1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Tập bài giảng Nghiệp vụ lý lịch Tư pháp Phần 1

186 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 186
Dung lượng 4,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích được quy định tại Điều 15 Luật - Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù; văn bản thông báo kết quá thi hành hình phạt trục xuất; - Giấy

Trang 1

H Ọ C V IỆ N T ư PH Á P

LÝ LỊCH T ư PHÁP

Hà N ộ i- 2 0 1 2

Trang 2

Tập bài giảng được thầm định bởi H ộ i đồng nghiệm thu thành lập theo Qưyếìt định sổ 40/Q Đ -H VTP ngày 1/4/2010 của Q Giảm đốc Học viện Tư pháp:

Chủ tịch H ội đồng: PGS.TS Nguyễn Vãn Huyên

Phản biện 1: GS TS Nguyễn Ngọc Anh

Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Văn Nhật

ủ y viên: TS Trần Thanh Phương

ủ y viên thư ký: TS Nguyễn Thanh Phú

Trang 3

Chủ biên: TS Nguyễn Văn Dũng

Tập thê tác giả:

Trang 5

L Ờ I N Ó I Đ Ầ U

Luật Lý lịch tư pháp được Quốc hội khoá X II thông qua tại kỳ họp thứ 5 ngày 17/6/2009, có hiệu lực pháp luật từ 01/7/2010 Việc ban hành Luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý lý lịch tư pháp ở nước ta hiện nay Đe đam bảo cho Luật Lý lịch tư pháp được thi hành trong thực tiễn, một trong những công việc cấp bách hiện nay là đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác lý lịch tư pháp theo các quy định của Luật Thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo Bộ Tư pháp, trong thời gian qua, Học viện Tư pháp đã tích cực biên soạn Tập bài giảng Nghiệp vụ lý lịch tư pháp Tập bài được biên soạn gồm 21 bài, với kết cấu ba phần: phần chuyên đề chung, phần kỹ năng nghiệp vụ lý lịch tư pháp và phần kiến thức bổ trơ Tập bài giảng đã cung cấp tương đối đầy đủ, chính thống lượng kiến thức học viên cần được trang bị trong khóa học, đưa ra và chuẩn hóa các kỹ năng nghiệp vụ

đè thực hiện công tác Lý lịch tư pháp

Tập bài giảng được biên soạn trong điều kiện chưa có đầy đủ các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp, chưa có các quy chế, biểu mẫu nghiệp

vu, lại phải hoàn thành trong thời gian ngấn để phục vụ cho đào tạo khóa 1 Sau khi kìóa 1 và khóa II đào tạo nghiệp vụ lý lịch tư pháp kết thúc, Tập bài giảng đã được cac tác già chinh sửa, bổ sung trên cơ sở cập nhật những văn bản pháp luật mới được

bm hành hoặc được sửa đổi, bổ sung có những qui định liên quan đến lý lịch tư piáp và một sổ văn bản hướng dẫn thi hành Luật Lý lịch tư pháp cùng với hệ thong bểu mẫu nghiệp vụ đã hoàn thiện được đưa vào sử dụng chính thức Tuy vậy, Tập bii giảng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định Vì vậy, Ban bên soạn rất mong nhận được những ý kiến góp ý của các thầy cô giáo, các bạn học vên và tất cả bạn đọc để chình lý, bổ sung, hoàn thiện ờ cấp độ Giáo trình trong lần

Trang 7

MỤC LỤC

trang Phần 1

CÁC CHUYÊN ĐỀ CHUNG

Bài 1 Một sổ vấn đề cơ bản về lý lịch tư pháp, đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp

1 Một sổ vấn đề cơ bàn về lý lịch tư pháp 13

2 Đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp 24

Bài 2 Qui định pháp luật của một số nước vể lý lịch tư pháp 1 Quy định về lý lịch tý pháp của Cộng hòa Pháp 28

2 Quy định về Lý lịch tư pháp của Vương quốc B i 36

3 Quy định pháp luật của CHLB Đức về LLTP 40

4 Quy định về Lý lịch tư pháp của Vương quốc Thụy Đ iển 44

5 Quy định về lý lịch tư pháp của Nhật Bản 46

6 Quv định về lý lịch tư pháp cùa Hợp chủng quốc Hoa K ỳ 48

7 Quy định về Lý lịch tư pháp cùa Vương quốc Anh 54

Bài 3 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý cơ sỏ' dữ liệu lý lịch tư pháp và mối quan hệ với các cơ quan hữu quan trong việc cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp 1 Khái quát về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cùa cơ quan quản lý cơ sờ dữ liệu lý lịch tư pháp 59

2 Mối quan hệ giữa cơ quan quàn lý cơ sở dữ liệu với các cơ quan hữu quan trong việc cung cấp, tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp 63

Bài 4 Một số quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự liên quan đến lý lịch tư pháp 1 Các quy định cùa Bộ luật Hình sự về xóa án tíc h 79

2 Các quy định cùa Bộ luật Tố tụng hình sự về thủ tục xỏa án tích 81

3 Một số quy định của pháp luật hình sự và tố lụng hình sự liên quan đến nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích 85

Bài 5 Quy định của Luật Tương trợ tư pháp, Luật Đặc xá, Luật Thi hành án dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản, Luật Thi hành án Hình sự liên quan đến Lý lịch Tư pháp 1 Quy định của Luật Đặc xá liên quan đến Lý lịch Tư pháp 99

2 Quy định cùa Luật Tương trợ tư pháp liên quan đến Lý lịch Tư pháp 101

3 Quy định của Luật Doanh nghiệp liên quan đến Lý lịch Tư pháp 103

4 Quy định cùa Luật Hợp tác xã liên quan đến Lý lịch Tư pháp 104

5 Quy định của Luật Phá sản doanh nghiệp liên quan đến Lý lịch tư pháp 105

6 Quy định của Luật Thi hành án dân sự 106

7 Luật thi hành án hình sự 109

7

Trang 8

Phần 2

Bài 6

Kỹ nâng tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp

1 Một sổ vấn đề chung về tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp 115

2 Kỹ năng tiếp nhận thông tin lý lịch tư pháp 129)

1 Kỹ năng cập nhật thông tin trong trường hợp Giám đổc thẩm 17^4

2 Kỹ nâng cập nhật thông tin trong trường hợp tái thẩm 18(0

3 Kỹ năng cập nhật thông tin và xử lý thông tin khi cỏ bản án tiếp theo (bàn án sơthẩm mới có hiệu lực pháp luật và bản án phúc thẩm) 18^4

Bài 10

Kỹ năng cập nhật Thông tín lý lịch tư pháp trong trường họp chấp hành xong bản án, được đặc xá, đại xá; trường họp trục xuất khi tội phạm được xóa

bỏ; cập nhật thông tin lý lịch tư pháp bổ sung

1 Kỳ năng cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp chấp hành xong bản

án, được đặc xá, đại x á 18ไ7

2 Kỹ năng cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp trục xuất 19J4

3 Kỹ năng cập nhật thông tin lý lịch tư pháp khi tội phạm được xóa bò 1906

4 Kỹ năng cập nhật thông tin lý lịch tư pháp bổ sung 20D2

Bài 11

Kỹ năng cập nhật, xử iý thông tin lý lịch tư pháp trong trường họp người bị kết án được xóa án tíchl

1 Kỹ năng xác định việc xóa án tích trong một sổ trường cụ thể 20;)5

2 Tiếp nhận và xử lý thông tin về án tích 20า7

2 Kỹ năng cập nhật thông tin về công dân Việt Nam bị tòa án nước ngoài xét xử hìnnhsự .โ โ 2114

3 Kỳ năng xử lý thông tin về công dân Việt Nam bị tòa án nước ngoài xét xử hình suự โ 2117

Trang 9

4 Phân loại, sắp xếp hồ sơ vụ án về công dân Việt Nam bị tòa án nước ngoài xét xừhình sự 218

5 Một số lưu ý trong việc cập nhật, xử lý thông tin về công dân Việt Nam bị tòa ánnước ngoài xét xử hình sự 219

6 Khai thác hồ sơ vụ án về công dân Việt Nam bị tòa án nước ngoài xét xừ hình Sự220

Bài 13

Kỹ năng cập nhật, xử lý thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ,

thành lập, quản lý doanh nghiệp họp tác xã

1 Nguồn thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm cấp bậc, chức vụ, thành lập,quán lý doanh nghiệp, hợp tác xã 222

2 Kỹ năng tiếp nhận và xử lý thông tin, lập lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm cấpbậc, chức vụ, thành lập quản lý doanh nghiệp, hợp tác xà 223

3 Kỹ năng cấp phiếu lý lịch tư pháp về cẩm đảm nhiệm cấp bậc, chức vụ, thành lập,quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã 229

Kỹ năng tra cứu thông tin lý lịch tư pháp

1 Một số vấn đề chung về công tác tra cứu 241

2 Kỹ năng tra cứu hồ sơ chung 243

3 Kỳ năng tra cứu lý lịch tư pháp 246

Từ chổi cẩp phiếu lý lịln tư pháp;

giải quyết khiếu nại, tố cáo về lý lịch tư pháp

1 Các trường hợp từ choi cấp Phiếu lý lịch tư pháp 255

2 Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động quản lý lý lịch tư pháp 255

