1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá tại huyện đông hòa, tỉnh phú yên

112 458 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI NGÔ VIẾT HẢI HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGÔ VIẾT HẢI

HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

NGÔ VIẾT HẢI

HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN

Chuyên ngành: Giáo dục và phát triển cộng đồng

Mã ngành: Thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Trần Thị Tuyết Oanh

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, trích dẫn trong luận văn là đầy đủ, chính xác và trung thực Những ý kiến khoa học đƣợc đề cập trong luận văn chƣa đƣợc ai công bố ở bất cứ nơi nào khác

Hà Nội, ngày tháng 06 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Viết Hải

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên tôi xin chân thành cảm ơn đến Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội, Khoa sau Đại học, Khoa Tâm lý – Giáo dục và các thầy cô đã truyền dạy những kiến thức, cũng như động viên giúp đỡ trong thời gian tôi học tập

và nguyên cứu tại Trường

Đặc biệt tôi xin cảm ơn đến PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh người trực

tiếp hướng dẫn, dành nhiều thời gian và công sức giúp tôi hoàn thành Luận văn này

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ban quản lý di tích, Phòng Quản ly di sản thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Yên, Ban Tuyên giáo Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đông Hoà đã tạo điều kiện và cung cấp số liệu phục vụ trong quá trình nguyên cứu

và viết Luận văn

Mặc dù, đã có nhiều cố gắng tìm hiểu, nghiên cứu trong việc lựa chọn nội dung cũng như soạn thảo và trình bày nội dung Tuy nhiên không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong nhận được góp ý quý báu để Luận văn được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Phú Yên, ngày tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

Ngô Viết Hải

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn nghiên cứu đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4

4 Giả thuyết nghiên cứu 4

5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 6

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 11

1.2.1 Cộng đồng, huy động cộng đồng dân cư 11

1.2.2 Giá trị các di tích lịch sử, văn hóa 14

1.2.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa 15

1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 16

1.3.1 Vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 16

1.3.2 Ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 19

1.4 Huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 21

1.4.1 Nội dung huy động 21

1.4.2 Các hình thức huy động 23

1.4.3 Các chủ thể tham gia vào việc huy động 24

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 25

Trang 7

1.5.1.Yếu tố chính trị 25

1.5.2.Yếu tố tín ngưỡng, tâm linh 26

1.5.3 Yếu tố kinh tế 30

Kết luận chương 1 31

Chương 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA TỈNH PHÚ YÊN 32

2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng 32

2.1.1 Mục đích đối tượng khảo sát 32

2.1.2 Phương pháp khảo sát 32

2.1.3 Cách xử lý kết quả khảo sát 33

2.2 Khái quát về huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên 33

2.2.1 Về kinh tế xã hội 33

2.2.2 Về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện 37

2.3 Thực trạng việc bảo tồn giá trị các di tích lịch sử văn hóa 46

2.3.1 Thực trạng nhận thức 46

2.3.2 Thực trạng việc thực hiện 50

2.4 Thực trạng huy động cộng đồng dân cư trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 51

2.4.1 Thực trạng thực hiện nội dung huy động 51

2.4.2 Thực trạng thực hiện hình thức tổ chức các hoạt động 54

2.4.3 Thực trạng sự tham gia của các lực lượng xã hội 56

Kết luận chương 2 58

Chương 3: BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA TẠI HUYỆN ĐÔNG HÕA, TỈNH PHÚ YÊN 59

3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp 59

3.1.1 Đảm bảo tính kế thừa và phát triển 59

3.1.2 Đảm bảo tính thống nhất mục đích huy động của các lực lượng xã hội 60

3.1.3 Đảm bảo tính pháp lý 60

Trang 8

3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn của địa phương 61

3.2 Các biện pháp huy động cộng đồng dân cƣ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên 61

3.2.1 Tổ chức đa dạng các hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cộng đồng về luật di sản văn hóa, về các văn bản về bảo vệ, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa cho người dân 61

3.2.2 Hoàn thiện các văn bản về phối hợp với các lực lượng chức năng của huyện trong việc tham gia bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 65

3.2.3 Xây dựng cơ chế khuyến khích động viên các tổ chức doanh nghiệp, đoàn thể, cá nhân tham gia đầu tư kinh phí để giữ gìn bảo vệ và trùng tu các di tích lịch sử văn hóa 67

3.2.4 Tạo điều kiện cho người dân trong cộng đồng tham gia bảo vệ, sử dụng, khai thác giá trị của di tích 68

3.2.5 Chính quyền tổ chức bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho ban quản lý các di tích lịch sử văn hóa 71

3.2.6 Tăng cường công tác quản lý Nhà nước đối với bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa ở huyện Đông Hòa 73

3.2.7 Huy động các nguồn lực từ cộng đồng để gắn kết chặt chẽ di tích lịch sử văn hóa với phát triển du lịch ở huyện Đông Hòa 75

3.3 Khảo nghiệm về tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 78

3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 78

3.3.2 Đối tượng khảo nghiệm 79

3.3.3 Phương pháp khảo nghiệm 79

3.3.4 Kết quả khảo nghiệm 79

Kết luận chương 3 86

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHỤ LỤC 96

Trang 9

DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và người dân trong việc

bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 46

Bảng 2.2 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và người dân trong tìm

hiểu các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn 48

Bảng 2.3 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và người dân trong việc

thực hiện bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 50

Bảng 2.4 Thực trạng thực hiện nội dung huy động cộng đồng dân cư trong

việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 52

Bảng 2.5: Thực trạng về hình thức tổ chức các hoạt động giới thiệu

các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn 54

Bảng 2.6 Thực trạng sự tham gia của các lực lượng xã hội trong việc

bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa 56

Bảng 3.1 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp 79 Bảng 3.2 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp 81 Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và tính khả thi của

các biện pháp 84

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn nghiên cứu đề tài

Di tích lịch sử văn hóa là di sản quý báu và là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc Di tích là những vết tích những gì còn lại qua thời gian và được lưu lại cho đến ngày hôm nay Di tích lịch sử phản ánh những hoạt động, đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của con người trải qua một thời gian hay thời kỳ Mặt khác còn là nơi lưu niệm tưởng nhớ trưng bày các nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Di tích lịch sử văn hóa là dấu ấn của một thời đại, có những di tích nổi trên mặt đất, có những di tích đã chìm sâu dưới lòng đất hay còn bị ngập nước

Ngày nay, với xu thế hội nhập, văn hóa là nền tảng cho sự phát triển của một dân tộc, một quốc gia Thực tế, việc sử dụng, khai thác di tích diễn ra chồng chéo nhau, vì các cơ quan bảo tồn, du lịch, điện ảnh, thương mại, dịch vụ… địa phương đều hướng vào khai thác di tích Mỗi nơi một cách, các hoạt động chưa được quản lý, phối hợp chặt chẽ Di tích lịch sử văn hoá là tài sản

vô giá trong kho tàng di sản văn hoá lâu đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất phản ánh sâu sắc nhất về đặc trưng văn hoá, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hoá nhân loại Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, xây dựng đất nước luôn gắn với giữ gìn bản sắc dân tộc Việt Nam Vì vậy kế thừa và phát huy những giá trị di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu cho dân tộc là truyền thống lịch sử tốt đẹp của dân tộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là yêu cầu hàng đầu đối với việc xây dựng nền văn hóa hiện nay

Trong Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) Đảng đề ra phương

sự nghiệp vǎn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống

Trang 11

đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.”

Bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa, trong đó việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy các giá trị di tích là một lĩnh vực hoạt động đầy khó khăn, phức tạp Lĩnh vực hoạt động này vừa mang tính khoa học sâu sắc, vừa mang tính thực tiễn sinh động, đồng thời là lĩnh vực hoạt động mang tính xã hội cao Nên công tác bảo tồn và phát huy giá trị của di tích là việc làm cấp bách

và cần phải có giải pháp hợp lý, kịp thờicần phải có sự tham gia của nhà nước

và của nhân dân, trong đó cộng đồng dân cư đóng một vai trò quan trọng

Cộng đồng là một tập hợp công dân cư trú trong cùng một khu vực địa

lý, hợp tác với nhau về những lợi ích chung và chia sẻ những giá trị văn hoá chung Một số tổ chức chính trị - xã hội cũng có thể đại diện cho cộng đồng như: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân Sự tham gia của cộng đồng dân cư vào việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích địa phương là một trong những giải pháp quan trọng trong công tác quản lý di tích lịch sử văn hóa, vì qua các cấp quản lý hành chính (từ Trung ương đến địa phương) thì càng xuống cấp thấp hơn, vai trò của người dân càng trở nên quan trọng Sự tham gia của cộng đồng vào bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di tích, mà còn là lực lượng giám sát nhanh và hiệu quả, giúp cho các cơ quan quản lý di tích giải quyết kịp thời nhiều hành vi vi phạm liên quan đến di tích lịch sử - văn hóa

