Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 96 - 107)

CHƯƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM THẾ GIỚI HÌNH TƯỢNG TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

3.3. NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU NGHỆ THUẬT TRUYỆN NGẮN BÙI HIỂN

3.3.2. Đặc điểm giọng điệu nghệ thuật

Giọng điệu là một phương tiện cơ bản cấu thành hình thức nghệ thuật của văn học. Đây là thứ hình thức nghệ thuật mang tính quan niệm, nó là thước đo không thể thiếu để xác định tài năng và phong cách độc đáo của một nhà văn, nhà thơ. Giọng điệu vừa liên kết các yếu tố hình thức khác nhau, làm cho chúng cùng mang một âm hưởng nào đó, vừa là chỗ dựa chính để các yếu tố của tác phẩm quy tụ lại và định hình thống nhất với nhau theo một kiểu nào đó, trong chỉnh thể giọng ấy mỗi yếu tố hiện ra rõ hơn, đầy đủ hơn, thậm chí mới mẻ hơn.

Giọng điệu là một yếu tố cơ bản của phong cách nghệ thuật. Một nhà văn tài năng bao giờ cũng phải tạo được một giọng điệu độc đáo, riêng biệt.

Giọng điệu gắn với cảm hứng chủ đạo, giọng điệu góp phần tăng giảm hiệu suất cảm xúc của tác phẩm văn chương. Theo Lê Bá Hán thì “Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền cảm cho người đọc” [14, tr. 134]

Khi viết truyện ngắn, Bùi Hiển có một giọng văn riêng không lẫn vào đâu được. Đó là “giọng văn chừng mực xen lẫn một nụ cười nhẹ nhàng, hóm

hỉnh rất có duyên” [8, tr. 563]. Vốn là một con người tĩnh lặng và nhạy cảm trước cuộc sống, nhà văn cũng viết nhiều truyện ngắn thể hiện sự đồng cảm, sẻ chia. Bên cạnh những truyện ngắn pha chút hài hước, những đoạn văn tả cảnh nhẹ nhàng, ta vẫn gặp giọng văn sẻ chia sâu sắc trước nỗi đau mất mát của người dân lao động nghèo. Có khá nhiều giọng điệu trong phong cách viết của nhà văn, nhưng ở bài luận văn này, chúng tôi đi vào khai thác, tìm hiểu hai giọng điệu cơ bản trong truyện ngắn Bùi Hiển đó là: Giọng điệu trữ tình, đằm thắm và giọng văn hài hước, dí dỏm.

Nhiều truyện ngắn trước Cách mạng tháng Tám ta vẫn bắt gặp một số đoạn văn Bùi Hiển thiên về tả cảnh. Đó đều là những đoạn văn có câu văn ngắn, kết cấu cân đối, sử dụng nhiều âm bằng và từ láy tạo nên một chất giọng nhẹ nhàng, nên thơ. Giọng điệu trữ tình đằm thắm này có thể thấy rõ trong việc tả cảnh và tả vẻ đẹp trong cảm xúc trong tâm hồn từng nhân vật.

Dù là nhà văn hiện thực nhưng không phải Bùi Hiển không màng đến vẻ đẹp của thiên nhiên, quê hương, làng xóm. Mở đầu truyện ngắn Chiều sương, Bùi Hiển miêu tả không gian tĩnh lặng xen lẫn tâm trạng phảng phất chút buồn man mác của nhân vật: “Vào một chiều trung tuần tháng giêng, chàng trai ấy lang thang trong những ngõ hẻm vắng. Chàng đi không mục đích, hồn lặng thấm cái êm ả lắng tự vòm trời trắng hơi biêng biếc như dát bạc, cái êm ả của những cuối ngày thôn dã. Chàng đi và nghĩ đến trăm điều vu vơ, những ý nghĩa thoáng qua trong trí rồi vỗ cánh bay đi, như những con bướm đa tình vội hôn đóa mây này để đến với hoa kia” [7, tr. 60]. Đọc đoạn văn trên chắc hẳn nhiều người đọc sẽ rất ngạc nhiên khi không ngờ Bùi Hiển cũng có những đoạn văn thiên về tả cảnh, ngôn từ trau chuốt mượt mà đến thế. Chưa dừng lại đó, nhà văn lại tiếp tục đưa người đọc đến khung cảnh, tâm trạng khác: “Trời không lạnh lắm, nhưng hơi sương ngấm vào mình: chàng trai lẳng lặng trong tâm hồn buồn, cái buồn tê tái và mang mang, cái buồn ôm

