưu Trọng Lư, nhưng

vẫn chưa có công trình nào thật sự quy mô, đầy đủ nghiên cứu về đặc điểm truyện

và ký của ông

Đề tài này của chúng tôi đi vào nghiên cứu về Đặc điểm nghệ thuật truyện và

ký Lưu Trọng Lư một cách có hệ thống với mục đích tổng hợp, phân tích và đánh giá, phát hiện những nét riêng, nổi trội, độc đáo trong nghệ thuật viết văn của tác giả Lưu Trọng Lư Tìm hiểu tài năng cũng như sự đóng góp của tác giả đối với sự vận động và phát triển của thể loại truyện và ký

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật truyện và ký Lưu Trọng Lư Trong đó bao gồm: tư tưởng nghệ thuật, các thủ pháp nghệ thuật, cụ thể là nghệ thuật xây dựng cốt truyện, miêu tả nhân vật, ngôn ngữ…

Ngoài ra, để có cái nhìn so sánh, tham chiếu chúng tôi còn tiến hành khảo sát qua một số bài tiểu luận, phê bình cũng như một số tập thơ nổi tiếng

của Lưu Trọng Lư

Từ việc xác định đối tượng nghiên cứu như vậy, chúng tôi tiến hành khảo sát các tập truyện và ký của Lưu Trọng Lư đã được công bố Cụ thể qua các tập truyện:

Người sơn nhân, Con chim sổ lồng, Ly tao tuyệt vọng, Cô bé hái dâu, Chân ái tình, Cái đời người xẩm, Anh Neo, Bạn tôi, Cái chết hiếu danh, Chiêm thành, Con vú em, Thi sỹ, Bó lan trắng, Người mua hoa, Nàng Vân may áo chồng, Cắm neo, Khỏi truông,Truyện cô Nhung, Chiếc cáng xanh, Em

là gái bên song cửa, cô Nguyệt, cô Nhụy, Cô gái tân thời, Chiến khu Thừa thiên, Khói lam chiều, Chạy loạn…

Các tập ký: Mùa thu lớn (1978), Nửa đêm sực tỉnh (1989)…

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp cấu trúc

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp thống kê, phân loại

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm 3 chương Cụ thể:

Chương 1 Lưu Trọng Lư - Chân dung người nghệ sĩ đa tài Trong chương này, có hai nội dung chính được trình bày Đó là cuộc đời và sự nghiệp văn nghệ của Lưu Trọng Lư và vị trí của Lưu Trọng Lư trong lịch sử văn học dân tộc

Chương 2 Cảm thức thời đại trong truyện và ký Lưu Trọng Lư Chương này có ba nội dung chính: vấn đề “cảm thức thời đại” trong tác phẩm văn học; chân dung cuộc sống qua nhãn quan nghệ thuật Lưu Trọng Lư và chân dung tự hoạ của Lưu Trọng Lư trong truyện và ký

Chương 3 Nét đặc sắc của các thủ pháp nghệ thuật trong truyện và ký Lưu Trọng Lư Trong chương này, có hai nội dung chính được trình bày Đó

là một lối dựng truyện đầy cá tính và nghệ thuật kể chuyện đặc sắc

Chương 1 LƯU TRỌNG LƯ - CHÂN DUNG NGƯỜI

NGHỆ SĨ ĐA TÀI 1.1 Cuộc đời và sự nghiệp văn nghệ của Lưu Trọng Lư

1.1.1 Lưu Trọng Lư – con người và thời đại

Lưu Trọng Lư là tên thật, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1912 Ông còn có

những bút danh Hy Kí, Lưu Thần Lưu Trọng Lư sinh ra và lớn lên bên bờ

Trang 11

sông Gianh lịch sử tại một vùng quê nghèo - làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình Mảnh đất đồi núi nghèo khó này đã trở thành môi trường đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn người nghệ sĩ đa tài Mặc dù sau này Lưu Trọng Lư không ở yên một chỗ mà ông đi rất nhiều nơi, lăn lộn

để sống và viết nhưng vùng quê của ông đã in đậm dấu ấn trong các trang thơ, trong các tác phẩm văn xuôi, truyện ký và tiểu thuyết

Lưu Trọng Lư sinh trưởng trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học Cha của ông là một tri huyện bất đắc chí về quê Mẹ của ông là một bà quan nhưng rất đảm đang, hiền từ, đôn hậu Hình ảnh của người cha và người

mẹ cũng là nguồn cảm xúc đầu tiên trong cuộc đời văn chương của ông Lưu Trọng Lư sớm tiếp xúc văn chương và chịu ảnh hưởng từ người cha hiền từ, người mẹ giàu tình cảm Vì vậy con người của Lư Trọng Lư bên ngoài có vẻ phóng khoáng, lơ đãng nhưng bên trong lại có sự dung hợp đức tính của cha

và mẹ - là con người luôn sống giàu tình cảm, quý trọng tình thương

Lưu Trọng Lư sinh ra và lớn lên trong một thời đại gắn với nhiều sự kiện và biến cố quan trọng của đất nước

Đầu thế kỉ XX, sau khi bình định đất nước Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu khai thác về kinh tế Sau hai cuộc khai thác lần thứ nhất và lần thứ hai (trước và sau chiến tranh thế giới thứ nhất 1914-1918), cơ cấu xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc Từ Nam chí Bắc, nhiều đô thị, thị trấn mọc lên, như những trung tâm kinh tế, văn hoá, thành phần chính của xã hội thực dân Ở đấy ra đời nhiều tầng lớp xã hội mới như tư sản, tiểu tư sản (viên chức, học sinh, những người buôn bán nhỏ), công nhân, dân nghèo thành thị Những tầng lớp này có nhu cầu về văn hoá, thẩm mĩ mới

Nhân vật trung tâm trong đời sống văn hoá từ đầu thế kỉ XX đến năm

1945 là tầng lớp tri thức Tây học (phần lớn là tiểu tư sản) Chủ yếu thông qua

Trang 12

tầng lớp này, ảnh hưởng của các trào lưu tư tuởng văn hoá, văn học của thế giới hiện đại ngày càng thấm sâu vào ý thức người làm văn, đọc sách

Trong xã hội thương mại, nhu cầu văn hoá dẫn đến những hoạt động kinh doanh văn hoá Vì thế nghề in, nghề xuất bản, nghề làm báo theo kĩ thuật hiện đại phát triển khá mạnh Viết văn, làm thơ cũng trở thành một nghề

để kiếm sống Nhà văn và công chúng có quan hệ gắn bó hơn Phê bình văn học ra đời và phát triển trên báo chí Các quan điểm, các thị hiếu đều có điều kiện cọ xát với nhau Đời sống văn học trở nên sôi nổi hơn, khẩn trương hơn Tất cả những điều kiện kể trên giải thích vì sao nền văn học Việt Nam phải nhanh chóng hiện đại hoá Đấy là một đòi hỏi tất yếu, khách quan của lịch sử văn học dân tộc ta trong thời đại mới

Cuộc đời Lưu Trọng Lư được sinh ra trong bối cảnh như vậy cho nên Lưu Trọng Lư đã hấp thụ ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá Pháp một cách

có hệ thống trên ghế nhà trường Mặt khác do xuất thân từ một gia đình nhà Nho nên ông cũng tiếp thu được một cách tự nhiên ảnh hưởng của nền văn học truyền thống

Thuở nhỏ, ông học trường tỉnh, rồi thi đỗ vào trường Quốc Học - Huế Vào học ở Huế, đến năm thứ ba, ông bỏ học ra Hà Nội học Sau đó, ông bỏ học đi dạy, làm thơ, làm văn và làm báo để kiếm sống

Thời gian học ở Huế, cậu thanh niên ở tuổi hai mươi đã từng gặp gỡ Võ Liêm Sơn và Phan Bội Châu Năm 1932, Lưu Trọng Lư là một trong những nhà thơ khởi xướng và tích cực cổ vũ cho Phong trào Thơ mới Năm 1933-

1934, ông chủ trương Ngân Sơn tùng thư ở Huế Năm 1941, ông được Hoài

Thanh và Hoài Chân giới thiệu trong quyển Thi nhân Việt Nam Tuy nhiên,

con người của Lưu Trọng Lư lúc này là con người mơ mộng, lơ đãng Lưu Trọng Lư đi giữa cuộc đời đầy biến động Trong lúc làm báo, làm thơ hay viết văn, dạy học vẫn ưa lối sống xê dịch, giang hồ, phóng đãng Có lúc ông lên

Trang 13

chùa Trà Am ở mấy tháng, lại có lần bị thực dân Pháp bắt giữ Ông như “ Con nai vàng ngơ ngác” giữa cuộc đời và trong trang thơ

Cách mạng tháng Tám đã đánh thức và khơi dậy cái phẩm chất tốt đẹp

và những khát khao chân chính trong con người nghệ sĩ Lưu Trọng Lư Chứng kiến sức vùng dậy mãnh liệt của cả dân tộc, đặc biệt là của quần chúng lao động trong những ngày Tổng khởi nghĩa ở Huế, Lưu Trọng Lư lúc này ở tuổi 28, đang sục sôi tinh thần và sức trẻ, mặc dù chưa hiểu biết mấy về cách mạng, đã hăng hái tham gia hoạt động Văn hoá cứu quốc ở Huế, rồi ra dự Hội nghị Văn hoá cứu quốc ở Hà Nội

Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Lưu Trọng Lư lên chiến khu Thừa Thiên Cuộc sống kháng chiến gian lao giữa lòng dân tộc và nhân dân đã làm thay đổi Lưu Trọng Lư Ông đã từng nếm trải những gian nan, hiểm nghèo của nhân dân và chứng kiến lòng tin của quần chúng vào kháng chiến, vào cụ