Trang 12

Phú Yên là tỉnh có hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh phong phú, đa dạng và độc đáo Đây là nguồn tài nguyên vô giá và cũng

là tiềm năng to lớn của tỉnh, theo kết quả khảo sát Phú Yên hiện nay có 57 di tích và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng trong đó có 20 di tích, danh thắng cấp quốc gia và 37 di tích danh thắng cấp tỉnh; riêng trên địa bàn huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên có 10 di tích lịch sử văn hóa trong đó có 3 di tích, danh thắng cấp quốc gia và 7 di tích danh thắng cấp tỉnh Trong những năm qua, công tác bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn

có bước phát triển tốt Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như một bộ phận người dân còn chưa ý thức được trong công tác bảo vệ và phát huy giá trị các

di tích lịch sử văn hóa của dân tộc tại địa phương

Là một cán bộ được giao nhiệm vụ quản lý về văn hóa, trong đó có việc quản lý các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện, tôi nhận thấy việc huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng, thực hiện tốt nhiệm vụ này không chỉ bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa mà còn góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh

tế xã hội trên địa bàn huyện Chính vì thế tôi đã chọn vấn đề: “Huy động

cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của huy động cộng đồng dân

cư trong bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa, xác định biện pháp huy động cộng đồng dân cư phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên, nhằm góp phần bảo tồn giá trị các di tích lịch sử tại huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên nói riêng, góp phần bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam nói chung

Trang 13

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4 Giả thuyết nghiên cứu

Huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên là nơi có một số di tích lịch sử văn hóa cần được giữ gìn và phát huy, tuy nhiên trước sự phát triển của du lịch, dịch

vụ hiện nay đã có ảnh hưởng đến bảo tồn giá trị các di tích này Nếu đánh giá được thực trạng và đề xuất được biện pháp huy động cộng đồng dân cư bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương thì ý thức bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch

sử văn hóa của người dân địa phương sẽ tốt hơn, góp phần bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về huy động cộng đồng dân cư trên địa bàn huyện trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

- Khảo sát, đánh giá thực trạng huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh

Phú Yên

- Xác định biện pháp huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát

huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

Xác định biện pháp cho Phòng Văn hóa và Thông tin huyện và một số

cơ quan, tổ chức chính trị xã hội

- Các số liệu được lấy từ năm 2013 đến năm 2016

- Đối tượng khảo sát: Cán bộ phòng Văn hóa và Thông tin, cán bộ quản

lý di tích, cán bộ các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân sống xung quanh các

di tích lịch sử văn hóa huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên

Trang 14

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 C c phương ph p nghiên cứu uận:

Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu,

phân loại tài liệu,… nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận của “ Huy động cộng

đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên”

7.2 C c phương ph p nghiên cứu th c ti n:

Sử dụng các phương pháp nhằm khảo sát, điều tra đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu như phương pháp quan sát

- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn người dân và cán bộ về nội dung bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi (Dành cho người dân và dành

cho cán bộ chính quyền, đoàn thể)

- Phương pháp thống kê toán học: Nhằm xử lý kết quả nghiên cứu

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TRONG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ

CÁC DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa đã được đặt

ra từ lâu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, chủ yếu là trên phương diện thực hành, tức là công việc sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu và công bố về tư liệu di tích lịch sử văn hóa, còn việc nghiên cứu lý thuyết về phương diện này chỉ gần đây mới được khoa học chú ý

Vào thập kỷ 60 xuất hiện một sự kiện quan trọng là nước Ai Cập dự định xây dựng đập nước Aswan trên sông Nil Hậu quả của việc xây dựng đập nước sẽ làm cho toàn bộ đền đài son ở Nubia bị nhấn chìm trong dòng nước Cộng đồng thế giới nhận thấy nếu mất đi những đền đài son kính này sẽ làm tổn thất nặng nề không chỉ đối với nước Ai Cập và Xu Đăng, mà còn là thiệt thồi cho cả nhân loại Người ta còn biết rằng việc cứu trợ các di sản quý báu trên đây đòi hỏi có một nguồn kinh phí to lớn, vượt quá khả năng của hai nước hữu quan Do đó, ngày 8/3/1960, ông René Maheu, Tổng giám đốc UNESSCO đã phát đi lời kêu gọi và sau đó thu được 30 triệu đô la, đóng góp vào quỹ cứu trợ các ngôi đền của Nubia

Cũng vào thời gian này, trên thế giới xuất hiện nhiều tiếng nói đòi bảo

vệ môi trường thiên nhiên và giữ gìn di sản văn hóa Phong trào ngày càng

lớn mạnh dẫn tới sự ra đời của công ước về di sản thế giới (bao gồm di sản

thiên nhiên và di sản văn hóa) Công ước đã được Hội đồng UNESCO có đại

biểu của 112 quốc gia tham gia thông qua vào năm 1970 Công ước khẳng định: Các tác phẩm của con người và các tác phẩm của thiên nhiên hợp thành vốn di sản duy nhất cần được bảo vệ chu đáo Các quốc gia tham gia công

Trang 16

ước có quyền lập ra cho quốc gia mình một danh mục tài sản, đủ tiêu chuẩn thì được xếp vào “Danh mục di sản thế giới”, một ủy ban di sản thế giới được thành lập Đó là cơ quan liên chính phủ gồm đại diện của 21 nước tham gia công ước, được luân phiên bầu vào Dựa vào báo cáo của hai tổ chức phi

Chính phủ là Hội đồng quốc tế về các đền đài và di chỉ (gọi tắt là ICOMOS)

và Liên hiệp quốc tế bảo tồn thiên nhiên (gọi tắt là IUCN), Ủy ban sẽ nghiên

cứu hồ sơ hàng năm quyết định việc công nhận di sản thế giới Trong số này

có 326 di sản văn hóa, 97 di sản thiên nhiên và 17 di sản tổng hợp Riêng đối với nước ta, tháng 12/1993 cố đô Huế được xếp vào danh mục tài sản văn hóa thế giới và đến tháng 12/1994 Vịnh Hạ Long được xếp vào danh mục di sản thiên nhiên thế giới

Trong vòng gần 72 năm kể từ khi thành lập tới nay, tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc đã tập trung hoạt động, hướng vào lĩnh vực bảo vệ di sản văn hóa dân tộc Từ thập kỷ 80 trở lại đây, UNESCO đã triển khai một chương trình hành động với chủ đề "Bảo vệ và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể"

Vấn đề bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, giá trị các di tích lịch

sử văn hóa được Đảng, Nhà nước và xã hội rất quan tâm Có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước đã đề cập đến, ở các mức độ khác nhau vấn

đề mà luận văn nghiên cứu:

Những hoạt động nghiên cứu, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa đã được

ghi chép lại khá cẩn thận, chi tiết và cụ thể:

Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 (dịch theo bản khắc năm Chính Hòa 18

-1697, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998), đã ghi: “Lý Cao Tông, năm Kỷ

Dậu (1189), tháng 3 vua đi ngự khắp núi sông, phàm xe vua đi đến đâu mà có thần linh đều cho phong hiệu và lập miếu để thờ” [14, 329] “Lý Nhân Tông hoàng đế năm Mậu Thìn năm thứ tư (1088) “định các chùa trong nước làm ba

hạng đại, trung và tiểu danh lam, cho quan văn chức cao kiêm làm đề cử

Trang 17

(chức quan của nhà Lí quản lý ruộng đất và tài sản của nhà chùa) Bấy giờ nhà chùa có điền nô và kho chứa đồ vật nên đặt chức ấy” [14, 282]

Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 (dịch theo bản khắc năm Chính Hòa 18

-1697, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998): “Lê Thái Tông năm Ất Mão (1435) sai các quan đi tế khắp các thần kỳ trong nước có ghi trong tự điển” [14, 326]

Kiến văn tiểu lục (Chép vặt những điều mắt thấy tai nghe) của Lê Qúy

Đôn có ghi: Năm Bảo Thái thứ ba (1727), tra cứu tự điển các xư, đền thờ thưởng đẳng thần 832 ngôi, thượng trung đẳng 1 ngôi, trung đẳng 817 ngôi, trung hạ đẳng, hạ đẳng 860 ngôi, cộng 2511 ngôi

Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ ghi lại: “Nước Nam ta dựng nước

từ thời Lạc Hùng; khoảng giữa lại phải phụ thuộc về Hán, đời Đường, rồi đến đời Đinh, đời Lê, Lí, Trần; ngoài việc tế giao miếu, tế sơn xuyên ra, còn các đền thờ ghi trong tự điển Về đời Trần đã thấy Việt điện u linh chép cả thảy

29 đền, các đời sau lại thêm mãi ra Khoảng đời Quang Thiệu (niên hiệu Lê

Chiêu Thống 1516 – 1526), Thống Nguyên (niên hiệu Lê Cung Hoàng – 1527) lại thấy chép trong sổ ghi các đền thờ đến 110 đền Khoảng đời Quang