trùm như kết bằng những sầu thảm nào mơ hồ và đã xa xôi lắm, tưởng tượng hay là thực, chàng cũng không biết nữa. Hơi ẩm đọng trên mi, chàng tưởng nước mắt rưng rưng.

Chàng đi lang thang, mặc hồn lang thang… Sương bay từng luồng, hạt sương bám khẽ vào da mặt như một làn phấn bụi” [7, tr. 61].

Hình ảnh thiên nhiên trong một buổi ciều sương trung tuần tháng giêng vô hình dung trở thành hình ảnh của thơ. Bên cạnh cái “vòm trời trắng hơi biêng biếc như dát bạc” Bùi Hiển đi vào miêu tả tâm trạng của nhân vật.

Phải là người tinh tế, có sự nhạy cảm lắm mới thấy được cái buồn tê tái”

“cái buồn ôm trùm như kết bằng những sầu thảm nào mơ hồ và đã xa xôi lắm” trong lòng người. Cách viết trau chuốt, giọng văn như chùng xuống, gợi ra một không gian tĩnh lặng, yên ả như không gian thơ trong Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan của Thạch Lam. Tất nhiên cái độ thơ này không thơ bằng truyện của Thạch Lam. Bởi vốn dĩ Thạch Lam là nhà văn của chủ nghĩa lãng mạn. Văn chương Thạch Lam luôn có sự hài hòa giữa thiên nhiên và tâm trạng, giữa cảnh và tình. Truyện ngắn của Thạch Lam bao giờ cũng đậm chất thơ, chất trữ tình. Còn Bùi Hiển là nhà văn thiên về hiện thực, là nhà văn của những người dân nghèo Nghệ Tĩnh- Thừa Thiên nên ta chỉ gặp chất trữ tình, đằm thắm này ở một số đoạn văn xen kẽ trong tác phẩm mà thôi. Chính sự kết hợp thú vị này làm văn phong Bùi Hiển sinh động, đa dạng hơn.

Đọc truyện ngắn Bùi Hiển, ta có thể thấy nhiều đoạn văn ông thiên về tả vẻ đẹp của làng quê Nghệ Tĩnh. Đó là nơi có “Một con sông xanh lờ mộc mạc. Con sông nước mặn làng quê” [7, tr. 503]. Đó là dòng sông quê nuôi dưỡng biết bao tâm hồn trẻ thơ, là dòng sông quê với biết bao kỷ niệm. Nhà văn đi sâu vào miêu tả cái cảm giác khi được vùng vẫy trên con sông quê:

“Làn nước vội mở đón chúng tôi, một cảm giác ve vuốt ôm trùm khắp da thịt, lúc đầu hơi ấm nồng nàn. Càng thụt sâu, một luồng mát lạnh trườn nhanh từ

chân lên đến tận ngực, đầu. Như nước đá. Khoái vô kể. Người cứ nhẹ dần, lững lờ, tênh tênh” [7, tr. 503]. Hiếm có đoạn văn nào miêu tả cái cảm xúc khi tắm trên dòng sông quê hương như thế. Đọc đoạn văn này, người ta liên tưởng ngay đến những đoạn thơ đầy nhạc điệu. Dòng cảm xúc này không khác dòng cảm xúc của Tế Hanh trong Nhớ con sông quê hương là bao:

“Tôi giơ tay ôm nước vào lòng Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển Vẫn trở về lưu luyến bên sông…”