Hồ Nhà thơ, người nghệ sĩ đa tài Lưu Trọng Lư đã “sửng sốt và bừng mắt trước một xã hội mới, trong đó cái nguyên tắc ràng buộc cao nhất là sự đùm bọc, dẫn dắt thương yêu nhau.” [23]

Thực tế cuộc sống kháng chiến đã tác động mạnh đến tâm hồn, tư tuởng nhà nghệ sĩ lãng mạn Những ngày sống ở chiến khu Hoà Mĩ trực tiếp ảnh hưởng đến cuộc đời nhà thi sĩ tài ba Lưu Trọng Lư đã bắt đầu tìm được con đường nghệ thuật chân chính của mình trong cuộc sống chiến đấu của

toàn dân tộc Bài Lên đường đăng trên tờ Giết giặc in đá của chiến khu Thừa

Thiên năm 1947 là bài thơ kháng chiến đầu tiên của Lưu Trọng Lư, có tính chất như một tuyên ngôn nghệ thuật mới của Lưu Trọng Lư:

“Tỉnh mộng, người ôi mau tỉnh mộng

Vì bên khe chim đã đổi giọng

Bên khe hoa lá đã thay màu

Người hỡi người, hãy đến giữa đau thương

Trang 14

Hãy đến giữa trận này chiến đấu

Lấy gươm súng thề cùng quân tặc khấu

Lấy cứu thù nung nấu lại đau thương

Chân theo chân, người hãy lên đường”

(Lên đường)

Những năm kháng chiến chống Pháp, ông tham gia hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV Ông viết những bài thơ có

chất sống tươi khoẻ và hồn nhiên của cuộc sống và con người kháng chiến (O

đi tiếp tế, Ngò cải đơm hoa và tập truyện Chiến khu Thừa Thiên)

Thời đại mới đã tạo cho Lưu Trọng Lư một cuộc đời mới: cuộc đời gắn với số phận đất nước, số phân dân tộc Nếu như chín năm kháng chiến chống Pháp đã tạo sự chuyển biến, quyết định trong tư tưởng, tình cảm của nhà thơ, thì hiện thực những năm xây dựng hoà bình và đấu tranh chống đế quốc Mĩ đầy đau thương nhưng vô cùng anh dũng của dân tộc đã bồi đắp cho tư tưởng tình cảm và mở rộng nguồn cảm xúc, đưa cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Lưu Trọng Lư đến những bước phát triển mới Sau 1954, ông công tác ở Bộ Văn hóa và làm Tổng Thư ký Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam Năm 1957, ông

là hội viên Hội nhà văn Việt Nam Bước trưởng thành của ông được ghi nhận

bằng tập thơ Toả sáng đôi bờ (1959)

Năm 1964, khi cuộc chiến tranh chống Mĩ lan rộng ra miền Bắc, Lưu Trọng Lư đã cùng với nhiều văn nghệ sĩ đi vào tuyến lửa khu Bốn để thâm nhập thực tế và sáng tác Lưu Trọng Lư đã tìm lại được chất mộng và chất say nhưng cái mộng, cái say bây giờ gắn bó với cuộc sống hiện thực, làm cho tâm hồn người nghệ sĩ Lưu Trọng Lư thêm trong đẹp và thiết tha hơn với cuộc đời thực

Từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, Lưu Trọng Lư vẫn thể hiện nhiệt tình gắn bó với cuộc sống, một thái độ “nhập cuộc” đáng ghi nhận Dù ở tuổi

Trang 15

bảy mươi của cuộc đời, ông vẫn tiếp tục con đường sáng tạo nghệ thuật Không chỉ có trong thơ văn của ông những lời hát ca niềm vui và thắng lợi mà còn có những suy tư trăn trở, những lời giải đáp cho những vấn đề đang đặt ra

Hà Nội Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000.

Lưu Trọng Lư sinh ra và sống gần trọn thế kỉ XX - một thế kỉ đầy thăng trầm với những biến cố lớn lao trong lịch sử xã hội, văn hoá dân tộc Cuộc đời người nghệ sĩ Lưu Trọng Lư gắn liền với những thăng trầm của thời đại mà ông đã sống và cống hiến sáng tạo nghệ thuật Lưu Trọng Lư đã bước những bước chuyển mình phù hợp với thời đại, phù hợp với con đường nghệ thuật của chính mình Ông đã vượt lên biết bao biết bao biến động thăng trầm để sống và viết

1.1.2 Sự nghiệp sáng tác của Lưu Trọng Lư

1.1.2.1 Sự nghiệp thơ

Là một trong những người khởi xướng và cổ vũ cho Thơ mới, Lưu Trọng Lư đã góp phần đem lại sự chiến thắng cho phong trào Thơ mới bằng chính những bài thơ mới thành công từ năm 1932-1933 Các bài thơ của Lưu

Trọng Lư đã được đăng trên báo Phụ nữ tân văn, báo Phong hoá như: Hôm

qua, Hoàng hôn, Xuân về, Trên bãi biển, Nắng mới, Thơ sầu rụng, Lá mùng tơi, Tiếng thu, Suối mây, Một mùa đông, Diệu huyền, Chia ly, Một chút tình, Còn chi nữa, Tình điên, Giang hồ, Thuyền mộng, Hồn nghệ sĩ, Bâng khuâng, Khi thu rụng lá, Hương lòng

Đức, ở phố Cầu Gỗ xuất bản dưới nhan đề Tiếng thu

Nhìn một cách tổng quát toàn bộ thơ của Lưu Trọng Lư trước cách mạng tháng Tám năm 1945, chúng ta thấy có một tư tưởng chi phối tất cả ấy

Trang 16

là sầu, mộng và tình Thoát khỏi hệ thống ước lệ của “thơ cũ” thời trung đại,

cũng như các nhà thơ mới khác, Lưu Trọng Lư lần đầu tiên nhìn cuộc đời và

vũ trụ bằng con mắt của chính mình Nhưng sự “thoát xác” ấy ở chàng thanh niên ở độ tuổi 19-20 mới chỉ bắt đầu bằng cái nhìn như con nai vàng “ngơ ngác”, cái “Tôi” thành thực phiêu lưu trong cõi mộng, cứ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy

Thơ Lư Trọng Lư ngay từ lúc mới xuất hiện đã “cát cứ” một góc của vườn thơ Đó là thứ thơ Tình - Sầu - Mộng hết sức nhẹ nhàng, man mác, chơi vơi Lưu Trọng Lư có một giọng thơ vừa hồn nhiên vừa lạ, trong đó chúng ta như nghe thấy cái nhạc điệu muôn thuở của tâm hồn thơ mộng hoặc tiếng đập của một trái tim như ngẩn ngơ, như rời rạc trước cuộc đời lúc nào cũng sầu muộn, cũng tan vỡ mà người trong cuộc cứ nhìn nó với đôi mắt mơ màng, chẳng hề phản ứng giành giật hay níu kéo:

“ Em không nghe rừng thu

Lá thu kêu xào xạc

Con nai vàng ngơ ngác

Đạp trên lá vàng khô.”

(Tiếng thu)

Trong tập thơ Tiếng thu, mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh là những rung cảm

tinh tế, tài hoa, đã trở thành bất hủ của thi ca Việt Nam mỗi khi nhắc đến mùa thu Tên tuổi Lưu Trọng Lư vì thế đã khẳng định vị thế xứng đáng trên văn đàn văn học giai đoạn 1930-1945, nhất là trong phong trào Thơ mới

Thế giới thơ của Lưu Trọng Lư là thế giới của tình và mộng Cái tôi trữ tình trong thơ Lưu Trọng Lư hầu như rất ít mối liên hệ với thực tế, mất khả năng nhận thức cuộc sống mà luôn chìm đắm trong thế giới của mộng tưởng Gắn với giấc mộng giang hồ là giấc mơ tình ái Khác các nhà thơ mới như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, tình yêu trong thơ Lưu

Trang 17

Trọng Lư là tình yêu trong mộng tưởng và vì là trong mộng nên cái say đắm

mơ màng lại thường chóng tàn phai, rơi rụng, chỉ để lại dư vị bâng khuâng, tiếc nuối:

về tình yêu hạnh phúc

Thơ Lưu Trọng Lư trước cách mạng tháng Tám đã bắt nhịp được những cảm xúc mới của thời đại, đã diễn tả tinh tế những rung động của tâm hồn một lớp thanh niên mới đang có nhiều biến động muốn thoát khỏi ra nếp cảm và nếp sống cũ nhưng chưa phải dứt đoạn hẳn với quá khứ

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thơ ca Lưu Trọng Lư đã thay đổi theo một con đường mới: thơ ca gắn với cuộc sống chiến đấu của dân tộc Nhà thơ sầu mộng năm nào nay thấy cần dứt khoát tỉnh mộng, lên đường tranh đấu Trong xu hướng đại chúng hoá của thơ ca kháng chiến, Lưu Trọng

Lư sớm góp cho nền văn học Việt Nam tiếng thơ khoẻ khoắn, chân thực

Những bài thơ O tiếp tế, Tiếng hát thanh niên, Ông cụ hồ lô, Ngò cải đơm

hoa, Bạn đồng hành, Mẹ, Tâm sự đôi bờ, Sóng vỗ cửa Tùng, Gió mùa thu thổi, Dừa xanh cát trắng, Huế nghìn yêu, Trăng sáng đôi bờ, được sáng tác từ

năm 1948 đến năm 1959 cho thấy rõ sự chuyển biến trong cách viết cũng như trong nội dung tư tưởng của thơ Lưu Trọng Lư trong kháng chiến chống Pháp Nổi bật trong những bài thơ này là những con người thực, những quần