3 Tố cáo và giải quyết tổ cáo về lý lịch tư pháp 260

Bài 19 Đọc và phân tích bản án, quyết địnb

1 Đọc và phân tích bàn án 273

2 Đọc và phân tích quyết địn h 279

Bài 20 Một số vấn đề về hộ tịch, hộ khẩu

1 Một số vấn đề về hộ tịch, hộ khẩu liên quan đến Lý lịch tư pháp 284

2 Những gian lận sai sót phổ biến trong hồ sơ lý lịch tư pháp và nguyên nhân 285

3 Biện pháp phòng ngừa gian lận, khắc phục sai sót trong hoạt động quản lý lý lịch

tư pháp liên quan đến hộ tịch, hộ khẩu 292

Trang 10

Bài 21 Một số vấn đề Cff bản về nhận dạng

1 Khái quát về lịch sử khoa học nhận dạng người trong hoạt động tư pháp 293

2 Khoa học nhận dạng người hiện nay 295

Trang 11

Phần 1

CÁC CHUYÊN ĐỀ CHUNG

11

Trang 13

Thông thường, Lý lịch tư pháp được hiểu là lý lịch về một cá nhân công

dân trong đó có những thông tin chính thức của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

xác định việc người đó có ản tích hay không Tuy nhiên, pháp luật hiện hành

chưa có những quy định giải thích về khái niệm án tích Bộ luật Hình sự và Bộ

luật tố tụng hình sự nước ta không có sự giải thích thuật ngữ án tích nhưng tại

Chương IX của Bộ luật Hình sự có quv định về xoá án tích Theo đó người được

xoá án tích coi như chưa bị kết án Như vậy, sự khác nhau giữa người có án tích

và người không có án tích (kể cả người đã được xoá án tích) là ờ chỗ người đó có

bị coi là đã bị kết án hay chưa Nội đung này liên quan đến một khái niệm khác

trong pháp luật về hình sự, đó là khái niệm tiền án Khoản 2, Điều 224 của Bộ

luật tố tụng hình sự quy định: “ Trong bản án cần phải ghi rõ : họ tên, ngày,

tháng, năm sinh, nơi sinh, nơi cư trú nghề nghiệp, trình độ văn hóa, thành phần

xã hội, tiền án, tiền sự của bị cáo; ” Người có tiền án là người đã bị kết án và

chưa được xóa án, đang bị coi là có án tích Khái niệm án tích cũng liên quan đến

các khái niệm “ tái phạm", “ tái phạm nguy hiểm" quy định tại Điều 49 Bộ luật

Hình sự Án tích là một khái niệm dùng để chỉ việc phạm tội trong quá khứ của

một người đã bị Toà án có thẩm quyền tuyên bàng bản án đã có hiệu lực pháp

luật và chưa được xóa án Nói cách khác, án tích là dấu tích thể hiện việc một

người đã từng bị kết án bằng bàn án đã có hiệu lực pháp luật mà chưa được xóa

Trong quản lý nhà nước về trật tự xã hội nói chung và trong hoạt động tư

pháp nói riêng, việc ghi nhớ án tích của những người bị kết án là rất cần thiết

Bất cứ nhà nước nào cũng cần có sự '‘phân loại” công dân của mình theo tiêu chí

thái độ của công dân đối với pháp luật M ột công dân gương mẫu chấp hành pháp

luật cần phải được cộng đồng xã hội trân trọng Trái lại, một công dân thường

13

Trang 14

xuyên vi phạm pháp luật thì Nhà nước và xã hội ngoài việc áp dụng những dạng,

mức trách nhiệm pháp lý tương ứng cũng cần có chính sách theo dõi, quàn lý

đặc biệt hơn, hạn chế hem việc tham gia một sổ quan hệ pháp luật nhât định đối

với người đó Những quan hệ pháp luật mà người chưa được xóa án tích không

được phép tham gia thường là những quan hệ dễ có khả nâng bị những công dân

này phương hại, gây hậu quả xấu cho các chủ thể khác trong mối quan hệ đó và

thậm chí ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của xã hội

Có thể nói, phần lớn các vi phạm hình sự đều bị coi là tội phạm V ì vậy,

bất kỳ nhà nước nào cũng có những hạn chế và thử thách nhất định đối với nhũng

người vi phạm pháp luật hình sự sau khi thi hành xong bản án Trong hoạt động

tư pháp, việc ghi nhớ án tích có ý nghĩa quan trọng nhằm trong việc xác định

nhân thân của người bị tình nghi phạm tội Chính sách hình sự của các quôc gia

thường có sự phân hóa đường lối xử lý với người tái phạm, tái phạm nguy hiểm,

V í dụ, Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: ‘‘Nghiêm trị người chủ mưu

cầm đầu chỉ huv, ngoan cổ chống đổi lưu manh, côn đồ tái phạm nguy hiểm,

lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo

quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng

Cụ thể hóa đường lối xử lý trên, Đièu 45 Rộ luật Hình sự quy định: “ Khi

quyết định hình phạt Toà án căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhẳc

tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người

phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự”

Trong lịch sử thể giới có những hình thức ghi nhớ án tích rất khác nhau

Thời cổ đại có những cách ghi nhớ án tích của những người bị kết án bằng việc

để lại dấu tích trực tiếp trên thân thể kẻ phạm tội V í dụ việc thích chữ lên mặt

phạm nhân trong trường hợp bị lưu đồ là hình thức ghi nhớ án phạm để tất cả mọi

người đều biết Cũng có trường hợp hình phạt đồng thời là ghi nhớ án tích như

chặt ngón tay, chặt bàn tay của người phạm tội trộm cắp, biển thủ công quỹ Như

vậy, việc lập ra lý lịch tư pháp với tư cách là một loại văn bản của nhà nước xác

định việc công dân có hay không có án tích là hình thức ghi nhớ án tích của thời

kỳ vãn minh, là sản phẩm của văn minh Là hình thức ghi nhớ án tích một cách

Trang 15

văn minh, tính chất văn minh của án tích, thể hiện ở hai phương diện: thứ nhất,

nó tiết kiệm được thời gian, nhân lực, vật lực của bộ máy Nhà nước, bảo đảm cho

công tác thống kê, lưu trữ tra cứu được gọn nhẹ hơn, khoa học hơn; thứ hai, nó

thể hiện được tính nhân văn của Nhà nước khi không cắt bỏ hay gây biến dạng cơ

thể người phạm tội để khẳc ghi dấu ấn phạm tội của người đó, giúp cho người

phạm tội không bị đau đớn về thể xác và quan trọng hơn giúp cho họ không bị

mặc cảm và kỳ thị để tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã

hội

1.2 K hải niệm, ý nghĩa của lý lịc h tư pháp

Lý lịch tư pháp (trong tiếng Pháp: Le easier ju d ic ia ire ) có nghĩa là cái tủ

có nhiều ngãn chứa đựng những phán quyết của Toà án M ột thẩm phán người

Pháp đã nghĩ ra cách ghi nhớ các án tích của người bị kết án bàng cách lưu trữ

các phán quyết của Toà án đối với người đó vào trong một ngăn tủ riêng ghi tên

của người đó (để tránh nhầm lẫn án tich của người này với người khác) Lý lịch

tư pháp là một khái niệm mang tính lịch sử xã hội Trước đây, lý lịch tư pháp chủ

yếu được hiểu là lý lịch về án tích của công dân nhằm xem xét việc người đó đã

từng bị kết án bởi một bản án hình sự hay không C rim in al record trong tiếng

Anh có nghĩa là lý lịch (hồ sơ) về hình sự, là hồ sơ ghi nhớ các phán quyết về

hình sự của Toà án đổi với một người cụ thể Nhìn chung, khái niệm lý lịch tư

pháp của nhiều nước đều đồng nhất với khái niệm lý lịch hình sự, nói cách khác,

là lý lịch ghi nhớ các phán quyết về hình sự của Toà án đối với người phạm tội

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt khi các giao dịch kinh

doanh - thương mại ngày một thể hiện vai trò quan trọng trong xã hội hiện đại,

việc lưu giữ, theo dõi và sử dụng các thông tin về một cá nhân công dân trong

quá khứ đã từng bị Tòa án cấm hành nghề hoặc đảm nhiệm một số chức vụ, công

việc như thành lập, quản lý doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Do đó,

khải niệm lý lịch tư pháp được mở rộng ra khỏi lĩnh vực tư pháp hình sự mà bao

gồm cả các lĩnh vực tư pháp phi hình sự Cũng như pháp luật của nhiều quốc gia

cỏ nền hành chính - tư pháp phát triển và phù hợp với thông lệ quốc tế, Luật Lý

lịch tư pháp của nước Cộng hòa XH CN V iệt Nam đưa ra khái niệm lý lịch tư

15

Trang 16

pháp như sau: Lý lịch tư pháp là lý lịch vể án tích cùa người bị kết án bang bản

án, quyết định hình sự của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng th i hành

án và về việc cắm cá nhản đàm nhiệm chức vụ, thành lập, quàn lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Toà án ỉuyên bố phả

Khái niệm trên xác định hai nội dung chính của Lý lịch tư pháp:

(ị) Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người b ị kết án;

(ii) Lý lịch tư pháp là lý lịch về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã b ị Toà án tuyên bố phá sản.