Hưng (niên hiệu Lê Thế Tông 1578 – 1599) vua Lê Thế Tông khôi phục kinh

đô, truy xét những bầy tôi tiết nghĩa, đều cho lập đền cúng tế, đến 27 đền; lại còn những bậc thiên thần hiển linh có công trạng đều được bao phong và lập đền thờ ” [14, 159]

Như vậy, dưới các triều đại phong kiến, ý thức giữ gìn, bảo quản, kiểm

kê và tu bổ các di tích lịch sử văn hóa đã được chính quyền trung ương và toàn xã hội quan tâm

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, người Pháp đã tiến hành điều tra, nghiên cứu di tích của nước ta Di tích lịch sử văn hóa Việt Nam là một lĩnh vực nghiên cứu được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm như: Gustave Dumoutier (1850 -1904), Madeein Colani (1866 -1943), Henri Paramentier

Trang 18

(1883 -1945) Những công trình nghiên cứu về di tích Việt Nam đã đóng góp lớn trong việc đặt nền móng cho nền khảo cổ Việt Nam, cho công tác bảo tồn

và phát huy các di tích lịch sử văn hóa như đánh giá của nhà nghiên cứu Hà Văn Tấn: “Những đóng góp của các nhà học giả Pháp là vô cùng to lớn” và

“chúng ta không những biết ơn các học giả Pháp trong việc nghiên cứu các nền văn hóa cổ trên đất nước Việt Nam mà còn biết ơn họ trong việc bảo tồn

và lưu giữ nhiều di tích của các nền văn hóa đó [6]

Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, trong lúc phải đối phó với giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã quan tâm ngay đến việc bảo vệ các di sản văn hóa dân tộc Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh kí sắc lệnh số 65 thành lập Đông Phương Bác Cổ học viện và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trên toàn đất nước

Việc ban hành sắc lệnh đã khẳng định quan điểm đúng đắn của Chính phủ đối với vai trò và ý nghĩa quan trọng của các di tích trong công cuộc kiến thiết đất nước Trong sắc lệnh, Chính phủ quy định giành ra những khoản trợ cấp hàng năm từ ngân sách quốc gia và ngân sách của mỗi kỳ mỗi tỉnh cho hoạt động của Đông Phương Bác Cổ học viện

Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ đã không cho phép chúng ta mở rộng hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa của đất nước

Trong những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, nhiều Chỉ thị, Thông tư của Chính phủ, của Bộ Văn hóa liên tiếp được ban hành nhằm tăng cường bảo vệ các di tích lịch sử văn hóa của đất nước

Cụ thể như: Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ số 1999-VG, ngày 15/5/1958 về việc cấm đào bới mộ cổ; Thông tư của Thủ tướng số 442-TTg, ngày 9/11/1960 về việc bảo vệ các di sản văn hóa, ngăn chặn hoạt động xuất khẩu

cổ vật trái phép; Ngày 29/4/1966 Thông tư về việc bảo vệ di tích lịch sử, di tích nghệ thuật và hang động được sử dụng vào công tác sơ tán phòng không

Có thể thấy, các văn bản trong giai đoạn này đã bám sát với hoạt động thực tiễn chung của đất nước

Trang 19

Trong kháng chiến chống Mỹ, nhiệm vụ chung của công tác bảo tồn

là phải khắc phục khó khăn, giữ gìn các di sản văn hóa quý giá của dân tộc Nghị định 519 TTg ngày 29/10/1957 do Thủ tướng Chính Phủ Phạm Văn Đồng ký, quy định các luật lệ cơ bản cho hoạt động bảo tồn các di tích lịch

sử văn hóa

Từ sau chiến thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử, hoạt động nghiên cứu, kiểm kê di tích lịch sử văn hóa được thực hiện trên diện rộng Các công trình nghiên cứu khoa học, khảo sát, phát hiện các di tích, công tác bảo quản, trùng

tu, tôn tạo và phát huy tác dụng của những di tích lịch sử văn hóa đã đi vào nề nếp và có chất lượng khoa học Cụ thể như: xây dựng kế hoạch bảo quản, trùng tu, tôn tạo khu di tích lịch sử Điện Biên Phủ; lập hồ sơ khoa học khu di tích lịch sử Côn Đảo

Thời kỳ đổi mới, hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích đã và đang diễn ra sôi động ở khắp nơi trên đất nước ta và ở mọi loại hình di tích Từ năm 1994, Chính phủ cho phép ngành Văn hóa - Thông tin thực hiện chương trình

"Chống xuống cấp và tôn tạo di tích" bằng nguồn vốn của Nhà nước, của nhân dân, tập thể, cá nhân trong và ngoài nước

Năm 2001, Nhà nước ban hành Luật Di sản văn hóa, trong văn bản luật

đã ban hành đã dành 1 chương để quy định những việc có liên quan đến di tích, đó là một bước tiến quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc nói chung và bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa nói riêng

Từ năm 2002, khi Luật Di sản văn hóa có hiệu lực, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định thành lập Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập Hội đồng khoa học về Bảo tồn di tích để tư vấn cho Nhà nước các vấn đề bảo tồn, tôn tạo di tích

Như vậy, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

đã được đặt ra từ lâu, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, chủ yếu

là trên phương diện thực hành, tức là công việc sưu tầm, chỉnh lý, nghiên cứu

Trang 20

và công bố về tư liệu di tích lịch sử văn hóa, còn việc nghiên cứu lý thuyết về phương diện này chỉ gần đây mới được khoa học chú ý Nhìn chung, chưa có công trình nghiên cứu đi sâu một cách có hệ thống về công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa cũng như huy động cộng đồng dân

cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa Vì vậy "Huy

động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa" là một vấn đề cần đi sâu và làm rõ

Riêng tại tỉnh Phú Yên, đề tài nghiên cứu về việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích đã được triển khai và nghiệm thu một cách hoàn chỉnh vào năm 2015 Đây là đề tài nghiên cứu cấp Tỉnh do Nguyễn Định làm chủ nhiệm

đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích

và danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển du lịch tỉnh Phú Yên” Nội dung

đề tài nêu rõ những giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị các di tích và danh lam thắng cảnh phục vụ cho công tác phát triển du lịch cho từng huyện, thị, thành phố của tỉnh Phú Yên một cách cụ thể và khoa học Việc đưa ra giải pháp cùng với huy động cộng đồng dân cư bảo tồn và phát huy di tích chưa được đánh giá và phân tích một cách sâu sắc

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1 Cộng đồng, huy động cộng đồng dân cư

Trong một bài viết về “Cộng đồng: Khái niệm, cách tiếp cận và phân loại trong nghiên cứu” của Phạm Hồng Tùng (Đại học Quốc gia Hà Nội) thì

“Cộng đồng” là một thuật ngữ vốn bắt nguồn từ gốc tiếng Latin

“cummunitas” với nghĩa là toàn bộ tín đồ của một tôn giáo hay toàn bộ những người đí theo một thủ lĩnh nào đó Ngày nay, thuật ngữ này được sử dụng phổ biến trong các ngôn ngữ Âu – Mỹ như trong tiếng Pháp là “communité”, tiếng Anh là “community”, tiếng Đức là “Gemeischaft” Vì là đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học chuyên ngành khác nhau bên “cộng đồng” cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau và cách thức định nghĩa về khái niệm này cũng không giống nhau

Trang 21

Theo luận điểm của nhà xã hội học người Đức Ferdinand Toennies nêu

ra trong công trình “Gemeinschaft und Gesellschaft” (Cộng đồng và hiệp hội – Leipzig, 1887) thì “cộng đồng” là một thực thể xã hội có độ gắn kết và bền vững hơn so với “hiệp hội” ví “cộng đồng” được đặc trưng bởi “sự đồng thuận về ý chí” của các thành viên của cộng đồng Ông nhấn mạnh vai trò của ý chí cộng đồng Ý thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở của việc mỗi thành viên cộng đồng cảm nhận được rằng mình là một bộ phận của cộng đồng

Cho đến nay, tuy tiếp cận và định nghĩa “cộng đồng” rất khác nhau nhưng giới nghiên cứu xã hội học đều cho rằng cộng đồng trước hết là một nhóm xã hội của con người có những tương tác với nhau và cùng chia sẻ một cái chung nào đó chẳng hạn như địa bàn cư trú, những giá trị chung, quy tắc ứng xử chung… tạo nên sự gắn kết xã hội

Qua đó, cho chúng ta thấy được rằng việc gắn kết xã hội của cộng đồng tạo nên ý thức cộng đồng, mỗi thành viên của cộng đồng đều nhận rõ trách nhiệm và quyền lợi của mình khi được sống trong một cộng đồng Chính vì thế, những việc làm liên quan đến lợi ích của cộng đồng là trách nhiệm của tất

cả các thành viên sống trên địa bàn cư trú của cộng đồng

Chưa có một khái niệm nào chuẩn xác về khái niệm huy động Ở đây, chúng tôi tiếp cận một số tư liệu đã đưa ra những nhận định cụ thể có thể hiểu khái niệm về huy động tức là vận động một số lượng người, của cải vật chất tham gia vào cùng một công việc cụ thể nào đó