Trang 18

chúng kháng chiến đã đi vào thơ với vẻ đẹp bình dị, sức sống lạc quan của họ Nét đặc sắc trong tập thơ này là chất hiện thực và cảm hứng lãng mạn đan xen, làm cho thơ Lưu Trọng Lư không khô cứng, không có tính hô hào mà vẫn toát lên chất trữ tình - chính trị rõ rệt

cũng đầy máu và nước mắt đã bồi đắp vững chắc cho Lưu Trọng Lư tư tưởng tình cảm và mở rộng nguồn cảm xúc, đưa thơ Lưu Trọng Lư đến những bước phát triển mới, hoàn thiện hơn

Nhà thơ cố gắng phản ánh hiện thực nhiều vẻ của chiến tranh Thơ Lưu Trọng Lư đã được đặt vào trong thực tế rộng lớn và phong phú của cuộc sống nên cũng thêm những sự kiện, những hình ảnh con người thực, đặc biệt là lớp trẻ Lưu Trọng Lư đã đi sâu khai thác chất thơ trong những nét hiện thực “đời thường”, và một chất giọng rất tự nhiên, chân thành, gắn bó với con người và cuộc sống

Từ sau cuộc kháng chiến chống Mĩ, thơ Lưu Trọng Lư vẫn thể hiện nhiệt tình gắn bó với cuộc sống, một thái độ “nhập cuộc” đáng ghi nhận Những bài

thơ ông sáng tác sau Từ đất này: Lại tiễn con, Đường vào chân lí, Đường ta đi

thế đấy bạn lòng ơi!, Lẽ nào anh chết, Lại lên đường, Đi giữa vườn nhân, mang cái nhìn sự đúc kết, sự chiêm nghiệm về cuộc đời của cá nhân

Lưu Trọng Lư và của cả một dân tộc

Với 4 tập thơ lớn Tiếng thu, Toả sáng đôi bờ, Người con gái sông Gianh

và tập thơ mới xuất bản Bài ca tâm tình, Lưu Trọng Lư đã trở thành một thi

nhân xứng đáng có tên tuổi trên văn đàn văn học Việt Nam Lưu Trọng Lư có

ý thức tự vươn mình lên, làm sao cho mình và thơ tiến kịp thời đại, có ích cho thời đại: “Đừng để lớp rêu xanh - Bám lên mình - Phải lau cho sáng - Như lau vào gương - Mỗi ngày soi vào Đảng” Ông luôn muốn sáng tạo, dù là một

Trang 19

sáng tạo đơn sơ Mấy câu thơ sau, có thể xem là châm ngôn cuộc đời thơ của Lưu Trọng Lư, là lí tưởng mà Lưu Trọng Lư đã từng bước vươn tới:

“ Nếu trên áo người còn miếng vá

Giữa đời còn chút đau thương

Thơ ta phải lĩnh phần trách nhiệm ”

Trong thực tế Lưu Trọng Lư đã cố gắng sống theo phương châm đó Ông đã lăn mình vào cuộc sống lao động, chiến đấu của quần chúng để vừa cải tạo mình, vừa để có điều kiện hiểu thêm về con người và cuộc đời mà ông đang sống

1.1.2.2 Văn xuôi Lưu Trọng Lư

Không chỉ là kiện tướng của phong trào Thơ mới, Lưu Trọng Lư còn là một cây bút văn xuôi Một khối lượng tác phẩm văn xuôi không nhỏ của Lưu Trọng Lư gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn được ấn hành từ năm 1933-1941 Lưu Trọng Lư đã để lại cho chúng ta 38 tác phẩm văn xuôi trong

đó 17 cuốn tiểu thuyết, 8 tập truyện dài và vừa 5 tập bút ký, 6 vở kịch, 2 tập tiểu luận, phê bình và nhiều bài tiểu luận, nhiều bài lí luận phê bình Với một nhà thi sĩ lãng mạn, một nhà văn nghệ đa tài, văn xuôi Lưu Trọng Lư rất đa dạng về mặt khuynh hướng, và cũng rất đa dạng về mặt thể loại

Lưu Trọng Lư viết văn xuôi khá sớm, cùng lúc với những bài thơ mới đầu

tiên, tập truyện ngắn Người sơn nhân (9/1933) ra mắt tại Huế do Lưu Trọng

Lư và Hoài Thanh chủ trương đã gây được sự chú ý của bạn đọc và giới phê bình văn học Những năm tiếp sau đó, các sáng tác truyện ngắn, truyện vừa của Lưu Trọng Lư xuất hiện nhiều hơn trên Tiểu thuyết thứ bảy (1934-1935), trên Hà Nội báo (1936-1937) và ngày càng được chú ý nhiều hơn Số lượng tác phẩm của nhà văn khá phong phú so với ngay cả các cây bút văn xuôi đương thời Trong khoảng 10 năm, ông cho ra mắt người đọc khoảng hơn 20

Trang 20

truyện ngắn, tiểu thuyết, tuỳ bút Nhiều tác phẩm đã in thành sách, một số là truyện dài đăng dần trên báo Các tác phẩm tiêu biểu của ông là:

Người sơn nhân (1933), Khói lam chiều(1936), Cầu sương điểm cỏ (1936), Huyền không động (1937), Con voi già của vua Hàm Nghi (1937), cô Nguyệt (1937), Con đười ươi (1938), Từ thiên đường đến địa ngục (1938), Cô gái tân thời (1939), Chiếc cáng xanh (1941), Dòng họ (1942), Em là gái bên song cửa (1942), Mẹ con (1942),… Văn chương và hành động (Tiểu luận - viết

chung với Hoài Thanh - Lê Tràng Kiều -1936)

Người sơn nhân là cuốn sách đầu tay của Lưu Trọng Lư gồm ba truyện

ngắn, một bài về thể thơ mới và mười bài thơ Tập truyện khi ra mắt đã được lời khen của Phan Khôi trên Phụ nữ thời đàm (số 5;15-10-1933)

Trong tập truyện này, truyện Người sơn nhân vẫn là truyện hay hơn cả

Người sơn nhân là một tiếng nói phản kháng, một khao khát tự do nhưng khá

mơ hồ và bế tắc Tiếng vọng của những cuộc bạo động, khởi nghĩa chỉ còn là những dư âm yếu ớt trong văn chương hợp pháp đương thời Trong truyện ngắn này sự phản kháng của nhân vật chính - người sơn nhân chỉ còn là cái ham muốn sống cuộc đời “thảo khấu” giữa chốn rừng xanh Kết cấu của truyện khéo léo, chặt chẽ, đối thoại giữa các nhân vật giàu tính triết lí và đầy

kịch tính Sau này nhà văn cho biết Người sơn nhân được xây dựng dựa trên

một nguyên mẫu có thật: “ người chiến sĩ Cần Vương của làng tôi, người cậu

ruột của thầy tôi ” Truyện Con chim sổ lồng có sự cảm thông với thân phận

một đứa trẻ nghèo, bút pháp của truyện gắn với tả thực hơn, có pha chút chua

chát Truyện Ly tao tuyệt vọng đậm màu sắc lãng mạn huyền hoặc nhưng

mang được mối đồng cảm sâu xa với thân phận những kẻ bạc mệnh

Năm 1935, truyện Tiếng địch trong rừng sim (Khói lam chiều) được ra

mắt bạn đọc Trên tuần báo Loa ở Hà nội từ tháng 7 đến tháng 10 năm 1935,

nhà phê bình Trương Tửu đánh giá cao các truyện Người sơn nhân, Ly tao

Trang 21

tuyệt vọng và Khói lam chiều Ông cho rằng Lưu Trọng Lư có lối tả cảnh mới

mẻ nhất

Hà Nội có nhiều bài khen ngợi và đánh giá rất khả quan về tương lai của tác

giả Khói lam chiều là tác phẩm đáng chú ý hơn cả trong văn xuôi của Lưu

Trọng Lư trước cách mạng Tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ dễ cảm thông với những chuyện tình duyên trắc trở, oan trái Tác giả bênh vực cho tình yêu của một anh trai làng với một cô gái nghèo đi ở cho nhà giàu Tuy chưa miêu tả được sâu tâm lý nhân vật, chưa dựng được những tính cách rõ nét cũng như

còn sơ lược trong nghệ thuật dựng cảnh, nhưng Khói lam chiều vẫn là một tác

phẩm có nhiều yếu tố tiến bộ và nhiều nét hiện thực, gần gũi với văn xuôi hiện thực phê phán

Trong hơn mười năm sáng tác trước cách mạng, Lưu Trọng Lư còn viết nhiều cuốn tiểu thuyết, nhưng phần nhiều vẫn là khuynh hướng lãng mạn thoát ly

Có tác phẩm khai thác những chuyện thần tiên ma quái (Hương giang sử;

Trà hoa nữ; Công chúa Lã Mai; Con đười ươi; Một tháng với ma ) Thời kì

đầu Lưu Trọng Lư thích viết loại chuyện này có lẽ nó phù hợp với lời văn kể chuyện ước lệ mà Lưu Trọng Lư thường sử dụng, cùng giọng điệu thơ lãng mạn của ông

Đề tài hầu hết trong trong truyện thần tiên của Lưu Trọng Lư là tình yêu, những tình yêu không bị giới hạn tiên - tục, thần - người, thầy tu - gái điếm Những tình yêu như một tham vọng sống sục sôi, làm thành động lực vô song của nhân vật, khiến họ thậm chí sẵn sàng đối mặt với cái chết

Một vài tác phẩm viết theo lối truyền thuyết giả sử có phảng phất đôi chút

tinh thần dân tộc (Con voi già của vua Hàm Nghi; Chạy loạn)