Ở nội dung thứ nhất, lý lịch tư pháp là nguồn thông tin chính thức về lình

trạng tiền án của bị cáo để Toà án xem xét các tình tiểt tăng nặng, giảm nhẹ đối

với họ khi giải quyết những vụ việc cụ thể Xét theo góc độ này thì những thông

tin về lý lịch tư pháp có giá trị chứng minh bị cáo tái phạm hay không tái phạm,

cỏ thể coi lý lịch tư pháp là một công cụ góp phần bảo đảm nguyên tẳc công bàng

trong tổ tụng hình sự Khẳng định một người không có án tích khi đã được xóa

án tích, lý lịch tư pháp góp phần bảo đảm nguyên tắc “ Không ai bị coi là có tội

khi chưa cỏ bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” được quy định tại

Đ iề u 9 B ộ lu ậ t T ố tụ n g h ìn h sự, qua đó thể hiện tính chất nhân đạo của

pháp luật

Trong giai đoạn thi hành án hình sự, lý lịch tư pháp giúp cho cơ quan thi

hành án biết được quá khử nhân thân của người thụ án, những đặc điểm phạm tội

của họ để có biện pháp giáo dục, cải tạo họ một cách thích hợp Đặc biệt, lý

lịch tư pháp giúp cho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát, giáo dục đối

với những người phải thi hành các hình phạt khác không phải là hình phạt tù như:

cảnh cáo, cải tạo không giam giữ, trục xuất, cấm cư trú, quản chế, tước một số

quyền công dân thuận lợi hơn khi thực hiện nhiệm vụ

Ở nội dung thứ hai, lý lịch tư pháp còn là nguồn thông tin chính thức để

các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức

Trang 17

kinh tế xem xét đạo đức tư cách của cá nhân trong khi giải quyết những vụ

việc cụ thể liên quan đến cá nhân đó như bầu cử ứng cử, tuyển dụng nhân sự,

đăng ký kinh doanh, làm thủ tục xuất, nhập cảnh Chính vì vậy, ở nhiều nước

trên thế giớ i cũng như ở Việt Nam trong những năm gần đây, pháp luật thường

quy định việc công dân phải xuất trình Phiếu lý lịch tư pháp khi tham gia vào

một sổ quan hệ xã hội cụ thể

Ở bình diện chung, lý lịch tư pháp cỏ thể được coi là một công cụ giúp

Nhà nước quản lý trật tự xã hội, quản lý con người, chủ động phòng ngừa, ngăn

chặn nguy cơ gâv thiệt hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ bởi

những người đã tùng có những hành vi tiêu cực đối với xã hội ở mức độ nghiêm

trọng Quản lý con người qua lý lịch tư pháp giúp cho các quan hệ xã hội được

phát triển lành mạnh, bền vững, theo khuôn khổ của pháp luật, qua đó góp phần

phòng chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác

Ở góc độ cá nhân, lý lịch tư pháp cũng là công cụ để công dân đòi hỏi sự

đổi xử công bàng, minh bạch từ phía các cơ quan Nhà nước, tạo điều kiện thuận

lợi cho công dân thực hiện các quyền dân sự - chính trị, yêu cầu Nhà nước phải

bảo đảm cho họ được làm các công việc mà pháp luật không cấm nếu họ xuất

trình được lý lịch tư pháp chúng minh họ không có án tích Lý lịch tư pháp là

một hình thức quản lý con người hiện đại trong một xã hội dân sự khi mà quyền

công dân ngày càng được tôn trọng và bảo vệ

1.3 Lịch sử quản lý lịch tư pháp ở Việt Nam

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với việc hình thành và phát

triển bộ máy tư pháp, công tác quản lý lý lịch tư pháp cũng được Nhà nước ta

quan tâm Ngày 2/11/1955 Bộ Tư pháp và Bộ Công an đã ban hành Thông tư

liên bộ sổ 1909-VHC về việc theo dõi lý lịch tư pháp và căn cước của bị can và

những người bị tình nghi Theo văn bản này, công tác lý lịch tư pháp và căn cước

can phạm đều tập trung vào một đầu mối do Bộ Công an đảm nhiệm Tuy nhiên,

do chức năng cơ bản của ngành công an là phòng, chổng tội phạm, nên trong thời

kỳ này, quản lý lý lịch tư pháp được đồng nhất với quản lý hồ sơ căn cước can

phạm

17

Trang 18

Ngày 4/6/1993, Chính phủ ban hành Nghị định 38/CP quy định về chức

năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máv của Bộ Tư pháp, trong đó có quy

định nhiệm vụ thống nhất quản lv lý lịch tư pháp Tiếp theo, trong Nghị dịnh số

62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ (thay thế Nghị định 38/CP),

nhiệm vụ quản lý lý lịch tư pháp vẫn được tiếp tục giao cho Bộ Tư pháp

Đe giải quyết yêu cầu của công dân, ngày 08/02/1999, Bộ Tư pháp đã

phối hợp với Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch số 07/1999/TTLT-BTP-

BCA quy định việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp Nội dung chủ yếu của Thông tư số

07 là quy định cơ chế phổi hợp giữa ngành Công an và ngành Tư pháp trong việc

cung cấp thông tin từ hệ thống tàng thư nghiệp vụ cảnh sát cho Sờ Tư pháp đế

cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho các cá nhân có yêu cầu Qua 9 năm, quá trình thực

hiện Thông tư số 07 đã đạt được những kết quả quan trọng bước đầu trong công

tác quản lý lý lịch tư pháp Theo báo cáo của 61/64 tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ương, trong thời gian 9 năm (từ năm 1999 đến năm 2007), các Sở Tư pháp

trong cả nước đã thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp cho 535.749 trường hợp để

làm các thủ tục như: xin việc làm, thành lập doanh nghiệp, xuất cảnh, xuất khẩu

lao động Tuy còn nhiều hạn chế, bất cập nhưng công tác quản lý lịch tư pháp

đã bước đầu được định hình và góp phần quan trọng vào quản lý nhà nước cũng

như đáp ứng nhu cầu của người dân Phiếu lý lịch tư pháp được xem là loại giấy

tờ chứng minh tư cách đạo đức của một cá nhân khi tham gia một số thủ tục hành

chính V ì vậy, sau khi Thông tư sổ 07 được ban hành, đã có rất nhiều văn bản

pháp luật quy định về việc cá nhân phải xuất trình Phiếu lý lịch tư pháp khi tham

gia vào các quan hệ pháp lý trong nhiều lĩnh vực như: cấp giấy phép hành nghề,

bổ nhiệm, tuyển đụng, cấp giấy phép thành lập đoanh nghiệp, xuất, nhập cảnh

Ngày 23/11/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định sổ 111/2010/NĐ-CP

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một sổ điều của Luật Lý lịch tư pháp

Đây là công cụ pháp lý quan trọng để triển khai thực hiện Luật Lý lịch tư pháp

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các quy định của Luật

LLTP về bảo vệ và lưu trữ cơ sở dữ liệu LLTP, tra cứu, trao đổi, cung cấp thông

tin LLTP có trước ngày luật LLTP có hiệu lực để xây dựng cơ sở dữ liệu LLTP,

Trang 19

cấp phiếu LLTP đặc biệt Nghị định đã quy định về tổ chức của trung tâm LLTP

quốc gia

Tiếp đó, Đe án “ Xây dựng Trung tâm LLTP quổc gia và kiện toàn tổ chức

thuộc Sở Tư pháp để xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP” được Thủ tướng

chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 2369/ỌĐ-TTg ngày 28/12/2010 Trung

tâm LLTP quốc gia là đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ Tư pháp, có chức năng xây

dụng, quản lý cơ sở dữ liệu LLTP trong phạm vi cả nước Cơ cấu, chức năng,

nhiệm vụ, quvền hạn của trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia được quy định tại

Quyết định sổ 97/Q Đ-BTP c ủa Bộ trưởng Bộ Tư pháp ngày 26/1/2011 Theo đó,

vê nhiệm vụ quyền hạn trong xây đựng, quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp,

trung tâm có nhiệm vụ tiếp nhận thông tin lv lịch tư pháp, lập LLTP, cập nhật, xử

lý, lưu trữ xác minh thông tin LLTP và cung cấp thông tin LLTP theo thẩm

quyền Ngoài ra, Trung tâm còn có nhiệm vụ hướng dẫn việc xây dựng, quản lý,

khai thác và bảo vệ cơ sở dữ liệu LLTP tại Sở Tư pháp và thực hiện một số nhiệm

vụ trong lĩnh vực LLTP do Bộ trưởng Bộ Tư pháp giao, v ề việc ban hành và

hướng dẫn sử dụng biểu mẫu và mẫu sổ lý lịch tư pháp được qui định tại Thông

tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011 (Sau đây gọi tẳt là Thông tư số

13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011), bang những qui định này giúp cho công tác

quản lý và thực hiện các thao tác nghiệp vụ lý lịch tư pháp được thống nhất trên

lãnh thổ nước ta Tiếp theo, một văn bản có ý nghĩa thực tiễn và thể hiện sự thong

nhất cao của các cơ quan có thẩm quyền trong công tác lý lịch tư pháp là Thông

tư liên tịch số 04/2012/TTLT- BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQ P ngày

10/5/2012 về việc Hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (Sau đây gọi tắt là Thông tư số 04/2012/TTLT- BTP-

TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQ P ngày 10/5/2012 )

Như vậy, với các văn bản pháp luật được ban hành trong thời gian gần

đây, đã định hình một khung pháp lý và cơ chế pháp lý tương đối toàn diện để tạo

ra những chuyển biến căn bản trong công tác quản lý LLTP ở nước ta, góp phần

quan trọng vào việc nâng cao chất lượng hoạt động quản lý hành chính - tư pháp

theo hướng hiện đại hơn minh bạch hơn, giản tiện hơn và nhân văn hơn

19

Trang 20

1.4 M ột sổ kh á i niệm cơ bản trong quản lý lý lịch tư pháp

1.4.1 Phạm v i quản lý lịch lư pháp

Phạm v i quản lý lịch tư pháp là phạm vi nội dung ghi nhớ của lý lịch tư

pháp gồm những vẩn đề gì Trong quá trình xây dựng Luật L ý lịch tư pháp của

V iệt Nam, có nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi quản lý lý lịch tư pháp Có

ý kiến cho rằng phạm vi quản lý lý lịch tư pháp ở Việt Nam nên bao gồm cả án

tích (tiền án), tiền sự, một số phán quyết khác của Toà án về các vấn đề dân sự

(năng lực hành v i dân sự, tuvên bổ mât tích, tuvên bố chết , hôn nhân gia đình

(tước một sổ quyền làm cha làm mẹ ), thậm chí cả một số quyết định phạt hành

chính Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

phạm vi quản lý lý lịch tư pháp chỉ bao gồm hai nội dung đó là:

(i), L ý lịch về án tích của người bị kết án bàng bản án quyết định hình sự

của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và tình trạng thi hành án đó;