Cộng đồng dân cư là tập hợp gồm nhiều nhóm xã hội cùng sinh sống trên cùng một lãnh thổ, một vùng đất Có thể hiểu một cách riêng biệt: dân cư

là toàn bộ những người cư trú trên một địa bàn lãnh thổ nhất định một cách tự nhiên qua lịch sử và phát triển không ngừng Có thể có mối quan hệ nhất định với nhau như quan hệ họ hàng, quan hệ bạn bè, quan hệ làm ăn… Còn khái niệm về cộng đồng được hiểu là nhóm xã hội của các cá thể sống chung trong cùng một môi trường thường có cùng các mối quan tâm chung

Trang 22

Cộng đồng là một tập hợp người quan hệ mật thiết với nhau trong các sinh hoạt vật chất và tinh thần của họ Cộng đồng tập hợp theo nguyên tắc dòng máu thì được gọi là thị tộc bộ lạc; Cộng đồng tập hợp theo nguyên tắc thân thuộc thì được gọi là gia đình, theo nguyên tắc láng giềng thì gọi là làng

xã, cộng đồng tập hợp theo tiêu chí cùng chung nguồn gốc thì gọi là tộc người, còn tập hợp theo nguyên tắc chính trị - xã hội thì gọi là dân tộc - quốc gia Khái niệm cộng đồng dân cư xuất hiện đồng thời với sự ra đời của một quốc gia, dân tộc, hay nói xa xưa hơn là của cả lịch sử loài người Cộng đồng dân cư có thể tồn tại dưới các hình thức sau đây

Các cộng đồng theo khu vực địa lý: ví dụ như cộng đồng dân cư Bắc, Trung, Nam

Các cộng đồng dân cư theo vùng miền đặc thù: đô thị, nông thôn, miền núi… Cộng đồng dân cư ở khu vực giao thoa: giao nhau giữa hai khu vực, vùng,miền,…

Đặc điểm cộng đồng dân cư thể hiện những khía cạnh sau: Thứ nhất, cộng đồng dân cư mang tính chất đặc trưng cho một cộng đồng người, qua đó thực hiện các nghĩa vụ và hưởng các quyền lợi công dân, dân tộc Thứ hai, nói đến cộng đồng dân cư là nói đến một tập thể gắn kết cao, mang tính chất xã hội nhiều hơn so với các loại cộng đồng khác Thứ ba, về mặt kinh tế, cộng đồng dân cư là một tập hợp của nhiều thành phần kinh tế

Xét theo quy mô to nhỏ, cộng đồng được hình thành theo nhiều cấp độ,

từ vi mô như gia đình, dòng họ, xóm ngõ, trường học đến cấp vĩ mô như tộc người, dân tộc - quốc gia, giai cấp, nhân loại Có những cộng đồng cấp trung gian như: làng xã, phum sóc, phường phố, nông trường, xí nghiệp… Như vậy chúng ta

có quyền gọi: văn hóa gia đình, văn hóa làng, văn hóa dân tộc là các dạng văn hóa cộng đồng xã hội Vậy văn hóa cộng đồng là văn hóa của một nhóm xã hội Nó không phải là con số cộng đơn giản của những văn hóa cá nhân sống trong cộng đồng mà là toàn bộ giá trị và chuẩn mực xã hội, cùng với hệ thống biểu tượng, được cộng đồng xã hội chấp nhận, thực thi một cách tự nguyện

Trang 23

Qua đó, cho thấy việc huy động cộng đồng dân cư huyện Đông Hòa chung tay bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn là một việc làm hết sức đúng đắn và thực sự cần thiết trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Giá trị các di tích lịch sử, văn hóa

Văn hóa hình thành trong hoạt động sống của còn người và mối quan

hệ tương tác giữa con người với tự nhiên Trong quá trình hình thành và phát triển, văn hóa hàm chứa một hệ giá trị được xã hội, cộng đồng thừa nhận Các giá trị văn hóa là cốt lõi của văn hóa Giá trị văn hóa chứa đựng, kết tinh trong di sản văn hóa và thông qua di sản văn hóa để thực hiện các chức năng của xã hội

Theo Ngô Đức Thịnh khi nghiên cứu về văn hóa truyền thống Việt Nam đã định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người và môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tâm linh của mình” [43, tr.19] Như vậy, giá trị văn hóa đóng vai trò là thành tố để phân biệt di sản văn hóa với các hiện tượng văn hóa nói chung hình thành trong quá trình lịch sử của một cộng đồng, xã hội nhất định Di sản văn hóa được xem là những yếu tố đặc biệt, nổi bật, là tinh hoa của văn hóa

Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa năm 2009, quy định: “ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc công trình,địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [26, tr.33]

Di tích lịch sử văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây:

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương;

Trang 24

- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kì lịch sử;

- Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;

Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc

và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật

Gọi là di tích lịch sử văn hóa vì chúng được tạo ra bởi con người (tập

thể hoặc cá nhân), là kết quả của hoạt động sáng tạo lịch sử, văn hóa của con

người, văn hóa ở đây bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần

Nhiều nước trên thế giới đều nhận định rằng: Di tích lịch sử văn hóa là dấu tích, vết tích còn lại Tiếng Pháp viết Vestige, tiếng Anh cũng viết Vestige, tiếng Nga viết Pomiatnik, tiếng Trung viết là cổ tích Mỗi nước trên thế giới cũng đều đưa ra những khái niệm, quy định về di tích lịch sử văn hóa của dân tộc mình

Ở Việt Nam cũng có nhiều khái niệm quy định về di tích lịch sử văn hóa, thông thường nhất, theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Di tích là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiện cứu của khảo cổ học, sử học…

Di tích là di sản văn hóa - lịch sử được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện dịch chuyển, thay đổi, phá hủy”

Di tích lịch sử là những công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu các sự kiện, các mốc lịch sử quan trọng hoặc gắn với các anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh

hưởng quan trọng với tiến trình lịch sử của dân tộc hoặc của một địa phương

1.2.3 Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa

Theo Từ điển tiếng Việt: bảo tồn là hoạt động bảo vệ, gìn giữ không để

bị mất, tổn thất Phát huy là làm cho cái hay, cái tốt lan rộng có tác dụng và tiếp tục phát triển hơn

Trang 25

Theo Nguyễn Kim Loan: bảo vệ là hoạt động nhằm gìn giữ không để các di sản bị thất thoát, hư hỏng; còn bảo tồn là hoạt động nhằm gìn giữ và

tôn tạo di sản cho giữ được nguyên bản ban đầu của chúng….Tổ chức khai

thác và phát huy các giá trị của di sản văn hóa, chính là hoạt động biến các giá

trị của di sản văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế xã hội [22, T.347]

Trong bài viết Bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay, Quản Hoàng Linh cho rằng: Bảo quản mang nghĩa sử dụng những biện pháp kỹ thuật để gìn giữ, chăm sóc đối tượng được nguyên vẹn, tồn tại lâu dài Bảo vệ

chứa đựng nội dung thực hành các hoạt động mang tính chất pháp lý hay nói

cách khác là giữ không để cho bị xâm phạm Bảo tồn mang nghĩa rộng hơn,

là hoạt động giữ gìn một cách an toàn khỏi sự tổn hại, sự xuống cấp hoặc phá hoại, nói cách khác là bảo quản kết cấu một địa điểm ở hiện trạng và hãm sự

xuống cấp của kết cấu đó Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái

hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ cao đến thấp, từ đơn giản đến phức tạp

Có thể đưa ra thêm một khái niệm về việc Bảo tồn di tích Đó là những hoạt động diễn ra thường xuyên nhằm chăm sóc, bảo dưỡng các di tích lịch sử văn hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho di tích tồn tại một cách bền vững, lâu dài Công việc bảo tồn di tích được tiến hành theo định kỳ và được ghi nhận qua các thời kỳ lịch sử từ thời phong kiến đến đương đại

Như vậy, đối với đề tài này, tác giả đề cập đến khái niệm “bảo tồn”và

“phát huy” với ý nghĩa là bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử văn hóa Đồng thời làm cho nó không ngừng phát triển trong xã hội hiện nay

1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

1.3.1 Vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

Ngày nay trong xu thế hội nhập quốc tế, quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, các quốc gia, các dân tộc cần phải hướng tới việc tôn trọng

Trang 26

sự đa dạng văn hóa và bảo vệ, tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc để tạo nền tảng tinh thần cho sự phát triển Văn hóa cần được nhìn nhận như một bộ phận hữu cơ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Kinh tế và văn hóa là hai yếu tố tương tác, phụ thuộc và bổ sung cho nhau Do đó, bảo tồn di sản văn hóa không được cản trở mà ngược lại tạo ra động lực phát triển xét dưới góc độ tác động đến việc hình thành nhân cách con người và đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ trực tiếp cho phát triển