Trang 22

Nhóm thứ 3 là loại truyện mà ta có thể gọi là truyện tâm lí xã hội hoặc thế

sự với đề tài là cuộc sống đương thời mà ông đang sống Lưu Trọng Lư đã khẳng định một khả năng cảm nhận và biểu hiện đời sống đương thời đáng ghi nhận Nó có giá trị như những bằng chứng cụ thể của đời sống ở thời đại

mình Một trong những tác phẩm tiêu biểu như: (Em là gái bên song cửa; Huế

một buổi chiều; Cô gái tân thời, Cô Nhung, Gió cây trút lá, Cô Nguyệt )

Những truyện trên đã hiện lên dáng nét cụ thể của giới học sinh Hà Thành những năm 1930 và của nam nữ học sinh xứ Huế Đề tài viết của Lưu Trọng

Lư cũng như trong thơ đó là tình và mộng, tình và những tưởng tượng Phần lớn các tác phẩm đi vào những chuyện tình ái lãng mạn được thi vị hoá Những cuộc tình, những mối tình đơn phương hoặc đa chiều, đem lại hạnh phúc hoặc tạo nên rắc rối khổ đau cho con người

Đáng chú ý hơn là những cuốn tiểu thuyết tự truyện mang tính chất hoài

cổ (Chiếc cáng xanh; Dòng họ) Ở đây, yếu tố tự truyện - tức những dữ liệu

về tuổi thơ, về gia đình tác giả thường xuyên được sử dụng Con người tác giả

có dịp để tự bộc lộ, tự phân tích khi tách ra khỏi đời sống xung quanh để sống với những kỷ niệm về quê hương, gia đình, tuổi nhỏ Những trang chân

thành và cảm động hơn cả là những trang viết về người mẹ trong truyện Chiếc

cáng xanh

Từ sau năm 1945, Lưu Trọng Lư vẫn tiếp tục làm thơ, nhưng ông dần dần chuyển sang hoạt động sân khấu, thỉnh thoảng ông có viết văn xuôi Sự nghiệp văn xuôi của ông trong kháng chiến chống Pháp đáng kể là tiểu thuyết

Chiến khu Ba (1952 - Lần sau in lại lấy tên là Chiến khu Thừa Thiên) Tiểu

thuyết Chiến khu Ba - mà đúng hơn là một truyện ký - đã ghi lại được những

hình ảnh chân thực về cuộc sống gian khổ, thiếu thốn nhưng hăng hái, lạc quan tin tưởng của những con người kháng chiến trong một chiến khu của tỉnh Thừa Thiên những năm đầu của cuộc kháng chiến trường kì Truyện ký

Trang 23

Chiến khu Thừa Thiên vừa mang tính ghi chép, vừa mang yếu tố hư cấu, sáng

tạo chứng minh một bước chuyển mình mới trong tư tưởng và tình cảm của nhà thi sĩ lãng mạn lần đầu tiên lăn lộn vào cuộc sống thực tế để sáng tác

Đáng chú ý là tác phẩm Truyện cô Nhụy ra mắt bạn đọc năm 1962 Hầu như tác giả đã sử dụng lại gần như hoàn toàn cốt truyện và nhân vật của Khói

lam chiều để viết nên tác phẩm Truyện cô Nhụy Chỉ khác là Lưu Trọng Lư

thêm vào phần vĩ thanh có nhan đề là 17 năm sau để nói về phong trào cải cách ruộng đất, phát động quần chúng giảm tô, theo mô típ ôn nghèo kể khổ, như là sự nối dài mảng viết về cải cách ruộng đất vào giữa những năm 1950, phản ánh cuộc sống “từ bóng tối đi ra ánh sáng” của những năm đầu thập kỷ

60 Sau Truyện cô Nhụy, Lưu Trọng Lư chú tâm vào viết kịch bản sân khấu

Từ sau năm 1975, Lưu Trọng Lư tập trung vào thể loại hồi ký và đã để lại

một vẻ riêng độc đáo Hai tập hồi ký Mùa thu lớn (1978) và Nửa đêm sực tỉnh

(1989) đã cho thấy sự chân thành trong suy nghĩ và cảm xúc nồng nhiệt của

nhà văn Nửa đêm sực tỉnh là cuốn hồi ký được đánh giá cao trong số các hồi

ký của thế hệ nhà văn tiền chiến như Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Tô

Hoài Cuốn hồi ký gồm 19 chương, mang một tên phụ: Nhớ lại những cuộc

tình Trong cuốn hồi ký này tư chất và bản lĩnh của một nhà thơ, một kiện

tướng của Thơ mới được ghi nhận trong thiên hồi ký Một cuộc đời với những khát khao giao cảm, với những ưu tư được bộc lộ qua hai cuộc tình lớn: Một với người vợ trước sớm qua đời Một với người vợ sau - được xem là nhân vật chính của cuốn hồi ký - có tên là Mừng, người Huế, với rất nhiều gắn bó khắng khít giữa tình yêu và sự nghiệp, qua rất nhiều gian truân và chướng ngại Đây là một cuốn hồi ký rất nặng về đời tư, kể những chuyện riêng tư

Đó cũng chính là điểm mới trong văn xuôi của Lưu Trọng Lư

Nhìn lại chặng đường văn xuôi của Lư Trọng Lư, chúng ta có thể khẳng định Lưu Trọng Lư là người viết văn xuôi và ông đã có công đóng góp trong

Trang 24

lĩnh vực văn xuôi Ông đã để lại cho nền văn xuôi Việt Nam nhiều tác phẩm với những đề tài đa dạng, những sáng tạo mới mẻ về mặt khuynh hướng Đặc biệt truyện và ký của ông đã góp phần làm nên diện mạo mới cho nền văn xuôi hiện đại nước nhà Lưu Trọng Lư xứng đáng là một tấm gương sáng về tinh thần lao động nghệ thuật trong sự nghiệp đổi mới văn chương

Ngoài sự nghiệp thơ, sự nghiệp văn xuôi, Lưu Trọng Lư còn để lại một

di sản khá lớn về thể loại kịch Tất cả những vở kịch của Lưu Trọng Lư được viết từ sau năm 1954, khi ông làm Vụ trưởng Vụ sân khấu Bộ văn hoá và là Tổng thư kí Hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam

Từ năm 1958, Lưu Trọng Lư viết nhiều vở kịch nói và kịch thơ Các vở

kịch nói: Giọt sương, Cánh hoa, Nguyễn Văn Trỗi không gây được ấn tượng

rõ rệt Điều căn bản ở Lư Trọng Lư vẫn là một hồn thơ luôn tràn đầy nhựa sống, vì thế trong lĩnh vực kịch thơ ngòi bút của nhà thơ tìm thấy được một địa

hạt thích hợp hơn Các tác phẩm kịch thơ Tuổi hai mươi, Hồng Gấm, được viết

năm 1973

Vở kịch Tuổi hai mươi là sự phát triển những suy nghĩ và cảm xúc trong bài thơ Vườn mẹ, được viết sau khi về thăm lại mảnh vườn quê mẹ sau nhiều năm

xa cách Vở kịch đã sáng tạo một không khí hoà trộn giữa thực và ảo, giữa lịch

sử và hiện tại Nhân vật và cốt truyện hoàn toàn hư cấu Ngoài những nhân vật của cuộc sống thời nay, còn có những nhân vật thời trước “sống dậy” và có cả những “nhân vật” là gốc mít, cây mận, cây đào Trong vở kịch, thế giới thiên

nhiên Mận, Đào, Xoan, Trúc, chị Trăng cũng mê say nhập cuộc với con

người trong cuộc gặp gỡ đầy tình nghĩa và xúc động Vở kịch chan hoà chất thơ đẹp của cuộc sống

Kịch thơ của Lưu Trọng Lư vừa kết hợp chất trữ tình - chính trị, vừa xen những yếu tố huyền ảo, tâm linh nên tạo sự huyền bí Đặc biệt những lời thoại,

Trang 25

lời độc thoại bằng thơ diễn tả được những cung bậc tình cảm, tâm trạng nhân vật nên dễ đi vào lòng người

Nếu ở Tuổi hai mươi, Lưu Trọng Lư hoàn toàn sáng tạo ra cốt truyện và nhân vật do mình chọn lấy thì ở Hồng Gấm Lưu Trọng Lư đã thể hiện một

nhân vật có thật ngoài đời - một nữ anh hùng miền Nam Cũng như ở nhiều vở

kịch thơ khác của Lưu Trọng Lư, trong Hồng Gấm nổi lên vẫn là chất trữ tình,

là vẻ đẹp mang lí tưởng của nhân vật Lưu Trọng Lư chú trọng khắc hoạ những nét đẹp của tâm hồn, tình cảm của người nữ anh hùng Người nữ anh hùng đã ngã xuống và chị đã đi vào lòng vào tim hàng triệu quần chúng như một hình tượng cao đẹp, có sức mạnh động viên cổ vũ

Tuy nhiên, tác phẩm nghệ thuật nào cũng không thể thoát khỏi bàn tay xây dựng và sáng tạo của người viết Mặc dù Lưu Trọng Lư biết rất rõ khi viết kịch bằng thơ sẽ gặp khó khăn và hạn chế nhưng kịch thơ của Lưu Trọng Lư đã đạt thành quả tốt đẹp về cả nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Đặc biệt là thành

công trong vở kịch thơ Hồng Gấm - một đề tài mới - thể hiện người thật việc

thật trong xã hội ngày nay

Ngoài Tuổi hai mươi, Hồng Gấm, Lưu Trọng Lư còn viết các vở kịch thơ lịch sử: Nước giếng ngọc; Kiệu hoa; Bình minh Anh Vũ là những vở kịch đã

