Những hình tượng nhân vật tiêu biểu

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 51 - 61)

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

2.1. ĐẶC ĐIỂM HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

2.1.2. Những hình tượng nhân vật tiêu biểu

Nói đến nhân vật là nói đến tính cách. Trong ý nghĩa chung nhất, tính cách là sự thể hiện các phẩm chất xã hội - lịch sử của con người qua các đặc điểm cá nhân, gắn liền với phẩm chất- tâm lý của họ. Có thể nói, tính cách nhân vật được hiểu như là đặc điểm của nhân vật, là khuynh hướng xã hội và là quy luật hành động của nhân vật. Nhân vật trong tác phẩm văn học khác với nhân vật trong tác phẩm hội hoạ, điêu khắc: nhân vật trong tác phẩm văn

học bộc lộ tính cách thông qua hành động (những việc làm cụ thể, bao gồm cả ngôn ngữ) và bộc lộ trong một quá trình. Ở luận văn này, chúng tôi chia các hình tượng nhân vật trong truyện ngắn Bùi Hiển thành hai kiểu: kiểu nhân vật hành động và kiểu nhân vật tâm trạng.

Kiểu nhân vật hành động là kiểu nhân vật được miêu tả chủ yếu dựa trên thái độ và hành động. Kiểu nhân vật này gặp khá nhiều trong truyện ngắn của Bùi Hiển. Người đọc có thể hiểu được tính cách cũng như tâm trạng của nhân vật này thông qua thái độ và hành động của họ. Ở truyện ngắn Bạc, nhân vật bác Xã và ông Phó được tập trung miêu tả qua hành động. Bùi Hiển thuật lại cuộc ẩu đả của hai nhân vật rất chi tết, sinh động: “Thốt nhiên ông Phó đứng dậy, nắm cái cút lia mạnh vào mặt kẻ địch. Bác Xã nghiêng mình tránh kịp. Cái cút đập vào cột tre, vỡ toang …Bác Xã vụt hất tung cái bàn: ông Phó bị bàn thúc tới ngã ngửa ra, cái chõng theo đà trượt về sau. Ông gượng dậy rất nhanh. Hai người bíu lấy nhau. Bác Xã nắm được cổ ông Phó vít xuống ghì chặt giữa hai bắp đùi, nắm tay lại tha hồ đấm : bác đấm như mưa vào hông, vào bụng, vào chân đối thủ; ông Phó hục hặc đầu rất mạnh cố gỡ.… Bác Xã vẫn thắng thế, giáng nắm túi bụi lên mình ông Phó. Ông này gỡ được đầu ra, vừa định đứng thẳng người dậy, thì lại bị một quả đấm vào hông, chỗ mạng mỡ. Ông “ực” một tiếng, lảo đảo, hơi há miệng. Mắt ông mờ đi, rồi mềm như bún, ông sụp đổ xuống đất, nằm quị im lặng. Bác Xã dừng lại, hai bàn tay còn nắm. Bác đá hất mình ông Phó cho bật ngửa ra, thân hìnhông này giật nẩy rồi từ từ đổ xuống …Bác Xã hất tay mụ, khiến áo bác rách toạc một đường dài, đoạn bác bỏ đi”[40, tr. 9-11]. Cuộc ẩu đả ngày một gay cấn, chỉ khi một trong hai người mất khả năng chống đỡ thì sự việc mới chấm dứt. Bùi Hiển miêu tả chi tiết những hành động của từng nhân vật từ đó dựng nên được một phần tính cách nhân vật. Trong khi xây dựng nhân vật qua thái độ và hành động nhà văn đã sử dụng nhiều động từ mạnh để diễn tả những hành động dứt

khoát, quyết liệt. Việc tái hiện lại những tình huống đánh nhau của các nhân vật, nhà văn muốn nói rằng con người khi không làm chủ được bản thân thì sẽ không kiểm soát được hành động.

Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua thái độ và hành động được nhà văn sử dụng khá nhiều trong những tác phẩm khác như Ông Ba Bị dân chài, Gặp gỡ, Một câu chuyện trong chiến tranh… Trong chuyện Ma đậu, Bùi Hiển miêu tả nhân vật ông lão Năm Xười rất đặc biệt. Lão Năm Xười đặc biệt từ giọng nói đến tiếng cười cho đến khả năng giả giọng người khác. Người đọc có thể nhận biết được tính cách riêng biệt của lão qua hành động cũng như lời nói không thể lẫn với bất kì ai. Thông qua hồi tưởng của chị Đỏ người đọc hiểu thêm phần nào về lão: “Lão nói to lạ thường, giọng ồm ồm, thỉnh thoảng lại cười ha hả rất dài. Tiếng cười nói ấy khiến chị vững dạ”; “Lão có tài đổi giọng đặc biệt. Có lần vào nhà lão chị đã bi một bữa hết hồn khi nghe tiếng chó sủa gâu gâu; chị cuống lên, nhưng không biết con chó ở đâu mà tránh; mãi sau nó mới ló mặt ra, một cái mặt người rỗ chang. Người ta kể chuyện rằng một đêm hè, lão tới chơi nhà hàng xóm, tắt đèn nằm vắt chân chữ ngũ trên giường, lấy giọng con gái hát mấy câu đưa tình. Dăm anh trai tráng mắc lừa lần đến, đứng ngoài cổng hát vào. Hai bên ca tụng nhau là nam thanh nữ tú, là mây, là rồng và hỏi nhau sao không cùng kết giải đồng tâm cho đến khi lão cười phá lên như lệnh vỡ” [7, tr. 75-78]. Hay như trong truyện ngắn Đợi, Bùi Hiển miêu tả từng hành động, cử chỉ nhỏ của Đợi. Chỉ qua một số hành động, sự quan tâm của Đợi dành cho bộ đội Bình ta có thể thấy và cảm nhận được vẻ đẹp nơi tâm hồn cô. Đợi là cô gái chậm phát triển, đã hăm chín, ba mươi rồi nhưng nhìn như đứa bé lên mười. Điều làm cô vui cũng chỉ là những điều hết sức bình dị, đó là cánh đồng bèo tươi tốt, là hạt sương mai lấp lánh đọng lại nơi cánh bèo. Chỉ từng đó thôi cũng đã khiến tâm trạng cô thích thú như trẻ con, cô “vừa thái rau lợn vừa khe khẽ hát”. Nhưng nhiều khi, Đợi

lại biểu hiện là một người chín chắn, biết chăm sóc người khác. Cô quan tâm đến Bình từ những cái nhỏ nhặt nhất:

“- Không, chú về tôi sẽ nấu nồi khác. Để phần cơm rồi nguội mất, ăn lạnh bụng.

- Chú ăn ít thế! Hay tại tôi cho ớt vào mắm, chú ăn không quen?

- Con Đợi nó vừa bàn mẹo với tôi đấy. Nó bảo từ rày cứ dọn cơm trước, kẻo chú ăn sắn ngang bụng rồi cơm không ăn được mấy hột.

- Chú phải ăn nhiều lên chớ. Mấy bữa nay chú gầy đi đấy, chú Bình ạ.

- Chú rủi về mấy bữa lại gặp ngày động biển, chị tôi sang tận chợ huyện mà cũng không mua được chi ăn. Sao chú không về sớm sớm, chà, dạo ấy dưới kẻ biển được mùa, tụi tôi bữa nào cũng cá, cá trích, cá đốm ăn ê chề.

- Mặc áo lành thì không có khách, mặc áo rách lại gặp người thương”

[7, tr. 404- 405].

Nhân vật Đợi hiện lên rõ nét hơn qua những cuộc hội thoại của ba nhân vật: cô, chị Minh, Bình. Dù không trực tiếp miêu tả tính cách, bản tính của Đợi nhưng người đọc có thể biết được Đợi là một cô gái hiền lành, biết cách quan tâm chăm sóc người khác, tính cách của cô đôi lúc như một đứa trẻ nhưng đôi khi lại rất chín chắn trưởng thành. Nhà văn không đi sâu vào miêu tả diễn biến tâm trạng mà chỉ miêu tả qua thái độ, hành động, lời nói để người đọc tự khám phá nhân vật.

