Theo quy định tại Điều 270 (Chương X X IX ) của Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2003, thì không có thủ tục xóa án tích đương nhiên mà chỉ có thủ tục cấp Giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích. Theo đó, người được đương nhiên xóa án tích phải có đơn yêu cầu cap Giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích gửi Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án. Sau khi nhận được đom yêu cầu, Chánh án Tòa án xét xử sơ thẩm sẽ xem xét, nếu thỏa mãn các quy định của pháp luật về những trường hợp đương nhiên xóa án thì sẽ cấp Giấy chứng nhận là người đó đã được xóa án tích.
Ngoài quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về việc xóa án tích, thì Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 cũng có quy định liên quan đến việc xóa án tích đương nhiên (Điều 33). Theo đó, khi xác định được người bị kết án có đủ điều kiện
đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự thì Sở Tư pháp ghi “ đã được xóa án tích ” vào Lý lịch tư pháp của người đó. Như vậy, cỏ thể thấy với việc ban hành Luật Lý lịch tư pháp. Quốc hội đã chính thức ghi nhận hai phương thức xác nhận sự kiện xóa án tích đương nhiên: một là, xác nhận bằng việc Tòa án cấp Giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích; hai là, xác nhận bằng việc Sở Tư pháp ghi ‘‘đã được xỏa án tích ” vào Lý lịch tư pháp của người bị kết án.
Quy định tại Điều 33 của Luật L ý lịch tư pháp được hiểu: trong quá trình cập nhật thông tin lý lịch tư pháp, nểu nhận thấy người có án tích đã có đủ điều kiện về thời gian để được đương nhiên xóa án tích, cơ quan quản lý lý lịch tư pháp (Sở Tư pháp) tiến hành xác minh thêm về việc người đó có phạm tội mới hay không trong thời hạn quy định của Bộ luật Hình sự về đương nhiên được xóa án tích đối với tội danh và hình phạt đỏ. Việc xác minh được thực hiện tại ủ y ban nhân dân xã, phường, thị trấn; trong trường hợp cần thiết thì xác minh tại Công an huyện, quận, thị xã, thành phổ thuộc tỉnh (sau đây gọi là Công an cấp huyện) nơi người có án tích thường trú hoặc tạm trú sau khi chấp hành xong bản án. Neu kết quả xác minh cho thấy người có án tích không phạm tội mới trong thời hạn quy định của Bộ luật Hình sự về đương nhiên xóa án tích đổi với loại tội danh và hình phạt đó thì Sở Tư pháp ghi vào L ý lịch tư pháp của người đó là “ đã được xóa án tích
2.2. Thủ lụ c xóa án tích do Tòa án quyết định
Điều 271 của Bộ luật Tổ tụng Hình sự năm 2003 quy định thủ tục xóa án tích do Tòa án quyết định tương đối đom giản, theo đó:
- Người bị kết án phải cỏ đơn gửi Tòa án đã xử sơ thẩm vụ án kèm theo nhận xét của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi họ làm việc.
- Chánh án Tòa án chuyển tài liệu về việc xin xóa án tích cho Viện kiểm sát cùng cấp để phát biểu ý kiến bàng văn bản.
- Sau khi có ý kiến của Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án tiến hành xem xét
và ra một trong hai quyết định sau đây: một /ờ, xóa án tích cho người bị kết án.
nếu xét thấy có đủ điều kiện; h a i là, bác đơn xin xóa án tích, nếu xét thấv chưa đủ điều kiện.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự thì Tòa án quvết định xóa án tích cho người bị kết án căn cứ vào tính chất của tội phạm đã được thực hiện, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật và thái độ lao động của người bị kết án. Người bị Tòa án bác đơn xin xóa án tích lần đầu phải chờ một năm sau mới được xin xóa án tích; nếu bị bác đơn lần thứ hai trở đi thì phải sau hai năm mới được xin xóa án tích.
2.3. Cách tin h th ờ i hạn để xỏa án tích
Theo quy định tại Điều 67 của Bộ luật Hình sự thì thời hạn để xóa án tích (kể cả xóa án tích đương nhiên và xóa án tích do Tòa án quyết định) được tính căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên. Neu chưa được xóa án tích mà phạm tội mới, thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính từ ngày chấp hành xong bản án mới.
Bản án được coi là chấp hành xong nếu người bị kết án đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung (nếu có) và các quyết định khác của bản án.
Trường hợp người bị kểt án được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại thì cũng được coi là đã châp hành xong hình phạt.
2.4. Phương thức xác nhận sự kiện người b ị kết án được xỏa ân tích Theo quy định của Bộ luật Hình sự (Điều 63) và Bộ luật Tố tụng hình sự (các Điều 270 và 271) thì có 02 phương thức xác nhận sự kiện xóa án tích cho người bị kết án. Đó là: Tòa án cap giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích và Tòa án ra quyết định xóa án tích.
Luật L ý lịch tư pháp đã bổ sung thêm một phương thức nữa để xác nhận sự kiện người bị kết án đương nhiên được xóa án tích. Theo đỏ, Sở Tư pháp cập nhật sự kiện đương nhiên được xóa án tích vào Lý lịch tư pháp của người bị kết án, khi xác định được rằng, người bị kết án đã có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích.
Như vậy, có thể thấy vớ i việc ban hành Luật Lý lịch tư pháp, Quốc hội đã
chính thức ghi nhận 03 phưcmg thức xác nhận sự kiện xóa án tích cho người bị kết án: một là, xác nhận hằng việc Tòa án cấp Giấv chứng nhận đương nhiên được xóa án tích; hai là, xác nhận bàng việc Tòa án ra quyết định xóa án tích; ba là, xác nhận bàng việc Sở Tư pháp ghi “ đã được đương nhiên xỏa án tíc h " vào L ý lịch tư pháp của người bị kết án. Quy định mới của Luật Lý lịch tư pháp đã tạo thêm một khả năng, một cơ hội để cho công dân lựa chọn cách thức xác nhận sự kiện mình được xóa án tích sao cho tiện lợi nhất.