Trong xã hội hiện đại, khi những giá trị văn hóa mới được du nhập cùng với tiến trình toàn cầu hóa thì di sản văn hóa đứng trước một thử thách lớn trong nguy cơ bị mai một hoặc mất đi vĩnh viễn Nhằm để biến cái mới thành nguồn lực nội sinh của một dân tộc, văn hóa phải trải qua sự giao lưu tiếp biến và kế thừa, hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng trong quá trình này

Di sản văn hóa không tự nhiên mà có, nó được hình thành bởi con người chúng ta trong một giai đoạn lịch sử nhất định nào đó Di sản văn hóa

là tinh hoa văn hóa, thể hiện bản sắc của văn hóa dân tộc, bảo tồn di sản văn hóa là khẳng định sự tồn tại của một dân tộc Bởi nó chính là chân dung, cội nguồn, bản chất của một dân tộc - yếu tố nội lực cho sự phát triển của một dân tộc Gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc có vị trí quan trọng, hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản mục đích cuối cùng là sự phát triển của dân tộc

Bảo tồn và phát huy những vốn quý của dân tộc sẽ làm cho cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về truyền thống, lịch sử của dân tộc, nâng cao bản lĩnh sống, tránh được những tác động không mong muốn từ bên ngoài Từ

đó, ý thức xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước được nâng lên và sự phát triển của dân tộc là một thực tế khách quan có thể nhìn thấy

Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa là một quá trình lâu dài, bền vững chính vì thế vai trò của người dân rất quan trọng Họ chính là chủ thể văn hóa, họ hưởng thụ những giá trị văn hóa lịch sử của các

Trang 27

di tích lịch sử văn hóa đó Thông qua việc tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác của người dân và công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa Từ

đó, khơi dậy lòng tự hào của người dân đối với di tích mà họ đang hưởng thụ

Sự tham gia trực tiếp của người dân sống gần nơi di tích cũng gắn liền với lợi ích của họ Người dân là người quyết định việc bảo tồn một cách bền vững di tích đó

Người Kinh là tộc người chiếm đa số, ban đầu chỉ là một nhóm nhỏ lẻ, rồi từ từ gây dựng thành một nhóm cộng đồng sinh sống cùng nhau phát triển

về kinh tế, văn hóa, xã hội trên khu vực mình sinh sống Cuộc sống của họ gắn liền với việc sản xuất nông nghiệp và nghề đi biển Từ những tín ngưỡng ấy, người dân bắt đầu những công việc thờ cúng, phụng sự Họ coi như đó là công việc cần thiết phải làm Đó là lợi ích chung của cộng đồng Về sau, được sự quan tâm của các cấp chính quyền, những nơi thờ cúng ấy trở thành những di tích được công nhận và có kế hoạch bảo quản một cách lâu dài theo định hướng phát triển của xã hội Hướng người dân đến những giá trị đích thực của di tích

Từ đó, những di tích đó không còn mang tính sở hữu của một nhóm người hay một làng nào đó mà nó trở thành nơi sinh hoạt chung cho cả cộng đồng

Nhận thức của người dân về vai trò, giá trị của di tích một cách cụ thể

và rõ ràng Bởi, bảo vệ di tích, phát huy giá trị di tích để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đấu tranh chống vi phạm, xâm hại di tích không chỉ riêng bất kỳ một cá nhân cụ thể nào mà là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và của cộng đồng cư dân địa phương ấy nói riêng

Di sản văn hóa (vật thể và phi vật thể) là bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người Di sản văn hóa là loại tài sản quý giá không thể tái sinh và không thể thay thế nhưng rất dễ bị biến dạng do tác động của các yếu tố ngoại cảnh (khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, sự phát triển kinh tế một cách ồ ạt, sự khai thác không có sự kiểm soát chặt chẽ Và cuối cùng là việc bảo tồn, trùng tu thiếu chuyên nghiệp không theo đúng những chuẩn mực khoa học

Trang 28

Con người được coi là trung tâm của quá trình phát triển văn hóa xã hội Và do đó, di sản văn hóa phải được gắn với con người và cộng đồng cư dân địa phương (bởi họ với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa và chủ sở hữu tài sản văn hóa) Từ đó, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa lành mạnh của đông đảo công chúng trong xã hội là mục tiêu hoạt động

1.3.2 Ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích ịch sử văn hóa

Yếu tố hiện đại là những giá trị văn hóa được sáng tạo căn bản dựa trên cơ sở những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc ta và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại Như thế, tính hiện đại chính là sự hội nhập giữa dân tộc và quốc tế Và cái gọi là hiện đại hôm nay (những giá trị văn hóa do chúng ta sáng tạo ra) sẽ trở thành quá khứ của tương lai - cái mà chúng ta gọi là cổ truyền Rõ ràng, giữa cổ truyền và hiện đại có rất nhiều gạch nối và sự bổ sung liên tục bởi những giá trị văn hóa Công tác bảo tồn và trùng tu di tích chính là hoạt động nhằm vào việc giữ gìn ngọn lửa truyền thống văn hóa và đem đến ý nghĩa sinh động cho khái niệm truyền thống Có thể hiểu việc “giữ lửa và tiếp lửa” là thổi sinh khí văn hóa cổ truyền vào hiện đại, mang hơi ấm mùa xuân vào cái hôm nay, để cho cổ truyền không bao giờ xưa cũ, mà luôn luôn mới và có vị trí xứng đáng trong đời sống đương đại

Trong quá trình tồn tại và phát triển của đất nước, rất nhiều di sản văn hóa đã bị các cuộc chiến tranh, thiên tai tàn phá Mỗi một di sản dù là di sản văn hóa hay thiên nhiên, vật thể hay phi vật thể đều có những đặc thù khác nhau Sự khác nhau ở các nội dung giá trị của mỗi di sản đó, ở phân bố vị trí địa lý, tổ chức quản lý, hoạt động sử dụng và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa

Mọi người đều nhận thức được rằng: một khi di sản bị huỷ hoại thì không bất kỳ một khoản tài chính nào, cho dù có lớn đến đâu cũng không thể làm lại được chính vì thế, cộng đồng dân cư có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ những di tích lịch sữ văn hóa trên địa bàn cư trú Để có thể vừa

Trang 29

bảo tồn một cách vững chắc, phát huy bền vững, cộng đồng dân cư phải nỗ lực góp sức mình vào việc chống xâm hại và xuống cấp của di tích, bảo vệ tính toàn vẹn và nguyên gốc của từng di tích trước sự xâm hại từ các hoạt động có ý thức và vô thức của con người và tác động của thiên nhiên ngày càng nghiệt ngã Đồng thời, cộng đồng dân cư phải phát huy tiềm năng vốn

có của di tích để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội

Việc phát huy, có thể gắn với việc phát triển du lịch, các lễ hội tại di tích sẽ thu hút rất đông những vị khách phương xa đến tham quan, thưởng ngoạn Di tích có thể nói là một nguồn tài nguyên du lịch rất phong phú Để phát triển du lịch đối với di tích thì cộng đồng dân cư sẽ là những người hướng dẫn viên nhiệt tình nhất, năng nổ nhất và am hiểu về di tích nhất khi khách tham quan cần được sự hướng dẫn

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, con người ngày càng nhiều những nỗi lo toan hàng ngày và cuộc sống hối hả, con người dường như bận rộn hơn, thiếu thời gian cho những sinh hoạt văn hóa cộng đồng và họ trở nên sống lạnh lùng hơn, thiếu đi sự gần gũi, thân thiết trong tình làng xóm Các di tích lịch sử văn hóa chính là điểm kết nối quan trọng giữa con người với con người vì khoảng thời gian họ đi đình, chùa là lúc họ cảm thấy thoải mái nhất để chia sẻ, trò chuyện với mọi người từ đó họ trở nên thân thiết hơn, truyền thống con người Việt Nam từ ngàn xưa đã có tính cô kết cộng đồng rất mạnh mẽ Ta đã có thể thấy là mỗi dịp lễ, hội là họ lại cùng nhau góp công, góp sức, thức cùng nhau thâu đêm để giao lưu với nhau, là như vậy đấy, và đến ngày hôm nay những tinh thần tốt đẹp đó vẫn còn cứ mỗi dịp vào ngày Rằm, mùng Một, những dịp hội ngoài việc đến lễ phật, cầu an, chính những khoảng thời gian này, tâm hồn con người được hòa đồng, chung một niềm đam mê, cùng nhau gạt bỏ những phiền muộn khó khăn trong cuộc sống đời thường, khi ấy con người trở nên thiện hơn, gắn bó với nhau và tạo nên những mối quan hệ cộng đồng bền vững

Trang 30

Di tích lịch sử văn hóa với các giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học chứa đựng trong đó còn góp phần hoàn thiện con người và như vậy sẽ thúc đẩy sự phát triển của xã hội, bởi muốn xã hội vững mạnh thì trước hết cần phát triển con người, thông qua những giá trị nằm trong hệ thống các di tích, con người không chỉ thấy được những truyền thống quý báu mà còn nhìn thấy tận mắt những hiện vật, hình ảnh, cùng các giá trị chân thiện mỹ của dân tộc ta Qua