Có thể thấy trong những sáng tác của mình, tác giả rất ít khi tập trung miêu tả ngoại hình nhân vật. Có chăng thì chỉ là phác họa vài đặc điểm nổi bật về ngoại hình để lý giải hành động, tính cách đó. Khi xây dựng nhân vật, Bùi Hiển thường thiên về miêu tả hành động. Có lẽ vì thế tính cách của nhân vật có điều kiện bộc lộ rõ nét nhất. Ở truyện Nằm vạ, anh Đỏ vốn là một anh chài khoẻ mạnh, bản tính thật thà nhưng lầm lì, ít nói, vụng về trong giao tiếp, khi nóng giận đối xử với vợ hơi thô lỗ khiến chị Đỏ buồn lòng: “Anh Đỏ

chẳng nói chẳng rằng, vứt mảng lưới anh đang vá, xông tới túm lấy vợ trong hai bàn tay sắt, lôi xềnh xệch vào buồng; đoạn anh ném vợ xuống đất, như ném một đống giẻ rách… Anh đạp vào mông vợ mấy cái, đoạn bỏ ra” [7, tr.

50]. Nếu như tính cách nhân vật được Bùi Hiển khắc hoạ chủ yếu qua các hành động thì tính cách của nhân vật của Tô Hoài (Truyện Nhà nghèo- Tô Hoài) chủ yếu bộc lộ qua lời nói. Trong cơn nóng giận, anh chồng dùng lời xấu xa nhất để mắng vợ, doạ vợ. Nhà văn Kim Lân (Truyện Cơm con- Kim Lân) khi xây dựng tính cách nhân vật thường để nhân vật bộc lộ qua lời nói.

Cách viết có phần đơn giản, nhà văn cho nhân vật chính thể hiện tính cách qua đối thoại. Đây là điều khiến nhân vật của Bùi Hiển khác với nhân vật của Tô Hoài, Kim Lân. Các nhà văn này lại chú trọng về hình thức đối thoại hay nói cách khác là cho nhân vật bộc lộ tính cách qua lời nói.

Sau Cách mạng tháng Tám, khi xây dựng hình tượng, Bùi Hiển không chỉ dùng lối kể chuyện hoặc tường thuật hành động và sự việc xảy ra một cách đơn giản, mà cố gắng khắc hoạ đến từng chi tiết mọi biểu hiện chiều sâu của nó. Cuộc mua bán giữa bà cụ và o Nết giữa chợ được nhà văn Bùi Hiển vẽ lại bằng những đường nét tỉ mỉ, sinh động gây được ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. “Bà cụ cầm cái gáo nhỏ xíu làm bằng hột quả vải khoét rỗng, thong thả khuấy tròn trong liễn dầu đặc sánh, múc một gáo rót vào trong chén.

Màu dầu dừa xanh ngọc thạch óng lên trong chiếc chén hạt mít men trắng tinh.

- Thêm vô, mệ nờ

Bà nhà hàng cầm gáo khẽ chao lên mặt liễn dầu, rồi giơ hơi cao cái gáo, để cho một dòngnhỏ li ti, như một sợi dây xanh óng ả, lất phất tuôn vào chén, miệng nói:

- Được rồi đó, con nờ.” [7, tr. 340].

Tác giả sử dụng ngôn ngữ địa phương trong từng câu văn hết sức nhẹ nhàng và khéo léo khiến câu chuyện trở lên cuốn hút hơn. Cuộc mua bán không chỉ cuốn hút những người chứng kiến mà còn cuốn hút cả người đọc.