Những cảm xúc trong trẻo, những kỷ niệm tuổi thơ lại ùa về trong mạch văn của Bùi Hiển: “Trên đầu, cành lá phi lao rào rạt nghiêng ngả. Gió thoảng vị mằn mặn thổi phụt từng luồng… Những cành lá dài lua tua cứ quét đi quét lại mãi chiếc sân nhà trời đã xanh bóng, sạch như lau như li. Vài đám mây trắng rủ nhau đi thong thả… Những đám mây bông rừng rực nắngvẫy gọi, quyến rũ quá đi mất… Giữa màu quả vàng hươm và sắc hồng nhạt của cặp môi chum chúm, cái nào tươi hơn, rạng rỡ hơn” [7, tr. 506]. Xen trong mỗi câu văn trần thuật ngắn gọn là những từ láy rào rạt, mằn mặn, thong thả, chum chum… Điều này làm cho giọng văn trở nên nhẹ nhàng, mượt mà bay bổng hơn. Đoạn văn giống như là một khúc nhạc trữ tình, nhà văn cũng như đang ca lên một khúc tình ca đẹp về quê hương. Không chỉ hồi ức lại dòng sông quê, nhà văn còn dành những câu văn rất mượt mà, trữ tình để miêu tả những vẻ đẹp khác của quê hương. Đó là vẻ đẹp của những cánh đồng lạc thời kì lên mầm, ra hoa: “Quê tôi vùng lạc. Hạt trỉa vào tháng chạp, mồng một tết

đi chào cờ đã thấy nhú hai ngọn.Gặp tiết trời ấm, chẳng bao lâu nó nở xoè như hai cánh bướm. Đến lúc nở đều, chao ôi, đẹp không kể ! Khắp cánh đồng xanh rưng lên mơn mởn, tựa hồ có đàn bướm biếc đông vô số bay về đo…Vài tháng sau, bắt đầu có nhú chú bướm vàng đỗ xen lác đác, ngày một đông dần:

lạc ra hoa. Thời kỳ ra hoa rộ, cứ khoảng sáu giờ sáng, nắng hè vừa ửng, cơ man những nụ tròn vàng nhạt nhú dần, bắt đầu còn ngái ngủ giữa đám lá ướt sương, càng lúc càng nở xoà tươi tỉnh, vàng rời rợi, như những mặt trời nhỏ xíu. Rực rỡ suốt cả một ngày trong bóng lá xanh, rồi vừa xẩm tối, chúng gọi nhau đi ngủ sớm…”[7, tr. 517]. So với những truyện ngắn miêu tả đời sống hiện thực khốn khó của người dân quê chài lưới cũng như hiện thực cuộc chiến tranh khốc liệt, người ta không nghĩ một Bùi Hiển “hiện thực” như thế lại có thể viết lên những áng văn mượt mà như vậy. Thì ra, trong sâu thẳm tâm hồn nhà văn, vẫn dành chỗ cho những áng văn trữ tình, sâu lắng. Nó thể hiện được nét đẹp trong tâm hồn nhà văn. Những hồi ức về quê hương cứ thế theo mạch cảm xúc tuôn trào đằm thắm.

Tìm hiểu nhiều truyện ngắn khác của Bùi Hiển, ta cũng bắt gặp những đoạn văn tình cảm như thế. Không chỉ miêu tả vẻ đẹp phong cảnh quê hương, Bùi Hiển còn đi vào miêu tả vẻ đẹp trong tâm hồn con người. Xen kẽ trong cuộc chiến ác liệt, xen kẽ trong dòng hồi ức về người con, xen kẽ trong cuộc gặp mặt của hai cha con trên đường đi đánh giặc, Bùi Hiển lồng vào đó những đoạn văn tả cảnh, tả cảm xúc của nhân vật rất trữ tình. Dường như nhà văn sợ mất đi những vẻ đẹp, cảm xúc ấy nên đã đưa tất cả vào văn để níu giữ lại bên mình: “Đêm hè đầy sao. Tôi thơ thẫn ngắm nhìn những chấm xanh nhấp nhánh xa vời vợi, lòng nao lên một tâm trạng không rõ rệt. Tôi không nghĩ đến một cái gì cụ thể hết, trong một lúc thấy như trong đầu mình dồn tụ lại hình bóng cả hiện tại, cả xa xưa và cả ngày mai thấp thoáng. Dần dần cái ấn tượng đọng lại rõ nét hơn như là tin yêu, như là vững dạ…” [7, tr. 479].

