Kỹ năng cập nhật thông tin trong trường họp Giám đốc thẩm

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Nghiệp vụ lý lịch Tư pháp Phần 1 (Trang 174 - 186)

Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. Như vậy, Giảm đốc thẩm không phải là cấp xét xử, chỉ là cấp kiểm tra. tiến hành kiểm tra lại những bản án, quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật hoặc kiểm tra xem xét lại những bản án, quyết định phúc thẩm. Theo đó, những bản án.

quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng là những bản án, quvết định thuộc một trong những trường hợp sau đây: (1) quả trình xử lý vụ án tạ i phiên tòa, H ộ i đồng xét xử, Kiểm sát viên đã tiến hành điều tra1 xét hỏi phiến diện và không đầy’ đủ; (2) kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án; (3) có sự v i phạm nghiêm trọng thủ tục tổ tụng trong khi điểu tra 1 truy’ tổ hoặc xét xử; (4) có những sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật H ĩnh sự.

K ỹ năng cập nhật thông tin về những bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm là việc các chuyên viên làm công tác cấp lý lịch tư pháp phải nắm bắt được các thông tin về những trường hợp bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, về phạm nhân đang chấp hành bản án phạt tù, nhưng bản án xét xử đó bị kháng nghị Giám đốc thẩm. Có nhiều trường hợp người có thẩm quyền kháng nghị Giám đốc thẩm ra quyết định tạm đình chỉ thi hành án khi thực hiện việc kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm, vì cho rằng bản án có nhiều sai xót hoặc không đúng, nếu tiếp tục thi hành án sẽ rất bất lợi và thiệt thòi cho người bị kết án; trường hợp đối tượng bị kết án cải tạo không giam giữ h o ặ C v b ị phạt tù và cho hưởng án treo, đang thi hành án thì bản án, quyết định đó bị kháng nghị theo thủ tục giám đổc thẩm. Việc kháng nghị

1 Bài 8.1.2 trong C hư ơng trình Đ ào tạo nghiệp vụ ch o cán b ộ, c ô n g chứ c làm cô n g tác lý lịch tư pháp

theo trình tự Giám đốc thẩm cỏ thể diễn ra theo hai hướng:

(1) kháng nghị theo hướng làm xấu đi tình trạng của đổi tượng bị kết án.

(2) kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án.

1.2. K ỹ năng cập nhật các thông tin về các quyết định Giảm đốc thẩm Theo quy định tại Điều 4, 5 Thông tư liên tịch sổ 04/TTLT-BTP- TA N D TC -V K S N D TC -B C A-BQP ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao- Viện kiểm sát nhân dân tối cao- Bộ Công an- Bộ quốc phòng về hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp quy định trường hợp bản án được xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì Ban thư ký Tòa án nhân dân tối cao cung cấp quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm; Trong thời hạn 15 ngày làm v iệc.-k r tÙTigày nhậrrứược văn bản đề nghị cung cấp thông tin lý lịch tư pháp, Tòa án có nhiệm vụ gửi thông tin lý lịch tư pháp cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp đã đề nghị, cụ thể như sau: Ban thư ký l òa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ gửi quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm.

Thông tin về các quyết định Giảm đốc tham là những thông tin về cá nhân người bị kết án, về các trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, bị kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm do phát hiện bản ản, quyết định đó có v i phạm pháp luật nghiêm trọng. Quyết định Giám đốc thẩm bao gồm một trong các trường hợp sau: (1) không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật; (2) huỷ bàn án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án; (3) huỷ bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.

Theo quy định tại Điều 27 Luật Lý lịch tư pháp, quy định về việc cập nhật thông tin L ý lịch tư pháp về án tích trong trường hợp Giám đốc thẩm như sau:

Trong trường hợp Bản Lý lịch tư pháp của một người đã được lập trên cơ sở bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm, bản án đó đã có hiệu lực pháp luật, sau đó bị kháng nghị theo trình tự Giám đốc thẩm và có quyết định giám đốc thẩm. Việc cập nhật thông tin lý lịch tư pháp về án tích đổi với người thực hiện hành vi

phạm tội được thực hiện như sau:

- Trường hợp thứ nhất: Quyết định giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Do Bản L ý lịch tư pháp của đối tượng phạm tội đã được xác lập từ khi có bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm, có thể đổi tượng đang thi hành án, cũng có thể đổi tượng chưa thi hành án, được hoãn thi hành án hoặc được tạm đình chỉ thi hành án theo quy định của pháp luật (...). Trường hợp này, cán bộ làm công tác cấp L ý lịch tư pháp chỉ việc ghi chú thêm nội dung của quvểt định Giám đốc thẩm đó vào Bản lý lịch tư pháp của đương sự bao gồm số quyết định, ngày tháng năm của quyết định, Hội đồng giám đốc thẩm, nội dung của quyết định.

