Cụ thể, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khudân cư” gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 27/CT-TW về xây dựng nếp sống vănminh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN NHẬT QUANG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ BÌNH KIẾN, THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
TRẦN NHẬT QUANG
GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI XÃ BÌNH KIẾN,
THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cánhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực.Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã đượccông bố trước đó
Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trần Nhật Quang
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Giáo dục nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư đáp ứng yêu cầu xây
dựng nông thôn mới tại xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên là đề
tài mà tôi rất tâm huyết Trên cơ sở lý luận, vốn kiến thức đã được tiếp thutrong quá trình học tập, nghiên cứu, làm việc, dưới sự giảng dạy, hướng dẫncủa các giảng viên, sự cộng tác giúp đỡ của các đồng nghiệp và các tư liệu, tàiliệu được sử dụng Luận văn tốt nghiệp của tôi đã được hoàn thành
Với tình cảm chân thành nhất, tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo,
cô giáo, các nhà khoa học trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tận tình giảngdạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập Xin cảm Phòng văn hóa và thôngtin, Phòng Kinh tế thành phố Tuy Hòa, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân xã BìnhKiến, cảm ơn bạn bè đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tạo điều kiện cho tôihọc tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với
PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Bình - người cô trực tiếp hướng dẫn khoa học
đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoànthành luận văn này
Mặc dù hết sức cố gắng, nhưng luận văn là một công trình nghiên cứuvới khả năng của bản thân, chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót,rất mong nhận được ý kiến đóng góp, chỉ dẫn của quí thầy, cô, các nhà khoahọc và ý kiến đóng góp chân tình của các bạn đồng nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, tháng 7 năm 2017
Tác giả
Trần Nhật Quang
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Giả thuyết khoa học 2
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 10
1.2.1 Khái niệm giáo dục 10
1.2.2 Khái niệm nếp sống 11
1.2.3 Khái niệm văn hóa 11
1.2.4 Khái niệm về cộng đồng dân cư 12
1.2.5 Khái niệm nếp sống văn hóa 13
1.3 Xây dựng Nông thôn mới 13
1.3.1 Mục tiêu 14
1.3.2 Nội dung xây dưng nông thôn mới 15
1.3.3 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới 15
1.4 Giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở nông thôn 19
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lý của người nông dân hiện nay 19
1.4.2 Giáo dục nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư 23
Trang 61.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư 38
Kết luận chương 1 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA Ở CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TẠI XÃ BÌNH KIẾN, THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN 42
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Bình Kiến 42
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 42
2.1.2 Đặc điểm tình hình kinh tế xã hội 42
2.2 Tổ chức và phương pháp khảo sát thực trạng 45
2.2.1 Mục đích khảo sát 45
2.2.2 Nội dung khảo sát 45
2.2.3 Đối tượng khảo sát 46
2.2.4 Phương pháp khảo sát 46
2.3 Thực trạng nếp sống văn hóa của cộng đồng dân cư xã Bình Kiến 46
2.4 Thực trạng giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư tại xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 54
2.4.1 Về xây dựng tư tưởng và hệ thống chính trị cơ sở 54
2.4.2 Về phương diện phát triển kinh tế 56
2.4.3 Xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa 57
2.4.4 Công tác truyền thông, tuyên tuyền nếp sống văn hóa 58
2.4.5 Văn hóa ứng xử nơi công cộng 62
2.4.6 Về quá trình triển khai thực hiện cuộc vận động” Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” tại xã Bình Kiến 63
2.5 Đánh giá thực trạng 69
2.5.1 Đánh giá chung 69
2.5.2 Nguyên nhân thực trạng 71
Kết luận chương 2 72
CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HOÁ 73
Trang 73.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 73
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 73
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống (Tính đối tượng, văn hóa, vùng miền giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân) 74
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn (Sự phối hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể nâng cao chất lượng, nội dung giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân) 76
3.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi 77
3.2 Các biện pháp giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 77
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ và cộng đồng dân cư về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục nếp sống văn hoá 77
3.2.2 Xây dựng hệ thống các chính sách tạo cơ sở cho công tác giáo dục nếp sống văn hoá cho cộng đồng dân cư ở xã Bình Kiến 79
3.2.3 Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục nếp sống văn hoá cho người dân cộng đồng dân cư ở xã Bình Kiến 80
3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực cho công tác giáo dục nếp sống văn hoá cho cộng đồng dân cư 81
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 83
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 83
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 84
3.4.3 Đối tượng khảo nghiệm 85
3.4.4 Kết quả khảo nghiệm 85
Kết luận chương 3 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 107
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.3.1: Đánh giá hoạt động của các tổ chức tự quản, các quỹ (%) 47
Bảng 2.3.2: Mức độ tham gia các phong trào của người dân (%) 48
Bảng 2.3.3: Thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội (%) 49
Bảng 2.3.4: Vấn đề cảnh quan môi trường văn hóa (%) 49
Bảng 2.3.5: Mức độ và các hoạt động bảo vệ môi trường của người dân (%)50 Bảng 2.3.6: Văn hóa ứng xử 51
Bảng 2.4.1 Nhận thức của người dân về vai trò của giáo dục nếp sống văn hóa trong phát triển cộng đồng 55
Bảng 2.4.4 Các hình thức giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân 61
Bảng 2.4.5 Những hành vi xấu thường có nơi công cộng 62
Bảng 2.4.6: Nhận xét của người dân về tổ chức các phong trào 64
Bảng 3.4.4 Tương quan giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 87
Biểu đồ 3.1 Khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 86
Biểu đồ 3.2 Khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 86
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việc thực hiện Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhoá là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện Nghị quyết TW 5khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc Cụ thể, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khudân cư” gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 27/CT-TW về xây dựng nếp sống vănminh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và công tác “Xây dựng nông thôn mới”được triển khai vài năm gần đây
Trong giai đoạn phát triển hiện nay, nền kinh tế thị trường đang có ảnhhưởng sâu sắc cả theo hướng tích cực lẫn tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xãhội nước ta, tới hệ thống các giá trị và quy phạm đạo đức, văn hoá, nếp sống ởcộng động dân cư Đã có những giá trị đạo đức truyền thống, nếp sống, vănhoá tốt đẹp bị xâm hại và có nguy cơ bị mai một đi Trong bối cảnh đó, vấn
đề giáo dục nếp sống văn hoá cho người dân, đặc biệt là người dân ở nôngthôn đang trở nên bức bách và hết sức cần thiết
