Khi đề cập đến văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta đã nói: “Vì lẽ sinh tồn như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phá
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2
LÊ THỊ HỒNG VÂN
VĂN HÓA DÂN GIAN HỘI AN – QUẢNG NAM TRONG GIAO LƯU VĂN HÓA HIỆN NAY
Chuyên ngành : CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Mã số : 60.22.85
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS TRỊNH DOÃN CHÍNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2009
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được công bố!
LÊ THỊ HỒNG VÂN
Trang 4Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI HÌNH THÀNH VĂN HÓA DÂN GIAN HỘI AN – QUẢNG NAM 8
1.1 Những đặc điểm tự nhiên và lịch sử hình thành cộng đồng dân cư Hội An 8
1.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên của Hội An 8
1.1.2 Một số đặc điểm về lịch sử cộng đồng dân cư ở Hội An 10
1.2 Những nội dung của văn hóa dân gian và sinh hoạt văn hóa dân gian ở Hội An 13
1.2.1 Những nội dung cơ bản của văn hóa dân gian 13
1.2.2 Sinh hoạt văn hóa dân gian trong phạm vi gia đình 23
1.2.3 Những sinh hoạt văn hóa dân gian trong cộng đồng dân cư 29
1.3 Những đặc điểm cơ bản của văn hóa dân gian ở Hội An 34
1.3.1.Văn hoá dân gian Hội An – Quảng Nam là sự cộng cư văn hóa từ đa nguồn mà văn hóa Việt là cốt lõi 34
1.3.2 Tính nhân văn trong văn hoá dân gian Hội An – Quảng Nam 39
1.3.3 Tính gắn kết con người trong một cộng đồng xã hội 43
Chương 2: ĐỊNH HƯỚNG BẢO TỒN – PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA DÂN GIAN Ở HỘI AN HIỆN NAY 46
2.1 Thực trạng bảo tồn các giá trị văn hóa dân gian ở Hội An trong bối cảnh hiện nay 46
2.1.1 Những thành tựu và hạn chế cơ bản trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian ở Hội An 46
Trang 52.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy các giá
trị văn hóa dân gian ở Hội An 63
2.2.1 Nâng cao nhận thức của người dân về nhiệm vụ giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân gian ở Hội An 64
2.2.2 Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước trong việc bảo tồn những giá trị của văn hóa dân gian 66
2.2.3 Một vài ý tưởng về việc khai thác các giá trị của văn hóa dân gian theo phương hướng của sự nghiệp đổi mới 69
KẾT LUẬN 73
PHỤ LỤC 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời đại hiện nay, cùng với các lĩnh vực kinh tế, khoa học – kỹ thuật, văn hóa nói chung và văn hóa dân gian nói riêng đóng một vai trò đặc biệt trong đời sống xã hội Chính văn hóa chứ không phải là điều gì khác, đã đánh dấu sự khai sinh và trưởng thành của nhân loại Vậy văn hóa
là gì?
Cho đến nay đã có hằng trăm định nghĩa về văn hóa Tuy nhiên bao quát nhất có thể kể đến định nghĩa về văn hóa của UNESCO: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức, cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống,
hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [50, 7]
Hay, “Văn hóa là tất cả những cái mà nhờ đó tự nhận biết bản thân
và có thể được người khác nhận biết Đối với mọi cộng đồng con người, mọi người dân, không có bản sắc nào có thể yêu sách và được thực hiện ngoài nền văn hóa của bản thân họ” [43, 13]
Khi đề cập đến văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta đã nói: “Vì lẽ sinh tồn như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, tôn giáo, văn học, khoa học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [31, 431]
Từ định nghĩa này, chúng ta thấy rằng, văn hóa là do con người sáng tạo ra bằng hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện bản thân mình
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, là linh hồn, sức sống của mỗi quốc gia dân tộc Trong quá trình dựng nước và giữ nước, văn hóa Việt Nam là một thực thể, đồng thời hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam Nhờ vậy,
Trang 7nền văn hóa giàu bản sắc của dân tộc ta đã không bị mai một và đồng hóa Đúng như Nghị quyết hội nghị lần thứ năm ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VIII đã viết: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình Văn hóa Việt Nam
đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử
vẻ vang của dân tộc” [17, 156] Là một bộ phận của văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian có một vai trò quan trọng trong nền văn hóa dân tộc, bao gồm: văn hóa nghệ thuật dân gian, phong tục, tập quán, nếp sống, tâm hồn tính cách người Việt Nam Cho nên, văn hóa dân gian là nền tảng
để xây dựng văn hóa dân tộc Không có văn hóa dân gian thì không có văn hóa dân tộc
Hiện nay, hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế phổ biến và tất yếu của thế giới Nó đã mở ra khả năng to lớn để các dân tộc giao lưu văn hóa, khoa học, giáo dục với nhau trên phạm vi toàn cầu, tạo động lực cho quá trình đổi mới và hiện đại hóa văn hóa của các dân tộc
Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, dân tộc Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để phát triển, nâng cao và làm giàu bản sắc văn hóa dân tộc của mình do quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đem lại
Tuy nhiên, bên cạnh những tác động tích cực, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng gây ra không ít những tác động tiêu cực đối với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam Đó là bệnh sùng ngoại, coi thường giá trị dân tộc; chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, chỉ coi trọng lợi ích vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần, chỉ coi trọng lợi ích cá nhân, coi nhẹ giá trị cộng đồng, coi trọng lợi ích trước mắt, ít chú ý đến lợi ích lâu dài; sự suy thoái về lối sống, đạo đức xã hội có nguy cơ ngày càng tăng, nhất là sa sút
về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và nếp sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân; mức độ trầm trọng của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, của các tệ nạn xã hội và các tiêu cực xã hội khác Các sách báo,
Trang 8tranh ảnh, băng nhạc, băng hình có nội dung kích động dâm ô, bạo lực nhập lậu ồ ạt gây tác động xấu đến nhiều thuần phong mỹ tục của dân tộc Di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh đang bị xâm hại rất nghiêm trọng,… Đúng như Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã viết: “Thoái hóa, biến chất về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên vẫn diễn ra nghiêm trọng, kéo dài chưa được ngăn chặn, đẩy lùi” [16, 263] Tình hình đó thật sự là một thách thức lớn đối với việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa dân gian của dân tộc Việt Nam hiện nay
Trong nền văn hóa dân tộc nói chung, văn hóa dân gian là bộ phận
có sức sống mãnh liệt và là bộ phận chịu tác động rõ nét nhất của những điều kiện tự nhiên, lịch sử xã hội ở từng vùng khác nhau Xuất phát từ việc nghiên cứu văn hóa dân gian giúp hiểu sâu truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam ở từng địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Tôi lựa chọn vấn đề, Văn hóa dân gian Hội An – Quảng Nam
trong giao lưu văn hóa hiện nay làm đề tài luận văn thạc sĩ Chủ nghĩa xã hội khoa học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Từng là cảng thị ngoại thương quốc tế nổi tiếng một thời, đô thị cổ Hội An đã được sự quan tâm phản ánh của nhiều thương nhân, giáo sĩ, học giả trong và ngoài nước từ rất lâu trong lịch sử Các tác giả đã phản ánh về Hội An dưới nhiều góc độ khác nhau Trong đó văn hóa dân gian – đô thị cổ Hội An đã được đông đảo những người am hiểu về Hội An tham gia nghiên cứu
Từ cuối thế kỷ XVI, cảng thị Hội An đã thu hút đông đảo thương nhân, giáo sĩ các nước Đông – Tây đến giao thương mậu dịch và truyền
bá tôn giáo, họ đã ghi chép rất nhiều về Hội An Trong đó có công trình liên quan đến vấn đề văn hóa dân gian, của giáo sĩ người Ý Cristophoro
Borri (từng đến Hội An trong những năm 1618 – 1621) đã viết Xứ Đàng
Trong năm 1621 Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1988 Trong công trình
Trang 9này, tác giả đã đề cập đến một số vấn đề về nếp ăn, mặc, ở, ứng xử và những sinh hoạt văn hóa của cư dân Hội An xưa kia
Ở Việt Nam, văn hóa dân gian Hội An là một vấn đề được nhiều
ngành khoa học quan tâm, nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên
cứu liên quan đến văn hóa dân gian được công bố, như: Vị thế địa – lịch sử
và bản sắc địa – văn hóa của Hội An của GS Trần Quốc Vượng, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006 Trong công trình này, tác giả đã tập trung phân tích về lịch sử hình thành đô thị cổ Hội An, sự hợp cư của nhiều dân tộc trên vùng đất này đã tạo nên một bản sắc văn hóa riêng
mang phong cách Hội An Hay như trong tác phẩm Khu phố cổ Hội An
Nxb Trẻ, xuất bản năm 2002, tác giả đã đề cập đến nếp sinh hoạt văn hóa thể hiện trong những lễ hội đã tạo nên một phong cách Hội An đông vui mà êm ả, vừa hồn nhiên, vừa chân chất, vừa lịch thiệp, nhẹ nhàng
Trong tác phẩm Di sản văn hóa văn nghệ dân gian Hội An của Trần
Văn An, Nxb Trung Tâm Quản Lý Bảo Tồn Di Tích Hội An, 2005, tác giả
đề cập đến nhiều loại hình, hình thái văn hóa dân gian, được bảo lưu bền bỉ trong cuộc sống thường ngày và trong ký ức của các thế hệ cư dân địa phương liên tục từ đời này sang đời khác cho đến ngày nay Đây chính là những lớp trầm tích văn hóa dân gian tích tụ qua các thời kì lịch sử để bồi dưỡng nên tính cách, phẩm chất của cư dân Hội An
Trong cuốn Văn hóa phi vật thể ở Hội An của Bùi Quang Thắng,
Nxb, Thế giới, 2005, tác giả đề cập đến đặc điểm, nhiều tầng, lớp và đa dạng ở tất cả các hình thái văn hóa phi vật thể ở Hội An (từ phong tục tập quán đến văn học dân gian, từ ẩm thực đến lễ hội truyền thống…) và qua
đó, tác giả đề cập đến thực trạng bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể ở Hội
An
Trong cuốn Hội An di sản văn hóa thế giới, Nxb Thanh niên, 2001,
bao gồm nhiều bài viết của các nhà khoa học được Hoàng Minh Nhân tuyển
chọn và giới thiệu, trong đó bài viết của GS Phan Huy Lê “Hội An –
lịch sử và hiện trạng”, tác giả đã đề cập đến những giá trị nổi bật của khu
Trang 10đô thị cổ Hội An trong di sản văn hóa Việt Nam Hay bài viết của PTS
Hoàng Đạo Kính “Hội An – di sản văn hóa kiệt xuất”, tác giả đề cập nhiều
đến vấn đề bảo tồn những giá trị văn hóa của đô thị cổ Hội An
Ngoài ra, khu phố cổ Hội An còn là đề tài của rất nhiều luận án thạc
sĩ, tiến sĩ trong nước và quốc tế về lĩnh vực văn hóa Trong đó đáng kể nhất
là luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quốc Hùng “Phố cổ Hội An và việc
giao lưu văn hóa ở Việt Nam”, Nxb Đà Nẵng, 1995 Trong công trình này,
tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã dày công nghiên cứu và đã đưa ra những thông tin quý giá về lịch sử hình thành, phát triển khu phố cổ Hội An, những giá trị lịch sử – văn hóa của Hội An trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc
Nhìn chung, cho đến nay, khối lượng các công trình nghiên cứu về
đô thị cổ Hội An nói chung, cũng như văn hóa dân gian Hội An nói riêng cũng khá đồ sộ Mỗi công trình tiếp cận dưới một góc độ riêng Trên cơ
sở tìm hiểu, tiếp thu có chọn lọc các công trình nghiên cứu tiêu biểu nêu trên và xuất phát từ thực tiễn xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay, tác giả chọn vấn đề
“Văn hóa dân gian Hội An – Quảng Nam trong giao lưu văn hóa hiện
nay” để làm đề tài nghiên cứu và viết công trình luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn
Tìm hiểu những đặc điểm trong sinh hoạt văn hóa dân gian của cư dân Hội An trong quá trình hình thành, phát triển và trong quan hệ hợp thành cộng đồng dân tộc Việt Nam Trên cơ sở đó, luận văn đề ra những kiến nghị về việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Nhận biết những mặt kế thừa, cải biến, phát huy hoặc loại bỏ những yếu tố không còn phù hợp trong sinh hoạt văn hóa dân gian của người Hội An ở Quảng Nam
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
Trang 11Thứ nhất, phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về văn hóa, văn
hóa dân gian, vài nét về địa lý – dân cư và quá trình định cư của các tộc người Hội An
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng giữ gìn và phát huy bản
sắc văn hóa dân gian ở Hội An, kiến nghị một số giải pháp nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân gian Hội An trong quá trình hội nhập hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là văn hóa dân gian Hội An – tỉnh Quảng Nam
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là văn hóa dân gian Hội An – Quảng Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Chủ yếu giai đoạn từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay
5 Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu của luận văn
Cở sở lý luận và phương pháp luận của luận văn
Luận văn dựa trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng phương pháp kết hợp giữa lôgích và lịch sử; quy nạp và diễn dịch, phân tích và tổng hợp, điều tra xã hội học, thống kê
Nguồn tài liệu
Các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; Văn kiện Đảng; các công trình nghiên cứu khoa học; các tạp chí khoa học;…
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ những giá trị văn hóa dân gian trên cơ sở
đó kiến nghị một số giải pháp bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa dân gian ở Hội An trong giai đoạn hiện nay
Trang 12Những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu khoa học, giảng dạy về vấn đề văn hóa
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 13Chương 1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – XÃ HỘI HÌNH THÀNH VĂN HÓA DÂN GIAN HỘI AN – QUẢNG NAM
1.1 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ HỘI AN
1.1.1 Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên của Hội An
Hội An hay với tên gọi Faifo trong một số bản đồ và tư liệu phương Tây, đã được biết đến với một thương cảng sầm uất từ thế kỷ XVI – XVIII Đến thế kỷ XIX do sự bồi đắp của dòng sông mà chức năng thương cảng của Hội An bị sa sút dần
Hội An hiện nay là một thành phố của tỉnh Quảng Nam, nằm
ở vùng cửa sông – ven biển, cuối tả ngạn sông Thu Bồn, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Nam Thành phố Hội An bao gồm khu phố cổ Hội An với 3 phường nội thị: Cẩm Phô, Minh An và Sơn Phong và một số xã nằm
ở ngoại vi: Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Tam Hiệp và xã hải đảo Cù Lao Chàm Thành phố Hội An có diện tích khiêm tốn nhất so với các huyện, thị trong tỉnh Quảng Nam, tổng diện tích chỉ có 60 km2 theo con số thống kê 2005 [1, 22]
Tuy diện tích quá nhỏ bé như vậy nhưng địa hình, địa mạo Hội An lại hết sức đa dạng và phức tạp Đây thuộc địa hình cồn – bàu cửa sông – ven biển, vừa bị chia cắt bởi hệ thống sông lạch chằng chịt, vừa có biển, hải đảo lại vừa có núi có rừng Theo kết quả nghiên cứu địa chất, các cồn cát cổ nhất của khu vực Hội An được tạo thành từ cách đây 10.000 năm [3, 10]
Hội An nằm ở cuối hạ lưu các con sông lớn của xứ Quảng như Thu Bồn, Vu Gia, Trường Giang và thông với biển Đông qua Cửa Đại hay Đại Chiêm hải nổi tiếng một thời
Trong quá khứ cửa Đại chính là cửa ngõ chính mở ra biển Đông để Hội An sớm giao lưu tiếp xúc với thế giới bên ngoài và hệ thống sông rạch
Trang 14chằng chịt đã tạo điều kiện thuận lợi về giao thông đường thủy Cư dân địa phương đã tận dụng triệt để lợi thế sông nước này trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày Các nguồn sông nước hội tụ về Hội An, Cửa Đại, bồi tạo nơi này thành vùng đất có vị trí phong thủy tốt đẹp để tụ tập dân cư, xây dựng làng xã phố xá, làm cho đô thị, thương cảng Hội An hình thành và phát triển thịnh đạt, vàng son trong lịch sử một thời
“ Hội An là chốn hữu tình Thuyền buôn thuyền bán rập rình bến sông”
(Ca dao)
Về khí hậu, Hội An cũng nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mỗi năm có hai mùa khá rõ rệt, mùa mưa mùa khô Mưa nhiều vào tháng 9 đến tháng 12 Mưa thường gây ra lụt và hầu như năm nào cũng có lụt Lụt ở đây cũng phân thành hai loại: lụt nguồn và lụt biển, lụt biển là hiện tượng nước biển dâng cao vào sâu trong đất liền, gây nhiễm mặn các nguồn nước, ao, đồng ruộng Lụt nguồn là hiện tượng nước dâng do mưa lũ từ trên nguồn đổ
về Cùng với lụt là bão lốc Đây thật sự là một hiểm họa khó chống đỡ Chính sống trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt như vậy, nên trong sinh hoạt hằng ngày người dân đã tích lũy một số kinh nghiệm cho con cháu thông qua ca dao, tục ngữ để giảm nhẹ mất mát, tổn thất
“ Mống đóng Cù Lao không mưa chao cũng gió giật”
“ Đời ông cho chí đời cha Mây phủ Sơn Chà không gió thì mưa”
(Tục ngữ) Môi trường tự nhiên còn ưu đãi cho Hội An các nguồn tài nguyên dồi dào phong phú Những con nước thay đổi một ngày hai lần theo thủy triều cùng hệ động thực vật nước lợ phong phú về chủng loại, nổi tiếng
về độ thơm ngon, với nhiều loại tôm, cá tươi ngon nổi tiếng ai cũng muốn nếm thử một lần khi đến Hội An; đặc biệt hải đảo có Yến Sào – một loại thực phẩm và dược liệu quí hiếm; rừng Cù Lao có nhiều lâm
Trang 15sản dược liệu, động vật quí; đất đai ven sông màu mỡ thích hợp với nhiều loại cây trồng,… Vì thế mà người xưa đã xét rằng:
“ Hội An trăm vật trăm ngon Người thanh cảnh lịch, tiếng đồn chẳng sai”
(Ca dao) Một giáo sĩ phương Tây sống ở Hội An nhiều năm vào đầu thế kỷ
17 đã ghi nhận: “Cá ở nơi đây có hương vị tuyệt diệu và rất đặc biệt, tôi
đã qua nhiều địa phương, đã đi nhiều nước, nhưng tôi cho rằng không nơi nào có thể sánh được với Đàng Trong” [49, 28]
Nhìn chung, Hội An đã sống thời kỳ hoàng kim của mình trong quá khứ với các hoạt động thương mại sôi nổi Chính điều đó đã mang lại sự phồn vinh giàu có cho dân cư ở đây và từ đó, làm tăng thêm vẻ đẹp kiến trúc và sự phong phú về nội thất của khu phố và để lại dấu ấn sâu sắc trong các hình thái văn hóa văn nghệ dân gian của cư dân Hội An
1.1.2 Một số đặc điểm về lịch sử cộng đồng dân cư ở Hội An Lịch
sử Hội An có thể chia làm ba thời kỳ: Tiền sơ sử – Chăm Pa – Đại Việt, Việt Nam Tương đương với ba thời kỳ này là ba lớp cư dân kế tục nhau sinh sống trên vùng đất Hội An
Từ thời kỳ Tiền sơ sử (từ thế kỷ II trở về trước), do có nhiều yếu tố
thuận lợi nên từ hơn 3000 năm trước, mảnh đất này đã là nơi cư trú của con người thời Tiền Sơ sử mà những di tích văn hóa Sa Huỳnh tìm được ở Hội
An là những chứng cứ vật chất sinh động Qua kết quả nghiên cứu khảo cổ học tại các di chỉ cư trú và di tích mộ táng như Hậu xá An Bang, Thanh Chiêm, Xuân Lâm (Cẩm Phổ), Bãi Ông (Tân Hiệp)…, với nhiều loại hình
mộ chum đặc trưng, với những công cụ sản xuất, công cụ sinh hoạt, đồ trang sức bằng đá, gốm, thủy tinh, kim loại,… [1, 19]
Điều này thể hiện người Sa Huỳnh có cuộc sống thạo về nghề nông,
có quan hệ giao lưu rộng với các miền trong khu vực và bên ngoài Thời kỳ
Trang 16này Hội An có thể đã manh nha một tiền cảng sơ thị đặt nền móng cho sự phát triển của Hội An trong các thời kỳ sau
Thời kỳ Chăm Pa (từ thế kỷ II đến thế kỷ XV), Hội An đã từng là
cảng thị phát triển thu hút nhiều thương thuyền Arập, Ba Tư, Trung Quốc…, đến buôn bán, trao đổi vật phẩm mà hàng hóa xuất khẩu của người Chăm chủ yếu lúc bấy giờ là tơ tằm, ngọc trai, đồi mồi, trầm hương
Nhiều thư tịch cổ ghi nhận đã có một thời gian dài, Chiêm Cảng – Lâm Ấp phố đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong việc tạo nên sự hưng thịnh của kinh thành Trà Kiệu và trung tâm tôn giáo tín ngưỡng Mỹ Sơn Với những di tích được phát hiện như những Tháp Chăm, pho tượng Chăm…, cùng những đồ gốm sứ thời Đường, Tống (Trung Quốc); thời Lý, Trần (Việt Nam)…, kết hợp với những di tích kiến trúc và tác phẩm điêu khắc liên quan đến việc thờ tự của người Chăm còn sót lại ở Hội An như Làng Bà Lồi ở Cẩm Thanh, miếu Voi Hời ở Nam Diêu (Thanh Hà), các địa danh cổ như Cù Lao Chàm, Cửa Đại… [39, 424]
Có thể xác nhận thời Chăm Pa (thế kỷ II – XV) việc cư trú, buôn bán của người Chăm ở Hội An đã diễn ra khá rõ nét
Song thời kỳ huy hoàng của Vương quốc Chăm Pa khá ngắn ngủi do cuộc chiến tranh liên miên giữa Chăm Pa và Đại Việt đã làm cho bản đồ của Chăm Pa không còn trên thực tế
Thời kỳ Đại Việt, Việt Nam được tính từ thế kỷ XV cho đến nay, mở
ra bởi sự kiện 1471, người Việt đã đặt chân đến Hội An để thực hiện việc
“Nam tiến bình Chiêm” và sau đó là khai hoang mở cõi Hành trang họ mang đến vùng đất mới là truyền thống cần cù, thông minh sáng tạo trong lao động sản xuất, sự kế thừa những tinh hoa người Chăm và khai thác hợp
lý điều kiện tự nhiên người Việt đã phát triển nơi này thành vùng đất trù phú, giàu có sản vật và hơn cả là xây dựng nơi đây thành một đô thị – thương cảng nổi tiếng thu hút nhiều thành phần cư dân định cư của nhiều quốc gia dân tộc Chăm, Việt, Nhật, phương Tây
Trang 17Các làng mạc người Việt ở Hội An lần lượt được hình thành, ban đầu
là những làng nông nghiệp kết hợp với làng chài, kế đến là làng tiểu thủ công nghiệp buôn bán Một số làng hình thành khá sớm như làng chài Võng Nhi (nay là thôn 6, xã Cẩm Thanh) hiện còn bia ký cho biết thời điểm lập làng năm 1498 Kế đến là sự phát triển nhộn nhịp của các làng tiểu thủ công nghiệp như Xuân Mỹ chuyên về làm đồ sừng, Nam Diêu chuyên về gốm, Thanh Hà làm về vôi, gạch ngói, Kim Bồng chuyên mộc, đóng ghe,…
Việc chúa Nguyễn cho phép các thương nhân Hoa Nhật được chọn đất để lập phố định cư, buôn bán tại Hội An cộng với việc thương khách quốc tế đến Hội An ngày càng tăng, khối lượng trao đổi hàng hóa ngày càng lớn đã làm cho đô thị thương cảng Hội An nhanh chóng hình thành từ cuối thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVII, đô thị Hội An đã có qui mô khá lớn gồm hai khu phố: phố Khách của người Hoa và phố Nhật của người Nhật
mà theo mô tả của C.Borri: Chúa Đàng Trong xưa kia cho người Nhật, người Tàu chọn địa điểm và nơi thuận tiện để lập một thành phố… Thành phố này gọi là Faifo (Hội An), một thành phố lớn đến độ người ta có thể nói được là có hai thành phố, một phố người Tàu và một phố người Nhật Mỗi phố có khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng [49, 92]
Thế kỷ XVII cũng là thời điểm đánh dấu sự ra đời của làng Minh Hương, một làng thương nghiệp hình thành từ sự nhập cư và gia nhập quốc tịch Việt của một bộ phận Hoa kiều ở Hội An
Lịch sử đã đi qua, thăng – trầm đã trở thành qui luật tất yếu của bất cứ quốc gia, dân tộc, vùng đất nào trong quá trình phát triển và Hội
An cũng không là ngoại lệ Nhìn lại quá trình phát triển của cư dân Hội
An, chúng ta thấy đó là quá trình xuyên suốt qua 3 thời kỳ Tiền sơ sử – Chăm Pa – Đại Việt, Việt Nam diễn ra từ trên 3000 năm cho đến nay [39, 384]
Trang 18Mỗi cộng đồng dân cư có một kiểu kiến trúc riêng, một sắc thái văn hóa riêng Nhưng trong cái riêng đó vẫn tồn tại những yếu tố chung bởi sự giao lưu văn hóa đã hình thành từ rất lâu trên mảnh đất này
Trải qua quá trình này các hình thái văn hóa nói chung văn hóa dân gian nói riêng đã được khơi nguồn, định hình phát triển, để tạo nên những sắc thái văn hóa mang tính độc đáo, riêng của địa phương được bền vững bảo lưu cho đến hôm nay
1.2 NHỮNG NỘI DUNG CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN VÀ SINH HOẠT VĂN HÓA DÂN GIAN Ở HỘI AN
1.2.1 Những nội dung cơ bản của văn hóa dân gian
Di sản văn hóa dân gian ở Hội An có trữ lượng khá lớn, phong phú
và đa dạng về loại hình, nội dung phản ánh chân thực lịch sử – văn hóa địa phương Người Việt vào vùng đất mới đã mang theo trong tâm thức những sinh hoạt tín ngưỡng, phong tục, tập quán , những thành tố văn hóa dân gian của mình Vậy văn hóa dân gian là gì?
Văn hóa dân gian theo đúng nghĩa, là văn hóa của dân chúng Văn hóa này gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Thuật ngữ quốc tế chính xác mang nghĩa văn hóa dân gian là từ tiếng Anh: Folculture (Folk: dân chúng; culture: văn hóa) Cùng chữ nghĩa với Folkculture còn
có thuật ngữ tiếng Pháp: Culture populaire [33, 620]
Như vậy, văn hóa dân gian được hiểu là tổng thể các thành tố
nghệ thuật và phi nghệ thuật do quần chúng nhân dân sáng tạo ra một cách tự phát nhằm thỏa mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người trong những thời đại đã qua [42, 301]
Khái niệm này rất rộng, bao gồm toàn bộ văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân chúng Nội hàm của nó có vấn đề phương thức sản xuất ra của cải, có phong tục tập quán, sinh hoạt tinh thần, quan niệm về đạo đức, nhận thức, tình cảm về thế giới và nhân sinh Tuy nhiên, trong phạm vi của luận văn thạc sĩ chỉ đề cập đến một vài
Trang 19nội dung về văn hóa dân gian đó là tín ngưỡng dân gian, văn học dân gian
Về tín ngưỡng dân gian, từ xa xưa, con người cảm nhận thế giới
qua những niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, đã hình dung ra những thần thánh có sức mạnh diệu kỳ, mặc nhiên thống trị cuộc sống dân gian Niềm tin đó tạo nên những hoạt động tương ứng, biểu hiện qua việc thờ cúng các nghi lễ, tập tục Tất cả những điều đó làm nên tín ngưỡng dân gian [33, 537]
Tín ngưỡng dân gian tồn tại khá bền bỉ lâu dài Ở những giai đoạn
xã hội cao hơn, tín ngưỡng ăn sâu vào tâm thức quần chúng và còn được các tầng lớp thống trị, hay những người làm nghề mê tín chuyên nghiệp bằng các nghi thức, thủ thuật, củng cố thêm lòng tin cho những ai bất lực trước sức mạnh bí hiểm của xã hội và thiên nhiên
Ở nước ta, tín ngưỡng dân gian in sâu đậm ở nhiều tầng lớp Đảng
ta xác định “Tín ngưỡng, tôn giáo” là nhu cầu tinh thần của một bộ phận
nhân dân Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [25, 241]
Tín ngưỡng dân gian Hội An, do nhiều yếu tố về đặc điểm lịch sử, địa lý hình thành dân cư mà nó được biểu hiện mang nội dung rất phong phú
Về tín ngưỡng đa thần, hình hành từ tâm lý khiếp sợ, từ sự bất lực
của con người trước các hiện tượng tự nhiên và xã hội, nhất là các hiện tượng chi phối trực tiếp đến đời sống con người Biểu hiện của tín ngưỡng này là sự linh thiêng hóa tự nhiên thành các các thần như thần sóng, thần biển, thần gió Chẳng hạn, tại một số di tích ở Hội An có thờ Phục Ba tướng quân, đây là vị thần có thể chế ngự sóng gió theo quan niệm của cư dân ven biển nước ta cũng như một số nước Phương Đông Cá Ông được tôn
là thần “Nam Hải Ngọc Lân”,… Dấu vết tín ngưỡng đa thần được bảo lưu trong đời sống tinh thần của cư dân Hội An dưới nhiều hình thức khác nhau
Trang 20Thờ Ngũ tự tại gia đường, trong nhà có hình thức thờ ngũ tự gia
đường chính là năm vị thần cai quản, trông coi và sắp đặt vận mệnh cho một gia đình bao gồm: thần Bếp, thần Giếng, thần Cổng, Tiên sư bổn mạng
và Cửu thiên huyền Khám thờ ngũ tự gia đường thường được đặt trang trọng, ngay giữa nhà, trên bàn thờ gia tiên và quay mặt theo hướng nhà Thực tế trong các ngôi nhà ở Hội An, ngoài khám thờ chung ra, mỗi vị thần trong Ngũ tự gia đường thường có nơi thờ riêng, như thần Táo thì thờ ngay bếp, thần Cổng thì thắp nhang nơi cổng, thần Giếng thì có bàn thờ nơi giếng,… Đặc biệt các gia đình người Hoa tại phố Hội An, thay vì thờ Táo quân trên bếp thì họ lại đặt khám thờ Táo tại khu vực sân trời, cạnh khám thờ thần Trung lưu (Đương cảnh thổ địa tôn thần, người Hoa gọi là Thần Thiên quan Tứ phước) Các vị ngũ tự gia đường thường được cúng vào các ngày rằm, mồng một và các ngày lễ Tết trong năm Riêng thần Táo quân mỗi năm có ngày cúng riêng đó là ngày Tết ông Táo 23 tháng Chạp
Thờ Quan Thánh Đế Quân, trong các gia đình người Hoa ở Hội An
từ xa xưa đã có quan niệm thờ Quan Công, người ta quan niệm thờ Ông như thờ một người thần hộ mạng, trừ đuổi ma quái bảo hộ sự bình an cho gia đình, thờ một người trung hiếu tiết liệt, tận trung báo quốc Trên khám thờ Quan Công thường đặt bộ tượng hoặc tranh Quan Thánh ngồi giữa, hai bên có Quan thái tử Quan Bình cầm kim ấn, bộ tướng Châu Thương cầm long đao Nếu nhà nào không có tượng hoặc tranh thì có thể viết thần vị đặt vào trong khám Quan Công được cúng vào các ngày Lễ, Tết và ngày vía
24 tháng 6 âm lịch hằng năm Vào ngày vía, người ta không những cúng tại nhà mà còn sắm sửa lễ vật đến hiến cúng tại Quan Công miếu Ngày trước, còn có tục xin xăm Ông để đoán vận mệnh gia đình, hoặc đoán cát hung vào những ngày đầu năm hay khi gia đình có người bệnh tật, gặp chuyện chẳng may
Thờ chư thần tại các cộng đồng, ngoài làng xã, cư dân địa
phương thờ nhiều vị thần Đối với người Việt, đình làng là nơi thờ phụng thiêng liêng nhất, bởi nơi này là nơi thờ phụng các vị tiền hiền,
Trang 21hậu hiền có công khai hoang lập làng xã, mở mang cơ nghiệp để lại cho các thế hệ Ngoài ra, tại đây còn thờ các vị thần được triều đình ban sắc thờ tự như: Thành Hoàng, Đại Càn Quốc gia Nam Hải tứ vị thánh nương, Bạch Mã Thái Giám,… Có thể xem nay là các vị thần bảo hộ nhân dân trong làng xã
Ở các di tích tín ngưỡng của người Hoa, các hội quán thì họ thờ các vị thần thánh theo tín ngưỡng riêng của họ như: Hội quán Phúc Kiến thờ Thiên hậu thánh mẫu là vị thần có nguồn gốc Phúc Kiến, đã hiển linh giúp cứu nước cứu dân, chuyên hộ thuyền, cứu các thuyền buôn gặp nạn trên biển Ngoài ra, người Hoa còn thờ 3 bà chúa sanh thai, 12 bà mụ Nay là các vị thần chuyên lo việc thai sản Người Hải Nam lập Hội quán Quỳnh Phủ thờ 108 vị Chiêu ứng Tương truyền là
108 người gốc Hải Nam đi buôn bán trên biển, chẳng may bị chết oan, sau được triều Nguyễn sắc phong làm “Chiêu ứng công” và ban thờ cúng vào ngày 15 tháng 6 âm lịch Người Triều Châu có Hội quán Triều Châu Nơi này thờ vị thần chém sóng cứu hộ thuyền buôn là Phục Ba tướng quân [27, 28]
Tục thờ bùa đá, tại Hội An còn lưu giữ nhiều phiến đá chạm khắc các
hình tượng bùa chú để trừ yếm phong thủy, cầu mong cát tường Dân gian địa phương gọi là các ông bùa với thái độ e dè, kính sợ Các ông bùa này thường được đặt ở nơi có hiện tượng thủy phá, nơi có hiện tượng xói lở về đất đai, về sinh hoạt, nơi có vị trí xấu như đường thọc thẳng vào nhà, vào đình miếu, nơi ở có góc cạnh,…
Tục cúng thần đất, cúng cơm mới hiện nay vẫn còn bảo lưu tại Hội
An liên quan ít nhiều đến tín ngưỡng của cư dân nông ngiệp thời kỳ sơ khai Việc thờ thần đất – vị thần cai quản ở từng khu vực, từng mảnh đất là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam Tục cúng cơm mới gắn liền với tín ngưỡng cây lúa Lễ cúng cơm mới được tổ chức tại gia đình, lễ vật chỉ đơn giản là những nông sản, đặc biệt là phải có nhiều chén cơm in, trên có muối đậu Sau khi
Trang 22cúng cơm xong người ta thường đem cơm đó cho chó ăn, họ cho rằng chó là vật trung thành với chủ nên đáng được ăn trước
Tục cúng cá Ông, ở Hội An, tỷ lệ nhân dân làm nghề biển cũng khá
đông, chủ yếu tập trung tại các vùng Cẩm An, Cẩm Thanh, Tân Hiệp, Cẩm Nam, Cẩm Kim,… Ngư dân Hội An có tục thờ cá Ông, xã nào có xóm lưới đều có lăng cá Ông Từ rất lâu, những ngư dân đã tôn thờ cá Ông như một vị thần bảo hộ, vì tuy nhiều lần biển xanh nổi sóng gió, thuyền của họ được một loài cá lớn dựa vào và đưa thuyền an toàn cập bờ, đó là cá Ông Với lòng tôn sùng như vậy, nên mỗi khi có cá Ông lụy (chết) trôi dạt vào bờ, người ta đều phải vớt lên làm đám tang rầm rộ Người vớt được xem là trưởng nam phải để tang màu đỏ Sau khi chôn cất được ba năm thì người ta cải táng, đào lấy xương rửa sạch rồi cho vào hòm để thờ trong lăng Ông Hàng năm, các vạn đều tổ chức cúng cầu ngư, múa hát bả trạo, hát tuồng,
Về tín ngưỡng thờ cúng gia tiên, ở Hội An, trừ những gia đình
theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành không thờ gia tiên, còn lại đa số các gia đình đều thờ cúng ông bà, tổ tiên Bàn thờ gia tiên thường được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà, hướng bàn thờ xoay vào nhà, phải đặt dưới bàn thờ ngũ tự gia đường Việc cúng tế tổ tiên thường diễn ra vào ngày mất của từng người Vào các ngày cuối đông, giáp Tết, người dân thường đi tảo mộ ông bà và tổ chức cúng tất niên rước ông
bà về cùng ăn Tết với con cháu Kể từ ngày rước ông bà, thường ngày
ba bữa người ta đều cúng cơm Lễ vật cúng gia tiên của người Hội An rất giản dị, thường là những món mà gia đình dùng trong ngày Tết
nhưng đặc biệt có món mà người quá cố ưa thích
Ngoài việc thờ gia tiên, người Hội An còn có nơi thờ phụng chung, có quy mô lớn hơn người ta quen gọi là nhà thờ tộc Nhà thờ tộc thường thờ các
vị thủy tổ trở xuống, còn nhà thờ chi phái thì chỉ thờ các ông đầu chi đầu phái Người Hội An rất chú trọng việc trang hoàng hoành phi câu đối trong khám thờ gia tiên tại nhà cũng như tại từ đường Các hoành phi câu đối được đục chạm cẩn thận, được sơn son thếp vàng Nội dung hoành phi câu đối
Trang 23thường là ca tụng công đức trước đây của ông bà, tổ tiên, đồng thời bày tỏ lòng thành kính của con cháu Chẳng hạn, câu đối ở nhà thờ tộc Đỗ (Cẩm Kim)
“Sơn đầu vượng khí lai long vịnh Thủy diệu Thu sa hữu triều nguyên”
Tạm dịch:
“Khí tốt đầu non lan khắp chốn Sông Thu mặt nước thảy chầu về”
Hoặc câu đối thờ Quan công ở Quan công miếu:
“Tam quốc anh hùng vô đối thủ Nhất trường trung liệt hữu hoàn nhơn”
Tạm dịch:
“Anh hùng tam quốc không kẻ sánh Một đời trung liệt chẳng ai hơn” [1, 250]
Về văn chương dân gian, kho tàng văn học dân gian Hội An
tuy không đồ sộ nhưng cũng đủ các thể loại khác nhau, sống động,
lưu truyền lâu đời trong cộng đồng dân cư
Về tục ngữ, thành ngữ, hò vè ở Hội An, ca dao tục ngữ ở Hội
An có trữ lượng khá phong phú, chúng là những khái quát hết sức sâu sắc về vùng đất có bề dày văn hóa và có quá trình phát triển khá đặc biệt:
“Non sông ai dựng ai làm Sông Sài Giang uốn khúc, Cù Lao Chàm xanh um”
“Hội An đất hẹp người đông Nhân tình thuần hậu lá bông đủ màu
Dạo từ sông trước, xóm sau Dưới thì Âm Bổn, chùa Cầu ở trên”
Qua chúng có thể dựng lại bức tranh toàn cảnh sinh động về vùng đất và con người Hội An, về một thương cảng Hội An phồn thịnh trong quá khứ:
Trang 24“Quảng Nam có núi Ngũ hành
Có sông chợ Cũi, có thành Faifo”
“Hội An trăm vật trăm trăm ngon Người thanh cảnh lịch, tiếng đồn chẳng sai”
Về một Hội An với đặc trưng sinh thái nhân văn gắn với vùng cửa sông ven biển Vì vậy, cách sống của con người cũng phải phù hợp với sự thay đổi của địa hình sông nước:
“ Bồi thì ở, lở thì đi”
Những kinh nghiệm về thời tiết, thời vụ, kỹ thuật đánh bắt cũng như đời sống vật chất và sinh hoạt văn hóa tinh thần của những người dân biển cũng được bộc lộ một cách chân thật qua ca dao, tục ngữ mang sắc thái rất riêng của người Hội An:
“Sóng giăng cửa Đại, cá mại phơi khô”
“Đời ông cho chí đời cha Mây phủ Sơn Chà không gió thì mưa”
Cùng với kinh nghiệm về thời tiết là các câu ca dao nói về hoạt động sản xuất nông nghiệp:
“Làm ruộng ăn cơm nằm Nuôi tằm ăn cơm đứng”
Ngoài ra, những kinh nghiệm về sự bội thu hay thất bát trong nông nghiệp cũng được phản ánh qua ca dao:
“Được mùa xoài, còi mùa lúa”
Sinh hoạt nhộn nhịp của các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch
vụ buôn bán gắn với phố thị Hội An đã được ghi lại ở nhiều ca dao, tục ngữ Nghề buôn, hoạt động buôn bán và đời sống của tầng lớp thị dân cũng được đề cập:
“Chồng tôi là lái buôn tiêu
Đi lên đi xuống Trà Nhiêu, Kim Bồng Chồng tôi là lái buôn bông
Đi lên đi xuống Kim Bồng, Trà Nhiêu”
Trang 25Hay những câu ca dao nói về sự hẹn hò của những người yêu nhau:
“ Ghe xuôi qua bến phố Thừa Hội An đến đó trời vừa sáng ra Hỡi người hoa nguyệt, nguyệt hoa Rạng ngày mai đến phố đôi ta trao lời”
Dòng ca dao Hội An chảy liên tục qua các thời kì lịch sử Đọng lại ở những câu ca dao, tục ngữ là sự đề cao các giá trị đạo đức, thủy chung lâu đời của dân tộc:
“Áo rách có cách người thương Nón cời có ngãi người thương nón cời”
Nhiều câu tục ngữ thể hiện tính nhân đạo, biểu hiện ở sự quý trọng con người:
“Người làm ra của, của không làm ra người”
“Một mặt người hơn mười mặt của”
Những đức tính cần cù, kiên trì, chịu khó của con người miền trung quanh năm nắng dãi, mưa dầm cũng được thể hiện qua tục ngữ:
“Trên đồng cạn, dưới đồng sâu
Chồng cày vợ cấy, con dâu đi mò”
Trong cuộc sông hằng ngày người ta hay sử dụng tục ngữ để an ủi những người thân, bạn bè, làng xóm của mình khi gặp khó khăn, đau buồn:
“Còn nước, còn tát”
“Sông có khúc, người có lúc”
Nói chung, tục ngữ ca dao về lao động sản xuất thể hiện tinh thần sáng tạo, tri thức của người dân lao động Nhưng tri thức đó mới dừng lại ở trình độ kinh nghiệm thực tiễn, cái nhìn trực quan, chưa nâng lên thành những kiến thức khoa học có kinh nghiệm vững vàng Có những kinh nghiệm chỉ phản ánh chính xác quy luật giới tự nhiên trong một thời gian nhất định Vì vậy, có những kinh nghiệm không còn phù hợp trong điều kiện thay đổi khí hậu như
Trang 26hiện nay Tuy nhiên, nó đã nói lên mong muốn tìm hiểu chế ngự thiên nhiên, một phần thể hiện tri thức dân gian của người dân Hội An xưa kia
Về dân ca, hình thức hát hò khoan được lưu truyền phổ biến trong cư dân địa phương vào những đêm trăng rằm như rằm tháng Bảy âm lịch hoặc những dịp đập lúa…, cư dân thường mở cuộc hò khoan Số lượng người không nhất định, thường có vài đôi nam nữ hát chính, còn những người xung quanh sau mỗi câu hát lại hát đệm vào
Nội dung phổ biến của những cuộc hát hò khoan là bộc lộ khát vọng về tình yêu, gởi gắm ước mơ về cuộc sống lứa đôi Tại đây, người dân cũng đồng thời thể hiện quan niệm yêu, ghét, tình cảm quê hương, đất nước, sự vất vả gian nan của cuộc sống hằng ngày để cùng chia sẻ
Ngôn ngữ hát hò khoan là ngôn ngữ dân gian Phổ biến là dùng thể lục bát để diễn đạt Các câu hát sáng tác theo lối ví von, so sánh Câu bắt giọng là
“hò khoan hớ hò khoan”, không ngân dài Hát theo nhịp chày giã
Trong hò khoan có “hát xạo” thể hiện qua hình thức nói lái, chơi chữ:
“Con cá đối nằm trên cối đá Con mèo cụt nằm chỗ mút kèo”
Hay:
“Ngó lên hòn Tượng ông voi chạy có dằm Ngó về biển bắc con cá nằm ngất ngư Chàng mà đối đặng chừ chừ Trầu em têm cánh phụng, hộp xa cừ xin dâng”
Trong quá trình hát thường không có nhạc cụ Người dân thường sử dụng những dụng cụ trong quá trình lao động để gõ nhịp, hay sử dụng cây dầm trong lúc chèo ghe để gõ nhịp
Truyện cổ tích ở Hội An, cũng như những địa phương khác, truyện
cổ của người Hội An thường xoay quanh triết lý tình thương, nội dung truyện thường mang tính luân lý do ảnh hưởng của các tôn giáo chủ yếu là Phật giáo với tư tưởng từ bi bác ái, vị tha phù hợp với truyền thống nhân ái,
Trang 27thủy chung của cư dân địa phương, đã được đi vào truyện cổ: “Sự tích ông bình vôi”, “Sự tích chim bìm bịp”…
Chính trong quá trình đấu tranh giữa con người với thiên nhiên, đấu tranh với các thế lực có hại để sinh tồn và phát triển tại vùng đất mới được thể hiện qua các truyện “Sự tích Đàng Trong”, “Sự tích ông tổ nghề Yến”,
“Sự tích miếu Ông Cọp”, “Sự tích miếu Thần Nông”…
Truyện cổ Hội An có những nét độc đáo về thi pháp: Tính lãng mạn và yếu tố thần kì đã được giảm lược, nhường chỗ cho yếu tố hiện thực Cách thức dựng truyện linh hoạt, đa dạng, nội dung truyện
cô đọng Bên cạnh những yếu tố lâu đời còn có yếu tố mới xuất hiện, bên cạnh ảnh hưởng của Chàm, Dao, các tộc người ở vùng cao (sự tích cúng cơm mới) là ảnh hưởng của Trung Quốc, Nhật Bản như các truyện có môtíp “vẽ mắt cho rồng bay”, “lụt lớn cứu một số giống vật” truyền thuyết về “con cù”…, hoặc các truyện kể về nguồn gốc các thần
“Sự tích ông Táo”, “Nữ Oa vá trời”,… Trong đó truyền thuyết “con cù” theo thần tích và huyền thoại của cư dân Minh Hương thì từ thuở
xa xưa tại quãng sông khoảng khu vực cầu Nhật Bản hiện tại là hang ổ của một con thủy quái mà nhân dân gọi nó là “con cù”, hàng ngày thủy quái ẩn dưới nước nhưng hễ mỗi lần thủy quái quẫy mình thì nước sông dâng lên làm ngập cả khu phố Để yểm trừ nạn thủy quái, dân lập đền
và rước vị thần có đủ tài năng ngăn chặn tai vạ do thủy quái gây ra Vị thần đó là Huyền Thiên đại đế, vốn vị thần này được thờ trong ngôi chùa đặt ngay trên cầu Nhật Bản
Hình thành trong những điều kiện lịch sử nhất định, truyện cổ tích phản ánh những hiện tượng lịch sử – xã hội nhất định và quan điểm, ứng xử của cư dân Hội An thuở hoang sơ với những hiện tượng tự nhiên ấy Truyện cổ tích còn phản ánh truyền thống tư tưởng, đạo đức của nhân dân lao động Đặc biệt qua đó chúng ta còn thấy có cả những yếu tố chính trị, xã hội, triết học trong thế giới quan
Trang 28và nhân sinh quan của nhân dân lao động Những phần ưu tú đó đã được cư dân phố cổ giữ gìn trân trọng đến ngày hôm nay
1.2.2 Sinh hoạt văn hóa dân gian trong phạm vi gia đình
Sinh hoạt văn hóa dân gian là thuật ngữ chung để chỉ
những hoạt động văn hóa trong cuộc sống cộng đồng [33, 454]
Cũng như những cộng đồng dân cư khác trên đất nước ta, cư dân Hội
An cũng có những sinh hoạt văn hóa dân gian trong gia đình và trong cộng đồng dân cư
Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người, một thiết chế văn hóa – xã hội đặc thù, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục… giữa các thành viên [25, 246]
Nếu như văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần
do con người sáng tạo ra, nhằm thỏa mãn, đáp ứng các nhu cầu của chính mình, thì gia đình không chỉ là một hình thức tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội mà điều quan trọng gia đình còn là một giá trị văn hóa xã hội Tổng hợp các biểu hiện văn hóa trong phạm vi gia đình có thể hình dung được phong cách văn hóa của toàn cộng đồng
Hình thức gia đình phổ biến ở Hội An trước đây là kiểu gia đình nhỏ, một vợ một chồng, hoặc một chồng 2,3 vợ Chế độ phụ quyền thể hiện rõ trong mọi quan hệ:
– Trong gia đình, vai trò quyết định thuộc về cha hoặc là anh hai (anh cả)
– Việc phân chia tài sản ưu tiên cho người con trai trưởng hơn
– Việc tế tự do trưởng nam hoặc cháu đích tôn đảm nhận, nếu không có con trai trưởmg thì mới đến lượt con trai thứ gánh vác
Cũng như mọi gia đình người Việt Nam Gia đình của cư dân Hội An cũng có những tập tục, nghi lễ trong đời sống hằng ngày vừa
Trang 29mang những yếu tố chung của dân tộc vừa có những đặc điểm riêng, mang tính địa phương
Trước tiên, ta xét về phong tục thờ cúng gia tiên của cư dân Hội An Thờ phụng, cúng tế ông bà tổ tiên là một tập tục truyền
thống lâu đời vốn có của người Việt nói chung và người Hội An nói riêng Tập tục này thể hiện lòng hiếu thảo, “uống nước nhớ nguồn” của các thế hệ con cháu đối với công lao dưỡng dục, tạo dựng cơ nghiệp cho con cháu, dòng họ của ông bà, tổ tiên Đồng thời thông qua đó, người ta muốn giáo dục cho con cháu biết nhớ về cội nguồn, sống đoàn kết, tương thân với các thành viên trong gia đình, dòng họ…, và bàn thờ trong gia đình cũng được xem là một trong những chuẩn mực đánh giá gia phong, nền nếp của một gia đình, tộc
họ Chính vì thế trong mỗi gia đình đều có bàn thờ, trang thờ… Cho
dù nghèo khó hay giàu có, chủ nhà luôn dành một vị trí trang trọng nhất để thờ gia tiên, thần, Phật…
Ở Hội An, trừ số ít các gia đình theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành không thờ gia tiên, còn lại đại đa số đều thờ cúng ông, bà tổ tiên Có thể thấy ba loại lễ cúng chính hằng năm trong các gia đình ở đây:
– Cúng giỗ ông, bà người thân theo các ngày giỗ kỵ trong năm
– Cúng các vị thần, Phật và các vị tổ tiên vào các ngày lễ Tết, ngày vía, ngày rằm, mồng một hằng tháng
– Cúng giải hạn, cầu mong bình yên hoặc cúng tạ khi có việc thành đạt, vui mừng
Giỗ, kỵ thường tổ chức vào ngày mất của những người thân trong gia đình Thường cúng trước ngày mất một ngày, tức ngày còn sống vì người ta quan niệm rằng cúng vào ngày mất thì người quá cố không hưởng được Nếu ngày mất của người nào không rõ ràng thì gia đình sẽ cúng chung vào một ngày do gia đình tự chọn, người ta thường gọi đó là ngày cúng hội hay giỗ hội
Trang 30Các ngày giỗ hội do con trai trưởng hoặc con trai thừa tự trong gia đình đảm nhận Con gái xuất giá lấy chồng, con cháu ngoại không thờ ông bà cha mẹ phía bên mình, việc thờ cúng là do bên nội chịu trách nhiệm Đây chính là quan niệm “trọng nam khinh nữ” theo quan niệm Nho giáo còn ảnh hưởng trong đời sống của cư dân Hội An cho đến nay
Cúng rằm, mồng một hằng tháng là lễ cúng phổ biến ở mọi gia đình Cúng rằm được tổ chức vào đêm 14 hoặc 15 hằng tháng, cúng mồng một thì vào 29, (30) hoặc mồng một Cúng ông Táo vào khuya 23 tháng Chạp Ngoài việc cúng bàn thờ Phật, ngũ tự, các vị thần bảo hộ, Các gia đình còn bày mâm cúng đất đai, âm linh Cho đến ngày nay, lễ tục này được duy trì ở nhiều gia đình, tạo thành nếp sinh hoạt văn hóa tâm linh mang bản sắc riêng của cư dân Hội An
Trong phạm vi gia đình còn có một loại lễ cúng nhằm giải trừ tai ách cầu
an hộ mệnh Các lễ cúng này được tổ chức khi gia đình có sự cố như đau ốm, mất của, tai nạn hoặc gặp năm sao xấu chiếu mệnh theo quan niệm rút ra từ các sách vở của Đạo giáo
Bên cạnh những nét chung về tổ chức lễ cúng trong gia đình, cũng có sự khác nhau đôi chút đó là, ở gia đình nông thôn, những ngày cúng liên quan đến hoạt động nông nghiệp, đến thời vụ, đến tộc họ được tổ chức nhiều hơn Trong khi đó, ở phố thị nhất là ở cộng đồng người Hoa, các lễ cúng thường liên quan đến buôn bán, đến các vị thần bảo trợ có nguồn gốc từ Trung Hoa như Quan Thánh đế quân, Thiên hậu thánh mẫu, Tài Bạch tinh quân,… Một số gia đình theo các giáo phái khác còn có ngày cúng riêng
Các tập tục trong những ngày Tết truyền thống, người dân Hội An
thường truyền tụng “khó cũng ba ngày Tết, hết cũng ba ngày mùa” (tục ngữ)
Vì vậy cứ hằng năm chiếu lệ mọi người đều tổ chức ăn Tết và mở hội vui chơi
Từ những ngày 20 đến 30 tháng Chạp, người Hội An có tục cúng tất niên, rước ông bà, tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu Đến tối 30 rạng sáng mồng Một là phút giao thừa, mọi người tổ chức cúng các vị Thành Hoàng bổn xứ, Táo quân, Thần Tài…, để cầu mong gia đình yên ổn, mọi người được bình an khỏe mạnh
Trang 31Sau khi cúng giao thừa, người ta thường chọn hướng tốt để xuất hành với ý nghĩa mong năm mới gặp nhiều may mắn, công việc làm ăn thuận lợi Sáng mồng Một, nhà nào cũng bày các loại bánh mứt trên bàn khách để chào đón khách quý đến xông đất đầu năm
Ngày đầu năm, người ta cũng có tục đi thắp nhang mồ mả ông bà, tổ tiên và cúng vái ở các nhà thờ của dòng họ, sau đó mới đi thăm viếng, chúc Tết lẫn nhau Người Hoa thường tập trung về hội quán của bang mình để bái tiền hiền, thần thánh, gặp gỡ đồng hương và xin lộc thánh làm ăn trong năm
Về phong tục hôn nhân, cưới hỏi là việc hệ trọng của cả đời người, hôn
lễ của người Hội An bây giờ đơn giản hơn xưa rất nhiều Không còn xem nặng vấn đề xung hợp của tuổi tác Khi đôi trai gái yêu nhau, nếu xác định lập gia đình thì cha mẹ nhà trai sẽ sắm lễ vật đến ra mắt nhà gái gọi là thăm nhà, sau là gợi ý nhà gái định ngày làm lễ đính hôn, nếu nhà gái đồng ý thì lễ ăn hỏi sẽ được diễn ra với sự chứng kiến của hai bên gia đình
Lễ hỏi được diễn ra tại nhà gái theo ngày, giờ của hai gia đình thỏa thuận, sau khi đã nhờ thầy xem cho ngày, giờ Thành phần tham dự thường là cha mẹ và những người bà con gần Lễ vật thường bao gồm trà rượu, tiền, vàng, bánh trái và đặc biệt phải có trầu cau Vì thế người dân Hội An thường gọi lễ ăn hỏi là “lễ bỏ trầu cau”
Sau lễ hỏi, chàng trai được xem như thành viên của gia đình và được phép gọi cha mẹ cô gái bằng “ba, má”, còn cô gái vẫn chưa được phép xưng
hô với ba mẹ chàng trai là “ba, má”, thậm chí còn không được đến chơi ở nhà chàng trai cho đến khi làm lễ thành hôn Nhưng hiện nay, tục lệ này đã giảm đi rất nhiều nghĩa là sau lễ hỏi, cô gái có thể tự do lui tới nhà trai
Ngày trước thường lễ ăn hỏi ba năm thì mới được cưới, nhưng nay tục lệ này đã thay đổi, tùy thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện từng gia đình Thường trước ngày cưới nhà trai phải đến nhà gái bàn bạc về số
lễ vật, số lượng người đi họ và ngày giờ nghinh hôn để cho nhà gái tiện chuẩn bị
Trang 32Lễ cưới của người Hội An thường được tổ chức trong hai ngày, ngày thứ nhất hai bên gia đình tổ chức tiệc tùng để đãi bà con thân thích, hàng xóm láng giềng, bạn bè thân hữu Ngày thứ hai là ngày chính thức của lễ cưới Ngày trước có tục lệ khi đến rước dâu, nếu chưa đúng giờ quy định, nhà gái đóng cửa không cho vào Và khi cô dâu không hạp tuổi với mẹ chồng, lúc rước dâu về mẹ chồng ôm bình vôi chạy sang nhà hàng xóm Lễ gia tiên xong mẹ chồng mới về, ngoài
ra còn có tục lệ lúc rước dâu về, cô dâu phải đi cổng sau vào nhà dưới nếu tuổi không hạp với gia đình bên chồng hoặc cô dâu có thai trước khi cưới Nhưng nay tục lệ đó chỉ còn ở một số ít gia đình Hiện nay, người Hội An vẫn còn giữ tục lại mặt Nếu cặp vợ chồng trẻ về nhà gái ngay trong ngày thì tốt, còn không phải đợi đến ba ngày sau mới được về Khi về phải mang theo ít quà, bánh để nhà gái biếu cho thân thích
Người Hoa đặc biệt quan tâm đến lễ lại mặt Thông thường, sau khi cưới, nhà trai phải sắm thật nhiều bánh để chàng rễ cùng cô dâu đi biếu bà con thân thích, để chàng rễ biết mặt hết bà con nhà vợ và có nhiều người không tham gia hôn lễ sẽ biết mặt chú rễ
Như thế, có thể thấy rằng, việc cưới xin tại Hội An so với các nơi có phần linh hoạt hơn Ở đây đã có sự giao lưu với bên ngoài, nhất là với tục lệ của Trung Hoa Tính linh hoạt thể hiện ở chỗ, các nghi thức, tục lệ phức tạp
đã được giảm dần cho phù hợp với thời mở cửa, hội nhập
Về phong tục sinh đẻ và đặt tên, ngày nay, trong cư dân Hội An vẫn
còn cách hiểu phổ biến có nguồn gốc Trung Hoa cho rằng lực lượng siêu nhiên thường trông coi việc sinh đẻ con cái là ba Bà Chúa sanh thai (Quỳnh Tiên Thiên Thai, Bích Tiên Thiên Đế, Vân Tiên Thiên Vị) và mười hai Bà
Mụ [5, 31]
Người phụ nữ khi mang thai thường phải kiên những hành động không tốt như: bước qua hố, bước qua gò mả, đi nhanh, nóng giận, nói tiếng to…, và kiêng những loại thức ăn ảnh hưởng xấu đến thai nhi như: ăn ốc,
Trang 33ăn đồ cúng hoa quả; kiêng tham dự vào các lễ hội; kiêng bị đuôi trâu đánh nhằm vào bụng… Người chồng phải cử sát sinh, đóng đinh vào cột,…
Những kinh nghiệm dân gian trong việc sinh đẻ cũng đáng quan tâm Sau khi sinh xong, trong buồng sản phụ luôn thắp đèn để tránh sản hậu Việc xông hơ và quy định nghiêm ngặt trong lúc ở cử giúp người mẹ tránh được một số bệnh về sau; trẻ bị nấc cụt thường dán nơi ấn đường một ít lá trầu nhai dập, bồng trẻ đi xa thì phải bôi lên trán một ít lọ nồi, đứa bé hay quấy khóc thì treo trước nôi chiếc đuôi cá đuối hay vật bằng sắt,…
Trẻ nhỏ sau một tháng thì được làm lễ đầy tháng và đặt tên Lễ vật cúng đầy tháng bao giờ cũng có chè, xôi, đường và bánh tráng Tên của đứa trẻ sẽ được đặt vào ngày đầy tháng, về cách đặt tên, có một số thủ tục như sau: đặt tên của đứa trẻ phải không được trùng tên với ông bà, cha mẹ
và một số người thân thích trong dòng họ Thậm chí một số người còn sắm
lễ vật mang đến nhà tờ tộc lễ tổ tiên rồi xem gia phả để tránh đặt tên con trùng với tên tổ tiên, theo họ vì nếu trùng tên với tổ tiên là thất kính, trong cuộc đời đứa trẻ sẽ gặp nhiều bất lợi [42, 378]
Sau khi đứa trẻ được 12 tháng thì làm lễ thôi nôi Trong ngày này, người ta thường bỏ một số vật dụng như bút, gương, kéo, lược…, trước mặt đứa bé, nếu nó cầm vật gì trước thì người ta đoán rằng sau khi lớn lên nghề
nó sẽ chọn là gì
Về phong tục tang ma, tang ma là tập tục có từ lâu đời, đây là tập tục
khá quan trọng đối với con người Vì vậy, trong nhà có người thân quá cố người ta đều tổ chức tang lễ hết sức chu đáo Về phong tục tang ma, cả cư dân người Hoa và người Việt sống ở Hội An đều có những điểm tương tự nhau Khi một người thân chết, nếu là người có gia thất và lớn tuổi thì con cháu về tề tựu bên cạnh người sắp chết để nghe trăn trối, dặn dò Cả người Hoa và người Việt đều tránh đặt người chết nằm nơi chổ thờ tự vì đây là nơi thờ ông bà tổ tiên
Khi trong nhà có người qua đời, người ta thường đặt một chén cơm
có cắm đôi đũa và một quả trứng luộc trên đầu người chết, rồi sửa tay chân
Trang 34cho thẳng Trước khi khâm liệm, người ta thường dùng rượu lau rửa cho người chết cẩn thận [42, 354]
Người Việt và người Hoa đều cử một người uy tín trong tang gia để làm chủ tang lễ Các bước tang lễ của người Hoa và người Việt đều có những nét tương đồng nhau và thường là rất giống sách “Thọ mai gia lễ” do
cụ Bùi Sĩ Tân soạn ra Một phong tục liên quan đến tang lễ cũng rất được
cư dân ở đây xem trọng, đó là xem giờ, ngày tốt để tổ chức hạ huyệt, phát tang…, hình như trong tâm thức của người Việt và người Hoa đều thể hiện
rõ tâm lý cộng đồng, tộc họ trong việc tang ma Với suy nghĩ “nghĩa tử là nghĩa tận” nên mọi người có quan hệ với người chết đều thu xếp công việc
để đến viếng tang và tiễn đưa lần cuối Hàng xóm láng giềng có trách nhiệm giúp đỡ, lo liệu công việc cùng gia đình tang chủ Tộc họ thì cử người có kinh nghiệm đứng ra làm công việc trợ tang Đây là tập quán tốt đẹp của cư dân địa phương
Người Việt chịu ảnh hưởng của người Hoa trong việc rắc giấy tiền, vàng mã, và đốt những thứ đồ mã như nhà lầu, xe hơi,… Với hy vọng người thân của mình sẽ được đầy đủ tiện nghi ở bên kia thế giới Ngoài ra,
họ còn quan niệm rằng việc rắc những tờ vàng mã trên đường đi là đánh lạc hướng ma quỷ, chúng sẽ không quan tâm đến việc đi theo để quấy nhiễu vong hồn người chết nữa mà lo tập trung vào việc nhặc tiền để tiêu xài [41, 161]
1.2.3 Những sinh hoạt văn hóa dân gian trong cộng đồng dân cư
Cư dân Hội An sinh sống chủ yếu bằng bốn nghề chính: nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và buôn bán Từ các ngành nghề này
đã hình thành nên những sinh hoạt văn hóa dân gian mang sắc thái riêng của cư dân ở đây, đó là những sinh hoạt dân gian được thể hiện qua lễ hội truyền thống, qua âm nhạc diễn xướng và trò chơi dân gian,
Về lễ hội truyền thống ở Hội An, lễ hội dân gian là nơi lưu giữ
nhiều tín ngưỡng dân gian, không có tín ngưỡng, không thành lễ hội Tín ngưỡng của lễ hội dân gian Hội An bao gồm các loại lễ: lễ hội kính Thành
Trang 35Hoàng làng, tưởng nhớ vị khai canh, lễ hội tưởng niệm các vị tổ sư ngành nghề, lễ hội kỷ niệm các bậc thánh nhân,…
Lễ hội Đình ở các làng, thường là vào đầu mùa xuân, để kính ngưỡng các vị thánh của làng mình và tưởng nhớ công lao các vị tiên hiền Lễ cúng thường diễn ra trong hai ngày Trước tiên, người ta gióng chiêng, đánh trống khiêng kiệu đi nghinh thần để thỉnh mời chư thần thánh về hưởng tế Tế lễ gồm hai phần, đó là tế âm linh và tế chính Tế âm linh tức là cúng âm hồn vô chủ cùng đất đai thổ địa vì người ta cho rằng
“đất có thổ công, sông có hà bá” (tục ngữ) nên phải cúng đất trước Sau
lễ lễ tế âm linh là lễ tế chính trong đình Tế đình thường là tế ba gian Gian giữa tế thần thỉnh, hai gian bên tế tiền hiền, hậu hiền Nghi thức của
lễ tế này diễn ra theo lệnh hô của người xướng lễ tế chính, thông thường gồm ba phần: sơ hiến lễ, á hiến lễ và chung hiến lễ
Lễ tế Long Chu, làng Cẩm Phô trước đây có tục tế Long Chu Thời gian tổ chức tùy điều kiện và tình hình sinh hoạt của làng, thường 2, 3 năm tế một lần Khi tế có tục tống Long Chu Tống Long Chu có tính chất giống hành kiệu nhưng được tổ chức trong phạm vi một làng Long Chu làm bằng tre, dán giấy bên ngoài, hình giống chiếc thuyền, phía mũi tạo dáng đầu rồng Khi tế đình xong thì khiêng Long Chu, có thầy phù thủy ngồi gươm tréo ở trên, chạy khắp các đường làng để trừ ma, ếm quỷ Chạy xong, đem Long Chu đốt Dân gian quan niệm rằng làm vậy để trấn áp các loại ma quỷ, giữ bình yên cho xóm làng Khi Long Chu chạy
qua (người khiêng là đàn ông), mỗi gia đình đặt bàn hương trước nhà
nghinh đón, treo bên cạnh một cây roi dâu, lại có thêm viên gạch quét vôi trắng đặt trước ngõ để thầy phù thủy vẽ bùa trừ tà Trước đây, lễ tế Long Chu tổ chức rất linh đình, có lễ nhạc, cờ phướn, lập đàn, sau đó có hát bội Tế Long Chu, bên cạnh tín ngưỡng dân gian còn có các yếu tố Đạo giáo, Phật giáo Mặt khác, việc rước thuyền rồng chạy khắp làng nói lên cội nguồn sông nước của cư dân địa phương Ở các xóm ấp, vào dịp đầu năm, khi cúng cầu an người ta cũng làm một chiếc bè nhỏ bằng bẹ chuối
Trang 36hoặc dán giấy hình thuyền, trên thuyền đặt gạo muối, thịt sống, tam sinh để cúng Cúng xong thì mang thả xuống sông Có lẽ đây là hình thức cúng tế sơ khai liên quan đến sông nước và tục tống Long Chu sau này [5, 85]
Có thể nói lễ hội dân gian là một bảo tàng văn hóa, nơi lưu giữ những tín ngưỡng, tôn giáo, những sinh hoạt văn hóa văn nghệ dân gian, khi đến với lễ hội dân gian, tâm thế lễ hội khiến con người trở nên khác thường,
họ cầu xin thế lực siêu nhiên thỏa mãn những khát vọng của mình, do vậy, lễ hội là nơi phản ánh tâm thức người Việt Nam, dù là tộc người nào, một cách trung thực nhất
Âm nhạc, diễn xướng và trò chơi dân gian ở Hội An, hiện nay, tại Hội
An còn giữ được một số làn điệu dân ca, một số hình thức diễn xướng dân gian kết tinh nên từ quá trình lao động sáng tạo nhiều ngàn năm của cư dân
địa phương Đó là các điệu hát hò khoan (hò giã vôi, giã gạo, chải cau, chỉa
quế), các điệu hò giựt chì, hò kéo neo, các điệu lý, vè, các hình thức hát múa
bả trạo (ở Cẩm Nam, Cẩm An, Cẩm Thanh), hát tuồng (ở Cẩm Phô), hô thai, hô bài chòi… Ngoài ra, Hội An còn có truyền thống về diễn tấu cổ nhạc (ở Cẩm Phô, Sơn Phong) trong các dịp hội hè đình đám, tang ma hiếu hỉ, truyền thống về
ca nhạc tài tử với những nghệ nhân khá nổi tiếng…
Đặc biệt, Hội An có nhiều diễn xướng, trò chơi dân gian mang tính bản sắc và rất hấp dẫn
Trò bài chòi, tục đánh bài chòi tuy là bài bạc nhưng lại đậm tính chất đình đám, hội hè Bộ bài chòi còn gọi là bộ bài tới, thoạt đầu dùng để chơi trong nhà dần dần mới biến thành lối chơi công cộng Vào dịp Tết người làng thường dựng chòi kê ván để chơi bài chòi:
“Gió xuân phảng phất ngọn tre Hai bên thôn xóm lắng nghe bài chòi”
(ca dao) Bài chòi là đánh bài trên chòi Mỗi chòi con (10 chòi) đều được phát 3 quân bài trên thân bài có tên quân bài, vị chi 30 quân bài Tại chòi trung tâm có ống đựng thẻ bài cái Khi trống hội bài chòi đã dứt, những
Trang 37người đã vào chòi con, tay cầm đủ 3 quân bài thì người hô bước ra ống thẻ, xóc đi xóc lại ống thẻ cho tất cả các chòi đều nghe rồi thong thả rút từng quân bài Chẳng hạn “ông ầm”; “tam quăn”; “tứ cẳng”… Chòi nào
có đúng con bài đó sẽ gõ ba tiếng mõ, anh hiệu sẽ nhờ người phụ việc đến trao cờ Khi chòi nào được 3 cờ thì hô “tới” Một hồi mõ kéo dài Ở chòi trung tâm thì trống vang lên Thường 8 đến 10 hiệp là hết một hội, lưu lại một hiệp (ăn) cho việc chi phí, rồi kẻ bước xuống người leo lên chòi tiếp tục đánh [72, 36]
Ở Hội An hằng trăm năm nay các làng có truyền thống dựng rạp bài chòi như làng Nam Diêu (Thanh Hà), Thanh Châu (Cẩm Châu, Cẩm Thanh), Trà Quế (Cẩm Hà), Cù Lao Chàm (Tân Hiệp) Ngoài ra, ở một số làng quê Hội An hiện nay, nếu không dựng được chòi, thì ngồi ghế vẫn được gọi là đanh bài chòi Đây là trò chơi tổng hợp nhiều loại hình văn hóa dân gian trong ngày Tết
Hát bả trạo, (hát bạn chèo) là một hình thức diễn xướng dân gian, thuộc thể loại dân ca nghi lễ vốn có mặt từ lâu trong đời sống tinh thần của nhân dân, phổ biến là của cư dân dân vùng biển miền Trung Trình tự một buổi biểu diễn bả trạo giống như kết cấu một hoạt cảnh thể hiện những diễn biến từ khi thuyền ra khơi đến khi thuyền cập bến an toàn Đặc điểm của múa hát bả trạo là có kết hợp với hình thức diễn tuồng, một hình thức diễn kịch cổ truyền rất được nhân dân miền Trung, đặc biệt là Quảng Nam ưa thích Ngoài lối múa chèo thuyền đã được nghệ thuật hóa, lối hát trong bả trạo còn có lối xướng, hô và trình diễn các làn điệu dân ca như hò, lý, ngâm, hát…, được thể hiện qua tài năng của các nghệ nhân và đám bạn chèo tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn người xem từ màn đầu đến màn cuối
Hát bả trạo có vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần, tâm linh của cư dân vùng biển Hội An, thể hiện sự ca ngợi, thương tiếc và thành kính cá Ông “Ngọc Lân Nam Hải”, vị thần đã giúp họ trong những lúc hoạn nạn trên biển, đồng thời thể hiện cầu mong sự bình
Trang 38yên trước cảnh sóng nước mênh mông bốn bề vây phủ, bão tố rập rình cũng như cầu mong một năm được mùa, ấm no
Một trong những sáng tạo độc đáo của người Hội An là dùng diễn xướng bả trạo làm nghi thức cho tang lễ của người dân ven biển
Đó là trường hợp nghệ nhân Lê Tấn Hành và đội bả trạo nữ của thôn Phước Trạch Cũng là những động tác ấy, điệu nhạc ấy nhưng lời ca thì được sửa đổi để khóc than cho số phận người xấu số hay để ca ngợi công đức của người đã chết Hình thức diễn xướng vốn là một nghi thức trong lễ hội nghinh Ông nay đã được sáng tạo phù hợp và đáp ứng nhu cầu của cuộc sống đời thường [1, 267]
Múa lân Sư, Rồng, nghệ thuật múa Rồng là nghệ thuật đòi hỏi
sự phối hợp đồng bộ từ hai mươi đến năm bảy mươi người Vận động viên phải là những người luyện võ mới có thể lực sung mãn, bền bỉ để thực hiện liên tục những động tác bay nhảy, giỡn nước, lăn xoắn ốc, vượt thác, qua ghềnh trên một diện tích rộng với sức mạnh của một con rồng dài từ hai mươi đến gần hai trăm mét
Nghệ thuật múa Lân Sư cũng có những đòi hỏi tương tự, thậm chí còn cao hơn nếu phải biểu diễn trên “mai hoa thung”
Trò chơi thư pháp, từ xưa, ở Hội An đã có khá nhiều thú chơi mang tính truyền thống mà vẫn được lưu truyền đến ngày nay như: đá gà, bài chòi, đánh mạt chược, chơi cờ tướng, cờ người và chơi thư pháp (viết chữ Hán)… Trong đó thư pháp vừa là một hoạt động văn hóa, vừa là một thú chơi rất tao nhã, trí tuệ và được xem như một môn nghệ thuật độc đáo
Thư pháp là hình thức dùng bút lông viết chữ Hán trên giấy, vải lụa, da…, đây là một môn nghệ thuật truyền thống nổi tiếng của Trung Quốc và các nước có dùng chữ Hán, trong đó có Việt Nam
Những người có thú chơi cổ ngoạn hẳn ai cũng biết đến câu: “Nhất
chữ, nhì tranh, tam sành, tứ sách” Câu nói trên đã khẳng định vai trò nghệ
thuật hàng đầu của thư pháp, bởi thú chơi chữ này không đơn giản chỉ là
Trang 39viết chữ mà qua đó còn thể hiện nhiều thủ pháp nghệ thuật độc đáo, tài hoa bay bướm của chữ viết và đầy tính trí tuệ cao xa mà lời văn không tả được
Ở Hội An, thú chơi thư pháp được thể hiện tùy theo hoàn cảnh môi trường Trải qua bao biến đổi của thời gian, đến nay chúng ta dễ dàng thấy dấu ấn thú chơi thư pháp của các lớp người xưa trên các văn khế, gia phả, biển, liễn, đối, bia, bìa vị thờ, tranh vẽ, kinh, sách và các tài liệu Hán Nôm khác Mới đây, thú chơi thư pháp cũng dần được hồi phục, phát triển, hoạt động này thể hiện qua việc viết liễn xuân, viết chữ trên lồng đèn, viết trên thanh tre và trên giấy dó…, để làm quà tặng nhau hoặc làm hàng hóa thương mại Thú chơi này cũng đã góp phần không nhỏ làm phong phú nét văn hóa truyền thống của phố cổ Hội An – di sản văn hóa thế giới
Nói chung, những sinh hoạt văn hóa dân gian với những lễ thức, hội
hè vui chơi và những công trình văn hóa, văn nghệ dân gian như kiến trúc đình chùa, nhà cửa, âm nhạc, múa hát…, văn học (truyền thuyết, thần thoại, ca dao, tục ngữ) Đã thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, tư tưởng tình cảm của nhân dân lao động, những lề thói sinh hoạt ấy, những công trình văn hóa
ấy chứa đựng không ít những giá trị quý báu mà quá khứ đã để lại cho cư dân phố Hội
1.3 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA DÂN GIAN Ở HỘI AN 1.3.1 Văn hóa dân gian Hội An – Quảng Nam là sự cộng cư văn hóa từ đa nguồn mà văn hóa Việt là cốt lõi
Ngoài vốn văn hóa mà người Việt “từ thuở mang gươm đi mở nước”
mang đi rồi tái tạo, sáng tạo trên vùng đất mới, văn hóa dân gian của cư dân đô thị Hội An còn phủ thêm những lớp áo văn hóa khác, đó là văn hóa Chăm, văn hóa Hoa, và ít nhiều lớp văn hóa của các tôn giáo khác
Người Việt hay người Hoa hành hương đến Hội An đầu tiên là đi theo đường biển, gia phả những tộc họ tiền hiền của làng Cẩm Phô, Thanh
Hà, Thanh Châu, Võng Nhi, Đế Võng…, ở Hội An cho biết họ là những người có quê gốc ở Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hải Dương, Nam Định [3, 20] Cũng như những địa phương khác ở vùng Nam Trung bộ, họ đã
Trang 40gặp gỡ văn hóa Chăm, nhiều kinh nghiệm, nhiều hình thái sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần trong tổ chức sản xuất và đời sống của người Chăm được họ vận dụng và ngược lại, những yếu tố văn hóa có nguồn gốc
từ Đàng ngoài cũng được nảy sinh trên vùng đất mới Người Việt học cách làm nghề biển của người Chăm, kế thừa những chiếc ghe, giếng vuông, giếng bộng,… Trong đời sống văn hóa tín ngưỡng, trong quá trình hòa nhập, cộng cư, người Việt cũng kế thừa mạnh mẽ vốn văn hóa tín ngưỡng – phong tục của người Chăm Việc thờ tự Thiên Y A Na, thờ cúng cá Ông hiện nay ở Hội An thì đã thấy sự tích hợp mạnh mẽ của văn hóa Chăm, rất nhiều nơi có Lăng Ông và dinh bà Thiên Y Trong tế lễ ở các lăng, dinh này cũng khấn vái cả Ông lẫn Bà, có cả Ngung Man Nương – Bà Chúa Đất Ngay trong cả đình làng, vốn là thiết chế tín ngưỡng đặc trưng của văn hóa Việt, nơi dùng thờ Thành hoàng làng, cũng đã có thờ tự thần chăm Đình làng nào giờ đây cúng tế cũng khan mời các nữ thần Nhưng
dù có là Thiên Y A Na hay Thánh mẫu, Cửu Thiên huyền nữ, hay nữ thần nào, thì cốt lõi vẫn là suy tôn thần tượng Mẹ (Mẫu), đối với người Việt ở vùng đất này, trong tâm thức, cũng chỉ xem là một Mẹ, một Mẫu, là một đấng tối thượng Người ta không cần biết đến sự riêng biệt trong các huyền thoại, huyền tích về các Mẫu, các Mẹ Người ta coi trọng như nhau, thờ tự cúng tế như nhau
Nói chung, đó là lớp áo văn hóa Chăm dễ nhận ra trong những hiện tượng văn hóa tiêu biểu trong văn hóa dân gian của cư dân Hội An Lại còn nhiều dấu vết văn hóa Chăm khác ẩn sâu trong ngôn ngữ, trong cách ứng
xử với môi trường sinh thái, môi trường nhân văn, trong nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn xướng,… Những tên di tích kiến trúc và các tác phẩm điêu khắc liên quan đến việc thờ tự của Chăm Pa còn sót lại ở Hội
An như lăng Bà Dàng ở Thanh Chiêm (Thanh Hà); lăng Bà Lồi ở Cẩm Thanh; miếu Thần Hời ở An Bang (Thanh Hà); miếu Voi Hời ở Nam Diêu (Thanh Hà) Các địa danh cổ như Cù Lao Chàm, Trà Quế, Trà Đình, biển