11T Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn học đã chứng minh được ảnh hưởng của văn hóa dân gian và của ca dao đối với các tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương.... Xuất phát
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành nhờ sự giảng dạy và giúp đỡ của các Giáo sư, Tiến sĩ, Cán bộ các Phòng, Ban của Trường Đại Học Sư Phạm Thành Phố Hồ Chí Minh và đồng nghiệp gần xa
Đặc biệt là sự tận tình của Tiến sĩ Bùi Mạnh Nhị, người đã cung cấp tài liệu, trực tiếp hướng dẫn và góp nhiều ý kiến bổ ích để công trình hoàn thành đúng tiến độ
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó
Ngày 20 tháng 3 năm 2000
Người viết Nguyễn Duật Tu
Trang 3CHƯƠNG 3: NHỮNG YẾU TỐ DÂN GIAN TRONG HÌNH ẢNH - BIỂU
TƯỢNG THƠ NGUYỄN BÍNH.68T 74
Trang 6P11Tdo quần chúng sáng tạo, cần phải giữ gìn và phát triển
11T
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu văn học đã chứng minh được ảnh hưởng của văn hóa dân gian và của ca dao đối với các tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương trước đây và ngày nay như Tố Hữu, cây đại thụ của thơ ca cách mạng Các học giả cũng xác định được xu hướng trở về với văn học cội nguồn như là một đặc điểm chung của lịch sử văn học và thi pháp văn học
11T
Hiện nay, phần lớn các nhà thơ Việt Nam vẫn tiếp tục đi theo xu hướng này để học tập, kế thừa tinh hoa văn hóa dân tộc và tạo nên những đặc điểm phong cách nghệ thuật của mình
Trang 7Xuất phát từ quan điểm vừa trình bày, chúng tôi chọn đề tài: "Văn hóa dân gian với thơ Nguyễn Bính" để tìm hiểu một số ảnh hưởng của văn hóa dân gian, đặc biệt là của ca dao (bộ phận đặc sắc của văn hóa dân gian) với thơ Nguyễn Bính; mặt khác để làm rõ thêm phần nào các nhận xét: "Nguyễn Bính - Thi sĩ của đồng quê", "Nguyễn Bính - Nhà thơ chân
quê" của các nhà nghiên cứu đi trước
11T
Chúng tôi chỉ chọn nhà thơ Nguyễn Bính, một phần vì khuôn khổ luận văn; phần khác, bởi đây là tác giả tiêu biểu cho một thế hệ nhà thơ, một "tạng" nhà thơ, là người có dấu ấn dân gian rất rõ, đủ điều kiện làm sáng tỏ đề tài
11T
Đồng thời theo chúng tôi, từ tác giả này có thể khái quát được một số đặc điểm tiêu biểu của văn học hiện đại Việt Nam, trong quan hệ với văn hóa dân gian cũng như một số quy luật của văn học hiện đại Việt Nam về tính dân tộc, tính nhân dân và một số đặc điểm thi pháp nổi bật của nhà thơ được nghiên cứu
Trước hết là phát biểu của Hồ Chủ tịch tại Hội nghị cán bộ văn hóa ngày 30/10/1958:
"Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay mà lại ngắn, chứ không "tràng giang đại hải" dây cà ra dây muống Các cán bộ văn hóa cần phải giúp các sáng tác của quần chúng Những sáng tác ấy là "những hòn ngọc quý" Chúng tôi nghĩ, đây là quan điểm của Đảng ta
về công tác sưu tầm nghiên cứu, kế thừa "truyền thống văn hóa cổ" của dân tộc
Dã k hốc thời văn chiến phạt thanh
11T(Tiếng hát nơi thôn xóm giúp ta học những câu tả về trồng dâu, trồng gai, tiếng khóc nơi đồng nội như nhắc lại thời gian chiến tranh) Ý kiến này rút ra từ thực tế sáng tác của
Trang 8Tháng 3/1963, nhà thơ Tố Hữu, trong bài nói chuyện với giáo viên văn học Hà Nội, đã nói về cái việc làm "thư ký" cho cha hồi lên bảy tuổi, nhưng lại thật biết ơn người cha đã trang bị chút ít "vốn về hình thức thơ ca dân gian và cổ điển", để sau này trở thành nhà thơ lớn của dân tộc