đó giúp chúng ta và các thế hệ sau niềm tự hào dân tộc, lòng yêu nước, lòng biết ơn để từ đó sáng tạo ra những giá trị văn hóa mới, tự trau dồi đạo đức, lối sống lành mạnh, tránh được những văn hóa lai căng không lành mạnh, góp phần xây dựng quê hương đất nước ngày một phồn thịnh

1.4 Huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

1.4.1 Nội dung huy động

Mục đích chính của sự tham gia cộng đồng là lôi kéo mọi người đóng góp tài năng, trí tuệ và công sức vào quá trình quản lý di sản gắn liền với phát triển kinh tế Sự tham gia của người dân địa phương trong quản lý bảo tồn và

phát huy các giá trị di sản là cần thiết bởi hai lý do có tính nguyên tắc:

Thứ nhất, nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương thì sự bền

vững lâu dài của di sản sẽ bị đe doạ

Thứ hai, người dân địa phương có quyền được hưởng lợi nhờ khai

thác di sản cho sinh kế, nghỉ dưỡng, các nhu cầu văn hoá xã hội và các lý do

tâm linh của họ

Đây là những lý do chính cho sự tham gia của địa phương vàọ quản lý

di sản còn rất nhiều những lợi ích về quản lý khác cũng cần được cân nhắc Những quyết định về quy hoạch, kế hoạch bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa huyện Đông Hòa sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống cộng đồng Những người trong cộng đồng chịu ảnh hưởng do họ là những người sinh sống, làm việc, học tập và thường qua lại trong khu vực đó Do đó,

Trang 31

sự cần thiết phải có được những ý kiến của họ về những gì họ đang làm, những gì họ đang muốn có và trong nhiều trường hợp chính cộng đồng là những người ra quyết định Thực tiễn đã cho thấy nếu những kế hoạch và phát triển các giá trị về địa chất, địa mạo, về văn hóa có phù hợp với nguyện vọng

và nhu cầu của cộng đồng thì cộng đồng cũng sẽ tự hào về hành vi ứng xử của mình do đó để cộng đồng địa phương đưa ra được ý kiến tư vấn của họ cấn

thiết phải có 02 yếu tố quan trọng:

- Thông tin thu được từ cộng đồng về ý kiến, thái độ của họ phải được chuyển tới các nhà lập kế hoạch các nhà ra quyết định Về phía mình, các nhà

ra quyết định, lập quy hoạch có trách nhiệm thu nhận các thông tin này một

cách nghiêm túc và xem xét trong mối quan hệ với quá trình lập kế hoạch

- Các nhà lập kế hoạch, quy hoạch thông qua việc tham dự các cuộc họp toàn dân để nghe ý kiến cộng đồng, hoặc những ý kiến cộng đồng được trình bày báo cáo, có trách nhiệm phải đảm bảo giúp cộng đồng hiểu được ý kiến của họ đóng góp cho các bản kế hoạch bảo tồn, phải có trách nhiệm đạt được thoả hiệp qua việc giải thích cho cộng đồng hiểu được lý do và chấp

nhận việc ra quyết định như vậy

Từ đó đưa ra những nội dung huy động cộng đồng dân cư bảo tồn và

phát huy các giá trị di tích cụ thể như sau:

- Thu hút người dân tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di tích Đòi hỏi nội dung tổ chức và qui mô hoạt động phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, lứa tuổi và nhu cầu của cộng đồng dân cư Thực tế, hoạt động phải mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư để thu hút, lôi cuốn họ tự giác tham gia bảo tồn và phát huy di tích mới đạt hiệu quả cao

Từng bước hình thành cho cộng đồng dân cư niềm tin vào những giá trị

mà họ phải vươn tới, đó là niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa đang đổi mới

mà Bác Hồ và Đảng ta đã chọn, tin vào tiền đồ, tương lai của đất nước Từ đó, người dân cảm thấy tự hào dân tộc, mong muốn làm đẹp thêm truyền thống

Trang 32

của cơ quan, đơn vị, trường học, của quê hương mình, mong muốn trở thành công dân có ích cho xã hội

- Tuyên truyền nội dung giá trị di tích cho người dân về các di tích lịch

sử cách mạng, văn hóa tín ngưỡng, tâm linh ảnh hưởng đối với người dân địa phương Hoạt động tham quan giúp cộng đồng dân cư định hướng chính trị,

xã hội, có những hiểu biết nhất định về truyền thống đấu tranh cách mạng, truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, truyền thống văn hóa tốt đẹp của đất nước, của địa phương đồng thời làm tăng thêm sự hiểu biết của họ về Đảng, về Bác Hồ để họ thực hiện tốt nghĩa vụ của người công dân trong cộng đồng xã hội

- Người dân tích cực tham gia vào các hoạt động có liên quan đến di tích như tham gia các lễ hội, các phong trào văn hóa văn nghệ diễn ra tại di tích

- Phát huy tiềm năng du lịch tại di tích Cộng đồng sẽ góp phần tăng thêm thu nhập, tạo cơ hội việc làm cho cộng đồng dân cư tại địa phương Đồng thời, góp phần tích cực cho việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống lịch sử của di tích

1.4.2 Các hình thức huy động

Trong những năm qua, công tác giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư tại địa phương cùng các hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích lịch sử văn hóa huyện Đông Hòa

- Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo tồn và phát huy di sản huyện Đông Hòa

- Giáo dục cộng đồng về bảo tồn và phát huy di sản huyện Đông Hòa, tăng cường nhận thức về bảo tồn và phát huy di sản Đông Hòa đặc biệt là

công tác bảo tồn các giá trị thiên nhiên;

- Vận động cộng đồng dân cư tham gia các hoạt động của di tích diễn ra vào các ngày lễ lớn Để ngày càng được nhân rộng như một nguyên tắc bền

vững để quản lý di sản trên phương diện quốc gia và quốc tế

Trang 33

1.4.3 Các chủ thể tham gia vào việc huy động

- Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Đông Hòa trong huy động cộng đồng dân cư Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ; phong trào luyện tập thể dục, thể thao; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng gia đình văn hoá, xã văn hoá, thôn, khu phố văn hoá, đơn

vị văn hoá; bảo vệ các di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng cảnh; bảo

vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn;

- Chức năng, nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và đào tạo trong tuyên truyền giáo dục học sinh Bằng những hành động thiết thực và việc làm cụ thể, học sinh đã có thêm điều kiện để hiểu hơn về lịch sử nước nhà, chung tay góp sức tôn tạo bảo vệ di tích, di sản Để học sinh thêm hiểu biết lịch sử quê hương đất nước Việc mỗi trường học đều nhận chăm sóc một di tích lịch sử văn hóa đã nhận được sự ủng hộ hoàn toàn của các vị lão thành cách mạng và chính quyền địa phương Các trường cũng có kế hoạch tổ chức giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và tinh thần cách mạng một cách hiệu quả cho tất cả học sinh Nhiều cuộc kết nạp Đoàn, Đội kết hợp với sinh hoạt ngoại khóa được tổ chức tại các di tích đã khiến học sinh cảm thấy tự hào về quê hương hơn Hoạt động tuyên truyền giúp giáo dục học sinh bổ sung, củng cố

và hoàn thiện những kiến thức đã được học ở trên lớp, trong nhà trường Hoạt động tuyên truyền về các di tích lịch sử văn hóa còn giúp học sinh có những hiểu biết mới, mở rộng nhãn quan với thế giới xung quanh, cộng đồng xã hội Hoạt động tham quan các di tích lịch sử văn hóa cho học sinh biết vận dụng những tri thức đã học trong nhà trường để giải quyết các vấn đề do thực tiễn đời sống (tự nhiên, xã hội) đặt ra

Trang 34

- Chức năng, nhiệm vụ của Đoàn Thanh niên, Hội phụ nữ, hội Nông Dân, Hội cựu chiến binh, Công đoàn huyện trong tuyên truyền giáo dục đoàn viên hội viên mình quản lý Giúp họ ý thức được những giá trị văn hóa lịch sử của các di tích, đồng thời tổ chức tham quan học tập tại các di tích nhân những sự kiện chính trị, những ngày lễ lớn trong năm

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến huy động cộng đồng dân cư trong bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa

Trải qua những năm tháng của cuộc chiến tranh để giành lấy độc lập tự

do, bao máu và nước mắt của biết bao thế hệ đã đổ xuống giành lấy tương lai tươi sáng cho thế hệ hôm nay Chính vì thế, những dấu ấn về lịch sử cách mạng khắc sâu trong lòng mỗi người dân Đông Hòa Họ luôn ý thức được để

có ngày hôm nay họ phải nhớ đến ngày hôm qua cha ông đi trước đã trải qua như thế nào Tình yêu quê hương đất nước và ý chí đấu tranh kiên cường đã làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công rực rỡ

Cách mạng Tháng Tám thành công chưa bao lâu, đất nước lại rơi vào cảnh chiến tranh chống thực dân Pháp lần nữa Quân dân huyện Đông Hòa với vũ khí thô sơ, súng trường là chủ yếu nhưng vẫn vững vàng, bình tĩnh giáp mặt với quân địch ở mặt trận Đèo Cả, tạo nên chiến thắng vẻ vang ở Núi Hiềm Nhân dân huyện Đông Hòa một lòng “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” Trong suốt

9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, sức mạnh của chiến tranh nhân dân với ý chí tự lực, tự cường đã giành chiến thắng trọn vẹn

Trang 35

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một lần nữa quân và dân huyện Đông Hòa đoàn kết để tiếp tục cuộc chiến giành độc lập, thống nhất đất nước Khi Mỹ - Diệm chính thức phát động cuộc chiến tranh đặc biệt với tham vọng là Bình định miền Nam trong vòng 18 tháng; địch dùng sắt thép, súng đạn để đè bẹp ý chí cách mạng của nhân dân Nhưng đã có các mẹ, các chị, các cháu thiếu nhi dám lấy thân mình cản xe bọc thép Nhân dân huyện Đông Hòa người trước ngã người sau xông tới với phương châm 2 chân 3 mũi giáp công đập tan quốc sách ấp chiến lược và chiến tranh đặc biệt trên quê hương Đông Hòa Đặc biệt, bí mật xây dựng bến cảng Vũng Rô đón nhận những chuyến tàu không số hàng trăm tấn vũ khí được vận chuyển từ Bắc vào Nam an toàn

Qua đó, có thể thấy được những di tích lịch sử cách mạng mang đậm dấu ấn của người dân Đông Hòa Chính vì thế, việc huy động cộng đồng cư dân tham gia vào công tác bảo tồn và phát huy những di tích đó sẽ đạt hiệu quả tối ưu nhất có thể Bởi trong lòng mỗi người dân, ý thức về lòng tự hào dân tộc vẫn chảy trong huyết mạch, luôn nhắc nhở họ không thể nào quên những chiến công mà thế hệ đi trước đã ngã xuống giành lấy độc lập ngày hôm nay Thế hệ hôm nay và tương lai phái gánh lấy trách nhiệm bảo tồn và phát huy những giá trị của di tích lịch sử để tuyên truyền, giáo dục con em chúng ta không được quên đi truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam

1.5.2.Yếu tố tín ngưỡng, tâm linh

Cuộc sống đời thường ở đây là nói về đời sống tinh thần của những người không theo tôn giáo, để phân biệt với cuộc sống tinh thần của các tín đồ theo một tôn giáo nào đó Trong cuộc sống đời thường, cuộc sống hàng ngày

ít ai không có một phần tâm linh – một niềm tin thiêng liêng nào đó Có thể nói, không một gia đình nào, một gian bán hàng nào lại không có một góc nhỏ đặt bát hương để thắp nhang cầu cúng một vị thần hộ mệnh nào đó; đây chính

là một sự cầu cúng, một niềm tin thiêng liêng về cuộc sống bình yên của con

Trang 36

người hàng ngày Bên cạnh đó còn có niềm tin thiêng liêng cao cả về tổ quốc,

về dân tộc, về Đảng quang vinh, về Bác Hồ vĩ đại…

Niềm tin trong tín ngưỡng tôn giáo có hai ý nghĩa

- Là niềm tin của những không theo tôn giáo nhưng vẫn đến chùa lễ phật, đến nhà thờ trong những ngày lễ để cầu sự bình an, khỏe mạnh…

- Là niềm tin của tín đồ tôn giáo về thần, phật, thánh đã che chở, ban cho họ những điều tốt đẹp trong cuộc sống cũng như đón họ vào cõi vĩnh hằng sung sướng

Văn hóa tâm linh đã để lại biết bao giá trị về văn hóa vật chất, đó là những kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng của đền đài, đình chùa, nhà thờ, thánh thất; những biểu tượng thiêng liêng của các pho tượng; những giá trị văn hóa tinh thần của những lễ nghi… Văn hóa tâm linh bao gồm cả văn hóa hữu hình và văn hóa vô hình

Từ xa xưa, trong các hoạt động văn hoá truyền thống dân tộc, người Việt Nam đều có tổ chức các hoạt động văn hoá tín ngưỡng tâm linh, hoặc do nhà nước Trung ương tổ chức, hoặc do làng, xã tổ chức theo những lễ nghi trang trọng, uy linh, với sự tham gia một cách thành kính, tự nguyện của nhân dân Đó là Lễ hội giỗ Tổ Hùng Vương, Lễ tế Trời, Đất, tế Thần, Thánh, tế Tổ tiên nhằm mục đích cầu cho quốc thái, dân an; cho mưa thuận gió hòa; cho con cháu hạnh phúc

Trong phạm vi một dòng tộc, một gia đình cũng có các sinh hoạt văn hoá tâm linh Đó là việc thờ cúng tổ tiên, sửa sang đền miếu, xây đắp mồ mả vào các dịp tết Nguyên Đán, các ngày giỗ tổ, giỗ ông, bà, cha, mẹ Thông qua những hoạt động văn hoá tâm linh đó, con người tự tu tâm, tích đức để trở nên tốt đẹp hơn, đoàn kết hơn, hướng thiện hơn, bớt đi cái ác, cái xấu trong lòng

Ý nghĩa tích cực của các hoạt động văn hoá tâm linh được người Việt khai thác rất có hiệu quả vào việc giáo dục các thế hệ con cháu, cố kết cộng đồng, giữ gìn bản sắc, truyền thống Hoạt động văn hoá tâm linh đã trở thành một nhu cầu văn hoá lành mạnh, đầy tính nhân văn của người Việt Nam

Trang 37

Trong cái không gian thiêng và thời gian thiêng đó, từ sâu thẳm trong tâm hồn của con người; quá khứ và hiện tại bỗng giao hoà, giao cảm vào nhau, rất gần gũi, rất hiện hữu, không có cái cảm giác cách biệt Chính sự rung cảm thiêng liêng đó đã góp phần tu chỉnh ý thức và hành vi của người đang sống sao cho tốt hơn, hoàn thiện hơn, tâm, đức trong sáng hơn, có tính nhân bản, nhân đạo, nhân văn hơn Đó cũng là một động lực tinh thần đặc biệt

để họ sống, phấn đấu, vươn lên những giá trị cao đẹp của cái Chân - Thiện -

Mỹ mà tổ tiên, cha ông họ mong muốn

Những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm chăm lo đến việc giữ gìn và phát triển các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, trong đó có các giá trị văn hoá tâm linh Nhà nước và các địa phương đã đầu tư nhiều công sức, tiền của để xây dựng các công trình văn hoá tâm linh như tu tạo lại các đền đình, chùa, các nghĩa trang liệt sĩ, các tượng đài kỷ niệm, các di tích lịch sử, các di tích văn hoá; tổ chức các nghi lễ tri ân các anh hùng dân tộc, các liệt sỹ; tổ chức nhiều đoàn quy tập mồ mả và hài cốt liệt sỹ đã hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược Nhân dân các địa phương cũng chung sức đóng góp tiền của để tu sửa, xây cất các nghĩa trang, các di tích lịch sử, văn hóa của địa phương Có những địa phương biết kết hợp giữa xây dựng các quần thể văn hoá tâm linh với xây dựng các cảnh quan du lịch, thu hút khách thập phương; kết hợp tổ chức nhiều lễ hội văn hoá - du lịch khá ấn tượng Đó là những việc làm có ý nghĩa tích cực, cao đẹp, có tính giáo dục truyền thống rất cao, được lòng dân, đáp ứng một phần nhu cầu sinh hoạt tâm linh của nhân dân

Tuy nhiên, văn hoá tâm linh và các hoạt động văn hoá tâm linh sẽ không đạt được mục đích cao đẹp và ý nghĩa thiêng liêng nếu nó bị lợi dụng vào các mục đích thương mại, hoặc bị tuyệt đối hoá đến mức mê tín, dị đoan của một bộ phận tổ chức hoặc cá nhân nào đó Trong thực tế, hiện tượng lợi dụng các hoạt động văn hoá tâm linh để kiếm lợi, để “buôn thần, bán thánh” ở một số nơi, một số người không phải không xảy ra, và báo chí cũng đã phản ánh nhiều về hiện tượng này

Trang 38

Ở đây, có một vấn đề đặt ra là văn hoá tâm linh và hoạt động văn hoá tâm linh ở Việt Nam hiện nay cần phải được nhận thức và đối xử như thế nào cho đúng Về mặt nhận thức, văn hoá tâm linh là một bộ phận của văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam, đã tồn tại hàng mấy nghìn năm, gắn với quá trình hình thành, phát triển của văn hoá dân tộc, góp phần tạo ra bản sắc độc đáo của văn hoá dân tộc Việt Nam, có nhiều mặt tích cực không thể phủ nhận trên các bình diện: quốc gia (nhà nước), địa phương (làng, xã), gia đình, dòng họ Do vậy, cần thừa nhận có đời sống tâm lý tâm linh, có văn hoá tâm linh, có các hoạt động văn hoá tâm linh của cộng đồng và cá nhân

Điều cần lưu ý ở đây là bản chất văn hoá tâm linh, hoạt động văn hoá tâm linh là tích cực, hướng thiện và nhân văn; nó không thừa nhận mọi suy nghĩ, hành vi, hành động trục lợi vị kỷ xấu xa, phản nhân văn Chúng ta khuyến khích các hoạt động văn hoá tâm linh mang ý nghĩa tích cực, có ích cho việc xây dựng và phát triển các giá trị văn hoá tinh thần, đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam; đồng thời kiên quyết phản đối các hành vi xuyên tạc

ý nghĩa, lợi dụng văn hoá tâm linh để làm trái đạo lý dân tộc Mặt khác, chúng

ta cũng không nên tuyệt đối hoá tâm lý tâm linh, đời sống văn hoá tâm linh đến mức địa phương nào cũng cố tạo ra những hoạt động văn hoá gắn với hoạt động tâm linh để thu hút người tham gia với mục đích kinh tế Có người còn tin tưởng mù quáng, thiếu cơ sở khoa học vào các hiện tượng tâm linh, say mê các sinh hoạt tâm linh không lành mạnh đến nỗi bỏ bê cả sự nghiệp, làm tổn hại thanh danh; có dòng họ, có gia đình vì muốn tạo ra sự nổi tiếng, hơn người đã đổ không biết bao tiền của để xây lăng, mộ, làm nhà thờ, làm giỗ, gây lãng phí rất lớn trong lúc đời sống của bà con còn khó khăn nhiều bề

Đó là các hành vi có thể coi là “phản văn hoá tâm linh”, cần phê phán

Tâm linh là hiện tượng khách quan trong xã hội, văn hoá tâm linh, hoạt động văn hoá tâm linh phản ánh một nhu cầu tinh thần chính đáng của nhân dân và việc thoả mãn phần nào nhu cầu đó của nhân dân Cần phải có định

Trang 39

hướng và quản lý chặt chẽ hơn nữa các hoạt động này sao cho phát huy được mặt tích cực, mặt tốt của văn hoá tâm linh, của các hoạt động văn hoá tâm linh và các hoạt động tâm linh ngoại cảm; lập lại trật tự, kỷ cương trong các hoạt động văn hoá tâm linh; đồng thời kiên quyết đấu tranh loại trừ mặt tiêu cực, mặt xấu, các hành vi lợi dụng các hoạt động văn hoá tâm linh, hoạt động ngoại cảm tâm linh để mưu đồ vì lợi ích cá nhân hoặc các mục đích phản văn hoá khác, trái với ý nghĩa cao đẹp của văn hoá tâm linh người Việt, kể cả các thế lực xấu lợi dụng để chống phá Nhà nước

1.5.3 Yếu tố kinh tế

Các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh địa phương đều gắng với cộng đồng dân cư, được cộng đồng quan tâm là những công trình tiêu biểu có một vị thế địa lý dễ dàng trong việc khai thác giá trị tiềm năng về kinh

tế được thể hiện nhiều lợi ích cho xã hội

Các di tích được được cộng đồng tham gia tu bổ tôn tạo một cách thường xuyên, khoa học thì các di tích đó được nâng tầm giá trị văn hóa thu hút được nhiều du khách tham gia tham quan, ngắm cảnh gắn với việc kinh doanh dịch vụ cộng đồng thu lại về lợi ích vật chất, từ đó có nguồn đóng góp lớn để phục vụ cho công tác tôn tạo cảnh quan thiên nhiên lịch sử văn hóa

Trên cơ sở nhiều công trình di tích tiêu biểu mang tính tín ngưỡng, tâm linh thu hút lượng khách du lịch lớn, nhiều khoản tiền công đức để đầu tư vào đướng xá đi lại tại khu vực di tích được khang trang sạch đẹp hoặc đầu tư cho sinh hoạt cộng đồng,nhiều khoản tài trợ khó khăn trong cộng đồng, tạo nên nền kinh tế dây chuyền xây dựng thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm đặt trưng địa phương làm cho cộng đồng dân cư có điều kiện lao động sản xuất giải quyết việc làm tăng thu nhập như sản phẩm cá ngừ đại dương… một trong những sản phẩm vùng miền có thương hiệu tại khu vực biển lò Thị trấn Hòa Hiệp Trung, huyện Đông Hòa nơi có nhiều di tích lịch sử văn hóa mà đặc biệt ngư dân vùng lăng Ông phú lạc đã đánh bắt xa bờ cầu Ngư hằng năm

Trang 40

Kết luận chương 1

Có thể nói, quá trình khai phá, phát triển, giữ gìn và tô thắm gấm vóc vùng đất mới, có phần mồ hôi, công sức và cả xương máu của người Hoa đóng góp trên mảnh đất giàu tiềm năng văn hóa biển - huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên Sự tồn tại và phát triển của người dân Đông Hòa đã tạo cho mình cuộc sống mới, một sắc thái văn hoá riêng

Trải qua nhiều thế kỷ, người dân nơi đây đã hình thành một xã hội phát triển ngày càng mạnh Đời sống vật chất luôn gắn liền với đời sống tinh thần Mảnh đất nơi dây hội tụ đầy đủ các yếu tố thịnh vượng để giúp người dân mảnh đất này luôn được ấm no hạnh phúc

Trong hai cuộc kháng chiến khốc liệt, nơi dây đã ghi dấu ấn những chiến oanh liệt của quân và dân huyện Đông Hòa Từ đó hình thành nên những di tích lịch sử văn hóa theo bước sự phát triển của chiều dài lịch sử Nó góp phần tích cực thúc đẩy cuộc sống của người dân nơi đây ý thức rõ trách nhiệm của mình trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích mà các thế

hệ cha anh để lại để giáo dục tuyên truyền cho con cháu thế hệ mai sau

Ngày đăng: 28/06/2017, 10:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hóa sử cương NXB.Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB.Văn hóa – Thông tin
Năm: 2002
13. Nguyễn Đăng Duy (1997), Văn hóa tâm linh Nam bộ, NXB Hà Nội 14. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1 (dịch theo bản khắc năm Chính Hòa 18 - Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh Nam bộ," NXB Hà Nội 14. "Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: NXB Hà Nội 14. "Đại Việt sử ký toàn thư
Năm: 1997
19. Nguyễn Định (2015), Một số giải pháp bảo tồn, phát huy di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển du lịch ở Phú Yên, Tạp chí Thông tin khoa học – Công nghệ Phú Yên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp bảo tồn, phát huy di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh phục vụ phát triển du lịch ở Phú Yên
Tác giả: Nguyễn Định
Năm: 2015
22. Nguyễn Kim Loan (2014), Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Kim Loan
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2014
23. Quản Hoàng Linh (2012), Bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Quản Hoàng Linh
Năm: 2012
39. Quách Tấn (2004), Danh thắng miền Trung, NXB. Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh thắng miền Trung
Tác giả: Quách Tấn
Nhà XB: NXB. Thanh niên
Năm: 2004
40. Nguyễn Đình Thanh (chủ biên - 2008), Di sản Văn hóa, Bảo tồn và phát triển, NXB. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Văn hóa, Bảo tồn và phát triển
Nhà XB: NXB. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
41. Nguyễn Đình Thanh (chủ biên - 2007), Bảo tàng – Di tích, một số vấn đề lý luận thực tiễn, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tàng – Di tích, một số vấn đề lý luận thực tiễn
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
42. Trần Ngọc Thêm (1999), Cơ sở Văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở Văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
43. Ngô Đức Thịnh (chủ biên - 2010), Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
44. Từ điển bách Khoa Việt Nam (2005), NXB Bách khoa tái bản (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển bách Khoa Việt Nam
Tác giả: Từ điển bách Khoa Việt Nam
Nhà XB: NXB Bách khoa tái bản (2011)
Năm: 2005
45. UBND tỉnh Phú Yên (2009), Lịch sử Phú Yên thế kỷ XIX, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phú Yên thế kỷ XIX
Tác giả: UBND tỉnh Phú Yên
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2009
46. UBND tỉnh Phú Yên (2010), Lịch sử Phú Yên từ năm 1900 đến năm 1930, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phú Yên từ năm 1900 đến năm 1930
Tác giả: UBND tỉnh Phú Yên
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
Năm: 2010
48. Lê Tấn Vịnh (2011), Di sản Văn hóa Phú Yên, NXB. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Văn hóa Phú Yên
Tác giả: Lê Tấn Vịnh
Nhà XB: NXB. Thuận Hóa
Năm: 2011
2. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên (1999), Lịch sử Đảng bộ Phú Yên (1930 - 1945) Khác
3. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên (1994), Lịch sử kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954) Khác
4. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Phú Yên (1996), Lịch sử Phú Yên kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975) Khác
5. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Phú Yên (2006), Những trận đánh tiêu biểu của LLVT tỉnh Phú Yên, tập 2 Khác
6. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2012), thông tư quy định chi tiết về bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích Khác
7. Chính phủ (1958), Chỉ thị về việc cấm đào bới mộ cổ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w