Chưa dừng lại ở đó, Bùi Hiển tiếp tục miêu tả: “Bỗng dưng, rất là bất ngờ, chị giơ hai tay khoảnh ra sau đầu, xổ cái búi tóc tròn nặng. Mớ tóc đen dày sổ bật ra, trải xoà gần khắp tấm lưng béo lẳn và buông chấm đất. Chị lấy ngón taytrỏ chấm vào chén dầu, thoa lên tóc rồi móc túi lấy một cái lược nhựa vàng, khẽ nghiêng đầu chải. Chị chải thong thả, mắt nghé nhìn cảnh mua bán chung quanh. Mớ tóc dưới nhát lược dần dần mượt óng lên, từ đoạn sau gáy trở xuống gợn từng đợt sóng ánh màu nâu biếc. Rồi cũng rất nhẹn như khi xổ tóc, mấy ngón tay chị ngút ngoắt như múa vén mớ tóc lên búi lại. Tay chị nắn đi nắn lại búi tóc cho tròn và cân, rồi chị găm luôn chiếc lược nhựa vàng lên gốc búi” [7 tr. 340-341].

Người đọc tưởng như đang được đối diện, được quan sát từng động tác của nhân vật. Nhân vật của Một câu chuyện trong chiến tranh đã được khám phá ở góc độ động, luôn thay đổi cử chỉ, hành động. Mỗi nhân vật của Bùi Hiển đều có những nét đặc điểm ngoại hình riêng. Bằng tất cả sự trải nghiệm và tài quan sát, Bùi Hiển đã ghi lại được những câu văn rất gợi hình, gợi cảm.

Mặt khác, nhà văn lại chú trọng tìm ra cái cử chỉ, điệu bộ riêng biệt nhất của nhân vật. Nhớ về o Nết, Sảng nhớ nhất là: “Hai bàn tay tròn lẳn nâng bát nước chè một cặp mắt ngước nhìn lên như muốn nói: “Anh Sảng, tôi biết rõ tên anh rồi nờ… Cái ngón tay út chìa ra cong cong…” [7, tr. 348]. Nhà văn cũng để cho Sảng hồi nhớ về người vợ đã mất của mình: “Ngón tay út chìa ra cong cong, hai bàn tay nhỏ sẽ sàng nâng chén đậu hũ đặt lên mặt bàn chất cao một đống vở học trò. Một cặp mắt ngước nhìn âu yếm. Tà áo dài đen uyểnchuyển, chiếc đòn gánh dẻo mềm khẽ đu đưa trên vai. Tiếng guốc lanh canh của người vợ xa dần, xa dần… ” [7, tr. 347-348].

Khi miêu tả mấy đứa con chị Minh tác giả chỉ cần dùng vài từ “… đứa nào đứa nấy tròn như hạt mít” [7, tr. 394]. Khi cần nhấn mạnh đặc điểm ngoại hình của một người, Bùi Hiển cũng chỉ cần dùng một câu văn. Chẳng hạn như trường hợp nhà văn miêu tả nhân vật Bạc Hói: “Hắn hói mất nửa đầu, nên có biệt danh ấy” [74, tr. 151].

Nhà văn Bùi Hiển đã rất thành công trong việc xây dựng nhân vật thông qua lời nói, thái độ và hành động. Tuy nhiên, việc xây dựng nhân vật của Bùi Hiển chủ yếu vẫn là kiểu nhân vật tâm trạng.

Nhân vật tâm trạng là kiểu nhân vật được nhà văn tập trung miêu tả diễn biến tâm trạng để từ đó làm nổi bật lên một phần tính cách, con người của chính mình. Khi viết về quê hương, nhà văn Bùi Hiển không đi sâu vào miêu tả cuộc sống nghèo khó và đặc điểm tính cách “ăn sóng nói gió” của những người dân biển. Nhà văn Bùi Hiển không hề thi vị hoá cuộc sống, cũng không khắc sâu cái nghèo khó, cơ cực của người dân nơi quê ông. Nhưng điều kiện sống khó khăn, vất vả đã tác động mạnh mẽ đến tâm hồn con người.

Bằng sự nhạy bén của người cầm bút, nhà văn rất tinh ý nhận ra những đăm chiêu, sự lo lắng cũng như sự giằng xé nội tâm trong mỗi người dân nơi đây.