Những cảm xúc lan tỏa dưới không gian lãng mạn của đêm hè khiến đoạn văn nhẹ nhàng tình tứ hơn rất nhiều. Người đọc còn bắt gặp những câu văn miêu tả về người hình ảnh người bà đôn hậu. Bà tần tảo, yêu thương, chăm sóc cháu khôn lớn từng ngày. Lời ru mà bà từng ru con trong những ngày ấu thơ, giờ lại trở thành lời đưa cháu vào giấc ngủ tuổi thơ: “Lạ thật, sức mạnh thói quen: đôi trưa hè đưa võng, Nhiên bắt chợt mình cũng đang tỉ tê ru kể cho cu Hùng nghe chính cái bài ví dặm. “Thuyền lênh đênh vì nước…”. Trong nắng hồng vàng suộm, câu ca thầm thì như lặng trôi về từ một khoảng không nào xa cũ mà xanh mát lắm…” [47, tr. 74]. Chỉ từng ấy câu văn thôi, Bùi Hiển đã gợi về trong tâm tưởng mỗi người hình ảnh người bà hiền hậu. Ta thấy đâu đó tháp thoáng bóng dáng người bà trong Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt:

“Mẹ cùng cha bận công tác không về, Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe, Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc.

Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?”

Đoạn văn gợi lên cảm xúc, gợi lên những kỷ niệm về hình ảnh người bà một thời. Những dư âm, những cảm xúc, những tình cảm mà bà dành cho cháu vô hình đã neo đậu trong hồi ức, tiềm thức mỗi người. Truyện ngắn Bùi Hiển đã để lại trong lòng người những dư vị ngọt ngào, ấm cúng, chan chứa tình người. Dù không làm thơ nhưng giọng điệu văn của Bùi Hiển lại rất thơ, rất dễ đi vào lòng người. Bởi đơn giản là vì Bùi Hiển đã chạm đến chạm đến những rung động, cảm xúc trong tim mỗi người.

Bên cạnh giọng điệu trữ tình, sâu lắng, thiết tha ta còn bắt gặp một giọng điệu khác trong truyện ngắn Bùi Hiển chính là giọng hài hước, dí dỏm.

Giọng hài hước dí dỏm này đôi khi là để phê phán một số thói hư tật xấu của người dân quê, đôi khi là sự châm biếm, mỉa mai. Nhưng tất cả rất nhẹ nhàng, dừng lại ở tiếng cười vui hóm hỉnh. Đọc lên rồi cười đó chứ không hề có ý phê phán sâu cay hay đả kích mạnh mẽ. Đó là tiếng cười mua vui nhẹ nhàng giúp người đọc cảm thấy thoải mái hơn. “Ngay cả khi viết về những điều đen tối độc ác, Bùi Hiển cũng không thể hiện sự quá độ, ông giữ một giọng văn tỉnh táo và luôn thấy chút gì ấm áp của một tấm lòng bao dung” [8, tr. 563].

Tiếng cười trong truyện ngắn Bùi Hiển dựng lên để giúp con người ta hiểu nhau, gần nhau hơn. Hay đúng hơn nó chỉ là “tiếng cười đùa vui, nụ cười hài hước để sửa chữa những thói hư, tật xấu trong nội bộ nhân dân, tiếng cười xây dựng chứ không mang ý nghĩa phủ định” [7, tr. 42].

Truyện của nhà văn Bùi Hiển cái cười thoát ra tự nhiên, đời thường.

Ngay từ tập truyện ngắn đầu tay Nằm vạ ta có thể nhận thấy rõ cái tiếng cười hóm hình tươi vui đó. Đó là tiếng cười trong Nằm vạ, Ma đậu,… Dường như cuộc sống nghèo khó, thiên nhiên khắc nghiệt, quanh năm đối mặt với vô vàn khó khăn nên người dân luôn có cái nhìn lạc quan, tươi vui trước cuộc sống.