được dàn dựng trên sân khấu nhà hát kịch Việt Nam

Những vở kịch này Lưu Trọng Lư tập trung khai thác những bi kịch éo le trong tình yêu, hạnh phúc - một phương diện của số phận con người trong lịch

sử, đặc biệt là dưới chế độ phong kiến

Là một người đa tài, Lưu Trọng Lư đã làm thơ, viết tiểu thuyết, ký sự, hồi

ký văn học, kịch thơ, kịch nói, tranh luận văn học Hoạt động trên cả 3 lĩnh vực thơ, văn xuôi, sân khấu, lĩnh vực nào Lưu Trọng Lư cũng có những thành công nổi trội và có những đóng góp mang dấu ấn riêng Nhìn lại sự nghiệp của Lưu Trọng Lư, chúng ta thấy rằng ông không những có công to lớn trong việc

Trang 26

cách tân và phát triển nền thơ ca dân tộc mà còn để lại một di sản khá lớn về văn xuôi, kịch Tên tuổi của ông mãi mãi không thể phai mờ trong tâm trí biết bao độc giả thân yêu của nhà thơ, nhà triết gia, nhà soạn kịch

1.2 Vị trí của Lưu Trọng Lư trong lịch sử văn học dân tộc

1.2.1 Lưu Trọng Lư – gương mặt tiêu biểu của phong trào Thơ mới

Lưu Trọng Lư được kể vào lớp chiến sĩ xung kích trên mặt trận khẩu chiến và bút chiến để khẳng định sự tồn tại của Thơ Mới Bài đầu tiên của

Lưu Trọng Lư là bài Thơ thách họa các cụ đồ:

Đôi lời nhắn nhủ bạn làng nho

Thơ thẩn, thẩn thơ khéo thẩn thờ

Con cóc Nghệ Huỳnh đuôi cọc lóc

Nàng thơ Ấm Hiếu mũ thò lò

Lưu Trọng Lư là người diễn thuyết hăng hái nhất bênh vực cho thơ mới và là người có công khai sinh ra thơ mới Ý tưởng mới mẻ của Lưu Trọng Lư được bộc lộ qua bài diễn thuyết tại Học - hội Quy Nhơn (16-2- 1934)

“ Các cụ chỉ trích cứ cái bóng trăng vàng dội trên mặt nước, chúng

ta lại chỉ thích cái ánh mặt trời buổi sáng lấp lánh, vui vẻ ở trên đầu ngọn tre xanh Các cụ ưa màu đỏ chót, chúng ta lại ưa màu xanh nhạt Một dòng máu chảy làm cho các cụ rùng mình, còn chúng ta chỉ một chiếc quan tài phất giấy

đỏ lửng thửng đi dưới ánh mặt trời ban trưa lại làm cho ta rởn óc Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng kêu đêm, chúng ta lại nao nao vì tiếng gà gáy đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ cho là điều tội lỗi, chúng ta cho là mát mẻ, như đứng trước một cánh đồng xanh ngắt

Đối với chúng ta thì tình cảm có thiên hình vạn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình thân thiết, cái tình ảo mộng, cái tình ngây thơ, cái tình già dặn, cái tình trong giây phút, cái tình nghìn thu ”

Trang 27

Đến tháng 8 năm 1936, Tin văn số 23 đăng bài Thái Phỉ phỏng vấn Lưu

Trọng Lư về Thơ mới Trong phần trả lời nhà thơ lo lắng nhiệt thành cho sự triền miên trong “cõi chết”, không còn lấy một chút sinh khí của thi ca Với những lí lẽ sắc bén, Lưu Trọng Lư đã vạch rõ thơ cũ rất giả tạo, chật hẹp, gò

bó, chẳng thơ chút nào, rằng dưới các bút hiệu mĩ miều “rặt những câu trần ngôn, sáo ngữ, đúc đi luyện lại từ xưa đến nay, không thêm, không bớt không sứt mẻ, các tay thơ kia chỉ chuyên một mặt từ chương âm vận, lựa chữ cho kêu, tìm điển cho lạ, đem cái áo văn chương hoa hoè sặc sỡ mà mặc cho những cái tình cảm yếu đuối, những cái tư tưởng tầm thường ”

Khi cổ vũ đổi mới thơ ca, Lưu Trọng Lư có một quan niệm rất rõ ràng:

“Hình thức của thơ phải mới, mới luôn, cho hợp với tâm hồn của ta, tâm hồn phiền phức của ta trong khi tiếp xúc với hoàn cảnh mới, lại càng thêm phiền

phức” (Bức thư thứ nhất gửi lên Khê thượng cho Tản Đà - Tiểu thuyết thứ

bảy - số 29 - tháng 12 năm 1934)

Lưu Trọng Lư góp phần chiến thắng cho phong trào thơ mới chủ yếu không phải là những bài báo, những bài diễn thuyết đầy nhiệt tình mà chính bằng những bài thơ mới Lưu Trọng Lư viết từ năm 1932-1933 Bài thơ

Đường đời và Vắng khách thơ là những bài thơ mới của Lưu Trọng Lư xuất

hiện sau bài Tình già của Phan Khôi

Chẳng những là một chiến sĩ tiên phong hăng say trong việc bảo vệ nền thơ mới, Lưu Trọng Lư còn có một nhân sinh quan bén nhạy, cảm nhận trước tiên mọi trạng thái biến chuyển từng giai đoạn Ông là một gương mặt tiêu biểu cho phong trào Thơ mới Trong tâm trạng chung của một lớp thanh niên tiểu tư sản thất vọng trước thời cuộc, tìm đến con đường văn chương nghệ thuật, Lưu Trọng Lư đã đến với thơ bằng tất cả tâm hồn sầu mộng của mình Trong những bài thơ của Lưu Trọng Lư viết, thế giới ngoại cảnh hết sức mờ

Trang 28

nhạt, mà tất cả hình ảnh, âm thanh của cuộc đời chuyển dịch vào thế giới mơ mộng của một tâm hồn đa tình và sầu mộng

Trong sự gần gũi tiếng nói chung của các nhà thơ mới lớp đầu như Thế

Lữ, Huy Thông, Nguyễn Nhược Pháp, Lưu Trọng Lư có một tâm hồn sầu mộng và đa tình, một sự nhạy cảm tinh tế về nhạc điệu, tạo được một điệu tâm hồn riêng, một tiếng đàn riêng có sự thu hút quần chúng rộng rãi

Thơ Lưu Trọng Lư là một lối thơ quen thuộc của dân tộc, một chút của thơ Đường Lưu Trọng Lư đến với thơ bằng cả tâm hồn sầu mộng của mình Trong thơ Lưu Trọng Lư, mọi hình ảnh, mọi âm thanh của cuộc sống đều được đưa vào thế giới thơ mộng Chỉ một làn nắng mới, một tiếng chim hót cũng đưa thi sĩ trở về dĩ vãng, thế giới của kỷ niệm buồn thương Lưu Trọng

Lư rất nhạy cảm với những rung động mơ hồ của thiên nhiên, của nội tâm Từ tiếng thổn thức của trăng mờ đến con nai vàng ngơ ngác trong rừng thu cũng đem lại một cảm giác buồn man mác trong thơ ông, hay đôi mắt buồn của

người đẹp bên cửa sổ: “Đôi mắt em buồn, nhìn thôi mà chẳng nói” Tất cả

đều chập chờn như trong mơ và bàng bạc một nỗi sầu hoài cảm

Thơ mới ra đời là sự vận động và phát triển tất yếu của thơ ca nói chung: đã đến lúc phải đổi mới, cách tân, nhất là về mặt thể loại để thoát khỏi tính quy phạm hạn chế cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ Đóng góp đáng ghi nhận của thơ mới là đã làm nên một cuộc cách tân có ý nghĩa cách mạng về thơ ca Trong đó Lư Trọng Lư là một gương mặt tiêu biểu, một chủ tướng của phong trào thơ mới đã có một vị trí quan trọng, góp phần không nhỏ vào cuộc cách mạng thơ ca dân tộc

2.1.2 Lưu Trọng Lư trong quá trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại

Lưu Trọng Lư không chỉ dừng lại ở vị trí tiên phong trong thời kì thơ mới Cái nhạy cảm bẩm sinh của một tâm hồn thi sĩ đã giúp ông bước vào làng văn trong giai

Trang 29

đoạn kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ cũng tự nhiên như ông đắm mình trong mộng và tình, trong cái “thú đau thương” xưa kia Chính ở khoảng trời sinh động và mới mẻ này, ngòi bút của ông lại một lần nữa khám phá được rất nhiều cái đẹp của cuộc sống Hồn quê của ông là sông, là suối, là con người thực tại, là cuộc sống gắn với nhiều gian nan, thử thách Ông say sưa, miệt mài với những trang viết của mình

Tất cả các tập truyện và kí của Lưu Trọng Lư từ Người sơn nhân, Chiếc cáng xanh đến Mùa thu lớn, Nửa đêm sực tỉnh… đã cho người đọc cảm nhận được sự dung

hợp tầm nhìn giữa đời - văn, văn - đời của ông Đọc văn xuôi Lưu Trọng Lư hiện nay, chúng ta nhận thấy rất rõ sự vươn tới trong từng trang viết của ông Văn xuôi Lưu Trọng Lư đã tiến kịp văn xuôi thời hiện đại Ông đã cố gắng đóng góp một âm thanh trong trẻo trong bản hoà tấu chung của văn học dân tộc, tạo tiếng vang trên văn đàn Việt Nam trong thời đại mới

Cho đến nay, Lưu Trọng Lư đã có hơn 50 hoạt động văn học nghệ thuật Con đường nghệ thuật của nhà nghệ sĩ hơn nửa thế kỉ gắn với mấy giai đoạn phát triển, với nhiều sự kiện và biến cố quan trọng và những thành tựu của đời sống văn học dân tộc