Hiện nay xã Bình Kiến đang triển khai thực hiện chương trình mục tiêuquốc gia xây dựng nông thôn mới, với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hộichung của thành phố quyết tâm đưa xã Bình Kiến lên đơn vị quản lý hànhchính cấp phường Vì vậy tốc độ đô thị hóa ở đây diễn ra mạnh mẽ, đất sảnxuất dần bị thu hẹp, việc chuyển đổi cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang cácngành nghề khác chưa phù hợp với sự phát triển kinh tế và thực trạng đó ở xãBình Kiến diễn ra ngày càng mạnh mẽ Kéo theo đó là sự thay đổi trong nếpsống từ nếp ăn, ở, mặc, giao tiếp cho đến các sinh hoạt văn hoá, tư duy, hệ giátrị, chuẩn mực, các phong tục tập quán như tang ma, cưới xin, giỗ chạp, hệthống niềm tin và tôn giáo Đã có một số tác giả nghiên cứu nếp sống vănhóa, giáo dục văn hóa truyền thống…Tuy nhiên, chưa có công trình nghiêncứu nếp sống văn hóa trong phạm vi nhỏ của một xã vùng ven thành phố như
Trang 10Xuất phát từ các lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giáo dục nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư góp phần xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên”
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn giáo dục nếp sống văn hóa
ở cộng đồng dân cư ở xã Bình Kiến, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằmnâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân, góp phần xây dựng nông thônmới trên địa bàn xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
3 Đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư ở xã BìnhKiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư tại xã BìnhKiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
4 Giả thuyết khoa học
Công tác giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư tại xã BìnhKiến hiện nay đã được triển khai nhưng còn nhiều hạn chế nên hiệu quả chưacao Nếu các biện pháp đảm bảo tính khoa học, tính khả thi thì sẽ nâng caohiệu quả, chất lượng của công tác này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của công tác giáo dục nếp sống văn hóa ở
cộng đồng dân cư
5.2 Đánh giá thực trạng của công tác giáo dục nếp sống văn hóa giáo
dục nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư tại xã Bình Kiến, thành phố TuyHòa, tỉnh Phú Yên
5.3 Đề xuất các biện pháp nâng cao chất lượng công tác giáo dục nếp
sống văn hóa góp phần xây dựng nông thôn mới tại xã Bình Kiến, thành phốTuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 116 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: Nghiên cứu 4/4 thôn trên địa bàn xãBình Kiến, thanh phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Giới hạn về đối tượng thực nghiện: Đề tài thực nghiệm các biện phápgiáo dục nếp sống văn hóa cho người dân trong cộng đồng dân cư góp phầnxây dựng nông thôn mới tại xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
- Chủ thể thực hiện giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư làchính quyền địa phương, Ủy ban Mặt trận tổ quốc Việt Nam, các Hội đoànthể và toàn thể nhân dân trên địa bàn xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnhPhú Yên
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Thu thập các văn bản pháp luật, các quy định của nhà nước trong lĩnhvực văn hoá, tiêu chuẩn gia đình văn hoá, thôn, khu phố văn hoá, tiêu chí xâydựng nông thôn mới, giáo dục nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân để xâydựng cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Xây dựng các bảng hỏi( phiếu hỏi) nhằm thu thập thông tin của cán bộ,người dân để có đánh giá về thực trạng nếp sống văn hoá, nhận thức vai trò,
vị trí của giáo dục nếp sống văn hoá cho người dân ở cộng đồng dân cư tại địabàn đang nghiên cứu và các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng
7.3 Phương pháp quan sát
Trực tiếp nghiên cứu quan sát thực trạng nếp sống văn hoá, các hoạtđộng giáo dục nếp sống văn hoá ở cộng đồng dân cư tại địa bàn nghiên cứu đểthu thập thông tin
7.4 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng toán thống kê để thu thập, xử lý số liệu nghiên cứu thực trạng
và thực nghiệm sư phạm
Trang 127.5 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia nghiên cứu về nếp sống văn hóa, xây dựng nôngthôn mới, làm công tác quản lý, giáo dục trong việc đề xuất các biện phápgiáo dục nếp sống văn hóa cho người dân
7.6 Phương pháp khảo nghiệm
Xây dựng phiếu trưng cầu ý kiến các lực lượng giáo dục nếp sống vănhoá ở địa phương bao gồm: Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân,
Uỷ ban Mặt trận và các Hội đoàn thể, hội viên, cán bộ ở các thôn có liên quanđến nội dung
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và kiến nghị luận văn được kết cấu thành
Chương 3: Biện pháp giáo dục nếp sống văn hoá cho cộng đồng dân cư
ở xã Bình Kiến, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC NẾP SỐNG VĂN HÓA
CHO CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Ở nước ngoài
Phải khẳng định rằng, toàn cầu hóa nói chung và toàn cầu hóa về vănhóa nói riêng trong bối cảnh hiện nay đã khác xa so với trước kia cả về nộidung, ý nghĩa, quy mô và tốc độ Sự phát triển vượt bậc của khoa học - côngnghệ, các phương tiện giao thông và thông tin hiện đại mới cho phép conngười vượt qua các giới hạn không gian và thời gian, tạo điều kiện cho giaolưu văn hóa phát triển trên phạm vi toàn thế giới
Đồng thời, các lực lượng phá hoại xuất hiện và hoạt động trên quy môtoàn cầu, kết quả của những xung đột giữa các dân tộc, các sắc tộc, các tôngiáo, mà nguyên nhân sâu xa là sự xung đột về kinh tế, chính trị được che đậydưới hình thức của sự xung đột về tôn giáo, cũng phải được nhìn nhận nhưmột mặt khác của toàn cầu hóa về văn hoá Đây là vấn đề sâu sắc nhất, bứcthiết nhất trong xu thế toàn cầu hóa
Trong những thập kỷ gần đây, UNESCO và các tổ chức tiến bộ đã cùngđặt lại vấn đề văn hóa và giao lưu văn hoá, khẳng định lại vị trí của văn hóa
so với kinh tế và chính trị trong sự phát triển chung của nhân loại và của mỗidân tộc, xu thế toàn cầu hóa về văn hóa đang góp phần làm cho các nước trênthế giới xích lại gần nhau Do đó, các nhà chính trị phải chấp nhận nhữngnguyên tắc đối thoại chung trên phạm vi toàn cầu Đó là những tiêu chuẩntrong sản xuất về sử dụng lao động trẻ em, lao động tù nhân hay những tiêuchuẩn về môi trường - vấn đề hiện nay đã trở thành vấn đề đạo đức
N Rô-xnô (N Rosneau), Giáo sư Khoa Quan hệ quốc tế Trường Đại
Trang 14nhận xét: “ Trong khi người ta vẫn chưa hình dung về những đổi thay ấy đến nơi đến chốn, thì hơi thở của chúng đã bao trùm khắp nơi, giăng mắc khắp các nước, xuyên thấu vào từng bước đi của đời sống, thẩm lậu vào mọi giai tầng trong xã hội Tóm lại là ngấm sâu vào tất cả các yếu tố cấu thành nên đời sống toàn cầu Những biến động như vậy đang làm cho cái trật tự mà trên đó vốn trụ vững các quan niệm về gia đình, cộng đồng, đất nước và thế giới nói chung, trở nên mâu thuẫn và bất định”
Các quốc gia trên thế giới tự điều chỉnh chính sách, nâng cao dân trí,xây dựng xã hội văn minh, nhà nước pháp quyền, xây dựng cơ chế kiểm soáttoàn cầu mang tính dân chủ, bình đẳng, hỗ trợ cùng nhau phát triển kinh tế,giảm mâu thuẫn giữa các dân tộc, các khu vực…
Bên cạnh chiến lược phát triển kinh tế xã hội, để duy trì một xã hộisạch đẹp, các văn bản dưới luật được chính quyền Singapore ban hành kịpthời nhằm qui định nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, điển hình là luật vềviệc xả rác, dùng kẹo cao su, hút thuốc lá và buôn bán ma tuý Văn bản dướiluật của chính quyền Singapore được qui định rõ: mọi người phải xả rác đúngnơi Nếu hành vi xả rác sai qui định, người vi phạm lần đầu tiên sẽ bị phạt1.000 dolle Singapore Nếu tái phạm người vi phạm sẽ bị phạt 2.000 dolleSingaopore cộng với hình phạt lao động cưỡng bức “dọn vệ sinh nơi côngcộng” Việc thi hành án phạt dọn vệ sinh nơi công cộng được báo chí, đàitruyền hình, đài phát thanh đưa tin công khai trên các phương tiện thông tinđại chúng
Vai trò chủ nghĩa gia đình ở Hàn Quốc: từ truyền thống đến hội nhập
của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm “Văn hoá phương Đông - truyền thống và
hội nhập” – H: NXB ĐHQG Hà Nội, 2006 đã nghiên cứu”(1) Cá nhân khôngthể độc lập tách rời khỏi gia đình và quan hệ giữa các thành viên gia đìnhđược sắp xếp theo tôn ty trên dưới rất rõ ràng, chặt chẽ, và nghiêm ngặt; (2)
Trang 15Gia đình có một truyền thống mà tất cả các thành viên gia đình qua các thế hệđều quan tâm gìn giữ; (3) Gia đình trở thành mô hình tổ chức quan trọng nhất,ảnh hưởng của nó không chỉ giới hạn trong phạm vi những người ruột thịt màcòn được nhân rộng ra toàn xã hội”.
Bên cạnh những nguy cơ và thách thức, toàn cầu hóa cũng đem lạinhiều cơ hội cho sự phát triển văn hóa các dân tộc Trước hết là các dân tộc
có điều kiện nhìn nhận lại chính mình khi so sánh, đối chiếu với văn hóa nhânloại Một nền văn hóa chỉ có thể tự tri đầy đủ và sâu sắc sau các cuộc tiếp xúcvăn hóa Các lĩnh vực của đời sống văn hóa được đối sánh với văn hóa nướcngoài sẽ bộc lộ cái hay và cái dở để từ đó các chủ thể văn hóa dân tộc tiếnhành học hỏi và tiếp biến văn hóa Với cách nhìn này, người ta cho rằng toàncầu hóa mở ra cơ hội mới cho sự học hỏi, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc,
để văn hóa các dân tộc có thể đạt tới tính toàn cầu và hiện diện trên bản đồvăn hóa thế giới Cố nhiên, sự dự phóng những thành tựu của văn hóa dân tộclên tầm toàn cầu sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự tiếp biến văn hóa của các chủthể văn hóa dân tộc
Trang 16Trong quá trình phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay cónhiều thay đổi, có sự giao lưu giữa các nền văn hóa trên thế giới, xu thế hộinhập toàn cầu mà Việt Nam cũng không năm ngoài xu thế phát triển hội nhậpphát triển Trong nhiều bài viết, các công trình nghiên cứu về văn hóa cụm từ
“đời sống”, “nếp sống văn hóa” được sử dụng nhiều Đây là cụm từ mới được
sử dụng ở nước ta vào những năm 80, 90 của thế kỷ XX Trong tác phẩm “Đời sống mới” Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới bút danh Tân Sinh được viết vàotháng 3/2017, Người viết:” Người là gốc của làng, nước Nếu mọi người đều
cố gắng làm đời sống mới, thì nhất định dân tộc sẽ phú cường”
Văn kiện Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII xác định rằng: "Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hoá, vì xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và vì sự phát triển con người toàn diện, bền vững Văn hoá gắn liền với con người và văn hoá phải gắn với
sự phát triển, văn hoá là đổi mới” Đây là Nghị quyết đầu tiên, toàn diện của
Trung ương Đảng về văn hoá, không những đã đúc kết và hoàn chỉnh cácquan điểm chỉ đạo đối với việc xây dựng và phát triển nền văn hoá cách mạngtrong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng Xã hội Chủnghĩa mà còn đề ra các nhiệm vụ cơ bản nhất của Đảng về văn hoá từ nay vềsau trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (7/2004)tiếp tục được khẳng định và phát triển sâu sắc hơn tại, với những quan điểmnhất quán, xuyên suốt mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải quán triệt vàthực hiện là:
- Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là độnglực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội
- Nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đàbản sắc dân tộc
Trang 17- Văn hoá của chúng ta là nền văn hoá thống nhất và đa dạng trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam.
- Xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệp của toàn dân, do Đảnglãnh đạo, trong đó đội ngũ tri thức đóng vai trò quan trọng
- Văn hoá là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hoá là sự nghiệpcách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng
Với nhận thức toàn diện và hiện đại về văn hoá như vậy Đảng ta đã đề
ra mục tiêu phấn đấu mà cái đích cuối cùng phải đạt tới là tạo được sự pháttriển đồng bộ về chất lượng với 4 giải pháp chủ yếu, 10 nhiệm vụ cụ thể,trong đó chỉ rõ 3 nội dung nhiệm vụ trọng tâm là:
- Một là: Tiếp tục đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạođức, lối sống và đời sống văn hoá lành mạnh trong xã hội, trước hết là trongcác tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân vàtrong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở
- Hai là: Nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ xây dựng đời sốngcon người Việt Nam theo 5 đặc tính được xác định trong nghị quyết Trungương 5 khoá VIII
- Ba là: Chú trọng xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở nhất là cộngđồng dân cư, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, tốt đẹp, phong phú
Quan điểm của Bác Hồ đã chỉ rõ “xây dựng nếp sống mới là quá trình làm cho lối sống mới dần thành thói quen, thành phong tục tập quán tốt đẹp, kế thừa và phát triển những thuần phong mỹ tục lâu đời của dân tộc” Thực tế các tiêu chí xây dựng đời sống văn hoá và nông thôn mới có
mối quan hệ với nhau rất hữu cơ vừa nâng cao đời sống văn hoá vừa đápứng đời sống vật chất
Quá trình lịch sử và những công trình nghiên cứu về văn hóa, xâydựng nếp sống văn hóa Việt Nam thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà
Trang 18nước ta về xây dựng con người mới, là vấn đề chiến lược, mặt khác nhữngnhiệm vụ quan trọng đó phải được thực hiện có tính chất thường xuyên, vừacấp bách, vừa cơ bản, lâu dài nhằm đáp ứng ngày càng cao nhu cầu hội nhập
và phát triển của đất nước, qua đó thể hiện rõ vị trí, vai trò, tầm quan trọngcủa việc xây dựng nếp sống văn hóa cho người dân, trong công cuộc xâydựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành
và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) củacon người Như vậy, giáo dục là một bộ phận của quá trình xã hội hình thành
cá nhân con người, bao gồm những nhân tố tác động có mục đích, có tổ chứccủa xã hội, do những người có kinh nghiệm, có chuyên môn gọi là nhà giáodục, nhà sư phạm đảm nhận Nơi tổ chức hoạt động giáo dục một cách có hệthống có kế hoạch chặt chẽ nhất là nhà trường Với nghĩa rộng như trên, giáodục là một hoạt động tổng thể bao gồm giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức,giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục lao động do nhà trường phụtrách trước xã hội
Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩarộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tưtưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi
và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội Theonghĩa này giáo dục (nghĩa hẹp) bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thểdục, giáo dục lao động
Giáo dục cộng đồng theo UNESCO thì giáo dục cộng đồng được xem
như là một tư tưởng, một cách làm mới mẻ nhằm xây dựng mối quan hệ bền
Trang 19vững, gắn bó giữa giáo dục với các quá trình xã hội, với đời sống và lợi íchcủa cộng đồng Đó là cách thức tốt và có hiệu quả nhằm tạo ra những điềukiện, cơ hội để thực hiện sự công bằng xã hội, tạo lập nền tảng cho sự pháttriển và sự ổn định của xã hội Giáo dục cộng đồng được hiểu là giáo dục chotất cả mọi người, là áp dụng cho mọi người trong xã hội Nếu thực hiện thànhcông đường lối giáo dục cộng đồng, xã hội sẽ là một trường học khổng lồ,trong đó giáo dục trở thành một động lực phát triển trực tiếp và quan trọngnhất của toàn xã hội.
1.2.2 Khái niệm nếp sống
Có ý nghĩa hẹp hơn lối sống, nếp sống bao gồm những cách thức, hànhđộng và suy nghĩ, những quy ước được lặp đi lặp lại hằng ngày thành thóiquen như: Tập quán sản xuất, sinh hoạt, trong phong tục, lễ nghi, trong hành
vi đạo đức, pháp luật Nói một cách khác, nếp sống là cách thức sống, sinhhoạt, ứng xử của con người, của cộng đồng, được lặp đi lặp lại nhiều lần,được chọn lọc và lắng đọng và tồn tại trong tiềm thức nhân dân Ví dụ: Nếpsống tốt: Ngăn nắp, trật tự vệ sinh, đi làm đi họp đúng giờ, ăn trông nồi, ngồitrông hướng Nếp sống chưa tốt: Chen lấn xô đẩy, nói tục, chửi thề
1.2.3 Khái niệm văn hóa
Theo kháo sát của PGS Phan Ngọc, cho đến nay đã có trên 400 địnhnghĩa về văn hóa [2, 19] Trong bản tuyên bố chung tại Hội nghị quốc tế ởMêhicô do UNESCO chủ trì họp từ 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta chấp
nhận một quan niệm về văn hóa như sau: "Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng" [3, 5-6].
Trang 20Quan niệm của Bác Hồ về văn hóa "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng - Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa" [6, 431]; đến nội hàm khái
niệm văn hóa mà Hội nghị lần thứ 5 của Ban chấp hành Trung ương khóa
VIII xác định: "Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy tự phát triển kinh tế - xã hội" [7, 10]
Như vậy, trong khuôn khổ vấn đề nghiên cứu theo chúng tôi; văn hóa làtoàn bộ sản phẩm của loài người được tạo ra và phát triển trong quan hệ qualại giữa con người với con người, con người với tự nhiên và xã hội, là quátrình thích nghi, học hỏi, hình thành thói quen, lối ứng xử của con người đượclặp đi lặp lại có tổ chức của các thành viên trong xã hội, được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa
1.2.4 Khái niệm về cộng đồng dân cư
Trung tâm Nghiên cứu và Tập huấn phát triển cộng đồng đưa ra kháiniệm “Cộng đồng là một tập thể có tổ chức, bao gồm các cá nhân con ngườisống chung ở một địa bàn nhất định, có chung một đặc tính xã hội hoặc sinh họcnào đó và cùng chia sẻ với nhau một lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào đấy”
Tự điển Đại học Oxford “Cộng đồng là tập thể người sống trong cùngmột khu vực, một tình hoặc một quốc gia và được xem như một khối thốngnhất”; “Cộng đồng là một nhóm người có cùng tín ngưỡng, chủng tộc, cùngloại hình nghề nghiệp, hoặc cùng mối quan tâm”; “Cộng đồng là một tập thểcùng chia sẻ, hoặc có tài nguyên chung, hoặc có tình trạng tương tự nhau vềmột số khía cạnh nào đó”
Có thể phân ra 2 loại cộng đồng:
Trang 21Cộng đồng địa lý bao gồm những người dân cư trú trong cùng một địabàn có thể có chung các đặc điểm văn hoá xã hội và có thể có mối quan hệràng buộc với nhau Họ cùng được áp dụng chính sách chung.
Cộng đồng chức năng gồm những người có thể cư trú gần nhau hoặckhông gần nhau nhưng có lợi ích chung Họ liên kết với nhau trên cơ sở nghềnghiệp, sở thích, hợp tác hay hiệp hội có tổ chức Như vậy, cộng đồng có thể
ở quy mô các cấp khác nhau từ lớn đến nhỏ, từ chung chung đến cụ thể
1.2.5 Khái niệm nếp sống văn hóa
Nếp sống văn hóa là biểu hiện của nếp sống trong quan hệ hành vi ứng
xử, hoạt động, giao tiếp với thiên nhiên, đối với mối quan hệ giữa các cá nhântrong cộng động xã hội và bản thân được xem là phù hợp với những giá trị,chuẩn mực văn hóa của xã hội
Nếp sống văn hóa là thể hiện trình độ văn hóa cao, ở đó con người sốngbằng văn minh, hiện đại và bản sắc văn hóa dân tộc hòa quyện với nhau
1.3 Xây dựng Nông thôn mới
Chương trình xây dựng nông thôn mới là một chương trình trọng tâmcủa Nghị quyết số 26-NQ/TW, Nghị quyết toàn diện nhất về phát triển nôngnghiệp, nông dân, nông thôn từ trước tới nay Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế
- xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng Với mục tiêu toàn diện: xây dựngkết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn từng bước hiện đại; xây dựng cơcấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp vớiphát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thịtheo quy hoạch; xây dựng nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc;bảo vệ môi trường sinh thái; giữ vững an ninh - trật tự; tăng cường hệ thốngchính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao đời sống vật chất
và tinh thần của nhân dân
Trang 22Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn đểcộng đồng dân cư nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã khang trang, sạchđẹp; phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ một cách toàndiện; có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo;thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao.
Thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp,nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiềuthành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế Kết cấu hạ tầngnông thôn như: điện, đường, trường, trạm, chợ, thủy lợi còn nhiều yếu kém;sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, chất lượng nông sản còn thấp, bảoquản chế biến chưa gắn với thị trường tiêu thụ; chuyển dịch cơ cấu kinh tếgắn với cơ cấu lao động, ứng dụng khoa học công nghệ còn chậm Thu nhậpcủa nông dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; kinh tế hộ, kinh tế trang trại, hợptác xã còn nhiều yếu kém; đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiềunét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một; môi trường và an ninhnông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc
Nước ta đang phấn đấu trở thành nước công nghiệp, một nước côngnghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân nghèo khó Vìvậy, phải tiến hành xây dựng xã nông thôn mới nhằm tạo động lực mạnh mẽthúc đẩy toàn diện về mọi mặt của đời sống ở nông thôn, rút ngắn khoảngcách về kinh tế- xã hội giữa thành thị và nông thôn, tránh nguy cơ ngày càngtụt hậu xa hơn với các quốc gia khác
1.3.1 Mục tiêu
Phát triển kinh tế- xã hội- văn hóa ở các vùng nông thôn ở nước ta hiệnnay là hết sức cần thiết, cần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng thànhthị và nông thôn nhằm đưa đất nước phát triển toàn diện trong xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế hiện nay, tránh tụt hậu về mọi mặt
Trang 23Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết về phát triển nôngnghiệp, xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống của người nông dân.Trực tiếp và toàn diện nhất là Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trungương 7, khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụxây dựng nông thôn mới, xác định đến năm 2015 có 20% số xã đạt chuẩnnông thôn mới và đến năm 2020 đạt 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới trêntổng số 9.121 xã của cả nước.
1.3.2 Nội dung xây dưng nông thôn mới
Xây dựng Nông thôn mới có thể khái quát theo 5 nội dung cơ bản:
- Quy hoạch và sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuấtnông nghiệp hành hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ Phát triểncác khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng vănminh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp;
- Xây dựng cộng đồng xã hội văn minh, có kết cấu hạ tầng kinh tế - xãhội ngày càng hoàn thiện; cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình thức tổ chức sảnxuất tiên tiến;
- Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và dulịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo qui hoạch; từng bước thực hiệncông nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn;
- Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóadân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ;
- Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, đội ngũ cán bộ có năng lực,
đủ trình độ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội
1.3.3 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Thủ tướng đã ký Quyết định 1980/QĐ-TTg , ngày 17 tháng 10 năm
2016 ban hành Bộ Tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới (Bộ tiêu chí xã) giaiđoạn 2016-2020 Trên cơ sở bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Trang 24gồm 5 nhóm nội dung (nhóm quy hoạch, nhóm hạ tầng kinh tế - xã hội, nhómkinh tế và tổ chức sản xuất, nhóm văn hóa - xã hội - môi trường, nhóm hệthống chính trị), Chính phủ đã ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg, ngày 04-6-
2010 về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2010 - 2020, nêu rõ 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp
Bộ tiêu chí gồm 5 nhóm với 19 tiêu chí - là cụ thể hoá các định tính củanông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020:
+ Nhóm 1: Quy hoạch - 1 tiêu chí
+ Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế - xã hội - 8 tiêu chí
+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất - 4 tiêu chí
+ Nhóm 4: Văn hoá - Xã hội - Môi trường - 4 tiêu chí
là có kinh tế phát triển, đi lại thuận tiện, cảnh quan xanh, sạch, đẹp, sinh hoạtvăn hóa phong phú, sôi nổi, có nhiều hạ tầng hoạt động vui chơi, giải trí.Người lao động, nhất là thanh niên có cơ hội làm việc, yêu quý và gắn bó quêhương Xây dựng văn hóa cho nông thôn mới chính là kế thừa và phát huynhững tinh hoa văn hóa dân tộc trong cuộc sống hiện đại, mọi công việc tiếnhành đều phải bảo đảm bộ mặt văn hóa, hồn cốt của làng quê Việt Nam
Xây dựng văn hóa nông thôn mới, trước hết tập trung hai tiêu chí là tạodựng thiết chế văn hóa cơ sở và gia đình, làng, xã, thôn, ấp văn hóa Thông tư
số 12/2011/TT-BVHTTDL, ngày 10 tháng 10 năm 2011 của Bộ Văn hóa, Thểthao và Du lịch quy định chi tiết về tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục, hồ sơ công
Trang 25nhận Danh hiệu “Gia đình văn hóa”; “Thôn văn hóa”, “Làng văn hóa”, “Ấpvăn hóa”, “Bản văn hóa”, “Tổ dân phố văn hóa” và tương đương.
Điều 5 của thông tư 12 quy định Tiêu chuẩn Danh hiệu “Thôn vănhóa”, “Làng văn hóa”, “Ấp văn hóa”, “Bản văn hóa” và tương đương cụ thể:[trích dẫn nguồn]
1 Đời sống kinh tế ổn định và từng bước phát triển:
a) Thực hiện tốt cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, không còn hộđói, tỷ lệ hộ nghèo thấp hơn mức bình quân chung của tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương (dưới đây gọi là bình quân chung);
b) Có phong trào xóa nhà tạm, dột nát; tỷ lệ hộ có nhà bền vững caohơn mức bình quân chung;
c) Có nhiều hoạt động hiệu quả: Về tuyên truyền, phổ biến và ứng dụngkhoa học-kỹ thuật; phát triển nghề truyền thống; hợp tác và liên kết phát triểnkinh tế;
d) Tỷ lệ lao động có việc làm, thu nhập bình quân đầu người/năm caohơn mức bình quân chung;
đ) Có 80% trở lên hộ gia đình tham gia cuộc vận động xây dựng nôngthôn mới; xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng kinh tế-xã hội ở cộng đồng
2 Đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú:
a) Nhà Văn hóa-Khu thể thao thôn (làng, ấp, bản và tương đương) từngbước đạt chuẩn theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
b) Duy trì phong trào văn hóa, thể thao, thu hút 40% trở lên số ngườidân tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao ở cộng đồng;
c) Có 70% trở lên hộ gia đình thực hiện tốt các quy định về nếp sốngvăn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội; không có hành vi truyền bá vàhành nghề mê tín dị đoan;
d) Không phát sinh người mắc tệ nạn xã hội ở cộng đồng; không cóngười sử dụng và lưu hành văn hóa phẩm độc hại;
Trang 26đ) Có 70% trở lên hộ gia đình được công nhận “Gia đình văn hóa”,trong đó ít nhất 50% gia đình văn hóa được công nhận 3 năm trở lên;
e) 100% trẻ em trong độ tuổi đi học được đến trường, đạt chuẩn phổcập giáo dục trung học trở lên; có phong trào “khuyến học”, khuyến tài;
g) Không có hành vi gây lây truyền dịch bệnh; không để xảy ra ngộ độcthực phẩm đông người; giảm tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng, trẻ em được tiêmchủng đầy đủ và phụ nữ có thai được khám định kỳ;
h) Thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hoá gia đình;
i) Có nhiều hoạt động đoàn kết giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dântộc; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh và các công trìnhcông cộng; bảo tồn các hình thức sinh hoạt văn hóa, thể thao dân gian truyềnthống ở địa phương
3 Môi trường cảnh quan sạch đẹp:
a) Có tổ vệ sinh thường xuyên quét dọn vệ sinh, thu gom rác thải về nơi
xử lý tập trung theo quy định;
b) Tỷ lệ hộ gia đình có 3 công trình hợp vệ sinh (nước sạch, nhà tắm,
hố xí) đạt chuẩn, cao hơn mức bình quân chung; các cơ sở sản xuất, kinhdoanh đạt tiêu chuẩn về môi trường;
c) Nhà ở khu dân cư, các công trình công cộng, nghĩa trang được xâydựng từng bước theo quy hoạch;
d) Thường xuyên tuyên truyền, nhắc nhở, nâng cao ý thức của ngườidân về bảo vệ môi trường sinh thái; vận động nhân dân xây dựng cải tạo, nângcấp hệ thống thoát nước; cải tạo các ao, hồ sinh thái; trồng cây xanh
4 Chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước:
a) Có 90% trở lên hộ gia đình được phổ biến và nghiêm chỉnh thực hiệnđường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và cácquy định của địa phương;
Trang 27b) Hoạt động hòa giải có hiệu quả; hầu hết những mâu thuẫn, bất hòađược giải quyết tại cộng đồng;
c) Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện tốt quychế dân chủ ở cơ sở; phản ánh kịp thời những đề xuất, kiến nghị của nhân dângiải quyết những vấn đề bức xúc ở cơ sở, cộng đồng dân cư; không có khiếukiện đông người trái pháp luật;
d) Tuyên truyền và tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân ở khu dân
cư tham gia giám sát hoạt động cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộcông chức Nhà nước; tham gia xây dựng Chi bộ Đảng, chính quyền đạt danhhiệu “Trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức đoàn thể đạt danh hiệu tiên tiếntrở lên hàng năm; các tổ chức tự quản ở cộng đồng hoạt động có hiệu quả
5 Có tinh thần đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ nhau trong cộng đồng:
a) Thực hiện đầy đủ các chính sách của Nhà nước, phát triển phong trào
“Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, nhằm chăm sóc các gia đìnhchính sách, người có công với cách mạng có mức sống bằng hoặc cao hơnmức bình quân chung;
b) Thực hiện tốt các hoạt động “Nhân đạo từ thiện”, giúp đỡ đồng bào
bị thiên tai, gia đình khó khăn, người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật,nạn nhân chất độc da cam-dioxin và những người bất hạnh
1.4 Giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở nông thôn
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lý của người nông dân hiện nay
Trong phát triển kinh tế hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế giữa cácnước là một tất yếu và như vậy sẽ dẫn đến sự "va chạm" giữa các nền văn hoákhác nhau Trong đó, những đặc điểm tâm lý của dân tộc là "cốt lõi" tạo nên
sự thuận lợi hoặc cản trở trong quá trình hội nhập Trong bài viết này, chúngtôi chỉ đề cập đến những đặc điểm tâm lý của người nông dân Việt Nam (80%dân số Việt Nam làm nông nghiệp) ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình hội nhậpkinh tế hiện nay ở Việt Nam
Trang 28Người nông dân sống phụ thuộc vào thiên nhiên rất nhiều Họ sống cốđịnh một chỗ, ở dưới một mái nhà với mảnh vườn của mình được bao bọc bởiluỹ trẻ làng bảo vệ Trong sản xuất, người nông dân phụ thuộc vào nhiều hiệntượng của tự nhiên như trời, đất, nắng, mưa… Bởi vậy mà họ rất tôn trọng,hoà thuận với tự nhiên và phụ thuộc vào nó Sống phụ thuộc vào tự nhiên làmngười nông dân dễ trở nên rụt rè, thụ động Người Việt đã tích luỹ đượcnhững kinh nghiệm hết sức phong phú trong sản xuất Đó là hệ thống tri thứcthu được bằng con đường kinh nghiệm chủ quan, cảm tính Trong quan hệứng xử giữa con người với nhau từ gia đình đến làng xóm đều theo nguyêntắc trọng tình (duy tình) Hàng xóm sống cố định lâu dài với nhau là một môitrường thuận lợi để người nông dân tạo ra một cuộc sống hoà thuận trên cơ sở
lấy tình nghĩa làm đầu: Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình (tục ngữ) Lối
sống trọng tình cảm sẽ tất yếu đẩy cái "lý" (luật pháp) xuống hàng thứ hai
Lối sống trọng tình đã dẫn đến cách ứng xử hết sức linh hoạt và thích
ứng nhanh với điều kiện hoàn cảnh cụ thể: Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài, Đi với bụt mặc áo cà sa/ Đi với ma mặc áo giấy (tục ngữ) Với nhu cầu sống hòa
thuận trên cơ sở cái gốc là tình cảm giữa con người với nhau trong làng xómcàng làm cho lối sống linh hoạt trở nên đậm nét và chính là cơ sở tâm lý hiếuhòa trong các mối quan hệ xã hội dựa trên sự tôn trọng và cư xử bình đẳngvới nhau Do vậy, người nông dân hết sức coi trọng tập thể, cộng đồng, làmviệc gì cũng phải tính đến tập thể Lối sống linh hoạt, trọng tình, dân chủ lànhững đặc điểm tích cực, nhưng mặt trái của nó là đặc điểm tâm lý áp đặt, tuỳ
tiện, coi thường phép nước (pháp luật): "Phép vua thua lệ làng", "Đưa nhau đến trước cửa quan, bên ngoài là lý bên trong là tình”.
Tính cộng đồng là một đặc điểm tâm lý đặc trưng của người Việt Namtrong văn hóa làng xã Ở Việt Nam, làng xã và gia tộc (họ) nhiều khi đồngnhất với nhau Bởi vậy, gia tộc trở thành một cộng đồng gắn bó và có vai trò
Trang 29quan trọng đối với người Việt Sức mạnh của gia tộc thể hiện ở tinh thần đùmbọc, thương yêu nhau Người trong họ có trách nhiệm cưu mang, hỗ trợ nhau
về vật chất, tinh thần và dìu dắt, làm chỗ dựa cho nhau về chính trị (Một người làm quan cả họ được nhờ) Quan hệ huyết thống là cơ sở của tính tôn
ti: người sinh ra trước là bậc trên, người sinh ra sau là bậc dưới Tính tôn titrong trật tự của các dòng tộc đã dẫn đến mặt trái của nó là tâm lý gia trưởng,trọng nam khinh nữ và đặc biệt là tâm lý địa phương, cục bộ Đây là một ràocản rất lớn trong quá trình hội nhập của người nông dân Việt Làng xã ViệtNam như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (hương ước) tạo nênmột sự cố kết, bền vững của làng xã và cũng đã tạo nên tâm lý bè phái, địaphương, ích kỷ Hương ước của làng xã chính là hệ thống giá trị, chuẩn mựccủa làng xã, nó quy định cung cách ứng xử, lối sống của cá nhân trong làng,tạo nên sự đồng nhất, mà trước hết là trong dòng họ Sự đồng nhất mà cơ sở làtính cộng đồng có mặt tích cực là làm cho mọi người luôn đoàn kết, tương trợgiúp đỡ lẫn nhau
Sự đồng nhất (giống nhau) dẫn đến chỗ người nông dân Việt Nam hiệnnay nhiều khi có thói quen dựa dẫm, ỷ lại vào tập thể, vào số đông Cũng từ
đó, một nhược điểm của họ là tâm lý cào bằng, đố kỵ, không muốn cho ai hơn
mình (để cho tất cả mọi người đồng nhất, như nhau) - Xấu đều hơn tốt lỏi (tục
ngữ) - vẫn còn biểu hiện ở không ít địa phương
Tâm lý sĩ diện trong đời sống làng xã của người nông dân dẫn đến tínhkhoa trương, trọng hình thức Mặc dù đời sống kinh tế hiện nay của ngườinông dân văn còn khó khăn, nhưng họ sẵn sàng tuân theo các thủ tục, nghi lễnặng nề, tốn kém trong cưới xin, ma chay, khao vọng, hội lễ… Những hủ tụcnày gây nên sự tiêu tốn kinh phí rất lớn cho cá nhân cũng như cho cộng đồng,
do vậy dẫn đến sự đói nghèo của nhiều gia đình nông dân Đây là một vật cảnlớn trong quá trình hội nhập kinh tế của người nông dân Việt Nam
Trang 30Ngày nay, văn hoá làng xã còn ảnh hưởng cả đến đời sống đô thị, khiếncho đô thị Việt Nam vẫn còn phảng phất những nét, phong cách của nông thôn.
Như vậy, để thực hiện thành công giáo dục nếp sống văn hóa cho cộngđồng dân cư ở nông thôn gắn với mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới,cùng với những nhiệm vụ chính trị khác, chúng ta cần khắc phục những ảnhhưởng tiêu cực của một số yếu tố tâm lý Đây là một nhiệm vụ quan trọng
Nghị quyết 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI
về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầuphát triển bền vững đất nước” gắn với phong trào toàn dân xây dựng nếp sốngvăn hóa- văn minh đô thị gồm 05 mục tiêu cụ thể sau:
- Các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam cần được hoànthiện, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ,năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ýthức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm,trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội
và đất nước
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế Xâydựng văn hóa trong hệ thống chính trị, trong từng cộng đồng làng, bản, khuphố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình Phát huy vai trò của giađình, cộng đồng, xã hội trong việc xây dựng môi trường văn hóa, làm chovăn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người Việt Nam hoàn thiện nhân cách
- Hoàn thiện thể chế, chế định pháp lý và thiết chế văn hóa bảo đảmxây dựng và phát triển văn hóa, con người trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
- Xây dựng thị trường văn hóa lành mạnh, đẩy mạnh phát triển côngnghiệp văn hóa, tăng cường quảng bá văn hóa Việt Nam
Trang 31- Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị
và nông thôn, giữa các vùng miền và các giai tầng xã hội Ngăn chặn và đẩylùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội
1.4.2 Giáo dục nếp sống văn hóa ở cộng đồng dân cư
Nội dung chủ yếu của công tác giáo dục nếp sống văn hóa cho ngườidân trong cộng đồng dân cư tập trung vào 3 vấn đề cụ thể: Giáo dục nếp sống
cá nhân, nếp sống gia đình và nếp sống xã hội: Phong tục tập quán…; Nếpsống văn minh nơi công cộng Các nội dung liên quan chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại trong một thể thống nhất Lối sống của từng cá nhân tác độngđến lối sống của gia đình và có ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của xã hội.Mặt khác sự thay đổi của gia đình với sự phát triển của xã hội có tác động qualại trực tiếp với nhau
Bác Hồ nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có nhữngcon người xã hội chủ nghĩa" và Người cho rằng “Quan tâm đến gia đình làđúng vì nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, xã hội tốt thì gia đình càngtốt, gia đình tốt thì xã hội mới tốt Hạt nhân của xã hội là gia đình ”
Gia đình là đơn vị xã hội nhỏ nhất của xã hội và có sự bền vững rất cao,mặc dù có những biến động lớn nhỏ, mặc dù tan rã có khi cả một tập thể cộngđồng rộng lớn nhưng gia đình vẫn tồn tại Xây dựng nếp sống gia đình, nếpsống xã hội cũng chính là xây dựng con người mới Con người mới là sảnphẩm của xã hội, vừa là chủ thể có ý thức của xã hội Nhưng con người mớikhông thể hình thành một cách tự phát, mà trải qua quá trình xây dựng mộtcách tích cực và chủ động Con người mới cũng phải được tu dưỡng trongmôi trường gia đình và môi trường xã hội
- Nếp sống văn hoá của mỗi con người, ngoài biểu hiện trong lao độngsáng tạo, trong làm ăn sinh sống, trong học tập và rèn luyện, trong đạo đức vànhân cách, trong giao tiếp và ứng xử; còn được biểu hiện trong phong tục
Trang 32Nếp sống cá nhân là thái độ, hành vi, cách ăn mặc, nói năng, phép ứng xử vớimọi người, kỷ luật lao động, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức đối với cộngđồng và đối với các thành viên gia đình (chăm sóc giáo dục con cái, nuôidưỡng cha mẹ, chăm sóc người cao tuổi), bạn bè hàng xóm…
- Nếp sống gia đình, thực chất là xây dựng gia đình có nếp sống vănhoá- gọi tắt là gia đình văn hoá Đối với nội dung này cần tập trung khaithác những yếu tố tốt đẹp của gia đình truyền thống Việt Nam, đề cao tráchnhiệm của từng thành viên trong gia đình, cùng nhau xây dựng một cuộcsống tốt đẹp
Để thực sự là Gia đình có nếp sống văn hóa, nội dung của cuộc vậnđộng cần tập trung vào ba tiêu chuẩn: Gương mẫu chấp hành chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia vào cácphong trào thi đua của địa phương; Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ,tương trợ giúp đỡ mọi người trong cộng đồng; Tổ chức lao động, sản xuấtkinh doanh, công tác học tập đạt năng suất, chất lượng và hiệu quả
Tùy điều kiện, nhu cầu, hoàn cảnh của từng nơi, từng lúc mà vận dụngtiêu chuẩn (cho sát hợp, nhưng cần lưu ý: Tiêu chuẩn phải ngắn gọn, dễ nhớ,
dễ làm Nhân dân phải được bàn bạc, trao đổi, cùng nhau thực hiện, tránh ápđặt, mệnh lệnh hành chính hóa…)
- Nếp sống xã hội bao gồm nếp sống cộng đồng, đó là nếp sống ở làng,bản, ấp, nếp sống ở trường học, cơ quan, bệnh viện, xí nghiệp, khu phố, tổdân phố
Trong nếp sống xã hội, phải đặc biệt chú ý đến nếp sống nơi công cộng.Nếp sống văn minh nơi công cộng chính là bộ mặt của xã hội Xây dựng chomỗi người có hiểu biết và tôn trọng luật pháp, các quy định về an ninh, trật tự,
vệ sinh môi trường, an toàn giao thông
Trang 33- Giáo dục nếp sống văn minh nơi công cộng là giáo dục cách ứng xửcủa mỗi cá nhân đối với mọi người, môi trường, văn hóa…những nơi côngcộng là bộ mặt xã hội như: đường làng, ngõ xóm, nhà văn hóa, chợ, di tích,danh thắng… cần giáo dục cho mỗi người có hiểu biết và tôn trọng luật pháp,các quy tắc trật tự, vệ sinh, an toàn giao thông Tổ chức tốt các dịch vụ vệsinh ở những nơi công cộng Sử dụng những quy tắc, quy định, tín hiệu…
để hướng dẫn nếp sống nơi công cộng Cần phải chú ý đến cảnh quanchung, ngoài sạch sẽ còn phải chú ý đến đẹp- phù hợp với thẩm mỹ- từ kiếntrúc nhà cửa, khuôn viên gia đình, đường làng, ngõ xóm theo quy hoạch,đến ăn, mặc, ở, đi lại và giao tiếp, ứng xử có văn hóa giữa các thành viêntrong cộng đồng dân cư
1.4.2.1 Khái niệm giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở nông thôn
Giáo dục nếp sống văn hóa là quá trình vừa phát huy những cái tốt đẹptrong nếp sống của cộng đồng, hương ước, quy ước, phong tục, tập quán củalàng, xã, loại trừ những cái lạc hậu, xây dựng và phát triển nếp sống văn hóatốt đẹp trong đời sống cộng đồng; đồng thời tiếp thu có chọn lọc những thànhtựu có tiến bộ, hiện đại của loài người để xây dựng nên nếp sống văn hóa vừahiện đại, vừa mạng đậm giá trị văn hóa dân tộc
Giáo dục nếp sống văn hóa là quá trình tác động đến đối tượng để giáodục và hình thành những thói quen, nề nếp trong cách nghĩ, cách làm, cáchthể hiện, theo những giá trị, chuẩn mực văn hóa của xã hội, phù hợp vớiđiều kiện, đối tượng cụ thể
1.4.2.2 Mục tiêu giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở nông thôn
Xây dựng nếp sống văn hóa nhằm mục tiêu là xây dựng con người cólối sống, nếp sống phù hơp với sự phát triển của xã hội văn minh hiện đại, cần
Trang 34tập trung vào những tiêu chí xây dựng lối sống của con người khi con người
có lối sống phát huy được những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc,tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tiên tiến của văn minh nhân loại, nhất định sẽ
có hành vi, cử chỉ, thói quen thể hiện nếp sống văn minh
Giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân nhằm nâng cao tính tự quản,
tự giác chấp hành các quy định do cộng đồng dân cư cùng thỏa thuận đặt ra
để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhằm giữ gìn và phát huy những phong tục,tập quán tốt đẹp và truyền thống văn hóa trên địa bàn làng, bản, thôn, ấp, cụmdân cư, góp phần hỗ trợ tích cực cho việc quản lý nhà nước bằng pháp luật
1.4.2.3 Nội dung giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở nông thôn
Công tác xây dựng Nếp sống văn hóa bao gồm 3 nội dung chủ yếu là:
- Xây dựng Nếp sống cá nhân
- Xây dựng Gia đình có nếp sống văn hóa-gọi tắt là Gia đình văn hóa
- Xây dựng Nếp sống xã hội: Xây dựng Phong tục tập quán tốt đẹp phùhợp với truyền thống dân tộc; Xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng
Trong từng nội dung cũng cần xác định mặt chủ yếu cần phải đi sâu vàcoi đó là công tác trọng tâm Cần phải đầu tư, đúc rút kinh nghiệm từ thựctiễn, tập trung chỉ đạo để tạo ra hiệu quả thiết thực
* Nội dung thứ nhất: Xây dựng Nếp sống cá nhân
Nếp sống cá nhân là thái độ, hành vi, cách ăn mặc, nói năng, phép ứng
xử với mọi người, kỷ luật lao động, ý thức chấp hành pháp luật, ý thức đối vớicộng đồng và đối với các thành viên gia đình (chăm sóc giáo dục con cái,nuôi dưỡng cha mẹ, chăm sóc người cao tuổi), bạn bè hàng xóm…
* Nội dung thứ hai: Xây dựng Gia đình có nếp sống văn hóa-gọi tắt là Gia đình văn hóa
Phải khai thác những yếu tố tốt đẹp của gia đình truyền thống ViệtNam, đề cao trách nhiệm của từng thành viên trong gia đình, cùng nhau xâydựng một cuộc sống tốt đẹp
Trang 35Để thực sự là Gia đình có nếp sống văn hóa, nội dung của cuộc vậnđộng cần tập trung vào ba tiêu chuẩn sau đây:
- Gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa Nhà nước, tích cực tham gia vào các phong trào thi đua của địa phương;
- Gia đình hoà thuận, hạnh phúc, tiến bộ, tương trợ giúp đỡ mọi ngườitrong cộng đồng;
- Tổ chức lao động, sản xuất kinh doanh, công tác học tập đạt năngsuất, chất lượng và hiệu quả
Tùy điều kiện, nhu cầu, hoàn cảnh của từng nơi, từng lúc mà vận dụngtiêu chuẩn (cho sát hợp, nhưng cần lưu ý: Tiêu chuẩn phải ngắn gọn, dễ nhớ,
dễ làm Nhân dân phải được bàn bạc, trao đổi, cùng nhau thực hiện (tránh ápđặt, mệnh lệnh hành chính hóa…)
* Nội dung thứ ba: Xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc
Xây dựng phong tục quán tốt đẹp phù hợp với truyền thống dân tộc vàbản sắc dân tộc Phải sưu tầm, khai thác các phong tục, tập quán tốt đẹp củatừng địa phương, từng dân tộc, đưa các phong tục tập quán truyền thống hòanhập với cuộc sống hiện đại Cải tạo những tập quán lạc hậu, xây dựng tậpquán mới, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống hiện đại, văn minh, tiến bộ Nộidung này được tập trung vào: việc cưới, việc tang, ngày giỗ, ngày hội, mừngthọ, bài trừ mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội…
* Nội dung thứ tư: Xây dựng nếp sống văn minh nơi công cộng
Những nơi công cộng là bộ mặt xã hội như: đường làng, ngõ xóm, nhàvăn hóa, chợ, di tích, danh thắng… cần xây dựng cho mỗi người có hiểu biết
và tôn trọng luật pháp, các quy tắc trật tự, vệ sinh, an toàn giao thông Tổchức tốt các dịch vụ vệ sinh ở những nơi công cộng Sử dụng những quy tắc,
Trang 36quy định, tín hiệu… để hướng dẫn nếp sống nơi công cộng Cần phải chú ýđến cảnh quan chung, ngoài sạch sẽ còn phải chú ý đến đẹp-phù hợp với thẩmmỹ-từ kiến trúc nhà cửa, khuôn viên gia đình, đường làng, ngõ xóm theo quyhoạch, đến ăn, mặc, ở, đi lại và giao tiếp giữa người với người.
* Phương châm, phương pháp chỉ đạo
Công tác xây dựng nếp sống văn hóa phải được tiến hành kiên trì, lâudài nhưng rất khẩn trương, đồng bộ, phải luôn luôn được củng cố, hoàn thiện
và phát triển không ngừng
Xây dựng nếp sống văn hóa thực chất là nhiệm vụ lâu dài, thườngxuyên là công việc xây dựng con người, xây dựng xã hội, là cuộc cách mạngrộng lớn, toàn diện, lâu dài đòi hỏi việc xây và chống phải có thái độ chủđộng và đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, lấy biện pháp vận động, thuyết phụcgiáo dục là chủ yếu, lấy xây là chính, xây là lâu dài, chống là trước mắt; xâykết hợp với chống
1.4.2.4 Các hình thức, phương pháp giáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư ở nông thôn
Chúng ta cần đề cao giá trị văn hóa cộng đồng và xây dựng văn hóacộng đồng là mục tiêu vừa có tính chiến lược, vừa có tính cấp bách trong sựnghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - nền tảng tinhthần xã hội
Để tiếp tục xây dựng phong trào văn hóa cộng đồng, giáo dục nếp sống
có văn hóa cho từng người dân trong cộng đồng dân cư đạt hiệu quả thiếtthực, chúng ta cần tiếp tục kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốtđẹp trong cộng đồng dân cư gắn với tiếp thu và xây dựng những giá trị vănhóa tiên tiến Đề cao trách nhiệm của mỗi người dân trong việc xây dựng đờisống văn hóa ở ngay trong cộng đồng mình đang sinh sống và làm việc Duytrì và nâng cao chất lượng phong trào xây dựng cộng đồng văn hóa và nội
Trang 37dung các tiêu chí công nhận danh hiệu khu phố văn hóa Tránh xu hướng chạytheo thành tích, phản ánh không thực chất phong trào và chất lượng văn hóacộng đồng Các tiêu chí xây dựng cộng đồng văn hóa phải phù hợp và có ýnghĩa thiết thực với đời sống của nhân dân Công tác bình xét danh hiệu cộngđồng văn hóa phải được tiến hành theo tiêu chí thống nhất, trên nguyên tắccông bằng, dân chủ, khách quan, đúng quy trình, tiêu chí; nắm bắt tư tưởng,
dư luận của nhân dân qua nhiều kênh, nhất là qua cộng tác viên dư luận; cầnhuy động nguồn lực của nhân dân theo phương châm "Nhà nước và nhân dâncùng làm" để xây dựng các thiết chế văn hóa, đáp ứng nguyện vọng, tâm tư,tình cảm và tạo được sự đồng tình hưởng ứng của toàn dân
Chú trọng đầu tư về kinh phí, nguồn lực cho xây dựng phong trào vănhóa cộng đồng dân cư kết hợp với phương châm xã hội hóa, tạo tiền đề quantrọng cho sự phát triển của văn hóa Thường xuyên tổng kết phong trào xâydựng văn hóa cộng đồng dân cư, đánh giá kết quả phấn đấu từng giai đoạn kếthợp với các phong trào khác để đạt được hiệu quả thiết thực, đồng thời rút rađược những bài học kinh nghiệm Tổ chức hội nghị tuyên dương những cộngđồng dân cư văn hóa xuất sắc và nhân rộng những mô hình đó ra toàn xã hội.Chú trọng công tác kiểm tra và đổi mới, cải tiến công tác này sao cho phù hợpvới tình hình mới, sát thực tế địa phương, hướng về cộng đồng dân cư.Thường xuyên cung cấp kiến thức, nội dung công tác xây dựng cộng đồngvăn hóa cho cán bộ hướng dẫn phong trào; phổ biến kiến thức xây dựng vănhóa cộng đồng dân cư trong đời sống xã hội hiện đại để cập nhật yêu cầu đổimới của thời đại và có định hướng hướng dẫn nhân dân thực hiện lâu dài
Điều quan trọng là, phải phát huy vai trò lãnh đạo của các cấp ủy, chínhquyền, vai trò tham mưu của các cơ quan chức năng trong cuộc vận động xâydựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư Tăng cường sự phối hợp giữa cácngành, đoàn thể chính trị và xã hội, vận động sự tham gia tích cực của nhândân trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Phát huy lợi thế của
Trang 38các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền giới thiệu rộng rãi cho mọingười dân hiểu về mục tiêu, ý nghĩa và lợi ích chung trong việc thực hiện nếpsống văn hóa, văn minh ở cộng đồng dân cư.
Nói đến lối sống, nếp sống là nói đến thuần phong mỹ tục Chúng tacũng cần nhận thức rõ thuần phong, mỹ tục còn liên quan đến tính bản địa vàtính giao lưu; tính truyền thống và tính tiếp biến đổi mới
Việc hình thành một lối sống hay một nếp sống tất yếu phải có nhữngquy luật của nó đó là khoa học Việc xây dựng lối sống luôn nằm trong quátrình kế thừa liên tục, mỗi người có trách nhiệm phải nhận thức cho rõ nộidung của sự kế thừa này, nội dung bản sắc của gia đình mình, cộng đồngmình và dân tộc mình Nhưng quá trình kế thừa, không phải là quá trình lậplại, quá trình kế thừa lại chính là quá trình phát triển Phải nắm vững bản sắcdân tộc để định hướng cho sự phát triển Sự lãnh đạo và hướng dẫn về nếpsống văn hóa có thể thực hiện ở các cấp độ hình thức can thiệp sau đây:
- Can thiệp (cưỡng chế): Bằng luật pháp; pháp lệnh; quy chế, quyđịnh…bắt buộc mọi người phải tuân theo Ví dụ: Đội mũ bảo hiểm khi đi
xe máy, chấp hành các quy định về an toàn giao thông, không lấn chiếmvỉa hè dành cho người đi bộ… Không khóc mướn, lăn đường, đội mũ rơmtrong đám tang
- Can thiệp bằng sự giáo dục rèn luyện: Nhà trường, tác phẩm, các hoạtđộng văn học nghệ thuật…
- Can thiệp bằng sức ép dư luận xã hội: Thông tin đại chúng, sinh hoạtchính trị xã hội, quy ước Dư luận tập thể lành mạnh luôn giúp con ngườinhận thức những điều tốt đẹp, điều chỉnh hành vi cuộc sống có văn hóa…
- Can thiệp bằng tổ chức đời sống cho nhân dân chu đáo trong điềukiện sống sinh hoạt: Tổ chức ăn, ở, vệ sinh, đi lại và chế độ sinh hoạt, với kỷluật nghiêm, hoạt động có kế hoạch, có tổ chức và nề nếp sẽ tạo thành thói
Trang 39quen sống có văn hóa, hình thành ý chí, nghị lực cho người dân và cộng động,đây là biện pháp cực kỳ quan trọng.
Chú ý: Trong đời sống có những hành vi sống thuộc về lĩnh vực thịhiếu, cá tính chúng ta không can thiệp sâu, có những phong tục riêng biệt củatừng địa phương, hoặc từng dân tộc nhỏ mà nó không có hại thì ta không nêncan thiệp và thậm chí cần khuyến khích để tạo cho sự phong phú, đa dạngtrong văn hóa, tạo nên sự kết hợp hài hòa Ví dụ: Tôn trọng sở thích cá nhân,thị hiếu, thẩm mỹ nhưng không trái với thuần phong mỹ tục dân tộc…
Lối sống được hình thành trong cuộc sống Có những cái chúng takhông muốn có, nó vẫn hình thành Sự hình thành của nó có những quy luậtnhất định Muốn xây dựng nó, cán bộ văn hóa cơ sở phải hiểu cuộc sống, hiểucác loại quy luật của cuộc sống và quy luật hình thành lối sống Phải có tưduy khoa học, không thể dùng ý chí chủ quan và duy tâm
Xây dựng các quy ước nếp sống trong ngành, giới, địa phương Quyước là công cụ chỉ đạo từng mặt của cuộc vận động xây dựng nếp sống Vídụ: Quy ước về việc cưới, quy ước về tang, quy ước về mở hội truyền thống,quy ước về gia đình văn hóa, quy ước về xây dựng làng văn hóa, quy ước vềmừng thọ, khuyến học, khuyến tài…
Thực hiện phương châm: tích cực, thận trọng, khẩn trương, kiên trì,liên tục
Những thói quen đã hình thành từ xã hội cũ, đã trở thành “nếp” trongmỗi người Xóa nếp cũ, tạo nếp mới không phải là việc làm đơn giản, chỉ nói
và làm một hai lần, mà phải kiên trì, không thể nóng vội, nhưng phải rất khẩntrương Nền văn hóa mới, phong tục tập quán tốt đẹp có thể chưa thể hìnhthành ngay trong một thời gian ngắn Trong khi đó “nếp sống cũ”, hủ tục cũlạc hậu vẫn còn tồn tại và mâu thuẫn với nền văn hóa tiên tiến nên mọi việclàm của chúng ta phải hết sức tích cực, thận trọng, kiên trì và liên tục
Trang 40Tạo dư luận xã hội có tác động rất mạnh trong việc giáo dục nếp sống.Phải dùng dư luận xã hội để điều chỉnh hành vi cá nhân- dùng dư luận để cangợi cái hay, cái đẹp, cái cao thượng trong nếp sống hàng ngày và lên ánnhững hành vi sai trái, tiêu cực (Báo chí, tác phẩm nghệ thuật như: Âm nhạc,điện ảnh, kịch nói, sân khấu… phản ánh cái hay, phê phán nhắc nhở nhữnghành vi tiêu cực thể hiện trong lối sống, nếp sống hàng ngày…) Phương phápgiáo dục nếp sống văn hóa cho cộng đồng dân cư cần chú trọng việc xây dựnglối sống, nếp sống, phong tục tập quán là công việc liên quan đến nhiềungười, nhiều gia đình, nhiều ngành, nhiều cấp là mối quan tâm của toàn xãhội Vì vậy cấp uỷ Đảng và các cấp phải trực tiếp chỉ đạo, chính quyền cáccấp là người tổ chức thực hiện, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch thammưu tổ chức thực hiện và có sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể và sựhưởng ứng thực hiện của các tầng lớp nhân dân Công tác xây dựng lối sốngvăn hóa, nếp sống, xây dựng phong tục tập quán tốt đẹp phù hợp với truyềnthống dân tộc là mối quan tâm của mọi người, mọi nhà, mọi ngành, mọi cấp.Nhận thức đầy đủ, có kế hoạch sát hợp với từng cơ sở, cuộc vận động nàynhất định sẽ thu được kết quả.
Giáo dục nếp sống văn hóa cho người dân phải kiên trì, lâu dài (khôngthể một sớm một chiều) nhưng phải rất tích cực, khẩn trương,đồng bộ Thựchiện việc giáo dục nếp sống có văn hóa đòi hỏi việc xây và chống, lấy biệnpháp vận động giáo dục là chủ yếu, lấy xây là chính, xây là lâu dài, xây làkết hợp chống, phải luôn luôn được củng cố, hoàn thiện và phát triển khôngngừng Công tác xây dựng nếp sống văn hóa phải có những cán bộ văn hóa
có trình độ nghiên cứu và am hiểu công tác chỉ đạo cơ sở Cán bộ trực tiếplàm công tác này phải được trang bị những kiến thức cơ bản các vấn đề vềbản sắc văn hóa dân tộc, về lối sống, nếp sống, phong tục tập quán, các vấn
đề tôn giáo, về tín ngưỡng, về văn hóa dân gian, về văn hóa nghệ thuật, về