(ii), L ý lịch về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập quản lý

doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Toà án

tuyên bổ phá sản và cấm thực hiện các hoạt động đã nêu

1.4.2 Thông tin lý lịch tư pháp

Thông tin lý lịch tư pháp bao gồm thông tin lý lịch tư pháp về án tích và

Thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ thành lập, quản lý doanh

nghiệp, hợp tác xã

(i), Thông tin lý lịch tư pháp về án tích là thông tin về cá nhân người bị

kết án; tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ

sung, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí; ngày, tháng, năm tuyên án,

Toà án đã tuyên bản án, số của bản án đã tuyên; tình trạng thi hành án

(ii), Thông tin lý lịch tư pháp về cẩm đảm nhiệm chức vụ, thành lập quản

lý doanh nghiệp, hợp tác xã là thông tin về cá nhân người bị cấm đảm nhiệm

chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã; chức vụ bị cấm đảm

nhiệm, thời hạn không được thành lập quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo

quyết định tuyên bổ phá sản của Tòa án

Trang 21

1.4.3 Nguồn thõng tin lý lịch tư pháp

Nguồn thông tin lý lịch tư pháp là những tài liệu chính thức do cơ quan có

thẩm quyền ban hành trong đó có chứa những thông tin lý lịch tư pháp nói tại

điểm nêu trên

Nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích được quy định tại Điều 15 Luật

- Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt tù; văn bản thông báo kết

quá thi hành hình phạt trục xuất;

- Giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ,

phạt tù cho hưởng án treo và các hình phạt bổ sung;

- Quyết định thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản, án phí và các nghĩa

vụ dân sự khác của người bị kết án; quyết định đình chỉ thi hành án; giấy xác

nhận kết quả thi hành án; văn bản thông báo kết thúc thi hành án trong trường

hợp người bị kết án đã thực hiện xong nghĩa vụ của mình:

- Quvết định ân giảm hình phạt tử hình;

- Giây chứng nhận đặc xá, đại xá;

- Quyết định xóa án tích;

- Giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích;

21

Trang 22

- Trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân V iệ t Nam do cơ

quan có thẩm quyền của nước ngoài cung cấp cho Viện kiểm sát nhân dân tối cao

theo điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp trong lĩnh vực hình sự hoặc theo

nguyên tẳc có đi có lại;

- Quyết định của Toà án Việt Nam về việc dẫn độ để thi hành án tại Việt

Nam; quyết định của Tòa ản V iệt Nam về việc tiếp nhận chuyển giao người đang

chấp hành hình phạt tù; thông báo về quyết định đặc xá, đại xá miễn, giảm hình

phạt của nước chuyển giao đối với người đang chấp hành hình phạt tù;

- Thông báo về việc thực hiện quyết định dẫn độ người bị kết án quyết

định chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù tại V iệt Nam theo yêu cầu

của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài

Theo quy định tại Điều 36 và Điều 37 Luật Lý lịch tư pháp thì nguồn

thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh

nghiệp, hợp tác xã được xác lập từ quyết định tuyên bố phá sản đã có hiệu lực

pháp luật của Toà án theo quy định của Luật Phá sản Toà án đã ra quyết định

tuyên bổ phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã gửi trích lục quyết định tuyên bố phá

sản, trong đó có nội dung cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý

doanh nghiệp, hợp tác xã cho Sở Tư pháp nơi l òa án đó có trụ sở trong thời hạn

10 ngày, kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật

Việc xác định chính xác nguồn thông tin lý lịch tư pháp có ý nghĩa rất

quan trọng trong việc bảo đảm tính chính xác và hiệu lực pháp lý của những

thông tin lý lịch tư pháp chứa đựng trong nguồn đỏ Neu xác định nguồn không

chính xác thì sẽ dẫn đến sai lệch thông tin V í dụ: một bản án hình sự đã được

Toà án sơ thẩm tuyên nhưng chưa có hiệu lực pháp luật thì chưa thể được coi là

nguồn thông tin lý lịch tư pháp, nếu chúng ta căn cứ vào đó để lập lý lịch tư pháp

của đương sự thì sẽ vi phạm nguyên tắc “ Không ai bị coi là có tội khi chưa có

bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9 Bộ luật tổ tụng hình

sự)

1.4.4 Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp

Trang 23

Dữ liệu lý lịch tư pháp có ý nghĩa quan trọng là nền tảng cùa công tác

quản lý lý lịch tư pháp Thông qua dữ liệu lý lịch tư pháp chúng ta mới tra cửu

được tình trạng lý lịch tư pháp của cá nhân

Điều 11 Luật Lý lịch tư pháp quy định: "C ơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp là

tập hợp các thông tin lý lịch tư pháp ve án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cam đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được cập nhật

và xử lý theo quy định cùa Luật này Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dim g và quản lý tạ i Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và tạ i

Sở Tư p h á p ”

Cụ thể hóa quy định trên, Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã quy định cụ thể

hcm về việc lun trữ LLTP (hồ sơ LLTP bằng giấy và dừ liệu LLTP điện tử) và bảo

vệ cơ sở dữ liệu LLTP Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT- BTP-TANDTC-

V KSN D TC -BC A-BỌ P ngày 10/5/2012 hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác

minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp Các văn bản pháp luật này đã

quy định nguyên tẳc quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu LLTP, xác định trách nhiệm

của các cơ quan quản lý LLTP trong việc tổ chức thực hiện trình tự, thủ tục xác

minh, tra cứu, trao đổ cung cap thông tin và các biện pháp bảo đảm an toàn và

an ninh dừ liệu LLTP

1.4.5 Phiếu lý lịch tư pháp

Phiếu lý lịch tư pháp là phiếu do cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư

pháp cấp có giá trị chứng minh cá nhân có hay không có án tích, bị cấm hay

không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã

trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản Điều 41

Luật Lý lịch tư pháp quv định hai loại Phiếu lý lịch tư pháp: Phiếu lý lịch tư pháp

số 1 và Phiếu lý lịch tư pháp sổ 2

Phiếu lý lịch tư pháp sổ ỉ : được cấp cho công dân Việt Nam, người nước

ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam và cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ

chức chính trị - xã hội Án tích đã được xoá thì không ghi vào Phiếu lý lịch tư

23

Trang 24

nghiệp, hợp tác xã chỉ ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 1 khi cá nhân, cơ quan, tổ

chức có yêu cầu

Phiếu lý lịch tư pháp số 2: được cấp cho các cơ quan tiến hành tổ tụng

Trường hợp một người đã bị kểt án thì Phiếu lý lịch tư pháp số 2 ghi tất cả các án

tích (bao gồm án tích chưa được xóa và án tích đã được xoá) Phiếu lý lịch tư

pháp số 2 cũng bao gồm thông tin về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập quản

lý, doanh nghiệp, hợp tác xã Để đảm bảo tính minh bạch và quyền dân chủ của

công dân, Điều 41 quy định Phiếu lý lịch tư pháp số 2 cũng được cấp theo yêu

cầu của cá nhân để người đỏ biết được nội dung về lý lịch tư pháp của mình

2 Đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp

2.1 K h á i niệm đạo đức nghề nghiệp

Đạo đức nghề nghiệp là một đòi hỏi phải được bảo đảm thực hiện trong

quá trình hành nghề của công chức làm công tác lý lịch tư pháp Đạo đức nghề

nghiệp nói chung được hiểu là một loại hình đạo đức, gồm những chuẩn mực và

quy phạm đạo đức được hình thành trên cơ sở hoạt động nghề nghiệp của một

nhóm người, một tổ chức người nhất định Đạo đức nghề nghiệp trước hết phải

mang đầy đủ các yếu tố của đạo đức xã hội, không được trái vớ i đạo đức xã hội

Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp còn có các đặc trưng riêng của mình Đạo đức

nghề luật, trong đó có đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư

pháp là một loại hình đạo đức nghề nghiệp được hình thành và phát triển gắn liền

với hoạt động nghề nghiệp của người hành nghề luật, như thẩm phán, luật sư,

công chứng viên, chấp hành viên, các công chức làm công tác bổ trợ tư pháp,

quản lý hành chính Nhà nước về hành chính tư pháp Nghề luật là một nghề

mang tính đặc thù và đặc biệt, mỗi một quyết định, hành v i của người hành nghề

luật có thể liên hệ đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của cá

nhân, tổ chức trong xã hội

Đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp là sự bổ

sung và kết hợp với các quy phạm xã hội khác (pháp luật, quy chế ngành, bộ quy

tẳc ứng xử nghề nghiệp, nội quy cơ quan, điều lệ Đảng v iê n ) để điều chinh

hành vi của người làm nghề luật trong khuôn khổ pháp luật và trong khuôn khổ

Trang 25

các chuẩn mực dạo đức Các quy phạm xã hội như pháp luật, quy chế ngành, bộ

quy tắc ứng xử nghề nghiệp, nội quy cơ quan, điều lệ Đảng viên không thể bao

quát hết, quy định hết mọi hành vi của người làm công tác lý lịch tư pháp, trong

khi đó, đạo đức nghề nghiệp đóng vai trò nền tảng, là những quy phạm cơ bản, ỉà

xuất phát điểm điều chỉnh hành vi của người làm công tác lý lịch tư pháp Đặc

biệt, so sánh với pháp luật, (dù mọi sự so sánh đều khập khiễng) nhưng pháp luật

không the thav thế vai trò của đạo đức nehề nghiệp trong việc khuyển khích

người làm công tác lý lịch tư pháp làm việc tận tâm làm việc có lợi cho nhiều

người, đạo đức nghề nghiệp có sức mạnh riêng của nó, đó là tác động tới lương

tâm danh dự của người làm công tác lý lịch tư pháp

2.2 Quy tắc đạo đức nghề nghiệp của công chửc làm công tác lý lịch tư pháp

Quy tẳc đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác LLTP bao gồm các yêu cầu cụ thể sau đây:

2.2.1 Yêu cầu về tính cắn trọng, chính xác

Các hoạt động liên quan đến hồ sơ lý lịch của con người luôn đòi hỏi phải

được cập nhật, lưu trữ và sử dụng một cách cẩn trọng, chính xác Nghiệp vụ công

tác lý lịch tư pháp cũng dòi hỏi các công chức làm công tác này phải đảm bảo hai

thuộc tính trên, nói cách khác, hai thuộc tính này trở thành những quy tấc đạo

đức nghề nghiệp hàng đầu đối với công chức Điều này xuất phát từ ý nghĩa pháp

lý và ý nghĩa xã hội rất lớn của Lý lịch tư pháp khi Lý lịch tư pháp được coi là

văn bản để công dân chứng minh tư cách pháp lý của mình, bước ra từ quá khứ

lầm lỗi để làm lại cuộc đời Công tác lý lịch tư pháp còn hỗ trợ hoạt động tố tụng

hình sự, hoạt động thống kê tư pháp hình sự, hỗ trợ công tác quản lý nhân sự,

hoạt động đãng ký kinh doanh, thành lập quản lý doanh nghiệp

Tính cẩn trọng, chính xác đòi hỏi phải được tuân thủ trong toàn bộ các

khâu nghiệp vụ công tác Lý lịch tư pháp, từ khâu tiếp nhận thông tin đòi hỏi phải

cập nhật đủng, đủ từ các nguồn thông tin luật định, nếu cập nhật không đúng,

không đủ sẽ dần đến sự sai sót và nhầm lẫn về dữ liệu, gây ra những hậu quả cho

công tác quản lý và thiệt hại cho công dân Việc xử lý thông tin cũng đòi hỏi

những người làm công tác này phải cẩn trọng, tỷ mỉ, nhất là trong những trường

25

Trang 26

hợp phức tạp, đòi hỏi tập trung nhiều thời gian và tra cứu các văn bản pháp luật

có liên quan

Tính cẩn trọng, chính xác chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình cung

cấp, tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp Đẻ đáp ứng được nhũng

đòi hỏi này, người làm công tác lý lịch tư pháp vừa phải có tổ chất nhẫn nại, chịu

khó, vừa phải tự rèn luyện tinh thần trách nhiệm và tình yêu nghề nghiệp, có như

vậy mới có thể làm tốt một công việc tuy khô khan, thậm chí có phần máy móc

đơn điệu nhưng rất quan trọng và đem lại nhiều lợ i ích cho xã hội và con người

2.2.2 Yêu cầu về tính nhân văn, tôn trọng đ ờ i tư cùa người khác

Người làm công tác lý lịch tư pháp là công chức Nhà nước, là đại diện cho

Nhà nước và cơ quan Nhà nước trong việc giao dịch với công dân khi có nhu cầu

cấp phiếu Lý lịch tư pháp Do đó, người làm công tác lý lịch tư pháp phải thực sự

thấu hiểu và thông cảm với công dân, hướng dẫn cho công dân các giấy tờ, thủ

tục đầy đủ, hạn chế tối đa mọi phiền hà, đi lại, liên hệ nhiều lần cho công dân,

tránh xa những hiện tượng vô cảm, thờ ơ với công dân Đặc biệt, đối tượng công

dân đến xin cấp phiếu Lý lịch tư pháp có một phần lớn là những người đã có quá

khứ phạm tội hoặc thất bại trong cuộc đời, thất bại trong sự nghiệp (đã từng bị

phá sản), do đó, tâm lý mặc cảm, e ngại, thậm chí ngang ngược, bât cân, định

kiến với công chức Nhà nước có thể tiềm ẩn trong ý thức chủ quan của họ, vì thế,

thái độ cửa quyền, hách dịch, ban phát của các công chức làm lý lịch tư pháp sẽ

dẫn tới sự phủ nhận những ý nghĩa tốt đẹp của hoạt động quản lý lí lịch tư pháp,

là điều mà đạo đức nghề nghiệp không thể chấp nhận

Bên cạnh đó, đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư

pháp còn đòi hỏi sự tôn trọng tuyệt đối bí mật đời tư của công dân Việc tôn

trọng bí mật đời tư của công dân thậm chí được pháp luật hiện hành quy định là

một trong ba nguyên tắc quản lý lí lịch tư pháp (khoản 2 Điều 4 Luật L ý lịch tư

pháp) Những thông tin trong lý lịch tư pháp được nhiều quốc gia coi là thuộc về

bí mật đời tư của công dân và hạn chế toi đa việc công bổ những thông tin này

nếu như không thuộc các chủ thể và các trường hợp được quyền yêu cầu cấp

phiếu lý lịch tư pháp Điều này xuất phát từ những hậu quả đặc biệt tiêu cực nếu

Trang 27

các thông tin trong lý lịch tư pháp được tiết lộ đổi với cá nhân, thậm chí là đối

với doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nơi cá nhân đó đang làm việc

2.2.3 Yêu câu vê sự trong sạch, liêm khiết

Sự trong sạch, liêm khiết là một yêu cầu rất khó thực hiện nhưng lại là

một chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của công chức làm công tác lý lịch tư pháp

hav công chức làm bất kỳ công tác nào khác, đòi hỏi không được lợi dụng nghề

nghiệp để mưu cầu lợi ích cho bản thân Việc sách nhiễu công dân, cố tnh đòi

xuất trình các giấy tờ chứng minh không cần thiết, việc cố tình trì hoãn thời hạn

câp phiếu lý lịch tư pháp để ngầm đòi các khoản “ lệ phí" của công dân là những

biểu hiện sinh động cho sự tha hóa tham nhũng của công chức làm công tác lý

lịch tư pháp Nghiêm trọng hơn những hành vi cấp phiếu lý lịch tư pháp có nội

dung sai sự thật, trái thẩm quyền, không dúng đổi tượng xuất phát từ hành v i chủ

ý, vụ lợi là những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm nghiêm trọng đạo đức

công chức

Việc rèn luyện để đáp ứng các yêu cầu, chuẩn mực của đạo đức nghề

nghiệp nói chung và yêu cầu về sự trong sạch, liêm khiết nói riêng là một quá

trình khó khăn vì nhũmg nguyên nhân khách quan khi điều kiện về thu nhập, điều

kiện làm việc của công chức làm công tác lý lịch tư pháp vẫn còn rẩt thiếu thốn,

tuy nhiên, đây cũng là quá trình đấu tranh với hản thân để vượt qua những cám

dỗ cùa vật chất mà công việc quản lý lí lịch tư pháp có thể đem lại, là quá trình

đấu tranh để tự hoàn thiện bản thân, để sống thanh thản, sống có ích cho người

dân và xã hội

27

Trang 28

Bài 2

Q ui định pháp lu ật của m ột số n ư ớ c v ể lý lịch tư pháp

Ở hầu hết các nước, hệ thống quản lý lý lịch tư pháp được thiết lập phát

triển từ hàng chục đến hàng trăm năm nay và có tác dụng tích cực đổi với các

hoạt động tố tụng, quản lý nhà nước, bảo đảm quyền công dân Tuy nhiên, tuỳ

theo điều kiện kinh tế, xã hội khác nhau và thiết chế tư pháp đặc thù mà mồi

nước có khái niệm lý lịch tư pháp phù hợp Khái niệm lý lịch tư pháp thể hiện

phạm vi quản lý lý lịch tư pháp và chính phạm vi quản lý lý lịch tư pháp quyết

định toàn bộ nội dung, quy mô, cơ chế quản lý lý lịch tư pháp

1 Quy ỗịnh về lý lịch tý pháp của Cộng hòa Pháp

1.1 Nguồn thông tin LLTP và Cơ quan LLT P ở CH Pháp

1.1.1 Nguồn thông tin LLTP

Theo pháp luật của Cộng hòa Pháp, lý lịch tư pháp lưu giữ các thông tin về

bản án hình sự, thông tin về thương mại, hành chính như các quyết định về kỷ luật

của cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hành chính, những bản án tuvên bổ việc thanh

lý tư pháp đổi với những thể nhân, sự phá sản cá nhân hoặc cấm quyền liên quan

đến vấn đề phục hồi tư pháp và thanh lý tư pháp các doanh nghiệp

Xuất phát từ phạm vi quản lý lý lịch tư pháp mà mỗi quốc gia có những

quy định riêng về nguồn thông tin lý lịch tư pháp Nguồn thông tin lý lịch tư

pháp giúp cho cơ quan lý lịch tư pháp nấm rõ các thông tin lý lịch tư pháp của cá

nhân, của pháp nhân

Theo quy định tại Bộ luật Điều tra hình sự Cộng hòa Pháp: “ L ý lịch tư

pháp quốc gia trung ương, sau đây gọi là “ Lý lịch tư pháp” là một hệ thống xử lý

tự động đặt dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ bảo đảm

việc đăng ký, lưu trữ và thay đổi các dữ liệu liên quan đến các quyết định được

ban hành trong lĩnh vực hình sự và quốc phòng ” (Điều 589)

Theo quy định của Cộng hòa Pháp, nguồn thông tin lý lịch tư pháp được

cung cấp cho cơ quan lý lịch tư pháp bao gồm nguồn thông tin lý lịch tư pháp

của cá nhân và nguồn thông tin lý lịch tư pháp của pháp nhân

Trang 29

* Thông tin LL TP của cả nhân

Theo quy định tại Điều 768 BLTTHS Pháp, thì thông tin LLTP của cá

nhân được thu thập từ các nguồn sau:

- Những bản án đương tịch hoặc bản án trọng tội xử vắng mặt vì bị cáo từ

chối trình diện, những bản án xử vang mặt không bị kháng án vắng mặt, xử về

trọng tội khinh tội và tội vi cảnh bậc năm, cũng như những quy định tuyên có tội

nhưng cho miền hình phạt hoặc hoãn tuyên hình phạt, trừ những trường hợp

không ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp sổ 1 theo quv định tại Điều 132 - 59 Bộ luật

Hình sự;