Lưu Trọng Lư là một người tri thức luôn khám phá cái mới là đấu tranh cho cái mới thắng lợi, sự đa dạng trong ngòi bút của người nghệ sĩ Mọi người thường nhớ đến Lưu Trọng Lư một nhà thơ lãng mạn nổi tiếng mà quên đi Lưu Trọng Lư là

một tiểu thuyết gia của thế kỉ XX Người ta chỉ nhắc đến bài Tiếng thu, bài Nắng mới mà chưa biết đến Lưu Trọng Lư có hàng chục tập truyện ngắn và tiểu thuyết đã

được xuất bản từ trước cách mạng

Cuộc đời Lưu Trọng Lư đã gắn liền với những hoạt động văn học nghệ thuật trên nhiều lĩnh vực Ông đã cống hiến sức mình cho một nền văn nghệ mới của dân tộc, vì vậy, thật bất công khi chúng ta chỉ nhìn nhận Lưu Trọng Lư là nhà thơ Việt Nam mà lãng quên vị trí, sự đóng góp của ông đối với văn học Việt Nam hiện đại với tư cách là một nhà văn

Trang 30

Mặc dù chưa tìm hết những tác phẩm văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư in trên sách báo cùng thời với tác giả, nhất là trong khoảng những năm 1933-1945, chúng ta vẫn có thể khẳng định Lưu Trọng Lư là một trong những tác giả có số

lượng tác phẩm văn xuôi tự sự khá phong phú Các tác phẩm: Huyền không động (1935), Cô Nguyệt (1937), Con đười ươi (1938), Nàng công chúa Huế (1938), Huế một buổi chiều (1938), Một người đau khổ (1939), Cô gái tân thời (1939), Chạy loạn (1939), Một tháng với ma (1940), Chiếc cáng xanh (1941), Cô Nhung (1941), Khói lam chiều (1941) được nhà xuất bản Tân Dân của ông chủ Vũ Đình Long ấn

hành, đã khẳng định sự nghiệp văn xuôi của Lưu Trọng Lư trước cách mạng tháng Tám năm 1945 Các sáng tác của Lưu Trọng Lư vượt nhiều cây bút văn xuôi cùng thời với ông như Thạch Lam, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Bùi Hiển cho ta thấy ông là một nhà văn đáng được ghi nhận

Như chúng tôi đã trình bày ở phần Sự nghiệp văn xuôi của Lưu Trọng Lư,

khi đánh giá tập truyện Người sơn nhân, Phan Khôi cho rằng Lưu Trọng Lư là

người viết truyện giỏi nhất từ Hoàng Ngọc Phách đến Tự lực văn đoàn Như vậy, vào thời kì đó Lưu Trọng Lư đã có một vị trí trên văn đàn văn học

Nhìn một cách tổng quát, các tác phẩm văn xuôi của Lưu Trọng Lư trước cách mạng tháng Tám năm 1945 đều nghiêng về khuynh hướng trữ tình lãng mạn Đây chính là tiếng nói của người thi sĩ đang say sưa cùng với “trường tình”, gửi tâm hồn vào chốn thần tiên ma quái, hoặc trốn vào những câu chuyện tình ái lãng mạn thoát li cái hiện thực đầy đau thương nhưng cũng đang âm ỉ bốc lửa của những cuộc cách mạng dân tộc Tuy nhiên, dù trốn vào đâu, những trang viết của Lưu Trọng Lư

vẫn toát lên những nét phong tục, cảnh sắc, con người của xứ Huế (Huế một buổi chiều, Nàng công chúa Huế), của Hà Thành (Cô gái tân thời, Em là gái bên khung cửa), và đáng ghi nhận là những trang viết về quê hương, nơi tác giả luôn đau đáu tiếc nuối một thời dĩ vãng (Chiếc cáng xanh)

Trang 31

Tuy nhiên bên cạnh những lời khen, giới phê bình vẫn có những đánh giá định kiến, trong đó phải kể đến nhận xét của Vũ Ngọc Phan “Lưu Trọng Lư là một thi sĩ có biệt tài”, nhưng về “tiểu thuyết thì rất tầm thường”

Lý lẽ của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan đã ảnh hưởng rất nhiều đến độc giả, giới phê bình Đánh giá này ăn sâu vào giới nghiên cứu văn học và nhà xuất bản văn

học cho đến tận những năm 1960 Tại miền Nam khi viết bộ Việt Nam văn học sử giản ước, Phạm Thế Ngũ xếp vị trí những tiểu thuyết gia viết cho nhà xuất bản Tân

Dân, đã sử dụng lại nhận định trên của Vũ Ngọc Phan về nhà tiểu thuyết Lưu Trọng

Đến những năm 1983 trong Từ điển văn học (1983), mục từ Lưu Trọng Lư

kể tên bốn tác phẩm văn xuôi của ông Người sơn nhân, Khói lam chiều, Chiếc cáng xanh Chiến khu thừa thiên, bên cạnh các tác phẩm thơ và kịch Hai mươi năm sau

sự mô tả trong từ điển ấy vẫn chưa đổi khác Điều đó cho chúng ta thấy rằng trong thời kỳ trước và sau Cách mạng, sự đánh giá về Lưu Trọng Lư và những đóng góp của ông trong sự nghiệp văn xuôi chưa thoả đáng

Có thể khẳng định rằng Lưu Trọng Lư bị lãng quên vì nhiều nguyên nhân Các di sản văn xuôi của ông chưa được sưu tầm đầy đặn, có thể ông bị lãng quên trong khu vực văn xuôi vì lý do ở vị thế và đóng góp của Lưu Trọng Lư cho phong trào Thơ mới Trong thi nhân Việt Nam, ngoài Xuân Diệu đựơc chọn 15 bài thì Huy Cận và Lưu Trọng Lư là 11 bài, còn tất cả các nhà thơ cùng thời đều ở phía dưới hoặc chỉ chọn một vài bài Một tài thơ chói sáng như thế vẫn dễ làm lu mờ những khu vực khác Cũng có thể mảng văn xuôi của ông do những định kiến của giới phê bình trước năm 1945 đã coi nhẹ giá trị tiểu thuyết của ông

Để khắc phục tình trạng này, trong những năm gần đây, văn xuôi tự sự của Lưu Trọng Lư được chú ý, tập hợp lại Cuốn từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỉ XIX đến năm 1945) đã có mục từ mô tả 7 tác phẩm tự sự của Lưu

Trang 32

Trọng Lư (Người sơn nhân, Huyền không động, Con đười ươi, Nàng công chúa Huế, Huế một buổi chiều, Chiếc cáng xanh, Cô Nhung)

Mặc dầu Lưu Trọng Lư không được nhớ tới nhiều với tư cách nhà văn như Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân nhưng chúng ta không thể phủ nhận vị trí

và sự đóng góp không nhỏ của Lưu Trọng Lư cho nền văn học hiện đại

Theo chúng tôi, Lưu Trọng Lư là một trường hợp khá đặc biệt Đó là một dòng sông hợp lưu cả 3 dòng lãng mạn, hiện thực và yêu nước Văn xuôi của Lưu Trọng Lư vẫn mang một tâm hồn rất lãng mạn Những đề tài, những trang viết của Lưu Trọng Lư có cái hiện thực như được huyền thoại hoá trong lối viết đa dạng Mặc dù viết văn theo nhiều đề tài, mặc dù Lưu Trọng Lư không phải là một nhà văn hiện thực trước cách mạng, ông vẫn là nhà văn yêu nước Sự đóng góp của Lưu

Trọng Lư còn thể hiện ở các tác phẩm sau cách mạng, tiêu biểu là hai bút ký: Mùa thu lớn và Nửa đêm sực tỉnh

Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Lưu Trọng Lư có một sự nghiệp sáng tác đồ sộ và đa khuynh hướng Ông là một nhà văn vừa lãng mạn, vừa hiện thực, vừa thần bí Còn một sự đa dạng khác về mặt thể loại Lưu Trọng Lư cũng là một cây bút sử dụng nhiều thể loại nhất

Lưu Trọng Lư là người đã sống qua 2 thời kỳ, từ cuộc đời cũ đến cuộc đời mới, vừa là cây bút của xu hướng lãng mạn trước 1945, vừa là một trong những nhà văn thành tâm chào đón và đi theo cách mạng đến cùng

Trong hành trình gian khổ ấy có lúc ông được ca tụng, được hoan nghênh, có lúc tự hạ thấp đến mức bị lãng quên trong làng văn, cũng có lúc ông tự “lột xác”, tự

nhìn nhận lại chính mình: “Tôi viết truyện ngắn Người sơn nhân, cụ Phan Khôi cho tôi là người viết truyện giỏi từ nhất từ Hoàng Ngọc Phách đến Tự lực văn đoàn không ai hơn tôi Tôi đâu phải như thế Tôi biết rõ sự kém cỏi của tôi Người sơn nhân của tôi là một sự bế tắc dầy đặc của tâm hồn tôi, nhưng tôi không bao giờ ruồng rẫy cụ Phan Khôi, người thành thật đề cao tôi” [4, tr.1388]

Trang 33

Lưu Trọng Lư còn được nhắc đến với sự nghiệp sân khấu, một nhà viết kịch

có nhiều đóng góp Từ thơ - văn xuôi lại chuyển sang hoạt động sân khấu, trong tư cách người viết kịch bản và lãnh đạo ngành sân khấu Việt nam sau năm 1945 Hoạt động trên cả 3 lĩnh vực thơ, văn xuôi, sân khấu, lĩnh vực nào Lưu Trọng Lư vẫn có những thành công nổi trội Lưu Trọng Lư quả là người nghệ sĩ đa tài, và có sự đóng góp nhiều mặt cho đời sống văn học nghệ thuật nước nhà

