CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN
2.2. KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN
2.2.1. Đặc điểm không gian nghệ thuật
Không gian là một khoảng không bao trùm mọi vật trong cuộc sống của con người, mọi sự vật xung quanh con người. Khi đi vào nghệ thuật thì không gian được cách điệu ít nhiều. Không gian nghệ thuật là một khái niệm dùng để chỉ một yếu tố hình thức của tác phẩm- một hình tượng nghệ thuật được hình thành qua sự mô tả của nhà văn, thông qua cảm nhận của nhà văn về thời gian hoặc được xác định bởi cách quan sát, chỗ đứng, khoảng cách giữa nhà văn và nhân vật. Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối không được quy vào không gian địa lí. Không gian nghệ thuật không chỉ cho thấy cấu trúc của tác phẩm cho thấy quan niệm về thời gian, cách cảm thụ thời gian của tác giả, nó cung cấp tính khách quan cho việc khám phá sự độc đáo của hình tượng nghệ thuật.
Nếu thế giới nghệ thuật là cái nhìn có ý nghĩa thì không gian nghệ thuật mở ra một điểm nhìn, không gian ấy có thể rất rộng, có thể rất hẹp, có thể vừa phải. Không gian nghệ thuật mang tính chất ước lệ khi diễn đạt tình cảm, nỗi xúc động… nào đó.
Tóm lại, không gian nghệ không những cho thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, mà còn cho thấy những quan niệm về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay một giai đoạn văn học. Nó cung cấp cơ sở khách quan để khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại
hình của các hình tượng nghệ thuật. Vì vậy không thể tách hình tượng ra khỏi không gian mà nó tồn tại.
Trong truyện ngắn của Bùi Hiển qua các thời kì sáng tác đều là không gian hẹp, ít có sự mở rộng. Trong bối cảnh không gian hẹp như vậy, nhà văn dựng lên không gian sinh hoạt giới hạn trong một gia đình nông thôn ở làng quê nghèo, không gian nơi công sở, không gian một vùng đô thị nhỏ. Có chăng về sau thì ông mở rộng không gian nhưng không gian đó bó hẹp từ không gian này qua không gian khác. Và dù có mở rộng không gian nơi chiến trường nhưng lại thu hẹp vào trong cá nhân. Không gian đó lại “được tái hiện qua tâm tưởng, dòng suy nghĩ của nhân vật, đó là sự mở rộng về chiều sâu hướng vào trong chứ không theo bề ngang và hướng ra ngoài” [8, tr. 562]
Ta có thể bắt gặp không gian bó hẹp trong từng gia đình ở một vùng quê nghèo qua Nằm vạ, Ma đậu, Thằng Xin, Một người thanh niên… Trong truyện Nằm vạ, không gian giới hạn trong gia đình chị Đỏ và thu gọn lại trong căn buồng của anh chị. Chỉ giới hạn trong một không gian hẹp, ẩm mốc nhưng chính trong không gian đó đã nảy sinh biết bao sự việc. Có thể nói đó là không gian bám trụ để chị Đỏ nằm vạ bảy ngày. Trong suốt bảy ngày đó chị đi từ tâm trạng, suy nghĩ này qua tâm trạng, suy nghĩ khác. Từ động tác người chồng lấy mảnh buồm rách làm rèm che lỗ hổng chị đã thấy ấm lòng và định thôi nằm vạ nhưng chị cố làm căng vì muốn thắng mẹ chồng. Rồi cũng từ căn buồng này, chị vô tình phát hiện hũ khoai xát để giúp chị cầm cự thêm mấy ngày. Dường như chị cầm cự nằm vạ cũng được mấy ngày đầu vì đến gần cuối thì cái ý định thôi nằm vạ cũng bị lung lay, chị rón rén ngồi dậy “lê đến cạnh vách ghé mắt vào lỗ hổng nhìn ra sân”. Rồi chị đợi ngày ông lý tới để xét xử hòa giải, chị đợi người ta vào buồng nhấc chị ra nhà. Tất cả được dựng lên như một màn kịch có sự chuẩn bị sẵn đã biết trước kết thúc. Câu chuyện chỉ xoay quanh chuyện nằm vạ trong một không gian như thế thôi
nhưng người đọc cứ cố đọc hết để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Và kết thúc cũng đơn giản không kém đó là sự đoàn tụ vợ chồng. Bùi Hiển khéo léo dựng thêm một đoạn cuối việc chị Đỏ về nhà mẹ đẻ lấy trộm mẻ khoai xát khô để hoàn lại cái hũ khoai mình đã ăn vụng. Hài hước hơn khi mẹ chồng chị phát kiến với chị một điều mới mẻ: “Mẹ Đỏ này, cái chóe khoai mình nút không chặt để gió vào, thành thử cả lớp khoai trên hằn xạm đen mặt lại” [7, tr. 59].