Từ tuyện ngắn đầu tay Nằm vạ, nhà văn đi sâu khai thác diễn biến tâm trạng của nhân vât. Nhân vật thể hiện thành công nhất đó là chị Đỏ. Chị Đỏ giận chồng nằm vạ bảy, tám ngày trong buồng tối vì bị chồng mắng. Thực ra chị nằm vạ cốt là để mong ở chồng có một cử chỉ, thái độ năn nỉ, xin lỗi vì cái hành động thô lỗ của mình. Khoảng thời gian nằm vạ, dù có nằm dưới nền nhà lạnh, ẩm mốc, bụng thóp lại vì đói và nằm co lại “như con chuột chết” thì chị vẫn tự độc thoại và có những suy nghĩ rất thực. Có lúc chị đã nghĩ thầm:

“Mình mà chết thì cũng rầy với mình! Quan khám, lệ hạch, rồi họ cũng đến lo mà chết luôn thôi! Ừ mình cứ nằm đây, không vào bồng dậy mà chớ ” [7, tr.

52]. Rồi sau khi vô tình phát hiện được bao khoai khô dưới gầm giường thì

cái dự định nằm vạ phục thù của chị càng kéo dài hơn. Chị dự định sẽ “nằm dài ra đó, ít ra cho đến lúc còn trơ lại cái chóe... Đã có lúc chị nghĩ: “Hay là họ cứ để mình nằm thế này cho đến chết đói?” Và giận dữ sôi lên trong lòng, chị lại nghĩ đến chuyện cắn luỡi” [7, tr. 55]. Rồi khi chị nghe “Tiếng bát đĩa lách cách dưới bếp làm nao lên trong lòng chị một niềm giận dữ” [7, tr. 53].

Trong lòng chị Đỏ luôn có những tình cảm lẫn lộn. Có lúc chị hậm hực với những cử chỉ thô bạo của chồng. Có lúc chị bực tức với thái độ của mẹ chồng.

Thậm chí chị còn giận cả với chính mình. Nhưng sâu thẳm trong tâm hồn của chị, chị vẫn yêu thương chồng tha thiết. Khi nhìn thấy chồng mặc áo dài thì chị “vờ cúi mặt, liếc nhìn qua mớ tóc rối trên trán và cười ngắm những cử chỉ ngây ngô của chồng. Chị nhớ lại hôm cưới, anh Đỏ ngượng nghịu trong cái áo lương độ ấy còn mới nguyên và cái quần cứng đét hồ, thì thụp lạy trước bàn thờ. Chị bất giác cười lên tiếng” [7, tr. 58]. Dù có giận dỗi, nằm vạ chồng nhưng kì thực chị Đỏ vẫn rất yêu thương chồng, không thể giận dỗi chồng quá lâu. Xuyên suốt câu chuyện là diễn biến tâm trạng của nhân vật chị Đỏ. Từ việc miêu tả tâm trạng, Bùi Hiển đã hé mở cho người đọc phần nào tính cách của nhân vật này. Đến cuối người đọc cũng đã nhận ra chị Đỏ vẫn là người mang trong mình sự mềm yếu, vị tha, nhường nhịn vốn có của người phụ nữ.

Truyện ngắn Chị Mẫn, Bùi Hiển còn diễn tả tâm trạng của người phụ nữ goá chồng trước quyết định tiến tới cuộc sống gia đình với nhân vật Nhương. Nhất là khi Nhương lại là tổ trưởng của chị nên xoay quanh đó phát sinh khá nhiều vấn đề khác. Chị cũng có những suy tính cá nhân, những hờn giận vu vơ, và cả cái xao xuyến, bẽn lẽn khi tiếp nhận tình yêu. Chị sở hữu tất cả trạng thái cảm xúc đó y như cô gái đôi mươi mới yêu lần đầu. Bùi Hiển đã nhìn thấy vẻ đẹp và tâm trạng của cô gái đang yêu. Nhà văn đi vào khai thác sự bực tức, sự hờn ghen của chị Mẫn với cô gái trẻ tên Thảo. Việc phân công lao động của anh Nhương, đã làm cho chị không bằng lòng. Trong đầu chị

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 51 - 61)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)