Với tư cách là người viết kịch bản và là lãnh đạo ngành sân khấu Việt Nam, Lưu Trọng Lư đã để lại những dấu ấn đậm nét của mình đến lĩnh vực kịch Ông là

tác giả của những kịch bản sân khấu “vang bóng một thời” như Hồng Gấm, Tuổi hai mươi Đây là những vở kịch mang đậm dấu ấn lịch sử của thời kì kháng chiến vĩ

đại của dân tộc Những vở kịch thơ nổi tiếng được người xem hâm mộ không chỉ vì nội dung tư tưởng của nó mà còn về nghệ thuật soạn kịch với không khí hư ảo cần thiết cho loại kịch lịch sử, vừa thể hiện chất trữ tình lãng mạn bay bổng Nhiều vở

kịch thơ lịch sử khác của Lưu Trọng Lư như Nước giếng ngọc, Kiệu hoa, Bình minh Anh vũ thể hiện tài năng cảm nhận cuộc sống và sáng tạo lớn của nhà soạn kịch

Trong không khí của kịch thơ lịch sử, Lưu Trọng Lư đã thể hiện được tài năng của mình Những vở kịch này thường khai thác những bi kịch éo le trong tình yêu, hạnh phúc - một phương diện số phận con người trong lịch sử, đặc biệt là dưới chế độ phong kiến Những câu chuyện đã được làm sống lại không khí hư ảo lịch sử bằng trí tưởng tượng sống động phong phú và một ngòi bút tràn đầy nhiệt hứng say mê Các tác phẩm kịch của Lưu Trọng Lư đã được dàn dựng và công diễn nhiều lần tại Nhà hát lớn Hà Nội, ghi nhận vị trí của ông trong làng Kịch dân tộc

Những sáng tác của Lưu Trọng Lư trước và sau cách mạng trên các lĩnh vực thơ, truyện và ký, kịch đã khẳng định được vị trí và tài năng của ông trong lĩnh vực văn học nghệ thuật Dù sáng tác ở lĩnh vực nào, vào thời điểm nào đi nữa thì Lưu Trọng Lư vẫn có những thành công nổi trội Vừa là gương mặt tiêu biểu cho phong trào Thơ mới, vừa ở trong hàng ngũ những nhà văn đầu tiên đi theo Cách mạng

Trang 34

Trong hành trình gian khổ gần nửa thế kỷ ấy, có lúc va vấp, có lúc chênh vênh, cũng có lúc phải tự “lột xác” đớn đau nhưng lúc nào nhà văn cũng luôn giữ vẹn được nhân cách, bản ngã của mình Vẻ đẹp trang viết của Lưu Trọng Lư là kết quả tất yếu từ một cách viết mang tinh thần dân tộc

Cảm thức là trạng thái tình cảm của người nghệ sĩ khi cảm nhận được một

hoàn cảnh khác tác động đến nhận thức của mình, nó biến tư tưởng thành tình yêu, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành Đó là năng lực cảm nhận thẩm

mỹ đặc trưng, chỉ có ở con người đối với các hiện tượng, sự vật, biến cố của thế giới khách quan

Trang 35

Nghệ thuật là hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của các hoạt động con người, một phương thức quan trọng để con người chiếm lĩnh các giá trị tinh thần của hiện thực Khác với các hình thái ý thức và hoạt động xã hội khác như khoa học, chính trị, đạo đức vv… nghệ thuật thỏa mãn nhu cầu cảm thụ thế giới xung quanh, năng lực cảm nhận mang tính người Đó là năng lực cảm nhận thẩm mỹ đặc trưng, chỉ có ở con người đối với các hiện tượng, sự vật, biến cố của thế giới khách quan

“Cảm thức nghệ thuật” là trạng thái tình cảm mãnh liệt say mê, thăng hoa và

sáng tạo xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật Trạng thái tình cảm này gắn với một tư tưởng xác định làm cho tác phẩm trở thành nguồn cảm xúc cho người đọc khi tiếp

nhận tác phẩm “Cảm thức nghệ thuật” là một yếu tố thuộc về nội dung; là thái độ,

tư tưởng cảm xúc của người nghệ sĩ đối với thế giới được miêu tả Nó được xem như là “phương thức biểu hiện văn chương dựa trên cơ sở một trạng thái cảm xúc thẩm mỹ được hình thành và được bộc phát ra nhờ có tác động của một cảnh vật hay sự việc nào đó”

Trang 36

2.1.2 “Cảm thức thời đại” trong tác phẩm văn học

“Tác phẩm văn học là công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhân hoặc tập thể sáng tạo nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại”.[13, tr.243] Với người sáng tạo, tác phẩm văn học là nơi khai thác, nơi khẳng định quan điểm nhân sinh, lí tưởng thẩm mĩ Đó là “tấc lòng” của tác giả gửi gắm qua tác phẩm Với hiện thực khách quan, tác phẩm văn học là hình ảnh phản ánh sống động, là tấm gương ghi giữ diện mạo lịch sử của một thời kỳ một đi không trở lại và dự báo tương lai Với người đọc, tác phẩm văn học là đối tượng tích cực của cảm thụ thẩm

Nhà văn, nhà thơ là nghệ sĩ có tâm hồn giàu xúc cảm, có tình yêu thiết tha, sâu nặng đối với cuộc sống con người, có trí tưởng tượng sáng tạo mãnh liệt, có năng lực trí tuệ sắc bén, một khả năng quan sát và tự quan sát thực tế Cảm thức nghệ thuật mang tính cá nhân, trong tác phẩm cụ thể là một hình tượng độc đáo không lặp lại, gắn với tình cảm của tác giả

“Cảm thức thời đại” trong tác phẩm văn học là sự thể hiện ý thức tự do của người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật

Năm 1942, trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh khẳng định: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thơ ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một tâm hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ mộng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên, mà thiết tha, rạo rực băn khoăn như Xuân Diệu ”(Thi nhân Việt Nam)

Chính Xuân Diệu sau này cũng tự phủ nhận lại mình: “Nhận xét chung, những tác phẩm của tôi trong thời Pháp thuộc đã tuyên truyền cho một tình yêu mê

Trang 37

muội đắm đuối, một trò ích kỉ hại cá nhân cho một lòng thương ngậm ngùi, buồn tủi, cho sự hưởng lạc trong cảm xúc sắc dục ”

Đó chính là cảm thức tự do của người nghệ sĩ, tự do yêu đến mãnh liệt, yêu đến vội vàng cuống quít để đến nỗi nhà thi sĩ phải muốn tắt nắng, buộc gió cho màu đừng nhạt, cho hương đừng bay Trạng thái mãnh liệt say mê trong tâm hồn người nghệ sĩ đã sáng tạo ra những ngôn từ nghệ thuật tuyệt vời “Tháng Giêng ngon như một cặp môi gần” Lý trí không còn chế ngự, cảm xúc được thăng hoa Đó chính là

“Cảm thức nghệ thuật” trong tác phẩm văn học

Chúng ta cũng có thể nhận thấy Lưu Trọng Lư là nhà thơ của đoạn tuyệt, của những khám phá thi pháp, xuất thần cảm hứng Ông là tác giả của những xu hướng mới, của những phiêu lưu đầy chất thơ và hứng khởi cảm tính

Nhìn chung các sáng tác văn xuôi của Lưu Trọng Lư trước năm 1945

in đậm dấu ấn của tâm hồn thi nhân Ông thường để cho cảm xúc của mình tràn trên giấy, ít tuân thủ theo những nguyên tắc cần thiết của đặc trưng thể loại văn xuôi như xây dựng cốt truyện, khắc hoạ tính cách, miêu tả tâm lý nhân vật Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến giá trị của tác phẩm Tất nhiên,

ta vẫn tìm thấy ở những sáng tác của ông sự cảm nhận tinh tế về đời sống của lớp trẻ đương thời Qua đó có thể cảm nhận được màu sắc, dáng vẻ cuộc sống, thiên nhiên và con người ở những vùng đất mà ông đã sống và viết Nói một cách khác trong văn xuôi của Lưu Trọng Lư vẫn có những yếu tố “tả thực phê phán”, có những yếu tố miêu tả đời sống phong tục Đó chính là giá trị rất lớn của văn xuôi Lưu Trọng Lư

Trang 38

2.2 Chân dung cuộc sống qua nhãn quan nghệ thuật Lưu Trọng Lư

2.2.1 Hiện thực lịch sử - xã hội

Lưu Trọng Lư không chỉ là một nhà thơ, ông còn là nhà văn, nhà soạn kịch Hoạt động nghệ thuật của Lưu Trọng Lư là hết sức đa dạng và phong phú Những tác phẩm của Lưu Trọng Lư cả trước và sau năm 1945 cho chúng ta đánh giá xác thực về một thế giới quan của tác giả

Lưu Trọng Lư đến với văn học trong một thời đại đầy biến động và chính thời đại như vậy đã sản sinh ra một Lưu Trọng Lư với một thế giới quan phức tạp Tác phẩm nghệ thuật đích thực vốn thấm nhuần sâu sắc tính đương thời (tính thời đại): nó tạo những nét cốt yếu thời đại mình, bất kì với đề tài nào (sự kiện lịch sử hay đời sống riêng tư cá nhân, thậm chí giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên) Những tính thời đại sâu sắc cố hữu đó lại không phải là cái

gì khác hơn là biểu hiện của chủ nghĩa lịch sử trong việc lĩnh hội cuộc sống bằng nghệ thuật

Các tác phẩm văn chương của Lưu Trọng Lư cũng như các nhà văn lãng mạn khác, không phải bao giờ cũng có giá trị nhận thức lịch sử, do bị ngăn cản bởi yếu

tố khách quan Chính vì vậy trong các tác phẩm của Lưu Trọng Lư ngòi bút phản ánh hiện thực của nhà văn hình như còn mờ nhạt Cuộc sống trong các tác phẩm vừa là cuộc sống thực, vừa là cuộc sống mộng ảo