V ỉ dụ:

Quyết định Giám đốc thắm số 10/2005/HĐTP-HS ngày 25/4/2005 về vụ án Lé Hoàng Tân phạm tộ i “ Vi phạm quy định về điểu khiển phương tiện giao thông đường bộ Quyết định giám đốc thấm như sau: “ Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, g iữ nguyên bàn án hình sự phúc thắm so 350/HSPT ngày 26/02/2004 của Tòa phúc thẩm tòa án nhân dân tố i cao tạ i thành phổ Hồ Chí M inh; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân đã xét xử sơ tham để ra quyết định th i hành án theo đủng quy định của pháp luật

- Trường hợp thứ hai: Quyết định giám đốc thẩm huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án hoặc để điều tra hoặc xét xử lại

Trước khi có quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đối tượng đã có bản án trước đó đã bị xác lập thông tin Lý lịch tư pháp là đối tượng bị can án và có án tích. Theo đó, khi cấp Giám đốc thẩm quyết định huỷ bản án và đình chỉ vụ án hoặc huỷ bản án để điều tra lại hoặc huỷ bản án để xét xử lại, thì thông tin về bản án đó trong Bản lý lịch tư pháp của đương sự được loại bỏ. Tuy nhiên, cán bộ làm công tác cấp Lý lịch tư pháp cần chủ ý hai trường hợp sau:

a) Trường hợp L ý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định bị hủy thì L ý lịch tư pháp được xóa bỏ trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, vấ n đề

đặt ra là xóa bỏ thông tin trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp này như thế nào? Sẽ xóa sạch mọi thông tin về bản án đó hav chỉ ghi chú bên cạnh? Do Lý lịch tư pháp của đổi tượng chỉ lập trên cơ sở duy nhất của bản án đang hiện hữu, do vậy trường hợp này cần xóa sạch mọi thông tin.

V í dụ:

Nguyễn Văn A phạm tộ i “ trộm cắp tà i sảntheo quy định tạ i khoản 1 Điều 138 Bộ luật H ình sự. A bị khởi tổ vụ án, khởi tổ bị can ngày 12/1/2009. Xét xử sơ tham ngày 20/5/2009, tòa án nhân dân huyện X tuyên phạt A 8 thảng tù. A có khảng cảo kêu oan. Ngàv 3/7/2009 Tòa án nhân dân Tinh T xét xử phúc thâm tuyên không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bàn án xét xứ sơ thâm. An có hiệu lực-pháp luật. -Sau đỏ phát hiện bản án sơ thâm và phúc thâm nêu trên cỏ vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, nên Chánh án Tòa án nhân dân Tối cao đã ra quyết định khảng nghị Giảm đốc thẩm. H ội đòng giám đốc thẩm tuyên huỳ án để tiến hành điểu tra và xét xử lại. Sau khi xét xử lạ i A sẽ có bản án sơ thâm hoặc phúc thâm mới. Theo đó mọi thông tin vê bàn án sơ thâm và phúc thâm cũ cần xóa bỏ, chì cập nhật thông tin mới.

b) Trường hợp Lý lịch tư pháp được lập trên cơ sở nhiều bản án, quyết định thì thông tin về bản án. quyết định bị hủy trong Lý lịch tư pháp được xỏa bỏ

bàng cách gạch chéo và ghi vào cột ghi chú là “ đã bị xóa bỏ theo quyết định giám đốc thẩm” còn những thông tin về nhừng bản án, quyết định khác vẫn giữ nguyên.

V í dụ:

Trần Kim T b ị cơ quan điểu tra khởi to về 2 tội. Tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tà i sảntheo quy định tạ i khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự; tộ i “ Mua bán trả i phép chất ma tu ý ” theo quv định tạ i khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự. H ai vụ án trên được đưa ra xét xứ tại những thờ i điểm khác nhau và có những bản án tuyên khác nhau. Sau đỏ, bàn án xét xử T về tộ i "lừa đảo chiếm đoạt tà i sàn ” đã b ị kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, lý do kháng nghị là chứng cứ còn yếu, chưa đù cơ sở để kết luận về hành v i phạm tộ i của T. Giảm đốc thẩm tuyên huỷ án để tiến hành điều tra và xét xử lại. Trường hợp này, thông tin trong Lý

lịch tư pháp của T sẽ xóa bỏ bân án xét xử sơ thấm vụ lừa đảo chiếm đoạt tà i sàn bằng cách gạch chéo vào cột g h i chủ "bản án bị xóa bỏ theo quyết định giám đốc tham