- Những bản án đưcmg tịch hoặc xử vắng mặt không bị kháng án vắng

mặt đối với những tội vi cảnh thuộc về bốn bậc đầu tiên, nếu có kèm theo quyết

định về cấm quyền, thất quyền, hoặc về vô năng, với tính chất là hình phạt chính

hoặc hình phạt bổ sung;

- Những quyết định được tuvên do áp dụng các Điều 8, Điều 15, Điều 16

và Điều 28 của Quyết định sổ 45-174 ngày 02/02/1945 về trẻ em phạm tội;

- Những quyết định về kỷ luật của cơ quan tư pháp hoặc cơ quan hành

chính nếu có hậu quả hoặc có quyết định về vô năng;

- Những bàn án tuyên bố việc thanh lý tư pháp đổi với những thể nhân, sự

phá sản cá nhân hoặc cấm quyền quy định tại Điều 192 Luật số 85-98 ngày

25/01/1985 liên quan đến vấn đề phục hồi tư pháp và thanh lý tư pháp các doanh

nghiệp;

- Các bản án quyết định bãi bỏ phụ quyền hoặc rút toàn bộ hoặc một phần

các quyền có liên quan đến phụ quyền;

- Những quyết định trục xuất người nước ngoài;

- Những bản án của Tòa án nước ngoài mà theo một Công ước hoặc Hiệp

định quốc tế, đã được thông báo cho các nhà chức trách Pháp hoặc đã được thi

hành án ở Pháp do người bị hình phạt đã được chuyển giao về Pháp

* Nguồn thông tin LL TP cùa pháp nhân

Thông tin LLTP cùa pháp nhân được Cơ quan LLTP quốc gia thu nhận từ

29

Trang 30

những nguồn thông tin sau (Điều 768-1 BLTTHS):

- Những bản án đương tịch và nhũng bản án vẳng mặt không bị kháng án

vắng mặt, do mọi Tòa hình sự xét xử, về trọng tội, khinh tội, hoặc tội vi cảnh bậc

năm;

- Những bản án đương tịch và những bản án vắng mặt không bị kháng án

vắng mặt về những tội vi cảnh bổn bậc đầu tiên có kèm theo một biện pháp cấm

quyền, thất quyền, vô năng hoặc hạn chế quyền, với tính chất hình phạt chính hoặc

hình phạt bổ sung;

- Những tuyên bổ có tội phạm nhưng cho miễn hình phạt hoặc hoãn tuyên

hình phạt, những tuyên bố này có kèm theo hoặc không kèm theo mệnh lệnh;

- Những bản án của Tòa án nước ngoài mà theo Công ước hoặc một Hiệp

định quốc tế, đã được tuyên báo cho các nhà chức trách Pháp

1.2.2 Cơ quan LLTP ờ CH Pháp:

Tại Pháp, Cơ quan lý lịch tư pháp quổc gia thuộc V ụ hình sự và ân xá, đặt

dưới sự quản lý của Bộ Tư pháp Cơ quan lý lịch tư pháp gồm có Ban giám đốc

Dưới ban giám đốc là các phòng trực thuộc, bao gồm: Phòng tin học, Phòng pháp

lý, Phòng nhập liệu và Phòng hành chính

Cơ quan lý lịch tư pháp có nhiệm vụ quản lý toàn bộ các bản án trong lãnh

thổ nước Pháp (bao gồm bản án hình sự, một số bản án thương mại liên quan đến

phá sản, một số bản án cẩm hành nghề trong hoạt động thương mại và một số

quyết định xử phạt hành chính) Ngoài những bản án do Tòa án trong nước

tuyên, cơ quan Lý lịch tư pháp còn lưu trữ cả những thông tin liên quan đến bản

án do Tòa án nước ngoài tuyên thông qua các hiệp định tương trợ tư pháp

1.2 Quy định pháp lu ậ t của CH Pháp về LLT P

1.2.1 Quy định về g h i phiếu LLTP

Ở Pháp, xóa án tích bao gồm: xóa án đương nhiên và xóa án theo quyết

định của Tòa án Thủ tục xóa án theo quyết định của Tòa án chỉ được áp dụng

cho những bản án không có quy định đương nhiên xóa án Điều 769 Bộ Luật Tổ

tụng hình sự Pháp quy định không ghi vào phiếu lý lịch tư pháp (trừ phiếu số 1 -

Phiếu cấp cho các nhà chức trách tư pháp là phiếu vẫn ghi đầy đủ các thông tin)

Trang 31

trong những trường htrp sau:

- Luật số 75-624 ngày 11/7/1975 qui định phải rút khỏi lý lịch tư pháp

những phiếu về hình phạt đã được đại xá (Luật số 92 -1336 ngày 16/12/1992), đã

được xóa án đương nhiên hoặc do Tòa án quyết định” hoặc được sửa đổi theo

một quyết định về sửa lý lịch tư pháp Cũng được rút khỏi lý lịch tư pháp những

phiếu về hình phạt đã được tuyên trên 40 năm mà sau đỏ không bị xử phạt đổi

với tội mới về trọng tội hoặc khinh tội, trừ những hành vi không được áp dụng

thời hiệu

- Luật sổ 92-1336 ngày 16/12/1992 qui định: “ Cũng được rú t khỏi lý lịch

tư pháp" đôi với những trường hợp sau:

+ Những bản án tuyên về phá sản cá nhân hoặc cấm quyền theo Điều 192

Luật sổ 85-98 ngày 25/01/1985 nói trên nhưng đã được xóa bằng một bản án về

hết nợ hoặc một bản án xóa án hoặc đã quá hạn 5 năm kể từ ngày những bản án

đó có hiệu lực pháp luật, hoặc đã quá hạn 5 năm đối với bản án, quyết định việc

thanh lý tư pháp đối với một thể nhân, tính từ ngày bản án đó có hiệu lực pháp

luật hoặc (Luật số 94-475 ngày 10/6/1994) ''sau khi có bàn án về xóa á n '\

Tuy nhiên, nếu thời gian phá sản cá nhân hoặc cấm quyền là trên năm năm

thì những hình phạt có liên quan đến những biện pháp đó vẫn được ghi trong

những phiếu lý lịch tư pháp trong thời gian đó;

+ Những hình phạt được hưởng án treo một phần hoặc toàn bộ, có hay

không có thời gian thử thách, đã hết hạn quy định tại các Điều 133-13 và Điều

133-14 Bộ luật Hình sự, tính từ ngày các hình phạt đó được coi là không có;

+ Những quyết định miễn hình phạt sau 3 năm kể từ ngày quyết định đó

trở thành nhất định;

+ Những hình phạt vi cảnh sau 3 năm kể từ ngày việc xử phạt đó trở thành

nhất định

- Điều 769-1 Bộ luật Tổ tụng hình sự Pháp quy định: " phải g h i vào các

phiếu lý lịch tư pháp của pháp nhân những sự thav đổi quy định tạ i khoản 1 Điểu

31

Trang 32

769 Khoản 2 Điểu 769 được áp dụng đ ố i vớ i những việc xừ phạt đối vớ i những

pháp nhân

Điều 769-2 Bộ luật Tổ tụng Hình sự Pháp (Luật sổ 92-1336 ngày

16/12/1992) qui định: Được rút khỏi lý lịch tư pháp những tài liệu sau:

+ Những phiếu có liên quan đến những biện pháp được thực hiện theo các

Điều 8, Điều 15, Điều 16, Điều 16bis và Điều 28 của Quyết định số 45-174 ngàv

02/02/1945 đối với trẻ em phạm tội, sau khi hết hạn và trong mọi trường hợp khi

đứa trẻ đã đen tuổi thành niên;

+ Những phiếu có liên quan đến phạt tiền cũng như phạt tù giam không

quá hai tháng đối với những người chưa thành niên, khi đương sự đến tuổi thành

nicn;

+ Những phiếu có liên quan đến những hình phạt do Tòa án xử Trẻ em

quyết định, có hoặc không cho hưởng án treo, có hoặc không có thời gian thử

thách, hoặc cho hưởng án treo nhưng buộc phải thực hiện một việc làm vì lợ i ích

chung, khi hết hạn thử thách

1.2.2 Các lo ạ i phiếu LLTP

Theo quy định của pháp luật Pháp, Phiếu lý lịch tư pháp bao gồm: Phiếu

lý lịch tư pháp số 1; Phiếu lý lịch tư pháp số 2 và Phiếu lý lịch tư pháp số 3

* Phiếu LLTP sổ 1: : là loại phiếu chì có các nhà chức trách tư pháp (thẩm

phán) mới được quyền tiếp cận Thông tin của Phiếu sổ 1 rất phong phủ, bao gồm

tất cả các thông tin liên quan đến án tích của một người và những thông tin liên

quan đến phán quyết của tòa án thương mại như cấm quản lý doanh nghiệp, cấm

hành nghề (Điều 774, Điều 774-1 Bộ luật Tố tụng hình sự)

* Phiếu LLTP sổ 2: là loại phiếu cấp cho một sổ cơ quan nhà nước Thông

tin của Phiếu lý lịch tư pháp số 2 không bao gồm hình phạt vi cảnh, không bao

gồm hình phạt án treo, không bao gồm những phán quyết do Tòa án nước ngoài

tuyên Điều 775 Bộ luật Tổ tụng hình sự Pháp quy định:

- Luật số 70-643 ngày 17/7/1970 qui định: Phiếu lý lịch tư pháp sổ 2 là

bản ghi các phiếu về lý lịch tư pháp đối với một người, trừ những quyết định sau

Trang 33

+ “ Những quyết định xử phạt theo các Điều 2 Điều 8, Điều 15 Điều 16,

18 và Diều 28 của Quyết dịnh sổ 45-174 ngày 02/02/1945 được sửa đổi, về trẻ

em phạm tội;

+ “ Những việc xử phạt đã bị Diều 775-1 qui định cấm ghi vào phiếu lý

lịch tư pháp sổ 2" (Luật số 75-624 ngàv 11/7/1975)