Mang tâm trạng chung của lớp thanh niên tiểu tư sản vào đầu những năm ba mươi, hoang mang và thất vọng trước thời cuộc chính trị, cái tôi trong thơ Lưu Trọng Lư hầu như rất ít mối liên hệ với thực tại mà luôn chìm đắm trong mộng tưởng Màu sắc đường nét của khung cảnh, bóng dáng của con người cho đến thời gian và không gian tất cả đều khá mơ hồ, không rõ nét và không xác định mà bóng loáng trong màn sương của những giấc mộng và kỷ niệm Truớc hết là giấc mộng giang hồ, Lưu Trọng Lư khao khát làm những việc phiên lưu trong đời và trong thơ, trong thiên nhiên, xa lánh cõi trần, đến những “chốn xa xôi” “nơi tuyệt vời” có

Trang 39

những địa danh như không phải là cõi đời thực: suối mây, vườn đào, thần tiên, sông lạnh Mộng, thực ra cũng là một cách trốn tránh và phủ nhận thực tại xã hội đương thời

Hiện thực lịch sử - xã hội qua nhãn quan nghệ thuật của Lưu Trọng Lư mang dấu ấn nhiều hơn ở trong văn xuôi Thời kì đầu, Lưu Trọng Lư viết truyện thần tiên

ma quái và đề tài chủ yếu là tình yêu, có thể nói đây là những câu chuyện phù hợp với giọng văn lãng mạn của Lưu Trọng Lư Những tình yêu không phân biệt giữa thực và mộng, giữa tiên và người, giữa thầy tu và gái điếm… cho ta thấy khuynh hướng lãng mạn là khuynh hướng chính trong sáng tác của Lưu Trọng Lư Càng về sau, ý thức cảm nhận về hiện thực lịch sử - xã hội càng được ghi đậm trong các tác

phẩm văn xuôi của ông Trong tác phẩm Người sơn nhân, dấu ấn của những cuộc

bạo động của phong trào Cần Vương đã qua đi chỉ còn lại dư âm, nhưng người đọc vẫn cảm nhận được hiện thực của xã hội đương thời, cảm nhận được tấn bi kịch của những “kẻ hào kiệt anh hùng” trong thời xã hội loạn lạc Dấu ấn hiện thực lịch sử -

xã hội còn thấy ở những truyện ngắn như Chiêm Thành, Con vú em, truyện dài như Khói lam chiều, Cầu sương điểm cỏ, truyện giả sử Con voi già của vua Hàm Nghi, Chạy loạn Trong tuyện ngắn Chiêm Thành, bức tranh của xã hội Việt Nam thời đế

chế Bồng Nga đại bại được phản ánh qua hình ảnh thu nhỏ cuộc di dời vào phía Nam của xóm Cảo Đa Những người dân Chiêm Thành là những người dân mất

nước : “Rồi thì tiếng mõ giục liên thanh Các xe bò bắt đầu chuyển bánh Dắt già, bồng trẻ, người lẫn với heo, gà, xô đạp nhau, chen lấn nhau, rất lôi thôi, thê thảm Sự bình tĩnh của họ không đủ che lấp những nỗi đau đớn trong lòng ” [4,

tr.72]

Trong đó nổi bật hình ảnh người thanh niên Chứa Văn Tô ngồi khóc: “Lòng bâng khuâng và bồi hồi chàng nhớ đến những đồng ruộng xanh những con cò trắng, những ngày vui vẻ và thái bình Chàng nghe có tiếng kêu thảm thiết ở chốn quê hương Chế Văn Tô đã tung mình trên con đường trở về xóm Cảo Đa”; Rồi chàng chứng kiến “trước mặt chàng bày ra một quang cảnh đìu hiu lạnh lẽo Chàng

Trang 40

nhận thấy những bác lính giáo mác chỉnh tề Họ đi vào làng đốt phá lung tung, ngọn lửa cháy rực một góc trời Cái đoàn sâu keo ấy lại từ đồng ruộng này sang đồng ruộng khác, mổi phen đi qua để lại một đống tai hại cảnh tượng mới thương tâm! Nhà cửa, vườn tược: Một đống tro tàn nguội lạnh.” [4, tr.74]; Chàng thốt lên

“- Không, tôi là kẻ đau đời, một kẻ bơ vơ, một đứa lạc loài, một người dân mất nước Chiêm Thành! Ôi Chiêm Thành tổ quốc!” [4, tr.75] Chàng cảm thấy “dưới gầm trời này chỉ còn một mình chàng là dòng dõi Chiêm Thành và một mình chàng trơ trọi, còn chống chọi với những cơn bão táp cuối cùng” Chế Văn Tô chứng kiến cái chết đau thương trong cảnh loạn li: “Một người thiếu nữ chết nhưng đó chẳng phải là sự tuyệt diệt của nhũng cái hay cái đẹp của một dân tộc Một người thiếu nữ chết nhưng dồn dập tới trong lòng chàng biết bao đau đớn: thương tổ quốc, thương nòi giống, thương những người bất hạnh, thương những kẻ lạc loài ” [4, tr.73]

Một phương diện khá nổi trội trong sáng tạo nghệ thuật của Lưu Trọng Lư -

là một nhà văn có khả năng cảm nhận và biểu hiện đời sống đương thời Trong các tác phẩm văn xuôi của Lưu Trọng Lư nổi bật lên cuộc sống của xã hội đương thời nửa Tây nửa ta, một lối sinh hoạt “mới”, lối sinh hoạt của những lớp người ở chốn thị thành, đăc biệt phản ánh trung thực cuộc sống của giới học sinh Hà Thành Thành phố Hà Nội sớm đi vào truyện của Lưu Trọng Lư với không gian thư viện trường học với những cô nữ sinh Đồng Khánh tinh nghịch

Truyện Cô Nhung, Em là gái bên song cửa, Cô gái tân thời đưa ta trở về với cuộc sống những năm 30 Những nhân vật chính trong các tác phẩm này đang thay “lốt” Họ sống hồn nhiên vô tư một cách tự do của lối sống mới “hiện đại”

Những nhóm lưu học sinh thuê chung phòng trọ, những cuộc hẹn hò du ngoạn chùa Láng Hồ Tây với những tình tự trong sáng tuổi học trò Một Hà Nội với không gian chật hẹp trong những ngôi nhà với cầu thang chật hẹp nhưng chứa đựng bao nhiêu

“kì nguyện” nhất thời của tình yêu, tình mẹ con Em là gái bên song cửa, Cái chết hiếu danh… tất cả đều toát lên một hiện thực đau thương của một xã hội nửa Tây

nửa ta những năm 1930

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Tạ Duy Anh – chủ biên (2001), Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật viết truyện ngắn và ký
Tác giả: Tạ Duy Anh – chủ biên
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 2001
[2] Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (2001), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam (từ cuối thế kỷ XIX đến 1945)
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
[3] Lại Nguyên Ân (1999), 150 Thuật ngữ văn học, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 Thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia
Năm: 1999
[4] Lại Nguyên Ân, Hoàng Minh (2011), Lưu Trọng Lư, tác phẩm truyện ngắn tiểu thuyết, Tập 1-2, Nxb Lao động, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Trọng Lư, tác phẩm truyện ngắn tiểu thuyết
Tác giả: Lại Nguyên Ân, Hoàng Minh
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2011
[5] Antônốp (1965), Viết truyện ngắn, Nxb Văn nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết truyện ngắn
Tác giả: Antônốp
Nhà XB: Nxb Văn nghệ
Năm: 1965
[6] Lê Huy Bắc (2005), Truyện ngắn lí luận tác gia và tác phẩm (1-2), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn lí luận tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[7] Lê Huy Bắc (1998), Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, Tạp chí Văn học (6), tr.66-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại, "Tạp chí" Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[8] Trương Đăng Dung (2004), Tác phẩm văn học như là quá trình, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm văn học như là quá trình
Tác giả: Trương Đăng Dung
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
[9] Đặng Anh Đào (6/1991), “Một hướng đi mới trong hình thức người kể chuyện hôm nay”, Tạp chí văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hướng đi mới trong hình thức người kể chuyện hôm nay”
[10] Trần Thanh Địch (1988), Tìm hiểu truyện ngắn, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu truyện ngắn
Tác giả: Trần Thanh Địch
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1988
[11] Hà Minh Đức Hà - chủ biờn (2003), Lý luận văn học, Nxb Giỏo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức Hà - chủ biờn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[12] Hà Minh Đức (2011), Lưu Trọng Lư – về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo Dục, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Trọng Lư – về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2011
[13] Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[14] Tô Ngọc Hiến (1991), Cái khó của truyện ngắn, Báo Văn nghệ (43) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái khó của truyện ngắn
Tác giả: Tô Ngọc Hiến
Năm: 1991
[15] Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp của truyện, Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2000
[16] Mai Hương (2000), Thơ Lưu Trọng Lư – những lời bình, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Lưu Trọng Lư – những lời bình
Tác giả: Mai Hương
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2000
[17] Phùng Ngọc Kiếm (2000), Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975
Tác giả: Phùng Ngọc Kiếm
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2000
[18] Phan Khôi, Phụ nữ thời đàm, số 5; 15-10-1933 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ thời đàm
[19] Khrapchencô (1979), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học
Tác giả: Khrapchencô
Nhà XB: Nxb Tác phẩm mới
Năm: 1979
[20] Phong Lê (2011), Lưu trọng Lư – người viết văn xuôi, www.cand.com.vn (19/6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu trọng Lư – người viết văn xuôi
Tác giả: Phong Lê
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w