Ý nghĩa của công tác cập nhật thông tin về các quyết định Giám đốc thẩm:

việc cập nhật kịp thời các thông tin về các quyết định giám đổc thẩm giúp cho các cán bộ làm công tác cấp Lý lịch tư pháp nắm bắt được đầy đủ các dữ liệu thông tin về đối tượng để lập phiếu và cấp phiếu Lý lịch tư pháp cho đổi tượng yêu cầu được đầy đủ và chính xác. Bởi lẽ nhiều trường hợp do bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giám đốc thẩm đã dẫn tới việc đổi tượng được chứng minh là người không có án tích, đảm bảo mọi quyền lợ i hợp pháp cho họ. Ngược lại nhiều trường hợp kháng nghị Giám đốc thẩm theo hướng làm xẩu đi tình trạng của người bị kết án, dẫn đến việc người bị kết án mặc dù đã được cấp chứng nhận xóa án, song vẫn buộc người cấp giấy chứng nhận phải huỷ bỏ quyết định xóa án, theo đó đổi tượng vẫn bị xem là có án tích. Việc này đồng nghĩa với việc đối tượng đó sẽ bị hạn chế rất nhiều quyền.

1.3. Kỹ năng nắm bắt thông tin và x ử lý thông tin về hiệu lự c của quyết định Giảm đốc thẩm và việc giao quyết định Giảm đốc thẩm

Quyết định giám đốc thẩm cỏ hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Theo đó, mọi thông tin về quyết định này cần được các chuyên viên làm công tác cấp L ý lịch tư pháp nhanh chóng, kịp thời nam bắt để cập nhật chính xác các dữ liệu vào bản lý lịch tư pháp của đối tượng. Trên cơ sở đó sẽ xem xét quyết định trường hợp nào cần xóa bỏ dữ liệu thông tin, cách thức xóa bò phù hợp để tiện theo dõi và cập nhật thông tin kịp thời.

Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật tố tụng hình sự, trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày ra quyết định, Hội đồng Giảm đốc thẩm phải gửi quyết định Giám đốc thẩm cho người bị kết án, người kháng nghị, Tòa án. Viện kiểm sát, cơ quan Công an nơi đã xử sơ thẩm, người có quyền lợ i nghĩa vụ liên quan đến việc khảng nghị hoặc người đại diện hợp pháp của họ, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc.

Điều 16 Luật Lý lịch tư pháp quy định về “ Trách nhiệm của Tòa án trong việc cung cấp thông tin lý lịch tư pháp về án tích” . Theo đó, tại khoản 4 của điều luật cỏ quy định trách nhiệm của Tòa án đối với quyết định giám đốc thẩm như sau:

Trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định quy định tại các khoản từ khoản 2 đến khoản 8 bao gồm các quyầ định:

- “ Quyết định hình sự giám đốc thẩm";

- “ Quyết định hình sự tái thẩm";

- “ Quyết định thi hành án hình sự” ; - “ Quyết định miễn chấp hành hình phạt";

- “ Quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt” ; - ‘‘Quyết định hoãn chấp hành hình phạl tù” ;

- “ Quyết định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù” ; - Khoản 13 “ Quyết định xóa án tích” ;

- Cấp giấy chứng nhận quy định tại khoản 14 “ Giấy chứng nhận đương nhiên xóa án tích”

- Khoản 15 “ Trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do cơ quan có thẩm quvèn của nước ngoài cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam theo điều ước quốc tế tương trợ tư pháp về hình sự mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước đó là thành viên hoặc theo nguyên tắc có đi có lại” .

Chánh Văn phòng của Tòa án đã ra quyết định, cấp giấy chứng nhận có trách nhiệm gửi một bản quyết định, giấy chứng nhận đỏ cho Trung tâm lý lịch tư pháp cấp tỉnh nơi thường trú của người bị kết án. Tức là nểu bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật bị giám đốc thẩm cấp Tỉnh huỷ án. thì Chánh văn phòng của Tòa án Tỉnh đó phải có trách nhiệm gửi một bản quyết định giám đốc thẩm hoặc giấy chứng nhận đó sang Trung tâm Lý lịch tư pháp để trung tâm kịp thời cập nhật thông tin và lưu trừ thông tin theo quy định của pháp luật được chính xác.

Trường hợp bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm đó bị giám đốc thẩm của Tòa án

nhân dân tối cao kháng nghị, thì Chánh văn phòng của Tòa án nhân dân tối cao sẽ phải gửi một bản quyết định giám đốc thẩm hoặc giấy chứng nhận sang Trung tâm Lý lịch tư pháp.

Ý nghĩa của hoạt động nêu trên: Việc tiếp nhận, cập nhật, xử lý thông tin lý lịch tư pháp trong trường hợp có quyết định giám đốc thẩm nhằm quản lý lý lịch tư pháp của đối tượng được đầy đủ. c ỏ cập nhật được thông tin chính xác thì mới xác lập được Bản lý lịch tư pháp của đối tượng để cấp Phiếu lý lịch tư pháp và đáp ứng yêu cầu của cá nhân cần chứng minh bản thân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bổ phá sản; Ngoài ra quyết định giám đốc thẩm tuyên huỷ án và đình chỉ vụ án cũng đồng nghĩa với việc ghi nhận việc xóa án tích cho người bị kết án, tạo điều kiện cho họ tái hòa nhập cộng đồng.

2. K ỹ năng cập nhật thông tin trong trường họp tái thẩm

2.1. Kỹ năng cập nhật thông tin về các trư ờng hợp bản án, quyết định của Tòa án cỏ hiệu lực pháp lu ậ t b ị khảng n g h ị theo thủ tục Tái thấm và bản

chẩt tả i thẩm

Thủ tục tái thẩm được áp dụng đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án hoặc quyết định đó. Theo đó, những căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bao gồm: (1) lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, lời dịch của người phiên dịch có những điểm quan trọng được phát hiện là không đúng sự thật; (2) Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đã có kết luận không đúng làm cho vụ án bị xét xử sai; (3) Vật chứng, biên bản điều tra, biên bản các hoạt động tố tụng khác hoặc những tài liệu khác có trong vụ án bị giả mạo hoặc không đủng sự thật; (4) Những tình tiết khác làm cho việc giải quyết vụ án không ỏúng sự thật.

Ví dụ:

Ngày ỉ 3/2/2007 xảy ra một vụ trọng án tạ i địa bàn dốc Đa, thuộc xã T,

huyện K, tinh N. Nạn nhân là một người phụ ทừ bị hãm hiếp trước khi bị giết chết.

Sau khi trưv tìm tung tích nạn nhân cơ quan điểu tra đã làm rõ được thân phận của ngirời phụ nữ nêu trên. Đặc biệt theo lờ i khai của mẹ nạn nhãn thì nạn nhân đã bị cướp 2 chi vàng khi bị hăm hiếp và giết chét. Tại hiện trường vụ án, người ta phát hiện ra nhiều dấu vết, vật chứng bao gom: giấy tờ tuỳ thán của một người đàn ông, một chiếc đồng hồ bị rơ i tạ i hiện trường, vết xe đổ còn hằn vết rõ trên hiện trường. Dựa vào những giav tờ trên, cơ quan điểu tra đã tiến hành theo dõi đôi tượng và phát hiện hai ngày sau khi vụ án mạng xảy ra, đoi tượng H đã đem chiếc nhân vàng 2 chi đến tiệm vàng gân nhà đôi lây hai chiêc nhân vàng 01 chi và mang về tặng vợ 01 chiếc. Lệnh bắt khản cấp được tiến hành. H đã bị bắt. Tại cơ quan điểu tra H đã khai, tố i đó H đ i dự sinh nhật một người bạn về muộn, do uống nhiều nên say đến noi không biết mình về nhà được bằng cách nào. Những giav tờ và chiếc đồng hỗ là của H có lẽ bị rơ i ra khi H ngã xe ở đoạn đường đó, hay thế nào H cũng không nhớ noi. Còn chiếc nhân vàng H một mực không chấp nhận là của nạn nhãn vì đó là kỳ vật mà mẹ t ì tặng H khi H cưới vợ. Tuy nhiên, không hiêu sao những ngàv sau đó H đã nhận chính mình thực hiện những hành vi phạm tộ i b i ố i với người phụ nữ đó. Do có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt, H bị tuyên án chung thân. Khoảng 4 năm sau, khi cơ quan điếu tra địa bàn khác đang khám phả và làm rõ một vụ trọng án xảy ra trên địa bàn mình, đối tượng phạm tộ i K không chi khai nhận hành vi phạm tội, mà còn khai nhận sự việc xảy ra tại dốc Đa thủ phạm chính là han. Đây là tình tiết mới, giúp cơ quan và người có thẩm quyền kháng nghị theo thù tục tá i tham để huỳ án vờ đình chi vụ án, minh oan cho người đã bị kết án oan là H. Việc kháng nghị và có quyết định tả i thâm này đồng nghĩa với việc H đã được xóa án tích và mọi thông tin dừ liệu về H trước đó trong Lý lịch tư pháp phải được loạ i bỏ.

K ỹ năng cập nhật và xử lý thông tin theo những nội dung liên quan đến việc bản án có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo trình tự tái thẩm: cán bộ làm công tác cấp phiếu Lý lịch tư pháp cần nam bẳt và cập nhật thông tin về các quyết định tái thẩm được kịp thời, chính xác. Vì lẽ, thông thường thủ tục tái thẩm chỉ tiến hành khi minh oan cho người bị kết án, khôi phục lại cho họ tất cả những

Một phần của tài liệu Tập bài giảng Nghiệp vụ lý lịch Tư pháp Phần 1 (Trang 174 - 186)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(186 trang)