Mục đích nghiên cứu Mục đích chính của đề tài: Thống kê một số sinh hoạt văn hóa dân gian tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Phú Yên phục vụ hoạt động phát triển du lịch văn hóa, trực tiếp tạ
Trang 1ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3của quý thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp Với tấm lòng biết ơn sâu sắc tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Huỳnh Quốc Thắng – người hướng dẫn khoa học
đã tận tình chỉ bảo, động viên, nhắc nhở để tôi hoàn thành luận văn Ngoài ra, học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn đến cán bộ công tác trong ngành văn hóa và du lịch của tỉnh, người dân và du khách tại Phú Yên đã cung cấp thông tin và chia sẻ ý kiến
Tôi cũng xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, các thầy cô và cán
bộ Khoa Văn hóa học đã giảng dạy và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn
Cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn là hậu phương vững chắc giúp tôi vượt qua mọi khó khăn khi thực hiện nghiên cứu đề tài này
Chân thành
Học viên
Lê Thị Mỹ Dung
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Huỳnh Quốc Thắng Các nội dung nghiên cứu, kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo
Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác đều có trích dẫn và chú thích nguồn gốc
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2016 Học viên thực hiện Luận văn
Lê Thị Mỹ Dung
Trang 5MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 2
3.1 Các tài liệu về văn hóa dân gian và văn hóa dân gian Phú Yên 2
3.2 Các tài liệu về du lịch văn hóa 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
5.1 Về khoa học 7
5.2 Về thực tiễn luận văn có thể góp phần: 7
6.1 Phương pháp nghiên cứu 8
6.2 Nguồn tư liệu 9
7 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương 9
Chương 1 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 10
1.1 Lý luận về văn hóa dân gian 10
1.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian 10
1.1.2 Các thành tố của văn hóa dân gian 17
1.1.3 Đặc điểm của văn hóa dân gian 18
1.1.4 Chức năng của văn hóa dân gian 21
1.2 Lý luận về du lịch văn hóa 22
1.2.1 Khái niệm du lịch văn hóa 22
1.2.2 Đặc trưng của du lịch văn hóa 25
1.2.3 Chức năng cơ bản của du lịch văn hóa 26
1.2.4 Các loại hình của du lịch văn hóa 27
Trang 61.3.2 Tác động của du lịch đối với văn hóa dân gian 33
1.4 Tổng quan về Phú Yên 37
1.4.1 Lịch sử hình thành vùng đất Phú Yên 37
1.4.2 Điều kiện tự nhiên vùng đất Phú Yên 39
1.4.3 Con người – chủ thể vùng đất Phú Yên 39
1.4.4 Kinh tế - xã hội vùng đất Phú Yên 44
Tiểu kết chương 1 45
Chương 2 47
VỐN VĂN HÓA DÂN GIAN 47
VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH PHÚ YÊN 47
2.1 Từ tài nguyên văn hóa dân gian đến sản phẩm du lịch văn hóa 47
2.1.1 Lễ hội 48
2.1.1.1 Lễ hội vùng núi 48
2.1.1.2 Lễ hội vùng đồng bằng và ven biển 52
2.1.2 Nghệ thuật diễn xướng dân gian 58
2.1.2.1 Hát bài chòi 58
2.1.2.2 Hát bả trạo 59
2.1.2.3 Nghệ thuật cồng chiêng 60
2.1.3 Các làng nghề truyền thống 61
2.1.3.1 Làng đan lát Vinh Ba 62
2.1.3.2 Làng bánh tráng Hòa Đa 63
2.1.3.3 Làng nón Phú Diễn 64
2.1.3.4 Làng rau Ngọc Lãng 65
2.1.4 Một số tuyến điểm du lịch văn hóa tiêu biểu 67
2.1.4.1 Các tuyến du lịch nội tỉnh 67
2.1.4.2 Các tuyến du lịch liên tỉnh, khu vực nội địa 68
Trang 72.2.2 Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực 72
2.2.3 Hoạt động quảng bá, hợp tác phát triển du lịch giữa các địa phương 75
2.3 Đánh giá hoạt động khai thác, phát huy văn hóa dân gian trong hoạt động du lịch văn hóa Phú Yên 82
Tiểu kết chương 2 91
Chương 3: 93
MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY VĂN HÓA DÂN GIAN 93
ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TỈNH PHÚ YÊN 93
3.1 Quan điểm và mục tiêu phát huy văn hóa dân gian để phát triển du lịch và du lịch văn hóa tỉnh Phú Yên 93
3.1.1 Quan điểm phát triển du lịch dựa trên nền tảng bảo tồn và phát huy mọi nguồn tài tài nguyên, đặc biệt là vốn văn hóa dân tộc, trong đó có vốn văn hóa dân gian 93
3.1.2 Mục tiêu phát triển du lịch 94
3.1.3 Tổ chức không gian du lịch 96
3.2 Định hướng phát huy giá trị tài nguyên văn hóa dân gian góp phần phát triển các sản phẩm du lịch và du lịch văn hóa Phú Yên 99
3.3 Giải pháp chiến lược để khai thác, phát huy vốn văn hóa dân gian phục vụ phát triển du lịch văn hóa Phú Yên 103
3.4 Biện pháp cấp bách để khai thác, phát huy vốn văn hóa dân gian phục vụ phát triển du lịch văn hóa Phú Yên 113
3.4.1 Phát triển hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật và các dịch vụ du lịch 113
3.4.2 Đào tạo bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch 116
Trang 83.4.4 Thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch 121
3.4.5 Định hướng trong hoạt động hợp tác trong nước và quốc tế 124
3.4.6 Phát huy tốt vai trò của cộng đồng trong hoạt động du lịch văn hóa 126
3.4.7 Đẩy mạnh tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển du lịch và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch 128
3.4.8 Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên và môi trường du lịch 130
Tiểu kết chương 3 132
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 136
PHỤ LỤC 143
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Đánh giá về dịch vụ và cơ sở lưu trú của du khách 72
Biểu đồ 2: Đánh giá trình độ hướng dẫn viên của du khách 74
Biểu đồ 3: Địa điểm tham quan làng nghề yêu thích 84
Biểu đồ 4: Loại hình du lịch yêu thích 99
Biểu đồ 5: Khả năng khai thác du lịch của văn hóa dân gian 100
DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng1: Bảng thống kê các lễ hội tỉnh Phú Yên Nguồn: Sở VHTTDL Phú Yên 153
Bảng 2: Bảng so sánh số lượng lễ hội một số tỉnh miền Trung Nguồn: Sở VHTTDL Phú Yên 153
Bảng 3: Các làng nghề thủ công nghiệp ở Phú Yên Nguồn: Sở VHTTDL Phú Yên 154
Bảng 4: Bảng đánh giá tài nguyên du lịch các di tích của Phú Yên Nguồn: Sở VHTTDL Phú Yên 160
Trang 9Bảng 6: Bảng đánh giá tài nguyên du lịch các làng nghề của Phú Yên Nguồn: Sở
VHTTDL Phú Yên 165
BẢNG KẾT QUẢ ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC Bảng 1: Số lần du lịch đến Phú Yên 169
Bảng 2: Phương tiện biết đến du lịch Phú Yên 169
Bảng 3: Ấn tượng về du lịch Phú Yên 170
Bảng 4: Loại hình du lịch yêu thích 170
Bảng 5: Mức độ hiểu biết về văn hóa dân gian 171
Bảng 6: Khả năng khai thác du lịch từ văn hóa dân gian 171
Bảng 7: Tần số tham gia lễ hội ở Phú Yên 171
Bảng 8: Mức độ hài lòng khi tham gia lễ hội 172
Bảng 9: Tần số tham gia du lịch làng nghề 172
Bảng 10: Mức độ hài lòng khi tham gia du lịch làng nghề 172
Bảng 11: Địa điểm làng nghề được yêu thích nhất 173
Bảng 12: Nhận xét về tour du lịch làng nghề 173
Bảng 13: Tần số thưởng thức nghệ thuật dân gian 174
Bảng 14: Cảm nhận của du khách khi thưởng thức nghệ thuật dân gian 174
Bảng 15: Đánh giá cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch 174
Bảng 16: Bảng nhận xét về trình độ hướng dẫn viên 175
Bảng 17: Nhận xét về các tuyến du lịch ở Phú Yên 175
Bảng 18: Qùa lưu niệm yêu thích 175
Bảng 19: Đánh giá mong muốn quay trở lại của du khách 176
DANH MỤC HÌNH ẢNH Hình 1: Logo du lịch Phú Yên Nguồn: internet Ngày: 25/6/2016 189
Hình 2: Bản đồ du lịch Phú Yên Nguồn: internet Ngày: 25/6/2016 189
Hình 3, 4, 5: Lễ hội cầu ngư lăng Ông Hòa Lợi Nguồn: internet Ngày: 28/6/2016 190
Trang 10Hình 9, 10: Nghệ thuật hát bội Nguồn: tác giả Ngày: 23/2/2016 192
Hình 11: Hội thơ nguyên tiêu núi Nhạn Nguồn: internet Ngày: 28/6/2016 192
Hình 12: Nghề gốm truyền thống thị trấn Hòa Vinh Nguồn: tác giả Ngày: 12/7/2016 193
Hình 13: Làng chiếu cói Cù Du Nguồn: internet Ngày: 9/7/2016 193
Hình 14, 15: Làng rau Ngọc Lãng Nguồn: tác giả Ngày: 16/8/2016 194
Hình 16: Đền thờ Lương Văn Chánh Nguồn: internet Ngày: 21/7/2016 195
Hình 17: Đền thờ Lương Văn Chánh trong ngày hội Nguồn: tác giả Ngày: 9/2/2016 195
Hình 18, 19, 20: Các hoạt động vui chơi trong lễ hội Lương Văn Chánh Nguồn: tác giả Ngày: 9/2/2016 196
Hình 21, 22, 23: Lễ hội Lê Thành Phương Nguồn: tác giả Ngày 8/2/2016 197
Hình 24, 25, 26, 27, 28: Hoạt động vui chơi ngày hội Lê Thành Phương Nguồn: tác giả Ngày 8/2/2016 198
Hình 29: Vịnh Xuân Đài Nguồn: internet Ngày 2/8/2016 199
Hình 30: Bãi Môn – Mũi Điện Nguồn: internet Ngày 2/8/2016 199
Hình 31: Cảnh đẹp trên sông Đà Rằng Nguồn: internet Ngày 2/8/2016 199
Hình 32: Bãi Xép – bối cảnh phim “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” Nguồn: internet Ngày 2/8/2016 200
Hình 33: Gành Đá Đĩa – cảnh quan đặc sắc của thiên nhiên Nguồn: internet Ngày 2/8/2016 200
Hình 34, 35: Lễ hội đua ngự gò Thì Thùng Nguồn: internet Ngày 11/12/2016 201
Hình 36, 37: Lễ hội đâm trâu của người Bana ở Phú Yên Nguồn: tác giả Ngày 7/2/2017 201
Hình 38: Lễ hội mừng lúa mới Nguồn: tác giả Ngày 4/2/2107 202
Hình 39: Lễ hội sông nước Đà Nông Nguồn: tác giả Ngày:5/2/2017 202
Hình 40: Mắt cá ngừ đại dương – đặc sản Phú Yên Nguồn tác giả 203
Hình 41: Bún mực Hình 42: Gỏi cá mai 203
Trang 11Hình 44: Gỏi sứa Nguồn tác giả Ngày: 3/2/2017 204
Hình 45, 46: Giông đặc sản Nguồn tác giả Ngày: 3/2/2017 205
Hình 47: Bánh hỏi lòng heo Nguồn tác giả Ngày: 3/2/2017 205
Hình 49, 50: Sò huyết đầm Ô Loan Nguồn tác giả Ngày: 3/2/2017 206
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phú Yên là vùng đất giàu truyền thống, đây còn là nơi diễn ra nhiều loại hình văn hóa dân gian thể hiện tính đa dạng và phong phú về đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc
Dân cư sinh sống trên nhiều địa bàn (vùng núi, vùng biển và đồng bằng) đã tạo cho vùng đất Phú Yên những nét sinh hoạt văn hóa dân gian đặc trưng Các dân tộc sống đan xen nhau với các nghề làm nương rẫy, nghề trồng lúa nước, nghề biển Cuộc sống hội tụ đã tạo nên những sắc thái văn hóa dân gian phong phú, từ hát tuồng, bài chòi, hò bá trạo đến các lễ hội, trường ca, các nhạc cụ dân tộc trống đôi – cồng ba – chiêng năm, đàn đá…
Chính vì những lý do đó, Phú Yên được xác định là vùng đất có tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú về vốn văn hóa dân gian và tất cả có vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch văn hóa tại địa phương nói riêng, trong chiến lược du lịch quốc gia nói chung
Tuy nhiên, trên thực tế mặc dù đã có nhiều nỗ lực với một số thành tựu bước đầu đáng kể, song du lịch Phú Yên vẫn được xem là chưa thực sự đa dạng và chưa có sản phẩm đặc trưng, hấp dẫn, có tính cạnh tranh cao Giá trị văn hóa phi vật thể trong sản phẩm du lịch Phú Yên còn thấp, hoạt động dịch
vụ du lịch bên cạnh cơ sở hạ tầng và dịch vụ bổ sung còn thiếu và non yếu đã ảnh hưởng rất lớn đến kết quả chung của du lịch tỉnh
Từ đó người ta có thể đặt ra câu hỏi: “Tại sao một tỉnh có nhiều tài nguyên và tiềm năng với vốn văn hóa dân gian phong phú như thế nhưng du lịch văn hóa vẫn không thể phát triển vượt bậc? Và hướng đi nào trong tương lai khai thác phát huy tốt trên cơ sở bảo tồn thật tốt mọi vốn văn hóa dân gian cho du lịch văn hóa Phú Yên?”
Trang 13Để góp phần trả lời những câu hỏi ấy, chúng tôi chọn vấn đề “Văn hóa
dân gian với du lịch văn hóa tỉnh Phú Yên” làm đề tài cho luận văn của
mình
Ngoài ra, với điều kiện vốn là người sinh trưởng tại địa phương và bằng lòng say mê tìm hiểu văn hóa dân gian của quê hương Phú Yên, tác giả luận văn hy vọng việc thực hiện đề tài vừa đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân vừa có thể góp phần phục vụ cho sự phát triển của quê hương đất nước
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài:
Thống kê một số sinh hoạt văn hóa dân gian tiêu biểu trên địa bàn tỉnh Phú Yên phục vụ hoạt động phát triển du lịch văn hóa, trực tiếp tạo sự đa dạng, phong phú, hấp dẫn cho các sản phẩm du lịch hiện có và đánh thức những tiềm năng văn hóa du lịch chưa được đầu tư, khai thác
Nêu lên thực trạng khai thác nguồn tài nguyên văn hóa dân gian, tạo cơ
sở cho việc bảo tồn, phát huy những giá trị này trong công cuộc xây dựng kinh tế của tỉnh Phú Yên
Đồng thời, đề tài cũng nhằm mục tiêu tạo điều kiện cho văn hóa dân gian vẫn được duy trì một cách bền vững để các thế hệ mai sau kế thừa những giá trị vốn có trong đó du lịch chính là một trong những phương tiện bảo tồn, phát huy và truyền tải hữu ích nhất
Bên cạnh đó đề tài còn góp phần phân tích, làm rõ những nguyên nhân ngành du lịch tỉnh còn thiếu sót, trên cơ sở ấy đưa ra những giải pháp, định hướng để thay đổi tình hình trên
3 Lịch sử vấn đề
3.1 Các tài liệu về văn hóa dân gian và văn hóa dân gian Phú Yên
Văn hóa dân gian vốn là những loại hình sinh hoạt văn hóa đặc sắc, mang đậm nét truyền thống văn hóa dân tộc và có từ lâu đời của cha ông ta
Trang 14nên đây là đề tài nghiên cứu của nhiều công trình từ lý luận đến phân tích miêu tả
Liên quan đến mặt lý luận về lễ hội có các công trình như: Hội hè đình đám của Toan Ánh [2:35-41] ; Lễ hội truyền thống và hiện đại của Thu Linh – Đặng Văn Lung [36:25-53]; Văn hóa dân gian những thành tố của Lê Ngọc Canh [11:15-37] ; Lễ hội một vấn đề thời sự của Lê Trung Vũ [68:12-35]; Hội làng của người Việt của Lê Thị Nhâm Tuyết [1998:63, 1-5], Những giá trị văn hóa của lễ hội cổ truyền và nhu cầu của xã hội hiện đại của Ngô Đức
Thịnh; … Các tác giả đã đi sâu vào vấn đề lý luận như mối quan hệ giữa lễ và hội, sự phân biệt giữa các khái niệm lễ hội và hội làng cũng như những giá trị của lễ hội cổ truyền; phân loại các loại lễ hội cũng như miêu tả chi tiết một số
lễ hội dân gian tiêu biểu và cách tiếp cận lễ hội dân gian người Việt
Các công trình nghiên cứu cụ thể về vốn văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh Phú yên như:
Văn hóa cư dân Việt ven biển Phú Yên của Viện văn hóa thông tin, Sở
văn hóa thông tin tỉnh Phú Yên [56:112-157] đã khái quát khá rõ nét về dân
cư cũng như kinh tế - xã hội cư dân Việt ven biển Trong đó đề cập đến hai khía cạnh quan trọng là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, đặc biệt mô tả khá rõ các phong tục, tín ngưỡng, lễ tiết của người dân nơi đây
Văn hóa dân gian huyện Đồng Xuân của Nguyễn Đình Chúc
[18:231-357]: tác giả mô tả về nhiều khía cạnh như: di tích văn hóa lịch sử - liệt kê một loạt những đình, đền, miếu mạo, căn cứ, di tích trên địa bàn huyện; văn hóa sinh tồn – ăn, uống, mặc, ở, đi lại; văn hóa xã hội – tổ chức làng xã, nhân vật và sự kiện; nghề nghiệp - nghề nông, chăn nuôi, săn bắt, thủ công nghiệp; cũng như đời sống tinh thần từ phong tục, tín ngưỡng, lễ hội đến văn nghệ, tri thức và trò chơi dân gian Phác họa rõ nét con người cũng như bản sắc văn hóa huyện Đồng Xuân trong cuộc sống thích nghi với điều kiện thiên nhiên và
sự đổi mới của quê hương, đất nước
Trang 15Hát bả trạo của Trần Hồng [30:111-478]: tác giả đã tập hợp và hệ
thống, phân tích lễ hội cầu ngư ở nhiều địa phương, sưu tầm, biên soạn các bài hát bả trạo, các điệu hò, thơ ca liên quan đến văn hóa biển và lễ hội cầu ngư, cho thấy một cái nhìn rõ nét quy trình hành lễ và tổ chức lễ hội của người dân ven biển Bên cạnh đó, tác giả còn trích dẫn những công lao cứu người của các Ngài (cá voi) ở các tỉnh ven biển qua chuyện kể của ngư dân cũng như những truyền thuyết người đi biển tôn kính và yêu mến thêu dệt nên.Trong đó tác giả có trích những bản chèo hát bả trạo tỉnh Phú Yên – nghiên cứu văn hóa biển dưới góc nhìn âm nhạc nghệ thuật dân gian
Nghi lễ lễ hội Êđê của Trương Bi [7:56-434]: cuốn sách giới thiệu tới
bạn đọc những nội dung cơ bản của nghi lễ - lễ hội Êđê gồm hai hệ thống: nghi lễ - lễ hội vòng đời và nghi lễ - lễ hội vòng cây lúa (còn gọi là nghi lễ - lễ hội nông nghiệp), cùng những hệ thống liên quan đến hai hệ thống nghi lễ - lễ hội nói trên, đồng thời phản ánh thực trạng và một số giải pháp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của nghi lễ - lễ hội Êđê trong giai đoạn hiện nay
Di sản văn hóa dân gian vùng cửa sông Đà Diễn của Lê Thế Vịnh
[66:45-321] gồm có bảy phần Phần thứ nhất miêu tả sơ lược về phong tục tập quán từ sinh đẻ, hôn lễ, tang ma, lễ tiết Phần hai đề cập đến tín ngưỡng dân gian– tín ngưỡng thờ cúng thần tại gia, tín ngưỡng liên quan đến nghề đánh bắt, tín ngưỡng thờ cúng cá voi và các vị thần biển…Trong đó đặc sắc nhất là phần ba, phần bốn và phần năm tác giả đã sưu tầm, khái quát lễ hội dân gian; văn học, nghệ thuật và tri thức dân gian; nghề thủ công truyền thống… làm nổi bật đời sống tinh thần của người dân vùng sông nước Đà Diễn, Phú Yên
Phong tục – tín ngưỡng dân gian làng biển Đông Tác, Lê Thế Vịnh,
Nguyễn Hoài Sơn [67:17-453] Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu phong tục trong văn hóa tín ngưỡng dân gian ở làng biển Đông Tác (thuộc khu phố 6, phường Phú Lâm, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên) Trên một trăm trang nghiên cứu với nhiều tư liệu thu thập từ các cuộc điền dã và
Trang 16hàng chục bức ảnh tư liệu nghệ thuật, đã phản ánh khá toàn diện về điều kiện
tự nhiên, xã hội, mọi sinh hoạt của đời sống con người, với môi trường thiên nhiên, với lao động sản xuất, văn học nghệ thuật dân gian, tập tục, tín ngưỡng tâm linh, lễ hội… của người Việt ở làng biển Đông Tác
Nếp sống cộng đồng ở Phú Yên của Dương Thái Nhơn [44:15-325] với
các nội dung như khái niệm về nếp sống cộng đồng, địa lý cảnh quan, dân cư,
cơ cấu làng xã, nếp sống cộng đồng và những nét đặc trưng mang tính chất tâm lý của người dân Phú Yên… đã mô tả khá chi tiết về vùng đất và tính cách con người Phú Yên
Nghề truyền thống trên đất Phú Yên của Bùi Tân [48:13-337], tác giả
đã sưu tầm, điều tra, nghiên cứu các làng nghề truyền thống nhằm mục đích bảo lưu và phát huy di sản dân gian Nội dung cuốn sách giới thiệu về các nghề sản xuất và chế biến sản phẩm nông – lâm nghiệp, các nghề thủ công truyền thống và nghề nuôi trồng, chế biến thủy sản
Ngoài ra còn một số bài báo miêu thuật các lễ hội ở các địa phương, các làng nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian trên địa bàn tỉnh nhưng chưa
lý giải cũng như đề cập đến vấn đề phát triển du lịch văn hóa thông qua các sinh hoạt văn hóa dân gian
3.2 Các tài liệu về du lịch văn hóa
Tài nguyên và môi trường du lịch của Phạm Trung Lương [38:21-76]
tác giả đã đưa ra những khái niệm về tài nguyên và môi trường du lịch, tác động của du lịch đến tài nguyên môi trường, và cuối cùng là phát triển du lịch bền vững trong mối quan hệ với tài nguyên và môi trường
Giáo trình tổng quan du lịch của Trần Văn Thông [60:19-52] đã nêu
khái niệm và vai trò của tài nguyên đối với phát triển du lịch, đồng thời tác giả đã phân loại tài nguyên du lịch thành: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Bên cạnh đó, tác giả đã phân thành các vùng du lịch khác nhau với những điểm du lịch thế mạnh đại diện cho từng vùng Tác giả
Trang 17đã đi sâu vào phân tích lợi thế và tiềm năng phát triển du lịch của từng vùng
từ đó lựa chọn những tuyến, điểm có thể khai thác đưa vào du lịch
Văn hóa du lịch của Quế Hương [32:28-65] gồm có 3 phần Phần I đã
khái quát về văn hóa và văn hóa du lịch, phần II tác giả đã phân tích những đặc điểm của du lịch văn hóa từng vùng, phần III là những bài nghiên cứu liên quan đến văn hóa du lịch ở Việt Nam
Giáo trình văn hóa du lịch của Hoàng Văn Thành [49:254-389], trong
đó nội dung chương 4 và chương 5 tác giả đã đề cập đến những vấn đề quan trọng: khai thác các giá trị văn hóa trong kinh doanh du lịch và các sản phẩm
du lịch văn hóa của Việt Nam Tác giả đã khảo sát, nghiên cứu các hoạt động
lễ hội cũng như hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trong hoạt động kinh doanh
du lịch cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng
Ngoài ra, còn một số tài liệu về du lịch như: Du lịch bền vững của Nguyễn Đình Hòe - Vũ Văn Hiếu [26], Du lịch và môi trường do Lê Văn Thăng chủ biên [50], Du lịch sinh thái của Lê Duy Bá [5]… đã đem lại nhiều
góc nhìn khác nhau về du lịch cũng như mối quan hệ của nó với những vấn đề khác
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một mặt nào đó của văn hóa dân gian mà chưa có tác giả nào nghiên cứu tổng quan về văn hóa dân gian tỉnh Phú Yên dưới góc độ du lịch, mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và du lịch vẫn chưa được chú trọng nghiên cứu Đây chính là chìa khóa cho việc bảo tồn và phát triển bền vững du lịch
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận văn nghiên cứu một số thành tố đặc trưng của văn hóa dân gian như lễ hội, làng nghề truyền thống, nghệ thuật dân gian…, trong mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và du lịch văn hóa, vai trò của văn hóa dân gian trong việc phát triển du lịch văn hóa
Trang 18Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi không gian: đề tài triển khai trong địa bàn tỉnh Phú Yên + Phạm vi thời gian: từ năm 2000 đến nay, tức từ sau khi Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) ban hành “Chương trình hành động quốc gia về du lịch” trong đó có các chương trình liên quan văn
hóa dân gian, chẳng hạn như “Du lịch văn hóa gắn với lễ hội”…
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1 Về khoa học
Hệ thống hóa các sinh hoạt văn hóa dân gian ở Phú Yên
Góp phần làm rõ mối tương quan giữa văn hóa dân gian và du lịch, vai
trò của văn hóa dân gian đối với hoạt động du lịch và vai trò của du lịch đối với việc bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân gian tỉnh Phú Yên
Đánh giá tiềm năng, thực trạng, định hướng, kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của văn hóa dân gian
5.2 Về thực tiễn luận văn có thể góp phần:
Các cấp quản lý, người dân tại địa phương, du khách có thể nhận thức đầy đủ hơn về giá trị lịch sử - văn hóa của văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh Phú Yên
Định hướng cho ngành du lịch Phú Yên và các công ty du lịch lữ hành khai thác và phát triển văn hóa dân gian đảm bảo sức hấp dẫn, lâu bền đối với
du khách, thỏa mãn nhu cầu tối đa về tìm hiểu văn hóa, lịch sử, vui chơi, nghỉ ngơi…
Tăng cường ý thức, trách nhiệm trong việc bảo tồn các sinh hoạt văn hóa dân gian có nguy cơ biến mất, thông qua đó giúp ngành du lịch Phú Yên quảng bá hình ảnh cho du khách trong và ngoài nước
Đồng thời, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy cho ngành du lịch, văn hóa du lịch, quản lý văn hóa …
Trang 196 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
6.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tiếp cận nghiên cứu, người thực hiện luận văn sử dụng kiến thức liên ngành như văn hóa học, dân tộc học, du lịch học, lịch sử học, địa lý học, xã hội học… để nghiên cứu văn hóa dân gian ở Phú Yên đối với phát triển du lịch dưới góc nhìn văn hóa học
Để làm rõ vấn đề của luận văn, tác giả đã thực hiện những phương pháp sau:
Phương pháp hệ thống: nghiên cứu văn hóa dân gian như là một thành
tố của văn hóa du lịch tỉnh Phú Yên nằm trong hệ thống văn hóa Việt Nam Phương pháp này được vận dụng để tiếp cận và phân tích các yếu tố cấu thành của văn hóa dân gian cũng như quan hệ của chúng trong một chỉnh thể thống nhất, cũng như xác định những yếu tố có giá trị quan trọng trong việc phát triển du lịch
Phương pháp điều tra xã hội học bằng phân tích định lượng và định
tính Đối tượng điều tra là 100 khách du lịch đến Phú Yên tại khách sạn Cendeluxe và Hương Sen trong tháng 8 – 2016 Kết hợp với quan sát thực địa, phỏng vấn sâu… để có thể tiếp cận một cách toàn diện từng chi tiết của sinh hoạt văn hóa dân gian, tiếp cận văn hóa dân gian trong tổng thể thời gian
và không gian
Phương pháp lịch sử: phương pháp này giúp làm rõ quá trình hình
thành và phát triển văn hóa dân gian ở Phú Yên
Phương pháp liên ngành: liên ngành văn hóa học, du lịch học, dân tộc
học, địa lý học… để phân tích, làm rõ đối tượng nghiên cứu
Ngoài ra còn có phương pháp thu thập và xử lý thông tin, những tài liệu
có liên quan đến đề tài trên tạp chí, các công trình nghiên cứu, website…
Trang 206.2 Nguồn tư liệu
Nguồn tư liệu: được thu thập từ các bài nghiên cứu của Sở Văn hóa thể thao và du lịch, Sở Công nghệ, tạp chí, truyện, thơ, Internet và các nguồn tư liệu khác
7 Bố cục của luận văn: Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm
3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương này làm rõ các khái niệm văn hóa dân gian, du lịch văn hóa, từ đó, phân tích mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và du lịch Đồng thời sơ lược về vùng đất và con người Phú Yên
từ các khía cạnh địa lý, lịch sử, kinh tế - xã hội… giới thiệu rõ nét hơn về không gian nghiên cứu Toàn chương góp phần làm rõ vấn đề và làm tiền đề khoa học cho các chương sau
Chương 2: Nêu những nét khái quát về những sinh hoạt văn hóa dân gian tiêu biểu ở Phú Yên, giá trị, vai trò cũng như đóng góp của văn hóa dân gian đối với hoạt động du lịch hiện nay ở tỉnh Từ đó triển khai phân tích, đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch hiện nay ở Phú Yên
Chương 3: Góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn đọng trong hoạt động du lịch và định hướng khai thác văn hóa dân gian phục vụ cho mục đích
du lịch văn hóa Đề xuất những hướng đi cho các cơ quan chức năng và các
cơ quan hoạt động du lịch áp dụng để phát triển du lịch Phú Yên bền vững
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Lý luận về văn hóa dân gian
1.1.1 Khái niệm văn hóa dân gian
Việc nghiên cứu văn hóa dân gian được coi như là một bộ môn khoa học mới chỉ thực sự bắt đầu từ thế kỉ XIX Các nhà khoa học thường gắn sự ra đời của bộ môn này với việc nhà nhân loại người Anh William J Thomas (bút
danh là Ambrose Merton) viết một bức thư đăng lên tờ “The Atheneum” (số
ra ngày 22 tháng 8 ngăm 1846) trong đó ông đề nghị dùng thuật ngữ folklore
để chỉ “những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như phong tục, đạo đức, việc cúng tế, dị đoan, ca dao, cách ngôn… của các thời trước” Vì
vậy sau đó, các nhà khoa học nhiều nước đã sử dụng thuật ngữ folklore để chỉ
bộ môn khoa học này
Thuật ngữ folklore (sự hiểu biết, trí tuệ của nhân dân) được W.J Thomas dùng bao hàm nội dung khá rộng, nó chỉ những giá trị của nền văn hóa vật chất, nhưng chủ yếu là những giá trị của nền văn hóa tinh thần của
nhân dân, như “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ… của người thời trước”
Trước đó, trong các bộ môn khoa học nhân văn ở châu Âu, người ta
thường gặp các khái niệm, như “thơ ca dân gian”, “văn học dân gian” hay
“ngôn từ dân gian”… nhưng rõ ràng là các khái niệm trên không bao hàm
chứa được tất cả các lĩnh vực khác nhau của truyền thống văn hóa dân tộc Ở
Pháp, Ý, Tây Ban Nha, người ta sử dụng khái niệm “truyền thống dân gian” (traditions populaires), ở Đức khái niệm “volkskunde” và “volkrekunde”
cũng được sử dụng rộng rãi, trong đó khái niệm sau gần tương đương với ethnologie (dân tộc học), còn khái niệm trước gần tương đương với folklore,
Trang 22bao gồm “dân ca, các trò chơi, lễ hội, truyện cổ, ngôn ngữ và phong tục học”
Sau J Thomas, vào những thập kỷ 50, 60, trong một số công trình của học giả Anh, như T Sternberg, J Harland, T.T Wilkinson người ta đã sử
dụng thuật ngữ folklore Đặc biệt từ năm 1879, khi “Hội folklore” thành lập ở
Luân Đôn thì việc xác định nội dung của khái niệm được đặt ra một cách cụ thể hơn Người ta quy về hai phạm vi rộng và hẹp khác nhau của khái niệm
này, trong đó theo nghĩa rộng nó bao gồm “toàn bộ lịch sử văn hóa không thành văn của dân tộc ở thời nguyên thủy”, còn theo nghĩa hẹp, thì nó bao gồm “phong tục, tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng thời cổ sơ mà còn bảo lưu trong những bộ phận đông đảo cư dân thời kỳ đầu văn minh”
Các từ điển bách khoa của Anh những thập kỷ gần đây xác định rõ nội
dung của folklore như sau: “Folklore biểu thị những dạng nghệ thuật và các nghề thủ công dân gian, kể cả văn hóa vật chất và tinh thần” (Encyclopedia Britanica, V.9, 1957, P.446) hay “Folklore là tên gọi chung, thống nhất của những tín ngưỡng, truyền thống, thiên kiến, đạo lý, nghi lễ, mê tín của dân gian Những câu chuyện cổ, những bài tình ca, dân ca và những câu tục ngữ đều nằm trong khái niệm này…, nó bao gồm cả những yếu tố văn hóa vật chất
mà ban đầu nó không tính đến” (Encyclopedia Britanica, V.9, 1964, P.518)…
Trong cuốn từ điển hai tập “Funk and Wagnall’s Standard Dictionary
of Folklore, Mythology and Legend” (1949-1950), người ta đưa ra 20 định
nghĩa của 20 nhà nghiên cứu folklore phương Tây, trong đó phần lớn là những định nghĩa của các nhà folklore Mỹ Họ đều khẳng định folklore là
“khoa học nghiên cứu về truyền thống” của những dân tộc lạc hậu hay của
những nhóm cư dân ở trình độ phát triển thấp của các dân tộc văn minh Những nghi thức của họ gắn với tính cộng đồng, phương thức lưu truyền thông qua truyền miệng và trí nhớ Folklore là một bộ phận của văn hóa dân tộc, mà trọng tâm là những tín ngưỡng, mê tín, lễ nghi, phong tục, thần thoại,
Trang 23truyền thuyết, tục ngữ, ca dao, âm nhạc, sân khấu, các hình thức nghệ thuật tạo hình và ứng dụng trong đời sống hằng ngày… Những yếu tố đó gắn bó với nhau, không thể chia tách và thường đó là những yếu tố của văn hóa tinh thần, mặc dù không thể cắt rời với các dạng tồn tại vật chất
Các nhà folklore học các nước Mỹ la tinh chịu ảnh hưởng của trường phái nhân chủng học trong folklore học của Anh và Mỹ Ở các nước Mỹ la
tinh người ta đã xây dựng những “Từ điển bách khoa folklore” từ những năm
40, đã tổ chức những hội nghị quốc tế về lĩnh vực khoa học này Hội nghị
quốc tế folklore học tổ chức năm 1954 ở Sao-Paulo coi “folklore là sản phẩm của truyền thống, được phát triển bằng truyền miệng Những nhân tố giữa quá khứ và hiện tại, cá nhân trong tập thể cộng đồng, sự sàng lọc trong dân gian trải qua các thế hệ…” Tinh thần tuyên bố của hội nghị quốc tế này được
thể hiện trong công trình của các nhà folklore Bradin nổi tiếng là Renato Almeila và Edison Carneiro vào năm 1960 Theo họ thì folklore bao gồm những sáng tác ngôn từ, âm nhạc, đồng ca, sân khấu dân gian, kỹ thuật dân gian, y học dân gian, trang phục…
Trong các công trình xuất bản năm 1924 và 1943 một đại biểu lớn của
folklore học Pháp – A V Gennep cho rằng folklore là một “khoa học tổng hợp”, nó nghiên cứu cuộc sống của con người trong xã hội, mà con người ở
đây không phải là chung chung mà gắn với các nhóm dân cư, các tầng lớp xã
hội khác nhau Tác giả cho rằng folklore thuộc về “khoa sinh học” tiếp cận
trên nguyên tắc xã hội học
Để xác định khái niệm folklore, P Saintyves phân chia các nền văn hóa thành hai loại Đó là văn hóa của các dân tộc nguyên thủy và văn hóa nhân dân các dân tộc văn minh Từ cách phân chia như vậy, ông cho rằng, đối tượng của dân tộc học là nghiên cứu văn hóa của các dân tộc nguyên thủy,
còn của folklore học là “văn hóa của quần chúng các nước văn minh” Folklore là “văn hóa số đông” trong sự đối lập với văn hóa “thượng lưu” hay
Trang 24của “thiểu số” Văn hóa số đông này lưu hành thông qua truyền khẩu, và bao
gồm ba bộ phần hợp thành:
Đời sống vật chất (ăn, ở, quần áo, đi lại, sản xuất, công cụ…)
Đời sống trí tuệ, tinh thần (ngôn ngữ, tri thức, hiểu biết, triết học, nghệ thuật, văn học, tín ngưỡng, tôn giáo)
Đời sống xã hội (gia đình, liên minh, các tổ chức xã hội khác…)
Thuật ngữ folklore cũng được đưa vào các từ điển, từ điển bách khoa,
từ điển giải thích chuyên ngành ở Pháp, Ý Thuật ngữ folklore được giải thích
ở nhiều từ điển khác nhau, nhưng các cách giải thích ấy khó thống nhất với
nhau về nội dung cơ bản Folklore là “toàn bộ những nghệ thuật, phong tục
và truyền thống dân gian” hay là “toàn bộ hệ thống, truyền thuyết và phong tục dân gian của một nước” hay “là toàn bộ truyền thống, phong tục, bài ca, truyền thuyết của một dân tộc, của một vùng, và các thành tố đó liên kết chặt chẽ với nhau” Còn khi xác định bộ môn folklore học thì từ điển Hachette cho rằng đó là “khoa học nghiên cứu nghệ thuật dân gian, phong tục và truyền thuyết dân gian”
“Từ điển bách khoa toàn thư Ý” 1956 định nghĩa ngắn gọn “folklore là ngành khoa học nghiên cứu những truyền thống dân tộc”, còn “Từ điển tổng hợp văn hóa Ý” thì xác định “folklore là sự nghiên cứu nghi lễ và tập tục dân gian, dân ca, huyền thoại, truyền thống và thiên kiến”
Các nhà khoa học Nga trong những năm 80 – 90 thế kỷ XIX và thập kỷ đầu thế kỷ XX cũng sử dụng thuật ngữ folklore trong các công trình nghiên cứu của mình, đặc biệt là trong các công trình của V I Limanxki, E Anhicop… Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu Nga thời đó, thì nội dung thuật ngữ folklore tương đương với những khái niệm mà họ vẫn đang quen
dùng, như “cái cổ xưa hiện tồn”, “sáng tác dân gian”
Folklore học ở Nga hình thành hai xu hướng Một xu hướng xác định khái niệm folklore với nội dung rộng như ở nhiều nước phương Tây và như
Trang 25vậy giữa dân tộc học và folklore học trên thực tế là không có ranh giới rõ ràng Thuộc về xu hướng này có V M Girmunxki, O M Phraydenbec, M Vinher Tuy V M Girmunxki xếp folklore và dân tộc học vào cùng loại nghiên cứu truyền thống và những hiện tượng cổ xưa của dân tộc, nhưng theo ông cũng có những ranh giới nhất định phân biệt folklore học với dân tộc học
Xu hướng thứ hai thống trị trong folklore Xô Viết những năm 30 – 60, với những đại diện như Iu Xokolop, N P Andreep, M K Azadopxki…
Theo họ, về cơ bản folklore là “nghệ thuật ngôn từ”, là sáng tác thơ ca truyền
miệng của đông đảo quần chúng Theo họ, không có sự phân biệt về bản chất giữa văn học và folklore về sự phân biệt sáng tạo thơ ca truyền miệng và sáng
tạo văn học, có chăng chỉ là phương thức “trao truyền” Theo họ có thể đồng
nhất folklore với văn học, nghiên cứu folklore theo những nguyên tắc nghiên cứu văn học
Khác với những năm 30 – 40, những thập kỷ gần đây càng ngày càng
có nhiều người vượt được ra ngoài quan niệm bó hẹp folklore trong nghệ thuật ngôn từ, họ thấy rằng folklore bao gồm những yếu tố ngôn từ, diễn xướng, tạo hình, tín ngưỡng, phong tục… và các yếu tố ấy gắn bó với nhau trong một chỉnh thể nguyên hợp Đại diện cho khuynh hướng này là V E
Guxep, N I Krapcop, K V Trixtop, K C Dapletop… Đặc biệt “Bách khoa toàn thư Xô Viết” xuất bản năm 1974 đã quan niệm rằng “folklore là sáng tác dân gian, hoạt động nghệ thuật của nhân dân lao động Đó là thơ ca, âm nhạc, sân khấu, múa dân tộc, kiến trúc, nghệ thuật trang trí thực hành, hội họa được nhân dân sáng tạo ra và sống trong nhân dân”
Như vậy, bộ môn văn hóa dân gian học đã ra đời và phát triển với ba trường phái lớn: trường phái folklore Anh - Mỹ chịu ảnh hưởng nhân học, trường phái folklore Tây Âu chịu ảnh hưởng xã hội học (điển hình là Pháp - Italy) và trường phái folklore Nga chịu ảnh hưởng ngữ văn học
Trang 26Ở nước ta, các nhà văn hóa dân tộc đã từng chú ý sưu tầm, hệ thống và
lý giải những vấn đề liên quan tới văn hóa dân gian Trong thời kỳ cận đại, các học giả Pháp và phương Tây có nhiều công trình sưu tầm và nghiên cứu các hiện tượng folklore nước ta Tuy nhiên việc nghiên cứu folklore còn bị phân tán ở nhiều cơ sở nghiên cứu và trường đại học, các thành tố nghệ thuật ngôn từ, biểu diễn, tạo hình, tín ngưỡng, phong tục… được nghiên cứu tương đối biệt lập Trong số các thành tố ấy, ngữ văn dân gian được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn và hơi thiên về phương pháp ngữ văn
Thuật ngữ folklore được dùng ở Việt Nam tương đối muộn và thường với những nội dung rộng hẹp khác nhau Thời kỳ đầu, tuy nhận biết được những cách hiểu rộng hẹp của khái niệm này trên thế giới, nhưng một số nhà nghiên cứu nước ta đồng nhất folklore với văn học dân gian (gồm thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ, dân ca, ca dao, ngụ ngôn, truyện cười…) Tuy phần lớn còn sự bó hẹp trong sưu tầm và khảo chứng các văn bản theo những nguyên tắc văn học, nhưng cũng có những nhà nghiên cứu có ý thức đặt các hiện tượng ngữ văn trong tổng thể văn học và ít nhiều thoát khỏi những nguyên tắc ngữ văn thuần túy
Trong khoảng các thập kỷ 60 và 70, người ta có xu hướng mở rộng hơn khái niệm folklore, và cho rằng nó bao gồm văn học và nghệ thuật dân gian, gọi chung là văn nghệ dân gian Quan trọng hơn, người ta đã ít nhiều nhận thức được tính không thể chia cắt các thành tố của văn nghệ dân gian Từ thuở
sơ sinh, nhạc, thơ, múa, kịch thường hòa chung với nhau Đến khi trưởng thành lên thì các loại hình tách bạch ra nhưng vẫn phải nương tựa vào nhau
mà phần nào thơ dân gian tồn tại, phát triển và lưu truyền bằng hát đối đáp, nếu bỏ nhạc thì múa khó thành Một sự tích văn học, mất làn điệu, mất múa thì chèo cũng mất giá trị Tranh làng Hồ phải đi liền với hội Tết Trên hình con gà, con lợn có cả dấu âm dương của tín ngưỡng dân gian, lại có cả lời ca
Trang 27dao hay bài thơ vịnh Một ngôi đình, ngôi chùa, một pho tượng, một hòn đá thiêng đều có truyền thuyết liên quan
Các nhà nghiên cứu nói chung đều thống nhất về nội dung khái niệm
folklore và chuyển sang tiếng Việt là “văn hóa dân gian” Trong việc sử
dụng thuật ngữ, bên cạnh một số người ưa dùng thuật ngữ folklore, còn phần
lớn vẫn dùng thuật ngữ “văn hóa dân gian” với ý ngĩa tương đương Cũng
cần nói thêm rằng xu hướng dùng thuật ngữ quốc tế folklore ngày càng được nhiều người lựa chọn
Trong quan niệm chung, người ta dễ nhất trí với nhau rằng, folklore học thuộc hệ thống các khoa học xã hội Cùng với các bộ môn khoa học khác,
nó góp phần nhận thức đặc điểm, bản sắc và quy luật của con người Việt Nam, lịch sử Việt Nam Đặc biệt ở nước ta, folklore rất phong phú Đó là bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, do vậy không thể hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam, tri thức và tình cảm con người Việt Nam, nếu như không hiểu văn hóa dân gian, cội nguồn của văn hóa dân tộc
Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn liền với các sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động Vì vậy, nhận thức, lý giải các hiện tượng folklore phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó với sinh hoạt văn hóa của cộng đồng
Do những đặc trưng trên của đối tượng nghiên cứu, cho nên folklore học tồn tại bên cạnh các bộ môn khoa học khác trong mối quan hệ thân thiết với nhau (như với văn học, dân tộc học, nghệ thuật học…) Trong nghiên cứu folklore cần tiếp thu các thành tựu nghiên cứu của các bộ môn khoa học khác
Hiện nay ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau:
Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền
thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian
Trang 28Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc
dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian ); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn )
Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý,
thời tiết, khí hậu ); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất)
Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn
hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp
1.1.2 Các thành tố của văn hóa dân gian
Văn hóa dân gian được hợp thành bởi nhiều thành tố, bao gồm toàn bộ văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất Những sản phẩm văn hóa ấy đều do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền từ đời này qua đời khác
Khi nói tới thành tố văn hóa dân gian, không thể không đề cập tới tính chỉnh thể nguyên hợp của nó Nghiên cứu văn hóa dân gian là xem xét nó trong mối quan hệ tổng thể liên ngành, đa bộ môn, đa chiều trong cái này có cái kia, chúng có mối quan hệ gắn bó không chia cắt Tuy là thành tố của văn hóa dân gian, cùng tồn tại và phát triển, nhưng các thành tố văn hóa dân gian vẫn được định hình bởi những đặc điểm, đặc tính riêng biệt mà chúng vẫn hòa nhập trong sáng tạo, mà không hòa tan làm mất đặc trưng cơ bản
Theo Tô Ngọc Thanh văn hóa dân gian có các thành tố sau:
Nghệ thuật âm nhạc
Nghệ thuật hát
Trang 29Nghệ thuật múa
Nghệ thuật sân khấu (chèo, tuồng đồ, múa rối)
Nghệ thuật diễn xướng
Nghệ thuật tạo hình (điêu khắc, kiến trúc, hội họa, mỹ nghệ thủ công) Nghệ thuật ngữ văn (văn học)
Lễ hội
Trò chơi dân gian
Tri thức dân gian
1.1.3 Đặc điểm của văn hóa dân gian
Tính truyền miệng: khi con người chưa sáng tạo ra chữ viết hay ngay cả
khi đã có chữ viết nhưng nhân dân không được phổ cập văn tự thì truyền miệng vẫn là phương thức lưu truyền chủ yếu của văn hóa dân gian, nhất là các tác phẩm văn chương (Phương thức này tồn tại ở Việt Nam đến giữa thế
kỷ XX Trước Cách mạng tháng Tám, 95% dân số Việt Nam bị mù chữ) Phương thức truyền miệng thường có sự kết hợp giữa ngôn từ với động tác,
cử chỉ, điệu bộ Đây là hiện tượng phổ biến trong các loại hình nghệ thuật dân gian có tính tổng hợp cao Vì vậy, nói một cách đầy đủ thì, văn hóa dân gian được lưu truyền dưới hình thức truyền khẩu, bày lại, chỉ lại
Tính phi thời – không gian: văn bản, ngôn từ, tranh vẽ, điệu múa dân
gian… không thể xác định được thời điểm ra đời một cách chính xác, tuy có thể đoán ra dấu viết Tác phẩm văn hóa dân gian cổ nhất vẫn đáp ứng được nhu cầu thẩm mĩ hiện đại Hơn nữa, bản hay nhất, dân gian nhất cũng không nhất thiết là cổ nhất Bên cạnh đó nhiều motif trong văn hóa dân gian có tính chất quốc tế Khẳng định quê hương của một hiện tượng văn hóa dân gian là việc khó khăn, mà chỉ có thể tìm ra sắc thái địa phương (có khi là địa phương hóa) của nó Kể cả những hiện tượng hay sự kiện văn hóa dân gian biết chắc xuất xứ, một khi đã lan truyền thì không còn nguyên mẫu trọn vẹn
Trang 30Tính tập thể: tất nhiên không thể có một sáng tạo, sáng tác nào mà lại
không có người làm ra, thông thường thì phải có người đầu tiên, người mở đầu trước nhất Nhưng với văn hóa dân gian thì không thể biết tác giả là ai Câu ca dao, điệu múa, điệu hát, và cả một phong tục, một cuộc lễ bái, nhất định phải có người mở đầu Song người ấy không thể kí tên, không thể được xác nhận (dù có thể lúc đầu được nhiều người chung quanh xem là người khởi
sự - nói theo cách dân gian là đầu têu) Nhưng rồi những sáng tác ấy được người chung quanh thêm bớt, gia giảm, truyền đi truyền lại, một lần truyền là
có sự chỉnh lý điểm tô, để cho đến khi được hoàn toàn chấp nhận thì đã trở thành một tác phẩm của tập thể Văn hóa dân gian còn được bổ sung qua nhiều thế hệ, qua nhiều vùng miền Người ta thường lấy tên vùng miền mà các tác phẩm (hoặc sản phẩm) dân gian ra đời để định danh cho một số thể loại cụ thể Như dân ca Bắc Bộ, dân ca Nam Bộ, dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca quan họ Bắc Ninh, hát xoan Phú Thọ, tranh Đông Hồ, nhà mồ Tây Nguyên, chọi trâu Đồ Sơn… Cho đến nay, trong văn hóa dân gian hiện đại vẫn tồn tại những trường hợp khó xác định quyền tác giả đối với một số tác phẩm đang được lưu hành
Tính dị bản: phương thức lưu truyền và phạm vi lưu truyền rộng rãi của
văn hóa dân gian là cơ sở hình thành tính dị bản Những dị bản của văn hóa dân gian được tìm thấy ở trong phạm vi hẹp và cả phạm vi rộng, thậm chí rất rộng, Sở dĩ như vậy là vì từ thời tiền sử, loài người vốn di trú khắp nơi trên trái đất; tính người trong sáng tác dân gian vừa mang tính phổ quát của nhân
loại, vừa mang tính đặc thù của mỗi tộc người, vì vậy cùng một “khung” chủ
đề, nhưng trong văn hóa dân gian của các dân tộc, cốt truyện và nhân vật có thể khác nhau Mặt khác, khi lưu truyền từ nơi này qua nơi khác, các tác phẩm dân gian được tái tạo theo tư duy thẩm mỹ và quan niệm đạo đức của các chủ thể khác nhau Theo đó, nhận thức về thiện ác, cách giải quyết các vấn đề cá
Trang 31nhân và xã hội của các chủ thể cũng có chỗ khác nhau Đó là những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tính dị bản trong các tác phẩm dân gian
Dị bản văn hóa dân gian thường biểu hiện ở 3 cấp độ:
Dị bản cấu trúc: cốt truyện, tích trò, kết cấu được xây dựng khác nhau, mặc dù cùng chung một nội dung
Dị bản địa phương: câu chuyện hay lòi văn nơi này khác với nơi kia,
do bị địa phương hóa đi sao cho phù hợp với tâm lý, phong tục
Dị bản nghệ nhân: khi trình bày câu chuyện, biểu diễn bài ca, điệu múa, nghệ nhân tự thêm thắt chi tiết, do một dụng ý hay một hứng khởi bất kì
Tính đa dạng: tính đa dạng của văn hóa dân gian thể hiện qua đề tài và
qua thủ pháp sáng tác Do hình thành rất sớm, folklore thời tiền sử đến nay phản ánh trung thực mọi mặt đời sống của người lao động Từ lối sống chiếm đoạt tự nhiên, người lao động đã tiến tới chủ động khai thác tự nhiên để tồn tại và phát triển Từ nhận thức thơ ngây về tự nhiên, người lao động đã vươn tới khám phá quy luật tự nhiên để chủ động trong sản xuất và sinh hoạt Có thể nói có bao nhiêu vấn đề về tự nhiên và xã hội được người bình dân quan tâm thì có bấy nhiêu đề tài được khai thác, thể hiện trong văn hóa dân gian Chỉ riêng trong lĩnh vực truyện kể, hàng loạt các thể loại truyện kể lần lượt ra đời (thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn…) phản ánh đầy đủ các mặt của đời sống xã hội ở những thời kì nhất định Mỗi thể loại ra đời là một chặng đường phát triển tư duy, nhận thức, thể hiện những bước tiến của người bình dân trong quá trình khám phá quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Mảng thơ ca cũng phong phú, đa dạng không kém Nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn xướng là cả một kho tài liệu sinh động
về đời sống của người bình dân Sức tưởng tượng phong phú cùng tính ngẫu hứng trong sáng tạo cho phép các nghệ sĩ dân gian thực sự tự do đi tìm những phương thức thể hiện mới lạ, độc đáo Bằng cách này, văn hóa dân gian đã khơi gợi ra nhiều phương pháp sáng tác cho dòng văn hóa chuyên nghiệp và
Trang 32bác học Do đặc điểm này, khi nghiên cứu văn hóa dân gian cần chú ý đặt đối tượng trong trục lịch đại lẫn đồng đại để thấy hết tính đa dạng, phong phú về
đề tài và thể loại của nó
Tính giản dị: do chất liệu nghệ thuật lấy từ đời sống thường ngày của
người bình dân nên hình thức thể hiện cũng tương ứng, vì vậy người ta ít tìm thấy sự trau chuốt, gọt giũa một cách công kỹ ở các tác phẩm dân gian Đa số các tác phẩm trong kho tàng văn hóa dân gian đều có kích thước vừa phải, phù hợp với phương thức lưu truyền, phù hợp không gian và điều kiện thưởng thức nghệ thuật ở nơi thôn dã; kết cấu tác phẩm không có nhiều cơ tầng và quan hệ nội tại phức tạp Trường ca và sử thi dân gian có kích thước khá lớn nhưng nội dung và kết cấu gần với logic của đời thực đã khiến người đọc, người nghe dễ dàng theo dõi, cảm nhận Ở Việt Nam, số lượng tác phẩm loại này chiếm số lượng không lớn so với toàn bộ nền văn hóa dân gian
1.1.4 Chức năng của văn hóa dân gian
Chức năng nhận thức – lưu trữ: quá trình nhận thức tự nhiên và xã hội
hình thành tri thức dân gian rộng lớn và phong phú Những tri thức dân gian
đã đáp ứng một cách thiết thực yêu cầu của người lao động Cả trong những cách lý giải cảm tính, thơ ngây mang tính siêu hình chúng ta vẫn thấy được cách hiểu đơn giản về tính hai mặt của các thế lực tự nhiên, thấy được thái độ biết ơn và sự kính sợ của người bình dân đối với các thế lực này Những thứ tình cảm cao quý như tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào dân tộc không phải ngày một ngày hai có được mà phải trải qua quá trình tri nhận dưới sự tác động của cộng đồng, dần trở thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của mỗi người Vì vậy, có thể nói rằng, tri thức dân gian bảo lưu những giá trị tinh thần của người lao động, qua đó nuôi dưỡng, giữ gìn các giá trị truyền thống của dân tộc
Chức năng thúc đẩy – cải tạo xã hội: văn hóa dân gian kích thích tinh
thần lao động, tạo ra nguồn của cải vật chất cho xã hội Tác phẩm dân gian
Trang 33luôn đề cao cái đẹp, cái tốt; phê phán, lên án cái ác, cái xấu Các hình tượng nghệ thuật trong văn hóa dân gian thường đại diện cho một thế lực nhất định; trong đó xu hướng chung là thế lực thuộc cái thiện luôn chiến thắng cái ác, cái xấu; các giá trị nhân văn ngày càng được khẳng định trong xã hội Bằng cách này, văn hóa dân gian góp phần xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn
Chức năng thẩm mỹ: văn hóa dân gian là một bộ phận quan trọng khả
dĩ có thể thỏa mãn nhu cầu về đời sống tinh thần của đông đảo quần chúng lao động (là món ăn tinh thần không nhàm chán của người lao động) Tác phẩm văn hóa dân gian khơi dậy khả năng, cảm nhận và đánh giá cái đẹp trong mỗi
cá nhân; từ đó giúp họ có cảm hứng sáng tạo nghệ thuật, yêu thích sáng tác nghệ thuật Cái đẹp của những sản phẩm văn hóa nói chung và của văn hóa dân gian nói riêng giúp người lao động quên đi những nỗi vất vả, nhọc nhằn trong hiện tại; từ đó có thêm niềm vui để sống và làm việc
Chức năng tạo nguồn: các đặc điểm và chức năng vừa nêu trên cho thấy tính “nền tảng” của văn hóa dân gian đối với văn hóa dân tộc Tri thức
dân gian phong phú, đa dạng là cơ sở cho nền văn hóa chuyên nghiệp và văn hóa bác học Trừ bộ phận văn hóa bác học và chuyên nghiệp hình thành theo con đường ngoại sinh, các sản phẩm văn hóa bác học và chuyên nghiệp nội sinh có sự gắn kết tự nhiên với văn hóa dân gian
Chức năng giáo dục: văn hóa dân gian còn là phương tiện để giáo dục
nhận thức, đạo đức, thẩm mỹ Chức năng giáo dục được thực hiện thông qua các chức năng khác và ngược lại Chức năng giáo dục thể hiện ở mục đích của văn hóa dân gian trong quá trình sáng tác, lưu truyền là nhằm vào con người
và vì con người
1.2 Lý luận về du lịch văn hóa
1.2.1 Khái niệm du lịch văn hóa
Hiện nay có nhiều định nghĩa về du lịch văn hóa của các nhà nghiên cứu lớn tại các nước tiên tiến đặc biệt là Châu Âu
Trang 34Theo Giáo sư, tiến sĩ Richards Greg [1996:84] thì “Du lịch văn hóa là
sự di chuyển của của những người ra ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ tới khu vực hấp dẫn về văn hóa với ý định tập hợp những kinh nghiệm và thông tin mới để thỏa mãn những nhu cầu văn hóa của họ”
Từ định nghĩa trên ta thấy Richards xem du lịch văn hóa là hoạt động đi
tìm và hưởng thụ nhu cầu văn hóa Ông tán đồng khái niệm “những sản phẩm văn hóa” (“Cultural Productions”) và coi nhu cầu sử dụng những “sản phẩm văn hóa” là có thật
Theo Tiến sĩ Richard Prentice1 [2003:85].Giáo sư Trường Đại học
Nottingham (Anh Quốc), trong bài phát biểu “Khái niệm du lịch văn hóa” tại hội nghị “Phát triển du lịch văn hóa ở Anh” tổ chức ngày 16/12/2003, đã đưa
ra định nghĩa du lịch văn hóa như sau: “Du lịch văn hóa là du lịch được xây dựng, được dâng hiến hoặc được tiêu thụ như sự nhận thức cao của văn hóa”
Theo định nghĩa này ta thấy, Richard nhìn sự hình thành của du lịch văn hóa từ động cơ nhận thức văn hóa Ông không định nghĩa theo kiểu phân loại hay mô tả chi tiết đối tượng du lịch văn hóa
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Stebbin2 thì “Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch đặc biệt dựa trên sự nghiên cứu, tham gia vào những trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ, hoặc thẩm mỹ, trí tuệ, xúc động hay tâm lý”
Từ định nghĩa trên của Stebbin ta thấy ông dựa vào phân chia mục đích
du lịch (trải nghiệm văn hóa sâu sắc, mới lạ) và loại hình du lịch (thẩm mỹ, trí tuệ, cảm xúc hoặc tâm lý) để đưa ra định nghĩa du lịch văn hóa
Conference: Developing Cultural Tourism, University of Nottingham
hiện là GS của nhiều trường Đại học lớn như Minnesota, Calgary, Taxas, Memorial, Luton… Ông cũng là Chủ tịch Liên đoàn Khoa học xã hội Canada
Trang 35Theo Giáo sư, Tiến sĩ Tommy D Anderson3, trong bài tham luận chuyên đề nghiên cứu và phát triển du lịch văn hóa tại Hội nghị ECTN 2006
đã định nghĩa du lịch văn hóa như sau:
“Du lịch văn hóa là sự di chuyển của con người ra ngoài phạm vi cư trú thường của mình với ý định tiêu thụ những sản phẩm và dịch vụ văn hóa”
Đây là định nghĩa tương đối ngắn gọn và dễ hiểu Theo ông thì du lịch văn hóa là hình thức đi du lịch để tiêu thụ những sản phẩm và dịch vụ văn hóa Định nghĩa này chỉ nêu lên động cơ để mua một tour du lịch văn hóa chứ chưa bao hàm được bản chất, cấu trúc của du lịch văn hóa
Hội đồng quốc tế về những công trình kỷ niệm và khu di tích ICOMOS (International Concil On Monuments and Site) [1999:79].đã đưa ra định nghĩa
về du lịch văn hóa như sau:
“Du lịch văn hóa là một hình thức du lịch mà mục đích của nó là khám phá những công trình kỷ niệm, những khu di tích hoặc những mục đích khác
Nó đưa vào sử dụng những mặt ảnh hưởng tích cực của quá khứ tới mức có thể nó góp phần thỏa mãn mục đích riêng – duy trì và bảo vệ những thứ ấy Hình thức du lịch này bênh vực, ủng hộ thực tiễn của những nỗ lực nhằm để duy trì và bảo vệ những nhu cầu của cộng đồng nhân loại bởi những lợi ích kinh tế, văn hóa – xã hội mà nó dành cho tất cả sự quan tâm của công chúng”
Đứng ở góc độ của một tổ chức chuyên ngành, ICOMOS đã đưa ra một định nghĩa khá rộng về du lịch văn hóa Trong đó điểm chú ý là du lịch văn hóa sử dụng những mặt tích cực của quá khứ để nhằm giáo dục nhận thức, và
du lịch văn hóa bênh vực cho nhu cầu bảo vệ, duy trì những lợi ích của cộng
đồng Định nghĩa này định dạng du lịch văn hóa như là một hình thức du lịch
thật sự và mang tính bền vững
Trang 36
Tổ chức quốc tế ECTN4 ở châu Âu thì định nghĩa: “Du lịch văn hóa có thể được định nghĩa tóm lược như là du lịch dựa trên nguồn tài nguyên văn hóa của vùng, địa phương bao gồm truyền thống văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, danh lam thắng cảnh, môi trường, di chỉ khảo cổ, nhà bảo tang và những hoạt động văn hóa như lễ hội, trưng bày mỹ thuật, những cuốn hút nghệ thuật, nhà hát, nhưng cũng bao gồm những cuốn hút liên quan tới sản phẩm nguyên thủy, sản phẩm thủ công truyền thống, công nghệ chế tác, lịch sử xã hội và cuộc sống”
Từ những cơ sở trên, để dễ hình dung ta có thể đưa ra một định nghĩa tóm lược về du lịch văn hóa như sau:
Du lịch văn hóa là loại hình du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc, được hình thành từ nhu cầu muốn khám phá, hiểu biết những cái tinh túy, độc đáo của một tộc người, một địa phương, một đất nước nhằm mục đích hưởng thụ, trải nghiệm những giá trị văn hóa của vùng, quốc gia nơi mình đến (thông qua tham quan các công trình văn hóa, danh thắng, lễ hội, phong tục tập quán…), đồng thời giúp nâng cao nhận thức giữ gìn, bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống
1.2.2 Đặc trưng của du lịch văn hóa
Đặc trưng thứ nhất, có thể thấy du lịch văn hóa là hình thức du lịch
hướng đến các giá trị văn hóa, vì thế nó mang tính thẩm mỹ, vì văn hóa là làm
cho nó đẹp và có giá trị, du lịch văn hóa là hình thức đi du lịch tìm kiếm cái đẹp của văn hóa
Đặc trưng thứ hai của du lịch văn hóa là tính liên kết Du lịch là một
chuỗi hành trình xuất phát từ nơi cư trú quen thuộc đến điểm cần đến Người
đi du lịch phải trải qua một chuỗi quá trình khép kín từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc chuyến đi Ở mỗi điểm dừng là sự cảm nhận về sự khác biệt: giá trị văn hóa truyền thống, môi trường, cảnh quan, sinh hoạt của người địa phương,
Trang 37những ấn tượng về cơ sở hạ tầng, nghệ thuật ẩm thực… và sau khi kết thúc chuyến đi trở về lại xuất hiện hồi ức về chuyến đi Muốn có một chuyến du lịch văn hóa như mong đợi đòi hỏi không chỉ ở khâu sản phẩm mình đặt mua
mà còn phụ thuộc rất nhiều vào khâu điều hành của nhà cung cấp dịch vụ du lịch Khách du lịch sẽ thực sự hài lòng nếu chuỗi các dịch vụ du lịch được sắp xếp và tổ chức điều hành một cách khoa học và có chất lượng
Đặc trưng thứ ba là tính nhân văn Du lịch văn hóa thể hiện tính nhân
sinh bởi khách du lịch văn hóa thường có trình độ nhận thức về các giá trị văn hóa của con người Thông qua những khoảnh khắc trải nghiệm khác biệt về tôn giáo, tập quán, lối sống… của người địa phương, khách du lịch văn hóa bị cuốn hút và say mê những nét đẹp ấy Chính vì sự yêu quý, say mê nên họ cảm thấy có trách nhiệm phải giữ gìn, bảo vệ và giới thiệu những người khác cùng đến chiêm ngưỡng Họ sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng họ yêu thích gian tiếp hoặc trực tiếp bằng nhiều hình thức Cũng chính sự giáo dục cho con người tìm hiểu, tận hưởng và yêu quý cái đẹp, những giá trị văn hóa lịch sử… nên du lịch văn hóa mang tính nhân văn sâu sắc
Thứ tư là tính giáo dục Du lịch văn hóa giúp cho con người tìm hiểu,
tận hưởng và yêu quý cái đẹp, và tôn trọng những giá trị văn hóa lịch sử của mỗi vùng đất
1.2.3 Chức năng cơ bản của du lịch văn hóa
Thứ nhất, du lịch văn hóa tái sinh các giá trị văn hóa truyền thống bị
lãng quên, do vậy nó có chức năng khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống Du lịch văn hóa còn có chức năng bảo vệ và bảo tồn các giá trị văn hóa
vật thể và phi vật thể do đó nó còn có chức năng bảo tồn nền văn hóa
Thứ hai, du lịch văn hóa mang lại cơ hội giao lưu và giới thiệu nền văn
hóa của cộng đồng tiếp đón nên nó còn có chức năng giới thiệu và giao lưu văn hóa
Trang 38Thứ ba, du lịch văn hóa cũng làm cho cộng đồng địa phương thấy được cái đáng quý của nền văn hóa tại địa phương của dân tộc mình và kích thích
sự tìm hiểu, học hỏi nhiều hơn và có cơ hội để tự hào về nó Do đó, du lịch
văn hóa còn có chức năng giáo dục
Thứ tư, cũng như các loại hình du lịch khác, du lịch văn hóa cũng có chức năng nối kết liên ngành, liên vùng trong quá trình vận động của nó Chẳng hạn, di tích lịch sử sẽ đẹp hơn nếu như con đường vào tham quan đẹp,
ý thức vệ sinh xung quanh điểm tham quan cũng góp phần nâng cao giá trị của di tích đó… Điều này có nghĩa là cái đẹp của du lịch văn hóa có được là phải do sự phối hợp, hợp tác chặt chẽ từ nhiều phía, nhiều ngành nên có thể
nói du lịch văn hóa có chức năng liên kết đa ngành và điều phối
1.2.4 Các loại hình của du lịch văn hóa
Hiện nay, việc phân chia loại hình du lịch văn hóa vẫn chưa được các nhà khoa học thống nhất với nhau:
Nhà nghiên cứu Rojek [1993:83].chia du lịch văn hóa thành 4 nhóm cơ bản sau:
Nhóm một: du lịch văn hóa vùng di sản (Heritage sites cultural
tourism), bao gồm tất cả những chuyến du lịch tham quan di sản thiên nhiên,
di sản văn hóa và di sản phi vật thể
Nhóm hai: du lịch văn hóa thắng cảnh nhân văn (Literary landcapes
cultural tourism) gồm tất cả những chuyến du lịch tham quan tại những khu di tích lịch sử của vùng, thăm những ngôi nhà của các anh hùng lịch sử dân tộc, nơi làm việc của các vĩ nhân…
Nhóm ba: du lịch văn hóa những điểm đen (Blackspot cultural
tourism), là loại du lịch văn hóa đem lại xúc động mạnh như: tham quan khu thảm sát trong chiến tranh, tham quan khu xảy ra tai nạn của các nhân vật nổi tiếng, hay nơi xảy ra vụ đắm tàu lịch sử, nơi chôn xác trong chiến tranh…
Trang 39Nhóm bốn: du lịch văn hóa công viên chuyên đề (Theme parks cultural
tourism) gồm những chuyến tham quan các công viên văn hóa chuyên đề như: công viên nước, công viên hoa, công viên tranh nghệ thuật, công viên điêu khắc, công viên nghệ thuật hóa trang…
Richard Prentice5 (2003), chia du lịch văn hóa theo ba nhóm gồm:
Du lịch văn hóa môi trường tự nhiên
Du lịch văn hóa môi trường xã hội
Du lịch văn hóa cảm xúc
Magraret Graham6 [2006:80], chia du lịch văn hóa theo chuyên đề như: thăm di sản, tham quan bảo tàng, lễ hội, di tích lịch sử - khảo cổ…
Getz Donal7 [1991:78] chia du lịch văn hóa thành các nhóm sau:
Du lịch văn hóa những lễ hội kỷ niệm
Du lịch văn hóa nghệ thuật và giải trí
Du lịch văn hóa khoa học giáo dục
Du lịch văn hóa sự kiện thể thao
Du lịch văn hóa, lịch sử những phát minh sáng tạo của loài người (thăm những nơi sinh ra những phát minh vĩ đại của loài người)
Du lịch văn hóa thương mại (hội chợ hàng công nghiệp, thăm nếp sinh hoạt văn hóa trong kinh doanh của các tập đoàn lớn,…)
Du lịch văn hóa chính trị và sự kiện trọng đại (Hội nghị thượng đỉnh GU, OPEC, APEC, LHQ…, lễ kết hôn của hoàng tộc…)
Melanie K Smith8 [2003:81].chia du lịch văn hóa thành các loại hình sau:
Di sản (di sản thế giới, di tích khảo cổ học, phố cổ, bảo tàng)
6 TS Magraret Graham, Trung tâm Phát triển du lịch và Thương mại du lịch (Center for Travel and Tourism Bussiness Development)
tourism experience” 2006.
Trang 40Nghệ thuật diễn xuất (hát, kịch, trung tâm văn hóa)
Nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, kiến trúc, triển lãm tranh)
Lễ hội và sự kiện (lễ hội văn hóa, âm nhạc, sự kiện thể thao…)
Sinh hoạt tín ngưỡng (chùa, đình, nhà thờ, lễ hành hương…)
Nghệ thuật thủ công (dệt, làm gốm, đan, thêu, điêu khắc)
Môi trường dã ngoại (làng, trang trại, công viên, bảo tang sinh thái, vùng sinh thái)
Ngôn ngữ (học tập và thực hành ngôn ngữ)
Nghệ thuật ăn ngon (nghệ thuật ẩm thực)
Công nghiệp và tài chính (viếng thăm nhà máy, công xưởng sản xuất, nhà máy rượu…)
Văn hóa hiện đại (Hip hop, Pop, mua sắm, thời trang, thiết kế, truyền thông)
Sưu tầm (tranh, ảnh, xe, tiền cổ, tem, động vật, hoa lá…)
Từ những cơ sở trên và dựa vào tính đặc thù của văn hóa và du lịch, để
dễ hình dung ta có thể phân chia loại hình du lịch văn hóa dựa trên sự phân chia cấu trúc văn hóa Như vậy, ta có 2 nhóm chính sau:
Du lịch văn hóa truyền thống: là các loại hình du lịch lấy nguồn giá trị
văn hóa vật thể và phi vật thể truyền thống làm đối tượng khai thác Du lịch văn hóa vật thể gồm các hình thức du lịch như tham quan các di sản (di sản thế giới, di tích khảo cổ học, phố cổ, bảo tàng); tham quan kết hợp mua sắm hàng thủ công mỹ nghệ và làng nghề truyền thống (dệt, gốm, đan, thêu); các hoạt động sưu tầm hiện vật (tranh, ảnh, gốm, tem, tiền xưa…) và du lịch văn hóa phi vật thể gồm nghệ thuật diễn xuất (hát, kịch, hòa tấu); nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc, triển lãm tranh, kiến trúc); lễ hội và sự kiện (lễ hội văn hóa, âm nhạc, sự kiện thể thao); tham gia các hoạt động tôn giáo (sinh hoạt chùa, nhà thờ, miếu, đình, hành hương)