Trong truyện Ma đậu, không gian xoay quanh ngôi nhà chị Đỏ Câu.
Chị vốn chê chồng nên về nhà chồng đã năm sáu tháng mà chị chỉ ở trọn đạo làm dâu chứ không trọn đạo làm vợ. Tối tối chị ngủ một mình bên chiếc võng cạnh khung cửi. Vì trong làng có bệnh dịch nên chồng chị kêu lão Năm Xười về ngủ canh giữ cho ma đậu không vào nhà. Câu chuyện xoay quanh trong không gian bó hẹp. Tối đến, lão lại kể chuyện ma đậu hoành hành cho chị Đỏ Câu nghe khiến chị hết hồn. Kể xong chuyện ma đậu ghê gớm như thế nào thì hôm sau lão đòi về nhà thăm con, chỉ còn mình chị với chồng. Đêm đến, chị cố gắng dệt cửi thật khuya, thắp đèn sáng nhưng rồi không chịu nổi cơn buồn ngủ, chị tắt đèn ngả lưng xuống chõng. Trong giấc ngủ, chị nghe thấy tiếng cào tường, nghe tiếng “khìn khịt”, tiếng giậm đất mạnh mẽ, bịch… bịch. Nỗi ám ảnh về ma đậu khiến chị sợ tái xanh, quên hết mọi chuyện chạy qua buồng chồng. Thế rồi từ đó chị Đỏ không nằm riêng nữa “Và hơn một năm sau người ta thấy chị bồng một đứa bé hồng hào” [7, tr. 81]. Câu chuyện chỉ xoay quanh chuyện chị Đỏ Câu chê chồng, chuyện anh chồng cùng lão Năm Xười cấu kết hù dọa chị Đỏ để hàn gắn chuyện tình cảm vợ chồng… Tất cả tình tiết câu chuyện diễn ra trong không gian hẹp như thế nhưng rất tự nhiên. Không gian căn phòng là kiểu không gian xuất hiện nhiều và phổ biến trong các sáng tác của nhà văn.
Nếu không gian có mở rộng thì nó cũng giới hạn trong một làng quê mà cụ thể là làng quê chài ven biển- quê hương Phú Nghĩa Hạ của nhà văn. Đây
là nét riêng của Bùi Hiển với những nhà văn khác cùng thời. Tác giả dựng lên một không gian nhỏ hẹp với những mảnh đời bé nhỏ, sống âm thầm qua ngày tháng. Nhà văn đi vào miêu tả không gian, khung cảnh sinh hoạt của mọi người trong làng quê từ bên ngoài vào bên trong, rồi lại từ trong ra ngoài, từ những vật dụng nhỏ nhặt, chi tiết nhất. Không gian ban đầu từ ngoài nhìn bao quát tới một xóm nhỏ ven sông nhà văn thấy “Con đường sù sì lên những đá và đất đỏ. Những đàn con nít, phần nhiều có một giải bùa vàng buộc ở cổ áo dỡn nhau giữa đường, chửi đùa nhau cũng đã khá thô tục. Một đứa bé tí lem luốc bước trên hai cẳng chưa vững và khóc bi be. Vài con chó chạy nhong nhong, củi ngửi bã mía” [7, tr. 149]. Cái nhìn của nhà văn bắt đầu đi vào một không gian nhỏ hơn, và chi tiết hơn: “Hai dãy nhà lụp sụp nối dài, cửa che bằng phên chống nghiêng nghiêng hoặc bằng mành tre rất to nan. Trên giậu giâm bụt, vắt phơi trơ trẽn những quần áo bẩn thỉu, yếm váy vá chằng đụp”.
Sau khi đi vào chi tiết trong từng ngõ hẻm, bờ rào của một số ngôi nhà cụ thể nào đó nhà văn lại hướng cái nhìn ra dòng sông, ra cảnh sinh hoạt của người dân trên dòng sông ấy. Đó là cảnh chung một dòng sông nước vàng đục, người vo gạo, người rửa rau, người giặt váy yếm, người giặt chiếu. Trên bờ thì “Nước đọng vũng, mấy con vịt đến khoắng mỏ lục sục, hơi bùn tanh nhạt, có khi thối hoắc, xông lên mũi” [7, tr. 150].
Đối lập với không gian với cuộc sống cơ cực của ngư dân là không gian biển lớn bao la. Nếu không gian làng quê càng yên ả, càng nhỏ bé bao nhiêu thì không gian biển càng rộng lớn, bao la mênh mông bấy nhiêu. Bùi Hiển miêu tả không gian biển trong Chiều Sương gợi cảm giác choáng ngợp trước sự hùng vĩ, hung dữ, bao la của biển khơi. Không gian biển khơi thoáng đãng, rộng lớn với sóng, với gió...: “Càng xa bờ, gió càng mạnh, như dậy từ bốn phương của khoảng rộng” [7, tr. 64]; “Gió từ bờ thổi ra, thuyền cố vát. Sóng vùng lên, cuốn réo, đuổi dồn nhau, va vào nhau tóe bọt, ngụp xuống, trào lên,
đã lấy một sức mạnh hỗn độn và bất ngờ trong gió vừa cuồng lộng thổi. Buồm vát không ăn gió, xương buồm đánh cành cạch lên cột, có khi cọ vào gỗ rít ghê tai” [7, tr. 66].
Nếu như không gian làng quê ven biển với cuộc sống của những con người bé nhỏ, gói gọn trong một vùng quê, xóm nhỏ thì không gian rộng lớn ngoài biển khơi hết sức hung dữ. Những ngày nổi gió, biển cả như là hung thần sẵn sàng nhấn chìm những tàu thuyền đi biển và cả những con người khốn khó đang mưu sinh. Bùi Hiển đã dựng lên hai không gian đối lập nhau để làm tăng thêm những khó khăn mưu sinh, sự khắc nghiệt của thiên nhiên mà người dân biển quê ông phải đối mặt. Trong Một trận bão cuối năm, Bùi Hiển đã miêu tả cái không gian biển cả khi có bão thật hung dữ: “gió nổi dậy, như đến từ một nơi nào xa lắm… Nghe tiếng khua động lạo xạo sắc nhọn của những cành lá như làm bằng thép; rồi một cái miệng vĩ đại nào thổi từng luồng hơi trongkhông rất dữ dội. Tiếng mưa râm ran bao la… Đây thực là một trận mưa thu đột ngột, lộng những cơn gió mạnh ray rứt. Bầu trời chứa đựng một nỗi tức giận gì đang muốn nổ bật ra.
… Quá nửa đêm, gió lên mạnh. Ngoài kia bể réo sôi, sự náo động của những sức mạnh phi thường, bởi diễn trong bóng tối dầy, càng rợn một sự dọa nạt ghê sợ” [7, tr. 84]. Bùi Hiển còn khắc họa sự hung dữ đáng sợ đó ở trong đất liền, nơi những người dân quê ông đang sinh sống: “Gió mạnh như thu góp tự bao giờ, thổi từng trận, bạt ngang trận mưa. Người ta nghe tiếng vặn mình kẽo kẹt của những túp lều không chắc chắn. Bỗng một vật gì đen đen bay sớt tường rồi rơi sà xuống: đó là một miếng tranh bị bóc từ mái nhà bên cạnh. Biển cả càng vang tiếng rầm rộn âm u. Sóng mạnh đánh vào các hốc đá, không khí bị ép nổ đùng đùng như sung” [7, tr. 84]. Đi qua cơn bão là cảnh xơ xác tiêu điều, là cảnh tang thương của nhà nào có người đi biển tử nạn.
Cuộc sống chồng chất khó khăn và vô số điều khắc nghiệt mà người dân phải
hứng chịu. Khi miêu tả không gian làng quê nhỏ bé, yên bình còn không gian vũ trụ bao la rộng lớn hung dữ, Bùi Hiển đã cho ta thấy được cuộc sống của những người dân nghèo, của những ngư dân ven biển. Đó không phải là cuộc sống của người dân làng Phú Nghĩa Hạ mà còn là cuộc sống chung của những người dân ven biển miền Trung.
Bên cạnh đó, Bùi Hiển còn miêu tả sự di chuyển giữa không gian hẹp này qua không gian hẹp khác qua các câu chuyện như Người chồng, Cái đồng hồ, Hai anh học trò có vợ… Trong truyện ngắn Người chồng, ở không gian công sở, người chồng thể hiện mình như là một kẻ nhu nhược, dúm dó không giám lên tiếng bảo vệ bản thân thì về đến nhà anh ta lại biến mình thành một kẻ có quyền uy, khác hẳn khi ở chỗ buồng sở. Sau một ngày làm khúm núm ở buồng sở lục lộ thì khi về đến nhà anh thấy “đồ đạc tầm thường, dệch dẹo trong phòng, vật sở hữu của anh, được sắp đặt trong cái trật tự do ý định anh, thì con người anh bỗng nhiên nở bùng; hơi thở nhẹ nhõm hẳn đi; anh thấy mình là chủ, anh biết mình có thể làm tất cả mọi thứ, nói bất cứ gì, và có thể mở toang cửa cho những cơn tức giận, càng dữ dội bởi đã bị đè nén” [7, tr.127]. Anh ta tự cho mình có quyền quát tháo, mắng nhiếc vợ. Hai không gian khác nhau cũng làm nảy sinh tính cách khác nhau trong một con người.
Sau Cách mạng tháng Tám không gian này thu hẹp vào trong cá nhân.
Không gian được tái hiện qua tâm tưởng, dòng suy nghĩ của nhân vật. Đó cũng chính là sự mở rộng về chiều sâu hướng vào trong chứ không theo bề ngang và hướng ra ngoài. Những truyện ngắn này có khuynh hướng miêu tả tâm lý nhân vật hơn là miêu tả hành động, nhiều truyện có dáng dấp hồi ký.
Ở các truyện này nhà văn xem không gian như là một yếu tố, chất liệu để nhân vật tố hồi tưởng. Kiểu không gian này được thể hiện rõ nét qua Nhớ về một mùa thị chín và những tia lạc, Kỉ niệm người con đi xa, Ý nghĩa ban mai, Hạt vàng, Dọc đường… Cuộc gặp gỡ giữa hai cha con cùng chung chiến
trường trong Kỉ niệm người con đi xa đã làm sống lại hồi ức xa xăm về kỉ niệm tuổi thơ của đứa con trai trong lòng người cha. Cho nên ngoài cuộc đối thoại trực tiếp giữa hai cha con, còn hàm chứa một cuộc đối thoại ngầm. “Khó mà nhớ hết bố con tôi đã nói những gì, bây giờ nghĩ lại, cái ấn tượng trội nhất là một ấn tượng tràn đầy chan chứa, cứ như trong hai ba tiếng đồng hồ hai bố con đã khơi gợi đến đủ mọi thứ sự việc lớn nhỏ trên đời… Dưới những lời trao đổi nhiều khi ngắn ngủi, còn có một câu chuyện thầm; những giây im lặng lại càng xao rộn bao ý nghĩa, bao liên tưởng gần gũi hoặc xa xôi đột ngột, bao kỷ niệm riêng chung…” [7, tr. 476- 477].
Trong các tác phẩm của mình, Bùi Hiển có xu hướng lựa chọn những không gian bó hẹp và ít có sự thay đổi để làm nổi bật nên tính cách cũng như cuộc sống của chủ thể. Đó cũng là một nét rất riêng trong sáng tác của nhà văn.