+ Những phạt về vi cảnh;

+ Những việc xử phạt được hưởng án treo, có hoặc không cỏ thử thách,

khi nhừne việc xử phạt này được coi là không có

+ ‘“Những xử phạt được xóa do đương nhiên khôi phục công quyền hoặc

do quyết định của tòa án" (Bị bãi bỏ từ ngày 01/3/1994 bởi Luật sổ 92-1336 ngày

16/12/1992)

+ Những hình phạt được áp dụng Điều 343 {361} Bộ luật Tòa án quân sự;

+ Luật sổ 85-98 ngày 25/01/1985 Điều 189 “ v ề trường hợp phục hồi tư

pháp, những bản án công bố sự phá sản cá nhân, hoặc cấm quyền do Điều 192

Luật số 85-98 ngày 25/01/1985 nói trên quy định, khi những biện pháp đó đã

được xóa bằng một bản án về hết nợ, một bàn án xóa án, hoặc đã hết hạn 5 năm

kể từ ngày những xử phạt đó đã có hiệu lực pháp luật, cũng như bản án công bố

việc thanh lý tư pháp đối với một thể nhân khi hét hạn 5 năm tính từ ngày bản án

đó có hiệu lực pháp luật, hoặc sau khi có bản án về hết nợ Mặc dù Luật sổ 92-

1336 ngày 16/12/1992 đã hãi bỏ khoản 7 trên đây từ ngày 01/3/1994, Điều 93-11

của Luật số 94-475 ngày 10/6/1994 quy định: “ Tại khoản 7 Điều 775, những từ

phục hồi tư pháp” bị xóa bỏ và những từ “ bản án công bố thanh lý tư pháp" được

thay bàng những từ "bản án thanh lý tư pháp"

Tuy nhiên, nếu thời gian phá sản cá nhân hoặc cấm quyền là trên 5 năm

thì xử phạt liên quan dến các biện pháp đó được ghi vào phiếu lý lịch tư pháp sổ

2 cũng sang thời gian đó

+ BỊ bãi bỏ từ ngày 01/3/1994 bởi Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992;

+ Những quyết định về bãi bỏ phụ quyền;

33

Trang 34

+ Những quyết định về trục xuất bị bãi bỏ hoặc rút lại;

+ Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992 qui định "Những hình phạt không

được hưởng án treo theo quy định tại các Điều 131-5 đến Điều 131-11 Bộ luật

Hình sự khi hết thời hạn tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật Neu là hình

phạt “ phạt tiền theo ngày" (peine de jours-amende) thì thời hạn là 3 năm

Luật số 75-624 ngày 11/7/1975 qui định “ Tuy nhiên, nếu thời hạn cấm

quyền, thất quyền hoặc vô năng tuyên theo (Luật sổ 92-1336 ngày 16/12/1992)"

Các Điều 131-10 và Điều 131-11” là trên 5 năm thì ghi vào phiếu lý lịch tư pháp

số 2 trong thời gian đó;

+ Những quyết định tuyên có tội nhưng miễn hình phạt (Luật sổ 89-461

ngày 06/7/1989) “ hoãn tuyên hình phạt” ;

+ Những hình phạt do các Tòa án nước ngoài quyết định

Trong trường hợp có khiếu nại về danh sách cử tri thì trong phiếu lý lịch

tư pháp sổ 2 được cung cấp, chỉ ghi những quyết định có hậu quả là mất quyền

bầu cử

Neu không có nguồn thông tin nào về lý lịch tư pháp được ghi vào phiếu

lý lịch tư pháp số 2 thì ghi vào phiếu số 2 là “ không có gì”

Điều 775-1A Luật số 92-1336 ngày 16/12/1992 quy định:

Phiếu lý lịch tư pháp số 2 của một pháp nhân là bản ghi những phiếu về xử

phạt pháp nhân đó, trừ những quyết định sau đây:

- Những hình phạt mà Điều 775-1 quy định không ghi vào trích lục lý lịch

tư pháp;

- Những xử phạt về vi cảnh và phạt tiền dưới 200.000 Phờ-răng;

- Những hình phạt được hưởng án treo khi những hình phạt này được coi

như không có;

- Những quyết định tuyên có tội những miễn hình phạt hoặc hoãn tuyên

hình phạt, có hoặc không kèm theo mệnh lệnh;

- Những hình phạt của Tòa án nước ngoài

Trang 35

Ncu trong lý lịch tư pháp không có thông tin nào liên quan đến các quyết

định cần ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì ghi là “ không có gì”

Ngoài quy định tại Diều 775 và Điều 775-1A nêu trên, Bộ Luật tố tụng

hình sự Pháp còn quy định “ Tòa án đã xử phạt có thể quyết định không ghi hình

phạt đó vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 Tòa án cỏ thể quyết định ngay trong bản

án đã tuyên hình phạt hoặc trong một bản án sau đó theo đơn của người bị án

Dơn này được xem xét và quyết định theo thẩm quyền và thủ tục do (Luật số 92-

1336 ngày 16/12/1992) "các Điều 702-1 và Điều 703 quy định” Khi hình phạt

này không được ghi vào phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì cũng không được ghi mọi

sự cẩm quyền, thất quyền hoặc vô năng là hậu quả của hình phạt đó” (Điều 775-

!)•

Luật sổ 88-828 ngày 20/7/1988 qui định: Những người bị kết án phải chịu

một hình phạt được đương nhiên xóa án, sẽ không bị ghi hình phạt vào phiếu lý

lịch tư pháp sổ 2 khi họ có đơn yêu cầu những quy định về thẩm quyền nói ở

Điều trên, khi hết thời hạn 20 năm kể từ khi họ được trả tự do hoặc được trả tự do

trước thời hạn mà không bị bắt lại, nếu sau đó họ không bị phạt về trọng tội hoặc

khinh tội” (Điều 775-2)

* Phiếu LLTP sổ 3: là loại phiếu cấp cho cá nhân Phiếu lý lịch tư pháp số

3 chỉ chứa đựng những thông tin liên quan đến bản án của tòa án về những hình

phạt tước tự do trên hai năm không được hưởng án treo và với thời hạn 2 năm

hoặc dưới 2 năm nhưng Tòa án quyết định là ghi vào Phiếu lý lịch tư pháp số 3

Điều 777 Bộ luật Tố tụng hình sự Pháp quy định:

Luật sổ 75-624 ngày 11/7/1975 qui định: Phiếu lý lịch tư pháp số 3 là bản

ghi những hình phạt về trọng tội hoặc khinh tội không bị loại trong phiếu lý lịch

tư pháp sổ 2:

- Những hình phạt tước tự do trên hai năm không được hưởng án treo có

thể phải thụ hình toàn bộ do không cho hưởng án treo nữa;

- Những hình phạt tước tự do nói ờ khoản 1 trên đây và với thời hạn 2

năm hoặc dưới 2 năm nhưng Tòa án quyết định là ghi vào phiếu lý lịch tư pháp

35

Trang 36

sổ 3;

hưởng án treo trong thời gian bị cẩm quyền, thất quyền hoặc vô năng, theo (Luật

số 92-1336 ngày 16/12/1992) “ các Điều 131-6 đến Điều 131-11 Bộ luật Hình

sự”

Luật sổ 70-643 ngày 17/7/1970 qui định: “ Đương sự có thể yêu cầu cấp

phiếu lý lịch tư pháp số 3 về mình Trong bất cứ trường hợp nào cùng không

được cap cho người thứ ba”

Luật sổ 75-624 ngày 11/7/1975 qui đinh:” Có thể không ghi vào phiếu lý

lịch tư pháp số 3 những hình phạt theo những quy định tại khoản 1 Điều 775-1"

(Điều 777-1)

về xử lý v i phạm, pháp luật Cộng hòa Pháp quy định như sau:

Điều 781 Bộ Luật Tổ tụng hẽnh sự Pháp quy định: Người nào dùng tên

giả hoặc một tư cách giả để được cấp bản trích lý lịch tư pháp của một người thứ

ba thì bị phạt tiền (Luật sổ 92-1336 ngày 16/12/1992) 50.000 Phờ - răng

Người nào cung cấp những tài liệu không có thật, làm cho hoặc có thể làm

cho việc ghi lý lịch tư pháp bị sai thì cũng bị phạt như thế

Luật sổ 80-2 ngày 04/01/1980 qui định: “ Hình phạt nói trên cũng áp dụng

đối với người yêu cầu cấp mà được đương sự cấp cho một phần hoặc toàn bộ

những điều ghi trong bản chép toàn bộ lý lịch tư pháp nói ở Điều 772-2 của Bộ

luật này”

2 Quy định về Lý lịch tư pháp của V ưong quốc Bỉ

2.1 Quy định pháp lu ậ t về LLTP

Theo quy định tại Điều 589 Bộ luật Điều tra hình sự Vương Quốc Bỉ: “ Lý

lịch tư pháp quổc gia trung ương, sau đây gọi là “ L ý lịch tư pháp’' là một hệ

thống xử lý tự động đặt dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Tư pháp, có nhiệm vụ

bảo đảm việc đăng ký, lun trữ và thay đổi các dữ liệu liên quan đen các quyết

định được ban hành trong lĩnh vực hình sự và quổc phòng ”

Khác với Pháp, ở Bỉ, nguồn thông tin lý lịch tư pháp được gửi cho cơ

Trang 37

quan lý lịch tư pháp chỉ gồm các thông tin lý lịch tư pháp liên quan đến cá nhân,

không bao gồm thông tin lý lịch tư pháp của pháp nhân Điều 590 Bộ luật điều

tra hình sự Vương quốc Bỉ quy định, đổi với mỗi cá nhân, lý lịch tư pháp lưu trừ

các thông tin sau:

- Các bản án quvết định về các tội hình sự rất nghiêm trọng hoặc nghiêm

trọng, các tội vi cảnh

Các quyết định tuyên bố tạm đình chỉ việc truy cứu trách nhiệm hình sự

hoặc đình chỉ việc truy cứu hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ hoặc quyết định đình

chỉ việc truy cứu trách nhiệm hình sự, hoặc quyết định thay thế việc tạm đình chỉ

đơn giản bằng việc dinh chỉ phù hợp với quy dịnh tại các điều từ Điều 3 đến

Điều 6 của Luật ngày 29 tháng 6 năm 1964 quy định về tạm đình chỉ, án treo và

đình chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự;

Các quyết dịnh phạt tiền do công tổ viên hoàng gia tuyên phù hợp với quy

định tại Điều 65bis Luật dữ liệu ngày 16 tháng 3 năm 1968 về xử phạt vi phạm

giao thông;

- Các quyết định hủv việc áp dụng hình phạt án treo phù hợp với quy định

tại Điều 14 của Luật trên;

- Các quyết định giam giữ tước bò tạm thời hoặc vĩnh viễn quvền tự do và

quyết định tái hòa nhập cộnc đồng được áp dụng đối với các đối tượng đặc biệt

phù hợp với quy dinh tại Điều 7 và các điều từ Điều 18 đến Điều 20 của Luật

ngày 01 tháng 7 năm 1964 về việc đảm bảo an ninh quốc gia đổi với các đối

tượng đặc biệt và các dối tượng phạm tội chuyên nghiệp;

- Các quyết định áp dụng theo yêu cầu của Chính phủ về việc giam giữ các

đổi tượng tái phạm, đối tượng phạm tội chuyên nghiệp và tội phạm tình dục, phù

hợp với quy định tại các Điều 22 Điều 23 Điều 23bis, Điều 25bis và Điều 26 của

Luật nói trên;

- Các quyết định eiam giữ nhũng người bị kết án quy định tại Điều 21 của

Luật nói trên và các quyết định bẩt buộc đưa các đổi tượng này quay trở lại nhà

37

Trang 38

- Quyết định tước quyền làm cha, mẹ, quyết dịnh tái hòa nhập, các biện

pháp được tuyên đối với trẻ vị thành niên được liệt kê tại Điều 63 Luật ngày 08

tháng 4 năm 1965 liên quan đến bảo vệ thanh niên; tương tự như đối với việc hủy

hoặc thay đổi các quyết định do Tòa vị thành niên tuyên tuân theo quy định tại

Điều 60 của Luật nói trên;

- Các bản án tuyên hủy phù hợp với quy định tại các điều từ Điều 416 đến

Điều 442 hoặc từ Điều 443 đến Điều 447bis của Bộ luật này;

- Các quvết định công nhận và thi hành được tuvên phù hợp với quy định

tại các điều từ Điều 10 đến Điều 14 của Luật đặc biệt ngày 06 tháng 01 năm 1989

về tòa án trọng tài;

- Các quyết định giải thích hoặc đính chính bản án:

- Các bản án khôi phục quyền được tuyên phù hợp với quy định từ Điều

621 đến Điều 634 của Bộ luật này;

- Các quyết định khôi phục quyền được tuyên phù hợp với quy định tại

Pháp lệnh ngày 09 tháng 12 năm 1943 về việc khôi phục quyền đối với những

người làm nghề hàng hải và về việc chấm dứt việc truy cứu trách nhiệm hình sự

và hình phạt áp dụng đối với một sổ tội phạm hàng hải;

- Các quyết định khôi phục phù hợp với quy định của Pháp lệnh ngày 22

tháng 4 năm 1918 về khôi phục quyền đối với quân nhân;

- Các quyết định ân xá;

- Các quyết định áp dụng hoặc huỷ bỏ việc tha tù có điều kiện;

- Các quyết định hình sự được tuyên bời tòa án nước ngoài liên quan đến

công dân Bỉ, được thông báo cho Chính phủ Bỉ theo quy định của các điều ước

quốc tế cũng như là các biện pháp ân xá, xóa bỏ việc kết án hoặc khôi phục quyền

do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tuyên và thông báo cho Chính phủ Bỉ

biết

Lý lịch tư pháp đăng ký cả các hình phạt bổ sung và các biện pháp bảo

đảm an ninh cũng như án treo được ghi nhận từ các bản án của tòa án

Các bản án đã được đăng ký và đã là đối tượng cùa một quyết định được

Trang 39

tuvên sau khi có kháng cáo trong thời hạn kháng cáo đặc biệt hoặc sau khi có bản

án mới tuyên thay thế bản án cũ hị huỷ, thì hị xóa khỏi lý lịch tư pháp

2.2 Cơ quan LL TP ở B ỉ

Ở Bỉ cơ quan lý lịch tư pháp ra đời từ lâu với tên gọi là Viện Lý lịch tư

pháp (CCR), tuy nhiên, cơ sở pháp lý cho hoạt động của Viện được thiết lập bởi

đạo luật ban hành ngày 03 tháng 9 năm 1997 (có hiệu lực vào tháng 9 năm 2001),

đó là Bộ luật điều tra hinh sự Viện Lý lịch tư pháp có trụ sờ ở Brussels, trực

thuộc Văn phòng trung ương của Bộ Tư pháp liên bang Điều 2 Bộ luật điều tra

hình sự năm 1997 quy định: “ Hệ thống lý lịch tư pháp trung ương là một hệ

thống công nghệ thông tin do Văn phòng Trung ương của Bộ Tư pháp liên bang

quản lý chịu trách nhiệm đăng ký, duy trì và sửa đổi tất cả các dữ liệu có liên

quan đến các bản án, quyết định trong lĩnh vực hình sự và quốc phòng”

v ề cơ bản, Viện lý lịch tư pháp là một công cụ tư pháp nhưng Viện cùng

phục vụ chức nâng nghiên cứu khoa học và thống kê, đặc biệt cho Cục tội phạm

học của Bộ Tư pháp liên bang

Ở Bỉ, việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp cho các cơ quan, tổ chức, cá

nhân được thể hiện dưới hình thức “ trích lục lý lịch tư pháp*’ Tùy theo chức

năng, quyền hạn, mục đích, yêu cẩu mà trích lục lý lịch tư pháp được cung cấp

đầy đủ hoặc không đầy đủ thông tin lý lịch tư pháp (Điều 593 - Điều 597 Bộ luật

Điều tra hình sự) Để hảo vệ bí mật thông tin và bí mật đời tư Điều 601 Bộ luật

Điều tra hình sự Vương quốc Bỉ quy định trách nhiệm của các công chức trong

việc thu thập, kiểm tra và chuyển đừ liệu:

“ Những người mà trong khi thi hành nhiệm vụ, thực hiện các công việc

như thu thập, xử lý hoặc chuyển giao các thông tin theo quy định tại Điều 590 có

nghĩa vụ phải giữ bí mật nghề nghiệp Điều 458 Bộ luật Hình sự có thể được áp

dụne đối với họ khi họ vi phạm nghĩa vụ này

Họ phải áp dụng mọi biện pháp hữu ích nhằm đảm bảo tính an toàn, bảo

mật của các thông tin được lưu trữ và phòng chống lại việc hủy hoại, xâm phạm

hoặc tiết lộ thông tin cho neười không có quyền được cung cấp Họ có nghĩa vụ

39

Trang 40

áp dụng mọi biện pháp phù hợp để cài đặt các chương trình phục vụ việc xử lý

bàng điện tử các thông tin cũng như là tính hợp lệ của việc áp dụng các chương

trình này Họ giám sát tính hợp lệ của việc chuyển giao các thông tin

Việc xác định nhân thân của bất kỳ người nào thực hiện việc truy cập vào

hệ thống lý lịch tư pháp đều được lun trừ trong một hệ thống kiểm sát Các thông

tin này được lưu trữ trong thời hạn 6 tháng"

3 Quy địnb pháp luật của CHLB Đức về LLTP

3.1 Quy định pháp lu ậ t về LLTP

Ở Đức, Luật về Cơ quan Đãng ký trung ương (BZRG ) ngày 18 tháng 3

năm 1971, sửa đổi ngày 21 tháng 9 năm 1984 và sửa đổi ngày 17 tháng 12 năm

2006, quỵ định việc duy trì và quản lý một cơ quan lưu trữ lý lịch trung ương

(BZR), có tên gọi là cơ quan Đăng ký liên bang trung ương Cơ quan này được

đặt tại Bom và do Văn phòng Tư pháp liên bang quản lý theo sự lãnh đạo của Bộ

Tư pháp liên bang

Theo quy định của pháp luật Cộng hòa liên bang Đức, phạm vi quản lý lý

lịch tư pháp không chỉ bao gồm các thông tin về bản ản hình sự của tòa án mà

phạm vi quản lý lý lịch tư pháp còn bao gom thông tin liên quan đến quyết định

của cơ quan hành chính và tòa án về vi phạm trong công nghiệp và thương mại;

các quyết định của cơ quan công tố hình sự về việc truy tổ đang thực hiện đối với

một người nào đó

Theo quy định của pháp luật Cộng hòa liên bang Đức, nguồn thông tin lý

lịch tư pháp được cung cấp cho cơ quan lý lịch tư pháp bao gồm:

- Bất cứ sự kết án nào dựa trên pháp luật hnh sự phải được đăng ký tại cơ

quan lưu trừ lý lịch trung ương (Bundeszentralregister, g ọ i tắt là BZR), được quy

định tại đoạn 1, đoạn 4 - đoạn 8 Luật về Cơ quan Đăng ký trung ương Theo quy

định tại đoạn 10 Luật về Cơ quan Đăng ký trung ương, các quyết định hành

chính liên quan đến lợ i ích công cộng phải được đăng ký, đặc biệt là các quyết

định chổng lại người nước ngoài, người giữ vũ khí và nhà kinh doanh, những

người đã bị tuyên bố chính thức, những người đang bị điều tra do những hành vi

sai trái nghiêm trọng hoặc các lý do khác

Ngày đăng: 01/05/2021, 20:39

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm