Nhằm tìm hiểu sự vận dụng khéo léo của các chủ đầu tư trong việc đưa văn hóa dân gian Việt Nam vào các khu du lịch văn hóa, cũng như có cái nhìn thực tế khi những ý tưởng đó thu hút được
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HỌC & NGÔN NGỮ
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CẤP TRƯỜNG NĂM 2011
SỰ VẬN DỤNG VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM VÀO VIỆC XÂY
DỰNG CÁC KHU DU LỊCH VĂN HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện:
Chủ nhiệm: Lê Huỳnh Minh Hiếu – Văn học 2009A (2009-2013)
Thành viên: Trần Phương Vi – Văn học 2010B (2010-2014)
Giảng viên hướng dẫn: CN Lê Thị Thanh Vy
Chuyên môn: Văn hóa dân gian – Khoa Văn học & Ngôn ngữ
Trang 2MỤC LỤC
TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP 10
1.1 Văn hóa dân gian và Văn hóa dân gian Việt Nam 10
1.2.Khu du lịch văn hóa và các khu du lịch văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh 13
CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH VẬN DỤNG VĂN HÓA DÂN GIAN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC KHU DU LỊCH VĂN HÓA TẠI 19
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 19
2.1 Khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” 20
2.2 Công viên văn hóa “Đầm Sen” 21
2.3 Khu công viên “Lich sử-Văn hóa dân tộc” (Khu tưởng niệm các vua Hùng) 22
2.4 Khu du lịch làng nghề “Một thoáng Việt Nam” 27
2.5 Khu du lịch sinh thái “Văn hóa dân tộc thiểu số” 28
CHƯƠNG 3 : SỰ VẬN DỤNG VĂN HÓA DÂN GIAN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC KHU DU LỊCH VĂN HÓA DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH 31
3.1 Văn hóa dân gian và kiến trúc 31
3.2 Văn hóa dân gian và sân khấu 44
3.3 Văn hóa dân gian và trò chơi hiện đại 52
CHƯƠNG 4: SỰ VẬN DỤNG VĂN HÓA DÂN GIAN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC KHU DU LỊCH VĂN HÓA DƯỚI GÓC NHÌN TIẾP NHẬN 56
4.1 Tiếp nhận văn hóa dân gian từ khía cạnh đạo đức 58
4.2 Tiếp nhận văn hóa dân gian từ khía cạnh giải trí 63
4.3 Tiếp nhận văn hóa dân gian từ mục đích giáo dục ý thức quần tộc, lòng yêu nước 65
4.4 Tiếp nhận văn hóa dân gian từ khía cạnh tín ngưỡng, tâm linh 69
4.5 Tiếp nhận văn hóa dân gian từ khía cạnh tri thức 73
KẾT LUẬN VÀ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC 82
Trang 3TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử, cho đến nay, ngành du lịch
ở nước ta đã và đang có những bước phát triển mới theo những chiều hướng tích cực Đặc biệt khi loại hình du lịch văn hóa ra đời đã góp phần đưa ngành du lịch ở nước ta lên một vị thế cao hơn.Hiện nay, du lịch văn hóa đang là xu hướng chính trong việc mang lại giá trị tinh thần đối với các nước đang phát triển, đặc biệt là ở Việt Nam Chính vì thế, ý tưởng xây dựng các khu du lịch mà trong đó có sự vận
dụng văn hóa truyền thống dân tộc (hay còn gọi là văn hóa dân gian) luôn là nội
dung chính đối với các nhà đầu tư xây dựng
Nhằm tìm hiểu sự vận dụng khéo léo của các chủ đầu tư trong việc đưa văn hóa dân gian Việt Nam vào các khu du lịch văn hóa, cũng như có cái nhìn thực tế khi những ý tưởng đó thu hút được du khách trong và ngoài nước, nhóm chúng tôi
đã mạnh dạn chọn đề tài “Sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện nghiên
cứu khoa học sinh viên năm nay
Đề tài tìm hiểu cách thức vận dụng văn hóa dân gian trong các khu du lịch
văn hóa và các mối quan hệ giữa lý thuyết văn hóa dân gian (tác phẩm văn học) và
văn hóa dân gian ở công trình thực tế
Để thực hiện công trình, chúng tôi khảo sát các khu du lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh Đưa ra kết quả đánh giá chung về các phương thức vận dụng văn hóa dân gian trong việc xây dựng các khu du lịch văn ở thành phố Hồ Chí Minh
Với đề tài nghiên cứu khoa học này, nhóm chúng tôi đã triển khai được những vấn đề cơ bản, tất yếu trọng tâm của vấn đề và đã thu được những kết quả như sau: Đầu tiên, chúng tôi đi tìm hiểu về định nghĩa văn hóa dân gian cũng như văn hóa dân gian Việt Nam và các thành phần cấu thành nên chúng để giải thích được các loại hình văn hóa dân gian được vận dụng trong các khu du lịch văn hóa
Trang 4Đồng thời, với những điều kiện thuận lợi về đời sống kinh tế, tinh thần, đặc điểm
vị trí địa lý, dân cư cũng đã góp phần không nhỏ trong việc hình thành nên các khu
du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh Từ đó, chúng tôi đi tìm hiểu tình hình vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa tại thành phố
Hồ Chí Minh, nêu được cái nhìn bao quát nhất về tình hình vận dụng văn hóa dân gian tại các khu du lịch này
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tìm hiểu về sự vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu du lịch dưới góc nhìn so sánh Bằng phương pháp so sánh thực tế và trên lý thuyết, đề tài chỉ ra được những mối quan hệ mật thiết, đan xen nhau giữa văn hóa dân gian với các công trình kiến trúc, giữa văn hóa dân gian với sân khấu cũng như giữa văn hóa dân gian với các trò chơi hiện đại tại các khu du lịch văn hóa Cuối cùng, chúng tôi tìm hiểu về sự vận dụng văn hóa dân gian vào các khu du lịch văn hóa dưới góc nhìn tiếp nhận Ở phần này, chúng tôi tìm những khía cạnh được tiếp nhận từ đối tượng chủ đầu tư và đối tượng khách du lịch trên phương diện: đạo đức, giải trí, ý thức quần tộc, lòng yêu nước, yếu tố tín ngưỡng, tâm linh, tri thức dân gian
Có thể nói, đề tài sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam tại các khu du
lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh đã nêu lên được: du lịch văn hóa đang là
xu hướng quan trọng hiện nay Đồng thời, việc vận dụng văn hóa dân gian vào các
khu du lịch văn hóa sẽ tác động trực tiếp đến nhận thức, ý thức của mỗi người dân
Việt Nam (khách tham quan) trong quá trình giữ gìn, bảo tồn và phát huy tinh hoa
văn hóa dân gian của dân tộc
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa dân gian Việt Nam là một loại hình văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, được hình thành từ lâu đời và phát triển qua các giai đoạn lịch sử Văn hóa dân gian người Việt phản ánh toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, được cấu thành từ các thành tố: ngữ văn dân gian (thần thoại, truyền thuyết, sử thi, cổ tích, truyện cười, ca dao, dân ca…), tạo hình dân gian (các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa…) diễn xướng dân gian (âm nhạc, sân khấu, )
Đó là tri thức quý giá của quần chúng nhân dân trong mối quan hệ hữu cơ giữa con người và thiên nhiên, giữa con người và xã hội từ xa xưa
Văn hoá dân gian Việt Nam tồn tại muôn màu trong cuộc sống của cộng đồng dân tộc Là người dân Việt Nam, chúng ta chắc hẳn đã từng được ông bà kể cho nghe những câu chuyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết…, khi đi học chúng
ta được biết nhiều tầng ý nghĩa sâu sa văn hóa dân tộc dưới góc nhìn khoa học, hay chúng ta đã từng một lần tham gia lễ hội dân gian của địa phương, hoặc các vùng miền khác trên đất nước Thế nhưng, xã hội ngày càng phát triển, những giá
trị văn hóa nước nhà đang dần “hòa tan” với các luồng văn hóa ngoại lai Chính vì
thế mà không gian lưu giữ các vẻ đẹp của văn hóa dân gian Việt đang dần bị quên lãng, nhường chỗ cho công trình xây dựng các nhà cao tầng để hoàn thiện bộ mặt
đô thị
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa lớn của cả nước Do vậy muốn phát triển đô thị bền vững ngoài việc đầu
tư cho các hạng mục công trình xã hội, các dự án hợp tác kinh doanh thì vấn đề ưu
tiên hàng đầu là xây dựng các khu du lịch văn hóa (mà đặc biệt là vận dụng văn hóa dân gian trong xây dựng) quan trọng hơn cả Chính việc ưu tiên ấy, tạo tiền đề
đưa không gian văn hóa dân tộc phát triển, là môi trường tiếp cận văn hóa dân gian một cách đa dạng và phong phú cho người dân nhằm bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc
Trang 6Đi nghiên cứu sự vận dụng, các giá trị văn hóa dân gian Việt Nam của các khu du lịch là một việc làm cần thiết trong thời hiện nay Vì nó vừa mang tính tổng quan quá trình vận dụng nét đẹp trong dân gian của các khu du lịch; mặt khác, chính công việc nghiên cứu này làm tiền đề cho các chủ đầu tư xây dựng có cái nhìn đa chiều hơn trong việc vận dụng văn hóa dân gian vào các công trình tiếp theo Ngoài ra, đề tài còn là tư liệu đầy đủ cho sự giải thích, so sánh các công
trình xây dựng tại khu du lịch theo “nguyên mẫu” được vận dụng từ văn hóa dân
gian người Việt đến với bạn đọc và khách tham quan
Vì thế, chúng tôi chọn đề tài “Sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” qua đó
nhắc nhở các thế hệ trẻ Việt Nam phải biết quý trọng, gìn giữ và phát triển nền văn hóa dân gian đậm đà bản sắc của dân tộc
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Văn hóa dân gian Việt Nam được nhiều chuyên gia văn hóa trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Từ những kết quả nghiên cứu đó, nhiều công trình khoa học được công bố Có thể điểm qua một số công trình tiêu biểu của một số tác giả sau:
Những công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà khoa học khi thực hiện các công trình về Văn hóa dân gian Việt Nam Do trình độ ngoại ngữ có hạn, nên chúng tôi không đề cập trong tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở trong nước có nhiều công trình khoa học, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ viết về Văn hóa dân gian nói chung và Văn hóa dân gian Việt Nam nói riêng Một
số công trình đáng chú ý như: Chu Xuân Diên (2004), Mấy vấn đề văn hóa và văn học dân gian Việt Nam, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, Tp Hồ Chí Minh; Đinh Gia Khánh (1989), Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb KHXH, Tp Hồ Chí Minh; Chu Xuân Diên (2006), Văn hóa dân gian – Mấy vấn đề phương pháp
Trang 7luận và nghiên cứu thể loại văn nghệ dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội,
Dựa trên các công trình nghiên cứu về văn hóa, văn hóa dân gian và văn hóa dân gian Việt Nam, chúng tôi đã có những tiền đề, cơ sở lý luận bước đầu thuận tiện
để áp dụng cho việc nghiên cứu Đề tài “Sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” là một
khía cạnh nghiên cứu mới và rất cần thiết mà chúng tôi mong muốn thực hiện
3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
hóa dân gian của chủ đầu tư dưới góc nhìn so sánh từ “mẫu” văn hóa
dân gian với thực tế công trình được tái hiện và góc nhìn tiếp nhận từ
hai đối tượng (chủ đầu tư và du khách tham quan) Chính những khu du
lịch văn hóa đã làm nổi bật những giá trị văn hóa dân gian dân tộc, qua
Trang 8đó, giáo dục thế hệ trẻ Việt Nam phải biết bảo tồn, giữ gìn và phát triển những giá trị văn hóa đặc sắc ấy
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được những mục đích trên, chúng tôi đặt ra các nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu các định nghĩa, khái niệm, các công trình nghiên cứu của các học giả về Văn hóa dân gian và Văn hóa dân gian Việt Nam để có cái nhìn khoa học, chính xác làm cơ sở lý luận cho đề tài
- Tìm hiểu sơ lược về thành phố Hồ Chí Minh trên các khía cạnh như dân
số, chính trị, kinh tế-xã hội, văn hóa Nghiên cứu khái niệm Khu du lịch văn hóa và giới thiệu tổng quan các khu du lịch văn hóa tại thành phố
Hồ Chí Minh làm nên tảng cho đề tài
- Khảo sát các khu du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh để thấy được tình hình vận dụng văn hóa dân gian trong việc xây dựng các hạng mục công
trình: khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”, công viên văn hóa “Đầm Sen”, khu công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” (Khu tưởng niệm các vua Hùng) Khu du lịch làng nghề truyền thống “Một thoáng Việt Nam” Khu du lịch sinh thái “Văn hóa dân tộc thiểu số”
- Chúng tôi nghiên cứu sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam trong xây dựng các công trình tại khu du lịch văn hóa dưới góc nhìn so sánh Đề tài khảo sát, tìm hiểu, phân loại, đối chiếu so sánh những công trình tại các khu du lịch theo kiến trúc, sân khấu hóa và các trò chơi hiện đại với các bộ phận hiện diện trong văn hóa dân gian Việt Nam
- Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam trong xây dựng các công trình tại khu du lịch văn hóa dưới góc nhìn tiếp cận của chủ đầu tư và du khách Để làm được điều đó, chúng tôi khảo sát, tìm hiểu quá trình tiếp nhận của hai đối tượng trên về các phương diện đạo đức, giải trí, nêu cao ý thức quần tộc, lòng yêu nước, tín ngưỡng, tâm linh và tri thức dân gian
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nói đến “Sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh” Để thực hiện đề tài này
chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp như sau:
- Phương pháp miêu tả: Yếu tố miêu tả được đề cập xuyên suốt trong đề tài nhằm phản ánh chân thật các khía cạnh trong khi nghiên cứu
- Phương pháp so sánh: Nhằm tìm hiểu sự giống và khác nhau giữa văn hóa dân gian có từ lâu đời và các hạng mục công trình được xây dựng hiện nay
- Phương pháp tiếp nhận: Tìm hiểu đối tượng tiếp nhận từ Văn hóa dân
gian và quá trình tiếp nhận của các đối tượng (đối tượng vận dụng và đối tượng thụ hưởng)
- Phương pháp tra cứu thông tin: Trên cơ sở các tài liệu Văn hóa dân gian thu thập được, từ các công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước như: luận án, luận văn, sách, báo, các tạp chí,…Chúng tôi tổng hợp, phân loại, chọn lọc những lý thuyết nền cơ bản trong khả năng có thể để đưa vào trong đề tài của mình những nội dung cần thiết về tổng quan thành phố Hồ Chí Minh, định nghĩa, thể loại, đặc trưng của Văn hóa dân gian Việt Nam, khái niệm khu du lịch văn hóa, và các lý luận cần thiết cho việc phân tích khía cạnh so sánh, tiếp nhận của đề tài
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: vận dụng phương pháp này để giải thích về mối quan hệ giữa Văn hóa dân gian Việt Nam với dân tộc học,
xã hội học, văn học, tôn giáo học
5 Giới hạn của đề tài:
Về định nghĩa một khu du lịch, điều bốn của Luật du lịch nêu: “Khu du lịch
là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp
Trang 10ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”1
Du lịch văn hóa chính là mô hình thu nhỏ các hoạt động văn hóa, văn nghệ, nhằm lưu giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc Từ đó, ta
có thể hiểu Khu du lịch văn hóa là nơi có những công trình, hoạt động về văn hóa, nghệ thuật, được đầu tư xây dựng, phát triển trên tinh thần gìn giữ tinh hoa văn hóa đất nước
Xét qua tiêu chuẩn của một Khu du lịch văn hóa, khái niệm du lịch văn hóa của Luật du lịch Việt Nam, và căn cứ theo các định nghĩa về văn hóa dân gian Việt Nam của các chuyên gia, đồng thời dựa vào quá trình khảo sát các Khu du lịch trên địa bàn thành phố, chúng tôi giới hạn đối tượng nghiên cứu của đề tài qua năm Khu du lịch sau:
- Khu du lịch văn hóa “Suối tiên”
- Công viên văn hóa “Đầm sen”
- Khu du lịch “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” (Khu tưởng niệm các vua Hùng)
- Khu du lịch sinh thái “Văn hóa dân tộc thiểu số”
- Khu du lịch làng nghề “Một thoáng Việt Nam”
6 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài mang tính chất tổng quan tình hình vận dụng các giá trị vô giá của Văn hóa dân gian Việt Nam vào việc xây dựng các Khu du lịch văn hóa tại thành phố
Hồ Chí Minh dưới góc nhìn so sánh, và tiếp nhận
7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
7.1 Về lý luận: Đề tài là cơ sở lý luận cho việc vận dụng các giá trị văn
hóa dân gian vào trong mô hình kinh doanh của các Khu du lịch
1
Luật du lịch do Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 phê chuẩn có hiệu lực từ ngày 1/1/2006
Trang 11Công trình là cơ sở lý thuyết cho người đọc, muốn tìm hiểu về yếu tố
tiếp nhận Văn hóa dân gian tại các Khu du lịch
7.2 Về thực tiễn: đề tài là tư liệu tham khảo cho người đọc, khách tham
quan khi bước đầu muốn tìm hiểu sự vận dụng Văn hóa dân gian trong xây dựng các công trình tại Khu du lịch Văn hóa tại thành phố
Hồ Chí Minh
8 Kết cấu của đề tài
Riêng phần dẫn nhập và kết luận, đề tài còn có 3 phần sau:
Chương 1: Dẫn nhập
Chương này gồm 7 trang, từ trang 10 đến trang 19
Chương 2: Tình hình vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu
du lịch văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương này gồm 11 trang, từ trang 20 đến trang 31
Chương 3:Sự vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa dưới góc nhìn so sánh
Chương này gồm 24 trang, từ trang 32 đến trang 56
Chương 4:Sự vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa dưới góc nhìn tiếp cận
Chương này gồm 18 trang, từ trang 58 đến trang 76
Ngoài ra, sau phần chính văn đề tài còn có phần phụ lục hình ảnh gắn với các công trình văn hóa dân gian tại các Khu du lịch văn hóa mà chúng tôi đã khảo sát
Trang 12CHƯƠNG 1: DẪN NHẬP
1.1 Văn hóa dân gian và Văn hóa dân gian Việt Nam
1.1.1 Văn hóa dân gian
Theo định nghĩa về Văn hóa dân gian (folklore) của UNESCO thì “Văn hóa dân gian theo nghĩa rộng là văn hóa truyền thống được phổ biến rộng rãi trong nhân dân, là sáng tác để định hướng cho một nhóm người nào đó và được hình thành theo truyền thống của các nhóm người, các thành viên, phản ánh sự chờ đợi, niềm hy vọng của cộng đồng trong những biểu hiện tương ứng với nó về nhận thức xã hội và văn hóa Các quy tắc, các giá trị của văn hóa dân gian được truyền đạt qua truyền miệng, mô phỏng hoặc bằng những con đường khác Hình thức của
nó là ngôn từ, âm nhạc, vũ đạo, trò chơi, thần thoại, phong tục, nghi lễ, nghề thủ công, kiến trúc và các loại nghệ thuật khác”(1)
Và trong từ điển Bách Khoa có viết rằng: “Văn hóa dân gian là bộ phận của văn hóa dân tộc bao gồm văn học dân gian (ca dao, dân ca, truyện cổ tích, thần thoại, truyền thuyết, truyện cười…), nghệ thuật dân gian (ca múa nhạc dân gian, tranh dân gian, phong tục, tập quán, đạo đức, lễ nghi thịnh thành trong dân gian…)”(2)
Với PGS.TS Ngô Đức Thịnh thì ông đã nhìn nhận một cách đơn giản hơn,
đó là:“Văn hóa dân gian là một thực thể sống nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động”(3)
Và theo ý kiến của GS Đinh Gia Khánh thì: “Văn hóa dân gian (folkculture) là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ những sáng tạo của nhân dân lao động, nhằm đáp ứng nhu cầu mọi mặt trong đời sống trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội Văn hóa dân gian gồm hai bộ
Ngô Đức Thịnh, Văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc, Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa Việt
Nam, NXB Khoa học xã hội, 2006
Trang 13phận chính: vật chất (nhà, thuyền, các công trình kiến trúc…) và tinh thần (phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo lễ hội…) Theo quan niệm văn hóa là một hệ thống, thì văn hóa dân gian bao gồm ba thành tố chính cấu tạo thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian (ngôn từ, văn học dân gian); nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc, hội họa…); nghệ thuật diễn xướng dân gian (âm nhạc, sân khấu, lễ nghi, múa…).”(1)
Vì có nhiều định nghĩa khác nhau như vậy, nên chúng tôi thống nhất chọn quan điểm về Văn hóa dân gian sau: Văn hóa dân gian là một khái niệm trong phạm trù văn hóa dùng để chỉ toàn bộ những sáng tạo của nhân dân lao động, sinh hoạt cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu mọi mặt trong đời sống trên cơ sở mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội Văn hóa dân gian
gồm hai bộ phận chính: vật chất và tinh thần Theo quan niệm văn hóa là một hệ
thống, thì văn hóa dân gian bao gồm 3 thành tố chính cấu tạo thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian
1.1.2 Văn hóa dân gian Việt Nam
Văn hóa dân gian Việt Nam là nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Như
PGS.TS Ngô Đức Thịnh đã từng viết: “Việt Nam là một trong các quốc gia Đông Nam Á có những nét văn hóa dân gian đặc trưng Đó là truyền thống văn hóa truyền miệng, khác với Trung Quốc và Ấn Độ là văn hóa truyền thống và chữ viết”(2) Ngôn từ truyền miệng ở văn hóa dân gian đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các tác phẩm và thế giới nghệ thuật trong các tác phẩm đó, đồng thời, cũng phản ánh hiện thực đời sống và ước mơ của người dân
Văn hóa dân gian Việt Nam là một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng bởi sự kết hợp hài hòa giữa các bản sắc văn hóa của 54 dân tộc anh em, trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số Nét đặc trưng của văn hóa dân gian Việt Nam là sự hòa
(1)
Đinh Gia Khánh, Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, NXB KHXH, 1989
(2)
Ngô Đức Thịnh, Văn hóa dân gian với đời sống xã hội, Văn hóa, Văn hóa tộc người và Văn hóa Việt
Nam, NXB Khoa học xã hội, 2006
Trang 14quyện bình đẳng, phát triển độc lập của văn hóa các dân tộc sinh sống trên cùng một lãnh thổ Hơn 50 dân tộc đều mang những giá trị và bản sắc văn hóa dân gian đặc trưng, không có sự kì thị giữa các nền văn hóa Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, góp phần xây dựng nên một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc
Văn hóa dân gian Việt Nam cũng bao gồm ba thành tố chính cấu tạo thành: nghệ thuật ngữ văn dân gian, nghệ thuật tạo hình dân gian và nghệ thuật diễn xướng dân gian
Nghệ thuật ngữ văn dân gian bao gồm: tự sự dân gian, trữ tình dân gian và lời nói dân gian Trong đó, tự sự dân gian gồm các thể loại như: thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi và truyện thơ Ví dụ như: truyền
thuyết “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, truyện cổ tích “Tấm Cám”, sự tích “Núi vàng – Núi bạc”, sử thi “Đẻ đất đẻ nước”, sử thi “Đăm Săn”,… Trữ tình dân gian bao
gồm ca dao, dân ca với những câu hát quen thuộc được lưu truyền trong dân gian
Và cuối cùng là thành ngữ, tục ngữ là những câu nói ngắn gọn và súc tích, được đúc kết từ kinh nghiệm của nhân dân lao động
Nghệ thuật tạo hình dân gian bao gồm kiến trúc dân gian (nhà Rông, nhà
mồ của người Tây Nguyên, đình làng, nhà truyền thống các vùng miền, chùa miếu,…); hội họa dân gian và trang trí dân gian (tranh Đông Hồ, những họa tiết trên bề mặt trống Đồng, tranh Tố Nữ,…)
Với nghệ thuật diễn xướng dân gian, mỗi miền đất nước (3 miền) sẽ có những loại hình đặc trưng như: ở miền Bắc sẽ có tuồng, chèo, hát quan họ, hát trống quân,…Ở miền Trung có hò (hò trên cạn, hò trên sông nước), các loại lý (lý tang tịt, lý con chuồn chuồn,…) và các loại hát trong đó hát ru là phổ biến nhất Và
ở miền Nam có đờn ca tài tử, cải lương,vv…
Văn hóa dân gian Việt Nam còn bao gồm cả những lễ hội dân gian lớn và
quen thuộc như: lễ hội “Đền Hùng”, lễ hội “Chùa Hương”, lễ hội “Đâm trâu”, lễ
Trang 15hội “Đua voi”, lễ hội “Đua thuyền”, lễ hội “Bà Chúa Xứ”,… Sự đa dạng và phong
phú của các lễ hội văn hóa dân Việt Nam đã làm toát lên vẻ đẹp mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Đồng thời, đây cũng là điểm hấp dẫn khách tham quan du lịch
1.2.Khu du lịch văn hóa và các khu du lịch văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh
1.2.1 Tổng quan về thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất so với các tỉnh thành khác trên cả nước, đồng thời, cũng là khu vực kinh tế trọng điểm và trung tâm văn hóa, giáo dục quan trọng tại Việt Nam Nằm ngay trung tâm giao lưu văn hóa của khu vực Đông Nam Á, thành phố Hồ Chí Minh không những là đầu mối giao thông nối liền các vùng trong tỉnh mà còn là cửa ngõ Quốc tế cực kì quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương và buôn bán với các nước trong khu vực
và trên thế giới
Thành phố Hồ Chí Minh là nơi thu hút rất đông nguồn lao động Vì thế, dân
cư tại thành phố đang có xu hướng ngày càng gia tăng Theo số liệu thống kê cho thấy, đến ngày 01 tháng 04 năm 2010 thì dân số tại thành phố Hồ Chí Minh đã đạt
đến con số là 7.382.287 người(1) Các chuyên gia và các nhà nghiên cứu khoa học
đã cho rằng, dựa vào lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, trong mọi hình thái kinh tế - văn hóa - xã hội thì dân số luôn là động lực chính và là trung tâm của sự phát triển(2), đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến truyền thông và du lịch
Từ sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, thành phố Hồ Chí Minh cùng với cả nước đã có những bước tiến đổi mới quan trọng Kinh tế Thành phố ngày càng phát triển cùng với cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch hợp lý theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thành phố chú trọng phát triển các ngành
Trang 16kinh tế trọng điểm, cơ sở hạ tầng ngày càng được cải thiện thu hút rất đông các nhà đầu tư trong và ngoài nước Môi trường kinh doanh ngày càng được cải tiến thể hiện rõ sự năng động, sáng tạo của mọi người dân Tỷ trọng GDP của thành phố luôn chiếm phần lớn tỷ trọng GDP của cả nước(1)
Kinh tế phát triển sẽ thúc đẩy đời sống tinh thần của người dân ngày càng phát triển Những giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp luôn được giữ gìn và phát huy qua nhiều thế hệ Bên cạnh đầu tư phát triển kinh tế, thành phố còn đầu tư phát triển nền văn hóa giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh là nơi tổ chức rất nhiều các lễ hội văn hóa, truyền thống, cũng là nơi thực hiện rất tốt các chính sách xóa đói giảm nghèo, hiến máu nhận đạo, chính sách hỗ trợ đối với những người có công với Cách mạng(2)
1.2.2 Khu du lịch văn hóa
Trong một vài năm qua, nước ta đã đưa ra một ý kiến rất xác thực Đó là sự
ẩn mình tiềm tàng của văn hóa bên trong du lịch, vừa là mục tiêu mang tính định hướng, vừa là một quan điểm để đưa ra khẳng định rằng, văn hóa là nội dung, là bản chất, là nền tảng để xây dựng nên những thành phần chính của du lịch Việt Nam Nó đã góp phần tạo nên tính hấp dẫn, đa dạng, độc đáo và đặc sắc, góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành du lịch Việt Nam, cũng như, đưa hình ảnh của Quốc gia đến với bạn bè các nước trong khu vực
Về khái niệm khu du lịch thì trong điều bốn của Luật du lịch có viết: “Khu
du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường”(3) Theo đó, khu
Trang 17du lịch nào càng có nhiều tài nguyên du lịch hấp dẫn, mang tính cạnh tranh cao cũng như thu hút được đông đảo lượng khách tham quan, sẽ mang tính hấp dẫn du lịch bấy nhiêu
Hiện nay, du lịch văn hóa đang là xu hướng, là đề tài hấp dẫn thu hút rất nhiều sự quan tâm đối với các nước đang phát triển Vì nó đem lại nguồn giá trị rất lớn cho cộng đồng xã hội, nên loại hình du lịch này đang được áp dụng triển khai
ở các nước trên Thế giới, trong đó có Việt Nam Như nhà văn Nguyên Ngọc đã
từng nói: “Du lịch bao giờ cũng là văn hóa, là trao đổi văn hóa Du lịch rất cần tìm hiểu cho ra sự chuyển động và hình thành văn hóa mới của chuyển động đó trên vùng đất này để làm món “hàng độc” của mình Hướng đi mới, theo tôi, chính là một hướng đi văn hóa, theo nghĩa sâu xa và cũng rất thời sự của văn hóa”(1) Theo đó, “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”(2) Như vậy, đại ý, du lịch văn hóa chính là một mô hình thu nhỏ các hoạt động văn hóa, văn nghệ, nhằm lưu giữ những giá trị vật chất và tinh thần được lưu giữ qua nhiều thời kỳ khác nhau và cũng nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống để giới thiệu cho người dân trong và ngoài nước
Như khái niệm đã nói ở trên thì một địa điểm tham quan du lịch cần những điều kiện sau đây để trở thành khu du lịch quốc gia(3):
Một là, có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan
thiên nhiên, có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao
Hai là, có diện tích tối thiểu một nghìn héc ta, trong đó có diện tích cần
thiếtđể xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch phù hợp với cảnh quan, môi
Trang 18trường của khu du lịch; trường hợp đặc biệt mà diện tích nhỏ hơn thì cơ quan quản
lý nhà nước về du lịch ở Trung ương trình Thủ tướng chính phủ xem xét, quyết định
Ba là, có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch đồng bộ, có khả
năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm, trong đó có
cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của khu du lịch
Còn đối với khu du lịch địa phương thì yêu cầu sẽ đơn giản hơn hay thấp hơn khu du lịch quốc gia một vài chi tiết như: không cần quá nhiều diện tích đất để xây dựng (khoảng hai trăm hécta), trong đó, phải phân bổ đều cho việc xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch Và cũng như khu du lịch quốc gia, khu du lịch địa phương cũng cần có nguồn tài nguyên hấp dẫn du lịch, đồng thời, cũng cần có cơ sở hạ tầng, vật chất – kỹ thuật tốt, đảm bảo phục vụ cho lượng khách du lịch hằng năm(1)
Nhìn chung, tất cả những yêu cầu trên chỉ là những đặc trưng mang tính hình thức Bởi chỉ cần có diện tích tốt, vốn đầu tư cao, và những ý tưởng sáng tạo độc đáo của người thiết kế, với chủ thể lạ mắt thu hút được mọi người, là có thể thành lập nên một khu du lịch
1.2.3 Khu du lịch văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh
Không mang trong mình nét cổ kính của thủ đô Hà Nội, cũng không toát lên mình vẻ đẹp trầm lặng như cố đô Huế, thành phố Hồ Chí Minh chứa đựng trong nó các giá trị văn hóa nhân văn, văn hóa lịch sử được gìn giữ và lưu truyền suốt cả một thời gian dài Đồng thời, nó cũng là kết tinh và sự thăng hoa từ sự giao thoa giữa các nền văn hóa khác nhau trên nền tảng bản sắc văn hóa dân tộc, làm cho thành phố ở phía Nam của tổ Quốc mang vẻ đẹp rực rỡ, trẻ trung và hiện đại
(1)
Điều 23, Luật du lịch do Quốc Hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 phê chuẩn có hiệu lực từ ngày 1/1/2006
Trang 19Hiện nay, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng hơn 14 khu du lịch văn hóa Nhưng căn cứ vào định nghĩa về Khu du lịch trong Luật du lịch Việt Nam và mô hình vận dụng văn hóa dân gian của từng Khu du lịch, nhóm nghiên cứu chúng tôi
khảo sát qua năm khu, đó là : công viên văn hóa Đầm Sen, khu du lịch văn hóa Suối Tiên, khu công viên Lịch sử-Văn hóa dân tộc (quận 9), khu du lịchsinh thái Văn hóa các dân tộc thiểu số Củ Chi và khu du lịch làng nghề Một Thoáng Việt Nam (Củ Chi) Qua đó, những đặc điểm cơ bản của các khu du lịch đã thể hiện
được nét đặc trưng của nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam
Khu du lịch văn hóa Suối Tiên thuộc địa bàn quận 9, thành phố Hồ Chí
Minh Suối Tiên được xây dựng nhằm phục vụ nhu cầu giải trí cho mọi du khách trong và ngoài nước, đồng thời, kết hợp giáo dục văn hóa lịch sử, nguồn cội dân
tộc Nét đặc sắc của khu du lịch văn hóa Suối Tiên là tính chất lịch sử và huyền
thoại lấy ý tưởng từ các truyền thuyết, huyền tích của dân tộc, tư tưởng triết học phương Đông Vẻ đẹp nên thơ kết hợp với không khí trong lành, trầm tĩnh của nơi đây đã khiến cho người dân thành phố cũng như du khách từ xa đến đây mãi lưu tâm về khu du lịch độc đáo mang đậm tính văn hóa lịch sử này
Công viên văn hóa Đầ m Sen nằm tại đường Hòa Bình, phường 3, quận 11,
thành phố Hồ Chí Minh Nếu Suối Tiên mang đậm tính văn hóa lịch sử dân tộc thì công viên văn hóa Đầm Sen lại là công viên hiện đại thuộc vào hàng bậc nhất tại thành phố Hồ Chí Minh Với kiến trúc là sự kết tinh hài hòa giữa hai nền văn hóa Đông – Tây, bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên trù phú, Đầm Sen ngẫu nhiên trở thành một ốc đảo xanh nằm giữa lòng thành phố
Là nơi tôn vinh các giá trị văn hóa dân tộc, Công viên Lịch sử-Văn hóa
dân tộc tọa lạc tại địa bàn quận 9 mang tính chất của một dự án lớn, được Nhà
nước quan tâm và đầu tư quy mô Công viên có tổng diện tích hơn 400 hecta được quy hoạch tổng thể với bốn khu: khu cổ đại, khu trung đại, khu cận hiện đại và khu sinh hoạt văn hóa vui chơi giải trí Hiện nay, công viên đã xây dựng hoàn tất khu
Trang 20trung tâm là khu vực đền tưởng niệm các vua Hùng với biểu tượng chim Lạc thấm nhuần bản sắc văn hóa dân tộc, khơi dậy tình cảm, lòng tự hào trong mỗi người dân đất Việt khi lui tới nơi này
Khu du lịch làng nghề Một Thoáng Việt Nam tọa lạc tại Bến Bò Cạp, ấp
Phú Bình, xã An Phú, huyện Củ Chi Đây là một quần thể làng nghề thủ công truyền thống, nằm cạnh rạch Bò Cạp, gần sông Sài Gòn Khu du lịch bao gồm nhiều hạng mục với một số khu tiêu biểu như: đền thờ đất nước, sa bàn nước Việt Nam, lầu vọng, ba khu tiêu biểu cho ba miền đất nước Bên cạnh đó là khu văn hóa ẩm thực, đảo nuôi chim thú tự nhiên, khu chợ hàng tiểu thủ công nghiệp, chợ trên sông, Ở đây, những người thợ thủ công, nghệ nhân thuộc nhiều dân tộc khác nhau, đến từ nhiều vùng miền khác nhau của Tổ quốc cùng lao động sản xuất trong một số nghề như : dệt thổ cẩm, đan lát tre nứa, gốm sứ, in khắc tranh Mọi
du khách khi đến đây sẽ lưu lại những ấn tượng sâu sắc về đất nước Việt Nam
Cách khu du lịch Một Thoáng Việt Nam không xa là khu du lịch sinh thái
Văn hóa các dân tộc thiểu số tại xã Nhuận Đức huyện Củ Chi Đến đây, du khách
không chỉ cảm nhận nét thanh bình hoang sơ của nơi đây mà còn chiêm ngưỡng những nét độc đáo của từng kiểu nhà, từng loại trang phục cùng những tín ngưỡng khác nhau của các dân tộc vùng núi Tây Nguyên Mọi người sẽ có dịp được hòa mình vào cuộc sống của những người dân tộc thiểu số, cũng như giúp bản thân có cái nhìn mới lạ, độc đáo từ những kiến trúc được các nghệ nhân, kiến trúc sư tái hiện lại
Tiểu kết: Nhìn chung qua năm Khu du lịch văn hóa tiêu biểu, tất cả đều có những
điểm chung là tái hiện lại những nét đẹp văn hóa truyền thống dân tộc, khơi dậy trong mỗi con người đất Việt lòng yêu nước, niềm tự hào về bản sắc văn hóa Việt Nam Và mỗi khu du lịch văn hóa sẽ mang trong mình một nét đẹp tiềm ẩn riêng
mà chỉ những ai đã từng lui tới những nơi này mới khám phá được hết vẻ đẹp của
nó
Trang 21CHƯƠNG 2 : TÌNH HÌNH VẬN DỤNG VĂN HÓA DÂN GIAN VÀO VIỆC
XÂY DỰNG CÁC KHU DU LỊCH VĂN HÓA TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GS Đinh Gia Khánh – nhà nghiên cứu văn hóa và văn học dân gian Việt
Nam đã tổng kết “Văn hóa dân gian có vai trò rất quan trọng, vì vậy việc tìm hiểu văn hóa dân gian có ý nghĩa rất lớn đối với việc tìm ra các phương sách nhằm thúc đẩy sự phát triển xã hội, góp phần vào việc giữ gìn và phát huy bản sắc của dân tộc Việt Nam”1 Vì thế ngoài việc nghiên cứu văn hóa dân gian từ sách vở, thầy cô, trường học, hay tìm hiểu văn hóa dân gian từ ông bà, cha mẹ qua lời kể, lối sống của gia đình, dòng họ là một việc làm tốt đẹp, đáng trân trọng Song, đất nước ngày càng phát triển, giao lưu quốc tế ngày được mở rộng, kéo theo là sự du nhập của vô số văn hóa ngoại lai tiêu cực Nó ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn hóa dân gian người Việt vốn có từ lâu đời
Nắm bắt khó khăn ấy, các Khu du lịch văn hóa ở thành phố Hồ Chí Minh,
tiêu biểu như: khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”, công viên văn hóa “Đầm Sen”, khu công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” (khu tưởng niệm các vua Hùng), khu du lịch sinh thái“Văn hóa các dân tộc thiểu số” Củ Chi, và Khu du lịch làng nghề“Một thoáng Việt Nam” đã vận dụng sáng tạo, có chọn lọc các tinh hoa văn
hóa dân gian dân tộc vào việc xây dựng các hạng mục, các công trình kiến trúc, thiết kế các lễ hội, trò chơi gian dân…nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám quá những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của người dân Mặt khác, việc vận dụng ấy còn quảng bá, giới thiệu cho bạn bè quốc tế biết về hình ảnh Việt Nam với nền văn hóa dân gian nhiều màu sắc, đa dạng, phong phú Qua đó, góp phần vào việc lưu giữ, bảo tồn, và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
1
Đinh Gia Khánh, Các tác phẩm được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, Trung tâm KHXH&NV Quốc Gia,
Nxb KHXH, Hà Nội, 2003
Trang 222.1 Khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”
Khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” tọa lạc ở 120 Xa lộ Hà Nội, phường Tân
Phú, Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh, với tổng diện tích 105 ha, vốn đầu tư là 150
triệu USD “Suối tiên” là một địa danh huyền thoại, một vùng đất hoang hóa, có
dòng suối thiên nhiên chảy qua tạo nên khung cảnh bồi lai tiên cảnh nơi hạ giới 1
“Lâm trại Suối tiên” là tên gọi đầu tiên của khu du lịch Suối Tiên bây giờ
Diện tích ban đầu của lâm trại chỉ có 2 ha đất hoang hóa, và một trại nuôi trăn nhỏ Các năm tiếp theo lâm trại mạnh dạn nuôi thêm các loài thú quý hiếm và trồng các loại cây ăn trái Giai đoạn 1989 đến 1991 những sản phẩm gỗ và hàng thủ công
mỹ nghệ của lâm trại được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm Đến năm
1992 cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước, lâm trại đã đầu tư xây dựng một khu du lịch tầm cỡ cả nước để phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của người dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận Từ đó, mà dự án Khu du lịch văn hóa
“Suối Tiên” đã trởthành hiện thực và các hạng mục công trình xây dựng để phục
vụ cho du lịch cũng từng bước hoàn thiện Ngày 02 tháng 09 năm 1995, nhân dịp
kỷ niệm lễ Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam, khu du lịch văn hóa Suối tiên chính thức mở cửa đón du khách gần xa
Qua chặng đường hình thành và phát triển khu du lịch văn hóa “Suối tiên”
phải đối diện với rất nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các khu du lịch khác
1
Trong ký ức của những người đầu tiên đến khai khẩn đất lập lâm trại, vẫn còn lưu giữ hình ảnh một vùng
đất hoang sơ giữa bộn bề đầm lầy, cây cỏ Ông Đinh Văn Vui – Chủ tịch hội đồng quản trị, Tổng Giám
Đốc Tập Đoàn Suối Tiên nhớ lại: “Tôi còn nhớ mãi ngày ấy, vào năm 1987, khi tôi đến đây khai khẩn đất
lập lâm trại, Suối Tiên vẫn còn là đồng ruộng, đầm lầy, rừng rậm và đã từng là căn cứ địa cách mạng thời kháng chiến chống Mỹ… Suối Tiên, cái tên nghe sao lạ quá! Tôi thử tìm hiểu mới biết Suối Tiên bắt nguồn nối tiếp suối Lồ Ồ (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương ngày nay) chảy ngầm trong lòng đất hàng chục km qua xa lộ Hà Nội và trồi lên mặt đất này, để rồi tiếp tục xuôi dòng đổ ra sông Đồng Nai Lúc đó, Suối Tiên còn cả một khu rừng đặc hữu, một khung cảnh thiên nhiên hiếm hoi còn sót lại Tại đây còn có một miếu thờ bảy cô gái ở ven suối có cùng tuổi rồng, tình cờ đến đây tắm và qui tiên ở đoạn suối sâu Dân trong vùng kể lại : “Bảy cô gái rất linh thiêng nên bà con thường xuyên nhang khói, phụng thờ" Phải chăng bảy
cô gái đã quy tiên trở nên linh thiêng thành tiên độ cho đời nên suối này có tên gọi là Suối Tiên và được lưu truyền đến ngày nay? Từ khung cảnh thiên nhiên và truyền thuyết ấy, ý tưởng xây dựng nơi đây thành một khu du lịch tầm cỡ quốc gia nung nấu tôi suốt ngày đêm…" Trích từ http://suoitien.com/?detail=Lich- su-hinh-thanh
Trang 23trên địa bàn thành phố Nhưng bằng sự định hướng và quyết tâm cao của lãnh đạo Khu du lịch, xây dựng một trung tâm du lịch tầm cỡ khu vực Cho nên, đến nay
“Suối tiên” luôn đổi mới liên tục qua việc cho ra mắt các công trình, mô hình tham
quan, vui chơi giải trí hiện đại dựa theo bản sắc văn hóa dân tộc, mà đặc biệt là sự vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam vào việc xây dựng các hạng mục
Tại khu du lịch văn hóa Suối tiên các công trình tham quan giải trí có dấu
ấn sử dụng văn hóa dân gian như: ở hạng mục kỳ quan nhân tạo thì có các công
trình: biển “Tiên Đồng – Ngọc Nữ”với truyền thuyết“Lạc Long Quân – Âu Cơ”, thánh tượng “Thiên Thủ Thiên Nhãn”, “Long hoa thiên bảo”, “Tứ Linh hội tụ”,
“Núi vàng núi bạc”, Đền thờ vua Hùng…, ở hạng mục trò chơi cảm giác mạnh: Bí mật“Cổ Loa thành”, “Kỳ Lân Cung”…, và hạng mục “Vương quốc tuổi thơ”
Ngoài ra, Khu du lịch còn có tổ chức các lễ hội văn hóa dân gian như: văn
hóa tâm linh (lễ “Vu Lan” báo hiếu, lễ cúng năm bà nương nương “Thánh Mẫu”,
Đại lễ cầu siêu), và văn hóa dân tộc (lễ hội mùa xuân cầu cho quốc thái dân an,
“Giỗ Tổ Hùng Vương”, lễ hội trái cây Nam bộ) Bên cạnh đó, các cuộc thi về tạo
hình dân gian bằng trái cây, nghệ thuật trình diễn dân gian: biểu diễn lân sư rồng,
sân khấu hóa “Sơn Tinh – Thủy Tinh”, các vở tuồng, cải lương lấy từ tích cũ, các
trò chơi gian dân làng quê, con trẻ như: đá dế, đá cá…cũng được vận dụng, thiết
kế, diễn xướng để phục vụ du khách
2.2 Công viên văn hóa “Đầm Sen”
Công viên văn hóa Đầm Sen có diện tích 50 ha gồm 20% mặt hồ và 60% là cây xanh và vườn hoa
Vào ngày 15tháng 2 năm 1976, việc huy động hàng triệu ngàn công nhân lao động XHCN để thực hiện lệnh kêu gọi của Thành Ủy – UBND Thành Phố
“Hãy xây dựng cho Thành phố 3 công viên văn hóa lớn, một tại Bình Tiên, một tại
Trang 24Tân Bình và một tại Đầm Sen” 1 Từ đó, công viên được khởi công xây dựng, và từng bước được cải tạo thành một hồ nước sạch hơn, với cảnh quan thoáng mát phục vụ người dân thành phố
Công viên đã xây dựng nhiều công trình kiến trúc, sân khấu hóa về văn hóa
dân gian Việt như: quảng trường “Âu Lạc”, cụm tượng “Ngũ long”, sân khấu cổ
tích, các tượng mô phỏng trò chơi dân gian, múa Rối nước nhằm lưu giữ giá trị văn hóa dân tộc vốn có Ngoài ra, công viên còn thường niên tổ chức các lễ hội
đầu xuân, tết trung thu và chương trình “Vầng trăng cổ nhạc” cho nhân dân muốn
tìm lại văn hóa cội nguồn của người Việt
2.3 Khu công viên “Lich sử-Văn hóa dân tộc” (Khu tưởng niệm các vua
Hùng)
Khu tưởng niệm các vua Hùng tọa lạc ở khu phố Vĩnh Thuận, Long Bình,
Quận 9, thành phố Hồ Chí Minh Khu tưởng niệm là tấm lòng người con Phương Nam thế kỷ 21 hướng về cội nguồn dân tộc, tín ngưỡng thờ tổ tiên của dân tộc, mà tín ngưỡng thờ tổ chung của dân tộc là Quốc Tổ (Quốc Tổ Hùng Vương)
Khu tưởng niệm các Vua Hùng là công trình lịch sử-văn hóa đầu tiên trong
Khu công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh
chỉ đạo xây dựng, biểu hiện tấm lòng và ước vọng của nhân dân thành phố tìm về cội nguồn văn hóa dân gian của dân tộc
Đây là nơi tôn nghiêm để tổ chức Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (lễ hội văn hóa dân gian tín ngưỡng của dân tộc) hằng năm tại thành phố Hồ Chí Minh, là nơi thiêng liêng để nhân dân đến tưởng niệm, vọng bái tổ tiên và nơi tổ chức các lễ hội dân gian, sinh hoạt văn hóa, khơi dậy tình cảm hướng về cội nguồn và lòng tự hào dân tộc
1
Nguồn http://www.damsenpark.com.vn/vi/gioithieu
Trang 25Khu tưởng niệm các Vua Hùng giai đoạn 1 được khởi công xây dựng ngày mồng 9 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (nhằm ngày 21-04-2002) và được khánh thành, đưa vào phục vụ nhân dân từ Lễ giỗ Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 năm Kỷ Sửu (nhằm ngày 4-4-2009)
Công trình có diện tích xây dựng 59306 mét vuông với 7 hạng mục gồm bãi
xe, Nhà trưng bày, Quảng trường, Nghi môn, Đường tre, Nhà văn bia, cây xanh cảnh quan và công trình chính là Đền tưởng niệm các vua Hùng với biểu tượng
“Chim Lạc vươn cánh bay về phương Bắc” Những công trình kiến trúc tiêu biểu
trong Khu tưởng niệm các vua Hùng hiện có:
+ Nhà trương bày: rộng 472 mét vuông, có phòng giới thiệu sơ lược lịch
sử thời đại “Hùng Vương”; nền văn hóa “Đông Sơn”; các Đền thờ Hùng Vương
của đồng bào Nam Bộ và một số hình ảnh xây dựng Khu tưởng niệm các vua Hùng
+ Quảng trường: rộng 4.050 mét vuông, hai bên quảng trường có 18 trụ đá
biểu trưng cho 18 thời Hùng Vương Giữa quảng trường là nghi môn, cổng chính dẫn lên Đền tưởng niệm các vua Hùng, hai bên là tượng hai võ sĩ, người cầm giáo, người cầm rìu canh giữ Nghi môn
+ Nhà văn bia: rộng 44 mét vuông, mái lợp ngói mũi hài, xà, kèo, và cột
làm bằng gỗ căm xe theo lối kiến trúc truyền thống Nam bộ Chính giữa Nhà văn
bia có tấm bia đá khắc Bài văn ca ngợi công đức “Vua Hùng” và các bậc tiền nhân
đã có công dựng nước và giữ nước
+ Đường tre: có chiều dài 360m với 107 bậc được xây dựng theo địa hình
tự nhiên của triền đồi Hai bên là hai hàng tre che bóng mát cho khách hành hương
đi đến viếng Đền, là hình ảnh lũy tre làng trên khắp quê hương Việt Nam, nét văn hóa làng xã đặc sắc của dân tộc
Trang 26+ Cây xanh: được trồng đan xen với các công trình kiến trúc, gồm hàng
trăm cây cọ được đưa từ Phú Thọ về, hàng trăm thiên tuế, cây mai chiếu thủy, cây
sứ trắng, hàng nghìn mét vuông cỏ…tô điểm thêm màu xanh cho Khu tưởng niệm các vua Hùng Đặc biệt có 33 cây bàng vuông ở đảo Trường Sa được đưa về trồng tại đây, góp phần khơi dậy tình cảm yêu mến biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc cho du khách tham quan
Xung quang Đền tưởng niệm các vua Hùng có các Khu sinh hoạt dã ngoại
có thể đón hàng ngàn thanh niên, học sinh, sinh viên đến cắm trại, sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí trong ngày nghỉ Lễ, ngày nghỉ cuối tuần
+ Đền tưởng niệm các Vua Hùng: là công trình trung tâm của Khu tưởng niệm các Vua Hùng được xây dựng trên đỉnh đồi cao 21m, có Sân Hội, Sân Lễ và Sân vọng
Sân Hội là tầng trệt có hội trường, có không gian rộng rãi thoáng mát,
thuận tiện cho việc tổ chức hội nghị, triễn lãm, sinh hoạt văn hóa…
Sân Lễ được xây theo hình trống đồng với không gian mở bên trên, ở giữa
có nhà đặt trống đồng bằng gỗ lim, xung quanh có 15 cửa biểu trưng cho 15 bộ tộc hợp thành Nhà nước Văn Lang, khách đến viếng Đền, dâng hương vọng bái tổ tiên tại điện thờ bên trong Sân Lễ
Sân vọng ở tầng thượng, có 54 trụ đá tượng trưng cho 54 dân tộc anh em
trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Ở góc chính bắc có một đỉnh đồng để khách viếng Đền lên dâng hương, vọng về đất Tổ
Chánh điện: có Điện thờ Quốc Tổ Hùng Vương, Điện thờ Lạc hầu và Điện
thờ Lạc tướng
Điện thờ Quốc Tổ Hùng Vương ở chính giữa
Trang 27Bậc 1 có các bức phù điêu bằng đồng chạm trổ hoa văn theo mặt trống
đồng Đông Sơn, là nơi đặt ngai thờ Đức Tổ Phụ Lạc Long Quân cùng ngai thờ Đức Tổ Mẫu Âu Cơ
Bậc 2 là ngai thờ Quốc Tổ Hùng Vương và các Linh khí rước từ Đền Hùng
Phú Thọ về, gồm bát hương đèn giữ lửa ở giữa; đất và nước được đựng trong hai bình gốm để ở hai bên Trước đèn giữ lửa là đỉnh trầm bằng đồng và hai minh đăng 18 ngọn xếp theo hình tháp
Bên trái Điện thờ Quốc Tổ Hùng Vương nhìn từ ngoài vào là Điện thờ Lạc Hầu và bên phải là Điện thờ Lạc Tướng
Bên phải Chánh điện nhìn từ ngoài vào là Điện thờ các vị Vua và Anh hùng dân tộc thời Cổ đại
- Điện thờ An Dương Vương: Vị vua lập nên nước Âu Lạc tiếp sau nước Văn Lang của các Vua Hùng, là người đầu tiên có công xây thành Cổ Loa bảo vệ bờ cõi của người Việt xưa
- Điện thờ Trung Nữ Vương: Hai bà Trưng là hai nữ anh hùng đầu tiên của người Việt có công chống giặc ngoại xâm giành lại độc lập tự do cho dân tộc trong những năm 40 đầu Công nguyên
Ngoài ra, bên trái Chánh điện nhìn từ ngoài vào là Điện thờ các vị thần trong nền văn hóa Việt Cổ
- Điện thờ Tản Viên Sơn Thánh: tương truyền là vị thần núi có công trị thủy, chế ngự thiên nhiên, giúp dân canh tác nông nghiệp, tạo dựng nền văn minh lúa nước
- Điện thờ Phù Đổng Thiên Vương: tức Thánh Giống tương truyền là vị thần tiêu biểu cho truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm kiên cường, bất khuất của dân tộc
Trang 28- Đền thờ Lạc Dân: hai điện thờ tận cùng bên phải và bên trái thờ Lạc dân, bệ thờ đặt bài vị tương tự như bàn thờ tiền hiền trong phong tục thờ cúng dân gian Nam bộ
Chào đón Tết Nguyên đán, khu công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” có tổ
chức nhiều hoạt động để phục vụ đông đảo quần chúng nhân dân Tất cả các chương trình được thiết kế, xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật vui xuân đón Tết, đặc biệt là hướng đến các giá trị văn hóa dân gian cao đẹp của dân tộc Việt Nam
Các chương trình hội xuân được xây dựng công phu, không gian mở rộng, hấp dẫn mọi đối tượng nhân dân: Như hội thi gói, nấu bánh tét mừng xuân Nhâm
Thìn, Lễ dâng cúng bánh tét cho Quốc Tổ Hùng Vương (dâng cúng bánh tét cho Quốc Tổ Hùng Vương là một trong những hoạt động dân gian truyền thống hàng năm của nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, được tổ chức vào dịp đón Tết cổ truyền của dân tộc Việt Nam, do Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh tổ chức) Trò chơi dân gian (bịt mắt bắt dê, đi cầu khỉ, bịt
mắt đặp lon, bịt mắt hái lộc, kéo co), liên hoan nghệ thuật cờ người, biểu diễn
nghệ thuật Lân Sư Rồng cũng được đưa vào phục vụ du khách
Theo định hướng và phát triển đến năm 2020, Khu công viên lịch sử-văn hóa sẽ xây dựng thành một trung tâm sinh hoạt văn hóa, lễ hội, và du lịch về nguồn tại thành phố Hồ Chí Minh với các khu chức năng sau:
- Các khu tái hiện lịch sử văn hóa: Khu cổ đại, Khu trung đại, Khu cận hiện đại
- Các dự án Khu văn hóa-Du lịch: Khu vui chơi giải trí dọc sông Đồng Nai, Bảo tàng lịch sử tự nhiên, Khu Làng hoa-Du lịch, Khu tái hiện rừng Trường Sơn
và Đường Hồ Chí Minh, Khu công viên điện ảnh, và Khu du lịch sinh thái Cù lao
bà Sang
Trang 292.4 Khu du lịch làng nghề “Một thoáng Việt Nam”
Khu du lịch nằm ở xã Phú Bình, huyện Củ Chi Đây là tập hợp các làng nghề truyền thống của Việt Nam với tổng diện tích hơn 22,5 ha Ban đầu đây là
Hợp tác xã “Một thoáng Việt Nam” được thành lập theo quyết định của UBND
Huyện Củ Chi năm 1995 Nhưng thực sự khu du lịch xây dựng từ năm 1994 trên khu đất ao đầm và những hố bơm do chiến tranh tàn khốc để lại Mục đích đầu tiên của Hợp tác xã là tạo công ăn việc làm cho và duy trì làng nghề truyền thống còn tồn tại ngay chính mảnh đất quê hương An Phú - Củ Chi Đến năm 1998 UBND Thành phố Hồ Chí Minh cho phép triển khai dự án đầu tư xây dựng Làng
nghề “Một thoáng Việt Nam”
Và cho đến hôm nay, Hợp tác xã đã trở thành một làng nghề truyền thống sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống: xưởng gốm, xưởng mộc, xưởng mây tre lá, các xưởng điêu khắc, làm giấy, thêu, làm tranh và đặc biệt là kết hợp các dịch vụ du lịch mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, văn hóa dân gian từ xa xưa của ông cha ta
Tiêu chí quan trọng mà Khu du lịch đem đến cho du khách khi đến tham quan là giới thiệu một đất nước Việt Nam có diện tích nhỏ, gặp nhiều khó khăn về mặt địa lý tự nhiên và an ninh quốc phòng Thế nhưng, suốt chiều dài lịch sử dân tộc chính lòng yêu nước, trí thông minh sáng tạo khi gặp khó khăn kết hợp với tình đoàn kết nhất trí một lòng mà đất nước Việt Nam đã vượt qua nhiều cuộc chiến tranh để gìn giữ, bảo vệ, xây dựng và phát triển cho đến ngày nay
Khu du lịch gồm hạng mục các công trình: đất nước, con người Việt Nam,
yếu tố “làng”, và yếu tố “nghề” Sự kết hợp sáng tạo giữa việc khôi phục, duy trì
các làng nghề truyền thống đang bị mai một với mô hình du lịch về nguồn, khám phá các giá trị văn hóa dân gian dân tộc, đã phần nào tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, mặt khác bảo tồn, phát huy vẻ đẹp tinh hoa trong văn hóa Việt
Trang 30Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với những con người sống nơi làng
mạc và thôn ấp Chính “làng” là nền tảng cuộc sống cho dân tộc Việt Vì thế, mà
môi trường chủ yếu của văn hóa dân gian người Việt là làng quê Làng là đơn vị
vững chắc để hình thành nên nước Do vậy, văn hóa “làng” là yếu tố quan trọng
trong văn hóa Việt, nó gần gũi với cuộc sống và tâm hồn dân Việt Bên cạnh đó,
hoạt động “nghề” cũng thể hiện một góc nhìn văn hóa Việt Trong khu du lịch từng làng nghề có một không gian giới thiệu nguồn gốc của sự hình thành “nghề”
của mình Ở đó, các làng nghề là những đơn vị sản xuất thật, với quy mô nhỏ tùy thuộc vào nội dung từng nghề và thị trường kinh doanh
Không chỉ là mục đích bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc thông qua các làng nghề, mà du khách còn được khám quá một quần thể kiến
trúc với các công trình mang tính chất lịch sử văn hóa dân tộc: Khu không gian tâm thức người Việt, Khu văn hóa ẩm thực, Khu nghề, Khu nhà truyền thống các vùng miền, Khu tuyên ngôn độc lập và Khu không gian đất nước con người Việt Nam Khu du lịch làm phong phú thêm sản phẩm du lịch của thành phố thể hiện
đậm chất truyền thống và bản sắc dân tộc Qua việc tìm hiểu các làng nghề, du khách sẽ có dịp hòa nhịp văn hóa của người Việt, hiểu được lịch sử, phong tục tập
quán như: nhà Bắc bộ, nhà Nam bộ, nhà lá Bình Định, nhà Rường Huế, nhà Rông Bana, nhà sàn dân tộc Mường… và một số nghề truyền thống cơ bản của đất nước như: nghề làm giấy Dó, nghề dệt mành tre, nghề dệt vải, nghề gốm, nghề làm vàng quỳ, nghề làm nến thơm, nghề điêu khắc, nghề thêu…Ngoài ra, khu làng nghề
“Một thoáng Việt Nam” phản ánh một góc nhỏ của bức tranh tổng thể về đất nước
con người Việt với cội nguồn nền tảng văn hóa dân gian đặc sắc
2.5 Khu du lịch sinh thái “Văn hóa dân tộc thiểu số”
Khu du lịch sinh thái“Văn hóa dân tộc thiểu số” tọa lạc ở xã Nhuận Đức,
huyện Củ Chi, diện tích rộng 25 ha (trong tống số 180 ha của nông trường Fosaco), cách trung tâm thành phố 50km Khu du lịch do công ty Fosaco thành phố Hồ Chí Minh đầu tư xây dựng trên 1 triệu USD (với 100% vốn Đài Loan)
Trang 31Khu du lịch đem lại cho du khách một không gian Tây nguyên bao la, hùng
vĩ với những đặc trưng tinh hoa văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số Việt Nam
như: Bana, Thái, Mường, Chu-ru, Chơ-ro…Nhờ vận dụng độc đáo, chọn lọc và
sáng tạo nét văn hóa dân gian của các dân tộc anh em ở Tây Nguyên tạo cho Khu
du lịch tính hoang sơ, hấp dẫn với các công trình được xây dựng theo nguyên mẫu
kiến trúc riêng từng dân tộc như: nhà Rông Bana, nhà dài của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên… và các nghi thức sinh hoạt cộng đồng, hoạt động văn hóa cũng
được vận dụng để thu hút khách du lịch
Khu du lịch còn có các nghệ nhân người dân tộc dệt thổ cẩm, nấu rượu cần, làm đồ mỹ nghệ, nấu cơm lam và một số món ăn dân tộc, làm đồ gốm bằng
đất sét, ca múa nhạc dân tộc và đặc biệt hơn cả là lễ hội “Đâm trâu”, lễ cưới của
dân tộc Churu cũng được tái hiện trong việc xây dựng khu du lịch Lối kiến trúc đặc trưng trong văn hóa vật chất (nhà ở, nơi sinh hoạt cộng đồng, nhà mồ…) và cách sống nơi cư trú của đồng bào dân tộc cũng được mô tả, diễn xướng để phục
vụ cho du lịch
Khu du lịch sinh thái“Văn hóa các dân tộc thiểu số”Củ Chi đã mạnh dạn
lấy văn hóa dân gian, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên ở Việt Nam làm điểm nhấn, chủ đề cho việc thiết kế, xây dựng khu du lịch này Qua
đó, tái hiện lại hình ảnh văn hóa nhiều màu sắc trong kho tàng văn hóa dân gian các dân tộc Việt một cách hài hòa, đa dạng nhất
Tiểu kết: Như vậy, đối với các Khu du lịch văn hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh,
văn hóa dân gian có sự ảnh hưởng đáng kể Sự vận dụng văn hóa dân gian để xây dựng các khu du lịch văn hóa là một hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống Tình hình vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu du lịch văn hóa tại Thành phố
Hồ Chí Minh đã và đang có những bước phát triển khá rộng rãi Khu du lịch văn
hóa “Suối Tiên”, Công viên văn hóa “Đầm Sen”, Khu công viên “Lịch sử-Văn hóa
Trang 32dân tộc” (Khu tưởng niệm các vua Hùng), Khu du lịch làng nghề“Một thoáng Việt Nam”, Khu du lịch sinh thái“Văn hóa dân tộc thiểu số”đều vận dụng sáng tạo, có
chọn lọc các tinh hoa văn hóa dân gian dân tộc
Đối với người dân trong nước nói chung, người dân Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, việc tìm đến các khu du lịch văn hóa vừa với mục đích giải trí vừa khám quá được những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc Riêng với thiếu nhi, đây là cơ hội để các em tìm hiểu lịch sử lâu đời cũng như văn hóa dân gian của dân tộc mình Đối với bạn bè quốc tế, sự vận dụng văn hóa dân gian vào việc xây dựng các khu du lịch đã giúp chúng ta quảng bá rộng rãi những nét văn hóa đặc trưng, độc đáo của dân tộc Việt Nam Chính điều đó, các khu du lịch văn hóa đã thu hút phần lớn khách tham quan trong và ngoài nước
Trang 33CHƯƠNG 3 : SỰ VẬN DỤNG VĂN HÓA DÂN GIAN VÀO VIỆC XÂY DỰNG CÁC KHU DU LỊCH VĂN HÓA DƯỚI GÓC NHÌN SO SÁNH
Ngày nay, Việt Nam đang hòa mình vào xu thế hội nhập, du lịch văn hóa đang là xu hướng quan trọng trong việc mang lại giá trị tinh thần lớn đối với nước
ta Chính vì thế, du lịch văn hóa nói chung và văn hóa dân gian Việt Nam nói riêng luôn là nội dung chính đối với các nhà đầu tư trong việc xây dựng nên một khu du lịch văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Để hiểu rõ về sự vận dụng văn hóa dân gian vào các khu du lịch tại thành phố Hồ Chí Minh này như thế nào, chúng tôi đi tìm hiểu ở ba góc độ chính: văn hóa dân gian và kiến trúc, văn hóa dân gian và sân khấu, văn hóa dân gian và trò chơi hiện đại dưới góc nhìn so sánh được khảo sát qua các địa điểm du lịch sau:
công viên văn hóa Đầm Sen, khu du lịch văn hóa Suối Tiên, công viên Lịch sử-Văn hóa dân tộc “Khu tưởng niệm các vua Hùng”, khu du lịchsinh thái Văn hóa các dân tộc thiểu số Củ Chi và khu du lịch làng nghề Một thoáng Việt Nam
3.1 Văn hóa dân gian và kiến trúc
Việt Nam là quốc gia có nền kiến trúc truyền thống phát triển từ rất sớm, vào thời kì phong kiến trước thế kỉ XIX Sau khi trải qua nhiều giai đoạn thay đổi theo từng thời kì khác nhau, kiến trúc Việt Nam đang ngày càng phát triển, trở thành một điểm nhấn quan trọng khi được đưa vào vận dụng tại các khu du lịch văn hóa Đặc biệt là khi các kiến trúc sư đã cho ra được những công trình thể hiện rất rõ nét mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và kiến trúc Đa số các khu du lịch văn hóa thường vận dụng văn hóa dân gian Việt Nam để tái hiện qua các hạng mục công trình kiến trúc, điêu khắc…
3.1.1 Công viên văn hóa “Đầm Sen” với Quảng trường “Âu Lạc” và cụm
tượng “Ngũ Long”
Ngay từ thời kì văn minh “Đông Sơn”, nghệ thuật tạc tượng ở nước ta đã
dần hình thành và phát triển Những bức tượng được con người sáng tạo ra, bên
Trang 34cạnh chất liệu phổ biến là đồng và đá thì đa số là những bức tượng được tạc hình người, còn lại một phần nhỏ là những con vật gắn với văn hóa dân gian và đời sống của họ Trong văn hóa vật chất dân gian, nghệ thuật tạo hình và điêu khắc của dân tộc Việt có từ lâu đời, trải qua quá trình phát triển, nó đã tiếp thu một cách
sáng tạo các giá trị bên ngoài, làm nên một nền nghệ thuật riêng đặc sắc: mang tính ước lệ , cách điệu và biểu trưng(1).Trong tác phẩm, người ta không chú ý đến đường nét mà tập trung vào miêu tả thần thái, nét biểu cảm trên khuôn mặt con người
Ngày nay, xã hội dần phát triển, với tinh thần gìn giữ và phát huy nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, các kiến trúc sư đang dần hoàn thiện và phát triển nghệ thuật tạc tượng ở một mức độ cao hơn nhưng vẫn giữ nguyên đặc trưng vốn
có của nó tại các Khu du lịch văn hóa Một ví dụ điển hình là quảng trường“Âu Lạc” tại công viên văn hóa “Đầm Sen” Quảng trường “Âu Lạc” là nơi tụ hội
những vẻ đẹp tinh túy mang đậm sắc thái văn hóa dân gian Việt Nam Với hình
tượng “Lạc Long Quân” và “Âu Cơ” tọa lạc tại vị trí trung tâm của Quảng trường, các kiến trúc sư đã mượn tích truyện mẫu “Âu Cơ” sinh ra bọc trăm trứng nở ra
trăm người con để làm chủ đề chính tại khu vực này Cùng với những họa tiết, hoa văn bắt nguồn từ thời vua Hùng như chim Lạc, trống đồng…, các kiến trúc sư đã tái hiện lạithành công và hiệu quả trong việc tạo ra những hình tượng nhằm hướng con người nhớ về nguồn cội và những giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước
của cha ông ta ngày trước.Vẫn với tích truyện “LạcLong Quân” và “Âu Cơ”, mỗi
người dân Việt Nam luôn mang tiềm thức tổ tiên mình chính là nòi giống Rồng Tiên Chính vì thế, hình tượng Rồng nghiễm nhiên trở thành một nét văn hóa của
người dân Việt Nam Với cụm tượng“Ngũ Long” tại công viên văn hóa “Đầm Sen”, các kiến trúc sư đã gợi lên một mối giao hoà giữa nền văn hóa cổ xưa và nền
(1)
Nguyễn Tiến Dũng (2005, Văn hóa Việt Nam thường thức, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội)
Trang 35văn hóa hiện đại bằng những ý tưởng sáng tạo, mới mẻ.Cụm tượng “Ngũ Long” còn khiến chúng ta liên tưởng đến những hình tượng rồng khác như: rồng trong trò
chơi dân gian Rồng rắn lên mây, hay rồng trong tranh “Đông Hồ” (đám rước
rồng)….Những hình ảnh kiến trúc gắn với văn hóa dân gian Việt Nam tại công
viên văn hóa “Đầm Sen” không nhiều cũng như không phổ biến rộng, mà chỉ là ở
một khu vực nhỏ ngay cổng vào Đa số chỉ là những trò chơi hiện đại nhằm phục
vụ nhu cầu giải trí cho khách du lịch
3.1.2 Khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”
3.1.2.1 Thánh tượng “Thiên Thủ Thiên Nhãn” và tượng “Phật Thích Ca – Cội
Bồ Đề”
Trong lịch sử Việt Nam, đã từng có thời kì Phật Giáo phát triển rất hưng thịnh Chính vì thế, các vua quan thời bấy giờ đã cho các nghệ nhân của mình tạc đúc lại rất nhiều tượng Phật Trong số ít những pho tượng còn sót lại cho đến nay
thì pho tượng “Phật Thế Tôn”, hay cũng gọi là “Phật A – Di – Đà” bằng đá ở chùa
Phật Tích (Bắc Ninh) là tượng Phật cổ nhất có từ thời Lý Ngày nay, các pho
tượng Phật, tượng “Quán Thế Âm” được tạo ra bởi các kiến trúc sư hiện đại đang
dần được đưa vào các khu du lịch cho du khách tham quan, thưởng lãm với những
chi tiết sáng tạo rất mới mẻ Tiêu biểu là tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” với Thánh tượng“Thiên Thủ Thiên Nhãn” (tượng Quan Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt) và
“Phật Thích Ca – Cội Bồ Đề”.“Tượng Quán Thế Âm Nghìn Tay Nghìn Mắt” ra
đời lần đầu tiên vào năm 1656 bởi nhà điêu khắc họ Trương(1) với những đường nét và họa tiết cơ bản nhất của thời bấy giờ Hiện nay, tượng Phật này vẫn được
lưu giữ tại chùa Bút Tháp “Sự sùng bái Bồ tát Quan Âm có liên quan mật thiết đến sự phát triển của Tịnh độ tông và Mật Tông Chính tại thời điểm giao thoa của hai tông này mà sức sáng tạo các hình tượng Bồ tát Quan Âm ngày càng trở nên
(1)
Đoàn Thế Cường, Lập hồ sơ đề nghị công nhận 3 “bảo vật quốc gia”, báo Dân Trí, ngày 05/01/2012,
http://dantri.com.vn/c20/s20-553928/lap-ho-so-de-nghi-cong-nhan-3-bao-vat-quoc-gia.htm
Trang 36phong phú và đa dạng”(1) Biểu tượng “Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn”
thường được dân gian hiểu là: Quán Thế Âm có nghìn tay nghìn mắt để nhìn thấu nỗi khổ của chúng sinh và ra tay cứu giúp họ Còn con số 1000 là biểu trưng cho
sự viên mãn Tái hiện lại điều này tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”, với tượng
Phật cao 36 mét, đường kính 18 mét gồm 15 khuôn mặt và một tượng Phật tổ Như Lai ngồi trên cao, các kiến trúc sư lại nối tiếp thành công của các nghệ nhân điêu khắc đi trước trong việc thể hiện sự từ bi, ánh mắt thư thái và quảng đại như bao
quát cả không gian vũ trụ
“Tượng Phật Thích Ca – Cội Bồ Đề” dựa vào tích truyện về vị thái tử của
Ấn Độ là “Tất Đạt Đa” đã từ bỏ ngai vàng, cuộc sống phong lưu để xuất gia, tìm
đường cứu khổ cứu nạn cho mọi chúng sinh để rồi, dưới gốc cây bồ đề, Người đã
giác ngộ chân lý và đắc thành chánh quả Tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”,
tượng Phật Thích Ca được các nghệ nhân sáng tạo ra không chỉ là một tượng thạch cao vô hồn mà chính công trình kiến trúc này đã tái hiện lại rất rõ nét, chân thực và sâu sắc nét đẹp từ bi, nghiêm trang của Phật Thích Ca Mâu Ni Công trình kiến trúc này là sự đan xen hài hòa giữ thiên nhiên và vật thể, mang lại cảm giác thanh bình cho mọi du khách đến đây tham quan và thưởng lãm
Ngoài hai công trình kiến trúc kể trên, tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên”, còn có các công trình liên quan như: biển “Tiên Đồng – Ngọc Nữ” với tượng “Lạc Long Quân và Âu Cơ”; “Long Hoa Thiên Bảo”; “Ếch Thần Ngự Kim Sơn” (dựa vào tích truyện cổ dân gian Trung Hoa); “Núi Vàng Núi Bạc”; “Linh Cung Thập Nhị Giáp”; đặc biệt là công trình kiến trúc “Tứ Linh Hội Tụ” với những hình
tượng như: Long – Lân - Quy – Phụng là những nhân vật tượng trưng cho sự
phong lưu và sức mạnh của con người Tất cả những công trình kiến trúc liên quan
(1)
Thái Nam Thắng, Ý nghĩa biểu tượng của tượng Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt – Di sản vô giá
của dân tộc, tạp chí Văn hóa Phật Giáo, ngày 22/01/2011, vn/su-kien-van-de/6482-Y-nghia-bieu-tuong-cua-tuong-Phat-Ba-Quan-Am-nghin-tay-nghin-mat-Di-san- vo-gia-cua-dan-toc.html
Trang 37http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-đến Phật Giáo đều nhằm hướng con người http://www.daophatngaynay.com/vn/phatgiao-đến một thế giới tâm linh huyền bí có
từ thời cổ xưa, đồng thời, hướng họ đến sự hoàn thiện về Chân – Thiện – Mỹ
3.1.2.2 Đền thờ vua Hùng – cổng Nguồn cội
Trong lịch sử Việt Nam, vua Hùng là người đầu tiên sáng lập ra nhà nước Văn Lang – Âu Lạc Như Bác Hồ đã từng nói khi đến thăm đền thờ các vua Hùng
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cũng nhau giữ lấy nước” Ngày nay, để tưởng nhớ đến công ơn các vị vua Hùng ngày trước, nhân
dân ta đã lập nên rất nhiều đền thờ vua Hùng phân bố ở khắp nơi trên đất nước
Trong đó, có một đền thờ vua Hùng tọa lạc tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” và một tọa lạc tại công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” (sẽ được đề cập đến ở phần
sau).Thời đại các vua Hùng cũng như đất nước Văn Lang - Âu Lạc thường gắn liền với hình ảnh Trống Đồng(1), cùng hình tượng được khắc họa trên bề mặt
Trống Đồng như: chim Lạc, hình thuyền, hình nhà sàn, những hình ảnh trai gái giã gạo, ngồi trồng hoa Đền thờ vua Hùng tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” đã
được tạo hình một cách rất độc đáo như: từ cổng Nguồn cội bước vào, người tham quan sẽ bước qua mười tám chiếc trống đồng tượng trưng cho mười tám đời vua Hùng Hay như, khu vực thờ được các kiến trúc sư tạo hình như một chiếc Trống Đồng, phía trên là hình ảnh chim Lạc quay về phía mặt trời mọc Hình ảnh chim Lạc nói chung và trên bề mặt Trống Đồng nói riêng là biểu tượng của sự sung túc,
Theo Nguyễn Tiến Dũng (2005), Văn hóa Việt Nam thường thức, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Ngày
hội thường diễn ra các cuộc đua thuyền, được mô tả khá chi tiết trên trống đồng: những chiếc thuyền độc mộc mũi cong đuôi én, trên thuyền có nhiều người mặc quần áo ngày hội, tay cầm dầm, đang bơi, lái trong
tư thế khẩn trương (giống lễ hội bơi chải hiện nay của người Việt và người Tày)
Trang 38hóa dân tộc từ những kiến trúc liên quan đến văn hóa Việt Nam đến những kiến trúc văn hóa mà Việt Nam ảnh hưởng từ các nước Đông - Tây Mỗi du khách khi đến đây tham quan như tự tìm về cội nguồn của dân tộc mình
3.1.3 Công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” (khảo sát khu đền thờ tưởng niệm
các vua Hùng)
So với khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” thì khu đền tưởng niệm các vua
Hùng tại công viên lịch sử văn hóa dân tộc có nét uy nghiêm và trầm mặc hơn Khu đền tưởng niệm các vua Hùng chiếm diện tích khá lớn, chính vì thế mà sự đầu
tư các công trình kiến trúc tại khu vực này cũng có phần hoàn hảo hơn Như đã nói
ở trên, thời đại vua Hùng thường gắn liền với những hình ảnh được khắc họa trên
bề mặc Trống Đồng, và Trống Đồng cũng chính là một nét văn hóa đặc trưng cho nền văn hóa đầu tiên của đất nước Văn Lang – Âu Lạc – nền văn hóa Đông Sơn(1)
Ở thời kì văn hóa Đông Sơn(2), có rất nhiều Trống Đồng rất đẹp như: Trống Đồng
Cổ Loa, Trống Đồng Ngọc Lũ Chủ nhân của chúng chính là những người Việt
Cổ đã tạo nên những tác phẩm thống nhất về chất liệu cũng như về kiểu dáng.Về mặt hình thức, Trống Đồng gồm khối hình học chồng khít lên nhau, phần chân là khối chóp cụt, phần tang khối trụ và phần trên là bán cầu ngửa thành mặt trống Mặt trống nào cũng trang trí ở giữa là mặt trời tỏa nhiều tán, đến các vòng chạy
(1)
Đông Sơn là thời đại của trống đồng và chính nó đã bao hàm nhiều vấn đề trong xã hội Đông Sơn hay có thể gọi là những nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của Trống Đồng: sự phát triển của kỹ thuật luyện kim khí và nghề trồng lúa nước, cuộc sống và quyền lực của những người thủ lĩnh và
lễ nghi, giao lưu văn hóa.
(2)
Theo Nguyễn Tiến Dũng (Văn hóa Việt Nam thường thức, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội,
2005) Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển đỉnh cao của thời đại đồ đồng, ghi dấu ấn cả trên phương tiện kỹ thuật, loại hình công cụ và đời sống văn hóa tinh thần Trong số gần 60 loại hình đồ đồng của văn hóa Đông Sơn, trống đồng giữ một vị trí quan trọng Nó không chỉ đẹp về hình thức, tinh xảo về kỹ thuật mà còn chưa ẩn chiều sâu văn hóa của một cộng đồng xã hội, một yếu tố tính ngưỡng tâm linh Người Đông Sơn đã mang những giá trị văn hóa đặc sắc, biểu trưng nhất của mình để thể hiện lên mặt trống đống
Trang 39song song hình chim, hươu và cóc Tang trống chạm nhiều hình thuyền chở nhiều người hóa trang bơi, chèo Mặt trống còn có hoa văn hình nhà sàn, với những cảnh trai gái giã gạo, ngồi trồng nụ trồng hoa cùng nhữa đoàn người hóa trang vừa chạy đến vừa múa tấu nhạc…
Theo đó, Trống Đồng được chia ra thành năm nhóm(1):nhóm A là những Trống Đồng có hoa văn là người và động vật, nhóm B là những Trống Đồng có chạm trổ hình chim, nhóm C là có hình cóc, nhóm D thì hoàn toàn không có hoa văn, và cuối cùng nhóm Đ là những Trống Đồng được chạm trổ hoa văn hình học Trong đó, Trống Đồng tại khu tưởng niệm các vua Hùng thuộc nhóm B Ý nghĩa văn hóa của mỗi Trống Đồng là một nhạc cụ lễ nghi linh thiêng, đậm tính dân tộc mang đầy đủ ý nghĩa biểu tượng, nhạc điệu và tạo hình
Mỗi công trình kiến trúc ở khu Đền tưởng niệm đều mang một ý nghĩa sắc thái biểu trưng riêng Trước cổng Đền tưởng niệm là một con đường trải dài với hai bên đường là những cột đá tượng trưng cho 18 đời vua Hùng đã qua ở nước ta
(1)
TheoTiến Dũng (2005), Văn hóa Việt Nam thường thức, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội Cho đến nay, ở Việt Nam đã phát hiện được hơn 150 trống lớn và gần 100 trống nhỏ Các nhà nghiên cứu chia thành 5 nhóm sau:
+ Nhóm A: là những trống có niên đại sớm nhất, kích thước lớn, dáng cân đối Các vành hoa văn chính thường tả người, vật, và động vật theo phong cách tả thực
+ Nhóm B: dáng trống không cân đối như nhóm A Lưng trống có cái thẳng, dáng cao, có cái choãi, cái lùn Hoa văn trang trí đơn giản, chỉ còn lại vành chim bay ở mặt và hoa văn hình học
+ Nhóm C: dáng trống cân đối, lưng thẳng, chân cao Hoa văn phong phú nhưng ở mức độ cách điệu cao hơn theo xu hướng biến hình thể, xuất hiện nhiều hoa văn mới Trên mặt trống có các khối tượng cóc, một
số trống trang trí ở phần thân
+ Nhóm D: dáng trống thô, lùn trông giống chiếc nồi lật úp Hoa văn trang trí rất sơ sài, có trống không hề
có hoa văn Kỹ thuật và nghệ thuật trang trí thô
+ Nhóm Đ: xuất hiện ở miền núi phía Bắc, chúng tuy không nằm trong niên đại văn hóa Đông Sơn, song vẫn tiếp tục truyền thống Đông Sơn Dáng cân đối bị phá vỡ, nhưng bố cục hoa văn ở mặt và một số hoa văn hình học vẫn mang truyền thống Đông Sơn
Trang 40(ở “Suối Tiên” thì mượn hình ảnh những chiếc Trống Đồng) Một điểm khá giống giữa khu tưởng niệm các vua Hùng tại công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” với khu tưởng niệm tại khu du lịch văn hóa “Suối Tiên” là nơi điện thờ được xây dựng
theo kiến trúc của một chiếc Trống Đồng Tuy nhiên, điện thờ trong khu tưởng
niệm tại công viên “Lịch sử-Văn hóa” dân tộc có thể quan sát và chiêm ngưỡng ở
nhiều góc cạnh khác nhau Du khách tham quan có thể đứng trên tầng cao nhất để nhìn xuống, cũng có thể đứng ở vị trí trung tâm phía dưới để quan sát những hoạt tiết trên bề mặt của kiến trúc Đây là một ý tưởng sáng tạo khá mới mẻ của kiến trúc sư xây dựng đền tưởng niệm này
KTS Nguyễn Trường Lưu, người được Thành Ủy – UBND thành phố Hồ Chí Minh chọn để xây dựng đền tưởng niệm các vua Hùng tại công viên lịch sử
văn hóa dân tộc cho rằng: “Đây là ngôi đền của những người con phương Nam đi
mở cõi tưởng nhớ đến Tổ tông, nên phải được thiết kế trong khoảng thời gian cuối thế kỉ 20, đầu thế kỉ 21 đồng thời phải làm sao để lột tả được sự phóng khoáng, cởi mở giống như bản chất của người phương Nam Do vậy, nó phải khác với lối kiến trúc truyền thống nhưng vẫn mang dáng dấp của kiến trúc tứ trụ trong đền chùa Việt Nam” Đền tưởng niệm các vua Hùng tại công viên “Lịch sử-Văn hóa dân tộc” chính là nơi để những người con đất Việt lui tới tưởng nhớ về bản gốc
nguồn cội của mình Cũng là nơi để các học sinh – sinh viên đến để tìm hiểu về
lịch sử văn hóa của dân tộc
3.1.4.Khu du lịch sinh thái“Văn hóa các dân tộc thiểu số” Củ Chi
Như đã đề cập đến ở phần trước, Văn hóa dân gian Việt Nam là sự hội tụ, kết tinh nền văn hóa của 54 dân tộc anh em sinh sống trên cùng một lãnh thổ Vì vậy, khi đề cập đến mối quan hệ giữa văn học dân gian với kiến trúc, không thể không kể đến kiến trúc truyền thống của các dân tộc thiểu số Khu du lịch sinh thái văn hóa các dân tộc thiểu số Củ Chi đã tái hiện lại rất thành công đời sống thực tế của những người dân thuộc bộ phận các dân tộc ít người về phong tục, tập quán