Tác giả hiểu rõ bản chất, tập tục nơi đây nên đã đưa vào truyện ngắn của mình một số tiếng cười nhẹ nhàng. Bùi Hiển dựng nên tiếng cười có chăng cũng là một hình thức cổ vũ tinh thần, và một dư vị để khuấy động cuộc sống bình lặng nghèo khó nơi đây. Trong truyện Nằm vạ, nhà văn miêu tả lại “cuộc chiến tranh lạnh” vô cùng “trẻ con” của hai vợ chồng. Chồng mắng thì vợ càu nhàu, tìm mọi cách để châm chọc, khiêu khích chồng. Không tự chủ chồng quẳng cả vợ xuống đất, đạp luôn cho mấy cái. Tối đến, người chồng còn hành động thật nhẫn tâm, lấy hết chiếu, để chị nằm trên đất lạnh. Người vợ cũng hành động trẻ con không kém là cắn vào tay chồng khi chồng và mẹ chồng

kéo cô dậy. Dù nằm vạ trong buồng, nhưng người vợ vẫn theo dõi mọi động tĩnh bên ngoài. Chị còn giả vờ tạo dáng vẻ của người đói, sắp chết để doạ mọi người. Cuộc đấu tranh âm thầm này khiến người đọc bất giác bật cười: “Chị Đỏ ren rén ngồi dậy, lê đến cạnh vách ghé mắt vào một lỗ hổng nhỏ nhìn ra sân” [7, tr. 54]; “Chị trở lại chỗ cũ, nằm duỗi cẳng, khoan khoái đợi. Cái trò đùa thực đã kéo dài quá thể ”[7, tr. 54]; “Chân chị lê xềnh xệnh trên đất. Chị giả cách cố gượng mới ngồi lên được ngưỡng cửa. Tóc chị rối bù, khăn xổ xuống che một mắt; chị đã tự soạn một bộ mặt chết đói bảy ngày”[7, tr. 56].

Câu chuyện không có gì nếu người vợ tự nhịn một ít, bước ra buồng, còn người chồng chỉ cần xin lỗi vợ rồi kéo vợ dậy là xong. Như vậy cũng không cần đến cuộc phán xét của ông lý. Nhưng không, nhà văn đẩy đỉnh điểm lên đến cao trào khi chị vợ nằm vạ suốt bảy ngày để đợi cuộc phán xét lấy lại công bằng từ ông lý. Câu chuyện gây tiếng cười hơn ở đoạn ông lý trưởng đến nhà hai vợ chồng. Rồi hàng xóm đến xem, bàn tán xôn xao: “ Ả Đỏ tài nhịn gớm, bay ạ. Bảy tám ngày, mà chẳng gầy đi tí nao”[7, tr. 56]. Nhà văn dựng cuộc hòa giải của ông lý như là một màn diễn kịch hay. Từ đầu đến cuối chỉ nghe ông lý “hát phường”: “Sao đó, đã ưng dậy chưa? Chà, vợ chồng người ta ở với nhau, năm năm, mười năm, cãi lộn nhau cho hắn đáng đằng này, đôi vợ chồng son, anh như mâm ngọc, em còn như đôi đũa vàng, haha ha…chưa chi đã giận hờn, rồi lăn ình ra nằm vạ ”[74, tr. 56.]; “ Thế thì cha ai mà xử được.

Anh nói “nhờ ông” ả nói “nhờ ông”, sao mà hai anh ả khéo bảo nhau ghê. Đã đồng ý với nhau thế thì, thôi! Cho đoàn tụ!” [7, tr. 58]. Câu chuyện gây cười hơn khi người vợ thấy dáng bộ long ngóng của chồng thì bật cười. Thì ra thì chị vẫn yêu anh lắm, chỉ là đôi khi giả vờ hờn dỗi để được chồng quan tâm, chăm sóc. Câu chuyện chưa kết thúc ở đó, Bùi Hiển còn dựng lên một đoạn kết khá hài hước khi chị Đỏ về nhà mẹ đẻ ăn trộm khoai khô để bù vào phần khoai mình đã ăn vụng chống đói trong những ngày nằm vạ. Tưởng chừng

Một phần của tài liệu Đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn bùi hiển (Trang 96 - 107)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)