11T
Trong tạp chí Văn học tháng 11/1965, Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn xác nhận: "Vai trò của văn học dân gian trong văn Việt Nam nói chung và trong truyện Kiều nói riêng" Hai năm sau nữa, ông lại khẳng định: "Phải triệt để khai thác vốn văn nghệ dân gian"
11T
Giữa khoảng thời gian hai bài viết của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn, nhà thơ Xuân Diệu đọc tham luận trong đại hội thành lập Hội Văn Nghệ dân gian Việt Nam (tháng 11/1966): "Các nhà thơ học được những gì ở ca dao?" Ông tâm sự: "Học được nhiều lắm Riêng tôi, từ ba chục năm nay tôi đã học Làm thơ mà không nghe, không học ca dao từ thuở mới biết khôn, thì như lời khổng Tử: "Không học Kinh Thi lấy gì mà nói?" Ông còn cho biết "Nguyễn Du đã đi học ở trường cô Vy, cô Sa, trường hát ví của cô gái phường 11T21TVải,
11T21T
thì mới có hơi thơ Kiều Puskin vỡ lòng đã đi học trường văn học dân gian của bà nhũ mẫu"
Ở tạp chí văn học số 1-1973, ông lại cho đăng "Tiếp nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống"
để bổ sung ý kiến của mình mấy năm trước, cũng như xác nhận xu hướng sáng tác trong thời đại mới
11T
Trong bài "Phong vị ca dao trong thơ Tố Hữu", Tạp chí Văn học, 11/1968, Nguyễn Phú Trọng chọn bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu để xác định "ảnh hưởng" của ca dao trong thơ
11T
Đặc biệt nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, trong "Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam" đã nói về "ảnh hưởng qua lại giữa tục ngữ ca dao xưa trong sáng tác mới" và coi đó như là một tất yếu trong phương hướng sáng tác
11T
Cho đến những năm 1980 trở lại đây, các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn học hiện đại, giữa ca dao và thơ, ảnh hưởng qua chúng lại càng phong phú và đi vào chiều sâu hơn Đó là: "Mấy ý kiến về vấn đề nghiên cứu mối quan hệ giữa văn học và văn học dân gian" (Tạp chí Văn học số 1 - 1989 của Giáo sư Đỗ Bình Trị),
"Việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay" (Tạp chí Văn học 11/1994) và
"Thi pháp ca dao", NXB KHXH, Hà Nội, 1992, đều của Nguyễn Xuân Kính "Thi pháp thơ
Tố Hữu, NXB Giáo dục,1997 của Trần Đình Sử "Lục bát và song thất lục bát", NXB
Trang 9KHXH,1998 của Phan Diễm Phương "Ca dao vọng về trong thơ Nguyễn Duy",Tạp chí Văn Học 07/1998 của Phạm Thu Yến
11T
Từ những bài viết vừa liệt kê ở mục này, chúng tôi nhận thấy: So với mặt bằng nghiên cứu văn học dân gian, đề tài văn hóa dân gian trong thơ hiện đại còn khá khiêm tốn Đúng như nhận xét của Giáo sư Đỗ Bình Trị: "Ở nước ta thật ra đã có một vài công trình nghiên cứu Chúng tôi nghĩ, trước hết đến luận văn nổi tiếng của Giáo sư Nguyễn Khánh Toàn: Vai trò của văn học dân gian 11T16Ttrong 11T16Tvăn học Việt Nam nói chung, trong truyện Kiều nói riêng Rất tiếc, những công trình này chưa được tiếp nối để tạo ra hẳn một hướng nghiên cứu lớn, đặc biệt đối với vặn học quá khứ của dân tộc"11TP2F
về nhà thơ Nguyễn Bính, đã có các công trình của các tác giả: Hà Minh Đức với 16T"Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê" 16TNXB Giáo dục, Hà Nội,1995 Hoài Việt: 16T"Nguyễn Bính, thi sĩ của quê hương" 16TNXB Hội nhà văn,1992 Hoàng Xuân tuyển chọn 16T"Nguyễn Bính, thơ và đời",
Trang 10tính tình căn bản của ta Giá Nguyễn Bính sinh ra thời trước, tôi chắc ông đã làm những câu
ca dao mà dân quê vẫn hát quanh năm "
Do mục đích khác nhau, trong nhiều công trình của các tác giả nêu trên, vấn đề văn hóa dân gian, trong đó có ca dao với thơ Nguyễn Bính, là một hướng tiếp cận chuyên biệt thì vẫn chưa đặt ra Luận văn của chúng tôi mang tính thử nghiệm, do đó, vẫn rất cần được tiếp tục bổ sung
Dĩ nhiên, con đường đến với khoa học là vô tận Tương lai sẽ còn nhiều công trình khoa học khác giá trị Song những công trình đã công bố vẫn là những tư liệu rất quý giá, gợi mở nhiều vấn đề về lý luận, về phương pháp nghiên cứu là cơ sở vững chắc giúp chúng tôi hoàn thành luận văn này
3 Nhiệm vụ và phướng pháp nghiên cứu
Như tên gọi của luận văn, ở đây chúng tôi sẽ cố gắng chỉ ra mối liên hệ gần gũi giữa văn hóa dân gian và thơ Nguyễn Bính, tìm một số ảnh hưởng của văn hóa dân gian, đặc biệt
là của ca dao đối với sáng tác nhà thơ "Chân Quê" này Một nhiệm vụ như thế dẫu sao cũng rất rộng lớn Chúng tôi không đặt cho mình mục đích đi tìm hết tất cả các ảnh hưởng của văn hóa dân gian, của ca dao đối với thơ Nguyễn Bính Chúng tôi chỉ cố gắng khảo sát, miêu tả, so sánh để tìm ra một số ảnh hưởng tiêu biểu mà thôi Mặt khác chúng tôi cũng không dừng lại chỉ ở những biểu hiện ảnh hưởng mà còn cố gắng chỉ ra một số ảnh hưởng chứng tỏ sự vận dụng ca dao sáng tạo của nhà thơ Đây cũng là bằng chứng của sự ảnh hưởng tích cực của ca dao đối với nhà thơ và sự tiếp thu tích cực của nhà thơ đối với ca dao
Để thực hiện nhiệm vụ trên đây chúng tôi muốn nói rõ một số điểm về phương pháp nghiên cứu
Ảnh hưởng của văn học dân gian đối với văn học viết rất đa dạng tinh tế Văn học dân gian và văn học nói chung, ca dao và thơ Nguyễn Bính nói riêng, tuy gần nhau nhưng thuộc hai hệ thống tư tưởng thẩm mỹ khác nhau Khảo sát những mối liên hệ cũng như ảnh hưởng của văn hóa dân gian với thơ Nguyễn Bính, không đơn giản là việc so sánh đối chiếu thuần túy
Trang 11Để tìm ra ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong thơ, trước hết phải có các tác phẩm của nhà thơ có ảnh hưởng để làm dữ kiện so sánh, đối chiếu các hình thức nghệ thuật, "nội dung của ảnh hưởng"; sau đó là các tài liệu văn hóa dân gian để khảo sát, thống kê các yếu
tố có quan hệ Từ đó rút ra các ảnh hưởng về sự vận dụng sáng tạo văn hóa dân gian của nhà thơ
Mỗi sáng tác, dù của tập thể hay cá nhân, đều có một hoàn cảnh cụ thể Cho nên khi tiếp nhận tác phẩm, phải thẩm định bằng cách phân tích đánh giá giá trị của nó qua hình thức, nội dung Trong luận văn này, việc phân tích đánh giá, không chỉ đơn thuần là thưởng thức cái hay, cái đẹp của tác phẩm, mà để tìm ra mối quan hệ giữa văn hóa dân gian, ca dao với thơ Nguyễn Bính và một đôi nét về sự sáng tạo của nhà thơ
Nhà thơ không bao giờ tách khỏi không gian văn hóa, thời đại sống nên đặt nhà thơ trong môi trường văn hóa (quê hương, gia đình, cá tính, sở thích cá nhân khi tiếp xúc với xã hội ) nhằm tìm hiểu cái "tạng" nhà thơ là điều kiện cần Những yếu tố ngoài văn học này , giúp nhà nghiên cứu hiểu kỹ hơn, chính xác hơn "cái bên trong văn học"; đồng thời chỉ ra những ảnh hưởng riêng của tác giả khi tiếp xúc với văn hóa dân gian
Như vậy để triển khai thuận lợi và đạt hiệu quả đề tài, chúng tôi dựa vào chuyên đề giảng dạy: "Một số gợi ý về phương pháp nghiên cứu các yếu tố folklore trong tác phẩm văn học" của Giáo sư Chu Xuân Diên, coi đó như là một phương pháp cơ bản Phương pháp này gồm ba bước:
1) Phát hiện các dấu vết Folklore trong tác phẩm thơ Nguyễn Bính (Các dấu vết này hiện ra dưới nhiều hình thức khác nhau: là tác phẩm văn học dân gian nguyên vẹn, hoặc một phần, một yếu tố folklore, một từ, một ý của bài ca dân gian)
2) Phân tích và chỉ rõ vai trò ý nghĩa của các yếu tố Folklore, mà nhà văn sử dụng trong tác phẩm với tư cách là một yếu tố nghệ thuật Chứng minh cách sử dụng các yếu tố dân gian đó phản ánh tính độc đáo về tư tưởng thẩm mĩ và tài năng của nhà thơ, đồng thời làm phong phú hơn nội dung, nghệ thuật của tác phẩm và phong cách tác giả
3) Dựa vào tiểu sử tác giả (quê hương, gia đình, bản thân, quá trình sáng tác ) để tìm nguyên nhân ảnh hưởng của văn hóa dân gian trong đó có ca dao đến con người tác giả và
Trang 12Trong quá trình khảo sát, chúng tôi không tách bạch từng phần theo quy trình cụ thể,
mà tùy từng trường hợp, có thể kết hợp để trình bày
4 Kết cấu luận văn
Ngoài phần dẫn luận (07 trang) và phần kết luận ( 04 trang), nội dung của luận văn được tổ chức thành 4 chương như sau:
- Chương 1: Nguyễn Bính, người kế tục và phát triển văn hóa dân gian truyền thống (15 trang)
- Chương 2: Những yếu tố văn hóa dân gian trong đề tài thơ Nguyễn Bính (41 trang)
- Chương 3: Những yếu tố văn hóa dân gian trong hình ảnh - biểu tượng thơ Nguyễn Bính (30 trang)
- Chương 4: Những yếu tố văn hóa dân gian trong thể loại thơ Nguyễn Bính (24 trang)
Trang 13CHƯƠNG 1: NGUYỄN BÍNH, NGƯỜI KẾ TỤC VÀ PHÁT TRIỂN
VĂN HÓA DÂN GIAN TRUYỀN THỐNG
1 1 Những đặc điểm văn hóa mang tính truyền thống của quê hương và gia đình
Trong "Ca 16Tdao tục ngữ Nam Hà" 16TP3F
Bối Xuyên khâu nón cho cô bán 16Thàng
Thôn Thiện Vịnh thuộc xã Cộng Hòa và thôn Vân Tập, xã Minh Tân đều của huyện
Vụ Bản, tỉnh Nam Định - là quê nội và quê ngoại của nhà thơ Nguyễn Bính - những cái làng, đồng trũng mà đến mùa nước thì con đường, con đê trên huyện kia chỉ là sợi chỉ mỏng manh bên mép nước Cái làng quê ấy đã đi vào trong thơ Nguyễn Bính:
có đất thả diều", cũng là quê hương có khá nhiều chợ và lễ hội thu hút khách thập phương:
Trang 15Cũng vào đầu tháng ba âm lịch còn có hội Phủ Giầy:
5
Pđến thế hệ Nguyễn Bính còn xốn xang:
7
Pđặc biệt, đã sinh ra những người con làm rạng rỡ non sông đất nước Đó là những vua chúa, tướng lĩnh thuộc dòng họ Trần ở thôn Tức Mạc (xã Lộc Hòa, huyện Mỹ Lộc ngày nay), từng ba lần đánh thắng quân Nguyên, giành lại nền độc lập dân tộc
1 Ca dao tục ngữ Nam Hà Tr 28 Phủ Giày ở xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, Nam Định
2 Tứ bất tử của Việt Nam là: Tản Viên (con rể vua Hùng), Thánh Dóng (tướng của vua Hùng), Chữ Đồng Tử (lấy công chúa Kim Dung, con gái vua Hùng) và bà chúa Liễu Hạnh
3 Thuộc xã Quang Trung - Vụ Bản
4 Làng Gôi (Cô i) xã Thanh Côi Làng Xuân Báng, xã Kim Thái, Làng Hầu, xã Liên Minh đều thuộc huyện Vụ Bản
Trang 16Đó là những danh sĩ tài hoa như Trạng Nguyên Lương Thế Vinh, Hoàng Giáp Phan Văn Nghị, nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương, nhà sử học Trần Huy Liệu; nhà viết kịch Trúc Đường, nhạc sĩ - tác giả "Quốc ca" Văn Cao
Mảnh đất nhỏ nhoi trong địa bàn tổ quốc bao la, đã để lại bao nhiêu tình cảm cho con người "chôn nhau cắt rốn" nơi đây:
Nhớ dòng sông Vị, nhớ người tình chung
Non Côi, sông Vị là nơi chứng kiến tiếng khóc chào đời, bước chân chập chững đầu tiên và là nguồn cảm hứng không bao giờ cạn của nhà thơ Nguyễn Bính
Đất nước, quê hương bao giờ cũng có ảnh hưởng đến con người, nhất là những người
mà thiên bẩm đã phú cho họ sự mẫn cảm trong quan hệ với môi trường xã hội văn hóa Chúng ta đã từng biết ảnh hưởng của vùng văn hóa Nghệ Tĩnh với Nguyễn Du, vùng văn hóa Phong Châu đối với Tản Đà, vùng văn hóa Phú Xuân đối với Tố Hữu
Và chính mảnh đất Nam Định, quê hương của Lương Thế Vinh, của Trần Huy Liệu, Văn Cao; quê hương của hội Phủ Giầy, hội Đền Trần đã nuôi dưỡng hồn thơ dân gian Nguyễn Bính
Điều thú vị hơn nữa là, những miền đất Nguyễn Bính sống sau này như Hà Nội, Huế, Tháp Mười cũng đều là những chiếc nôi hoặc những vùng đậm đặc văn hóa dân gian, mà chắc chắn sẽ là những ảnh hưởng không nhỏ đến phong cách thơ Nguyễn Bính:
Trang 17Chuông chùa Diệu Đế, trống rung Tam Tòa
1.2 Chân dung người kế tục văn hóa dân gian truyền thống
Nguyễn Bính sinh năm 1918, tên thật là Nguyễn Trọng Bính Cụ thân sinh là Nguyễn Đạo Bình, làm nghề dạy học, tính tình điềm đạm hiền lành, thường dạy các con: "Nhà ta coi chữ hơn vàng Coi tài hơn cả giàu sang trên đời" Cụ thân mẫu là Bùi Thị Miện, nguyên là thôn nữ nết na xinh đẹp, con gái gia đình khá giả, có truyền thống yêu nước, em ruột cụ Bùi Trình KhiêmP17F
1
P
nổi tiếng khắp vùng: “Vụ Bản Trình Khiêm, Hà Nam Sứ Chỉ ” Nguyễn Bính mồ côi mẹ lúc mới ba tháng tuổi nên cuộc sống của ông gắn bó nhiều với bên ngoại Ngay cả cái tên Nguyễn Trọng, cũng do người cậu Trình Khiêm "Văn hay chữ tốt", rồi sau này là người thầy đầu tiên của Nguyễn Bính đặt cho
Nguyễn Bính thông minh học giỏi, làm thơ từ bé Mười ba tuổi đã nổi tiếng "thần đồng", "thơ tiên"P18F
ý kiến cho Bính
Học xong tiểu học, lên trung học, Nguyễn Bính tỏ ý xin anh đi sáng tác thơ Trúc Đường không cản được, đành bụng để cho em theo đuổi nghiệp thơ Thế là Nguyễn Bính được dịp tung hoành Nhưng đi đâu? Làm gì? 5Tsống 5Tbằng gì với hai bàn tay trắng và cái vốn
1 Thân sinh nhà văn Bùi Hạnh cẩn Tham gia phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục Đại biểu quốc hội tỉnh Nam Định, khóa I nước VNDCCH
Trang 18học vấn không bằng cấp, trong cái xã hội đầy những cạm bẫy bất công của chế độ phong kiến nửa thuộc địa đang tàn lụi? Vậy mà, Nguyễn Bính vẫn quyết dứt áo ra đi, coi như là:
16T
Cha đừng tiếc, mẹ đừng thương
16T
Cầm như đồng kẽm qua đường đánh rơi
(Thư gửi thầy mẹ) Nguyễn Bính mắc phải cái bệnh thông thường của khá đông văn nhân, thi sỹ lúc bấy giờ: bệnh giang hồ Trong "Một quãng đường" nhà văn Tô Hoài kể: "Một lần Nguyễn Bính
rủ tôi đi "giang hồ" Nghĩa là đi chơi không cần tiền Có tiền mới đi chơi thì là xoàng rồi, ai cũng làm được ở sông Thương, ngày ngày, Chương (Vũ Hoàng Chương) và Bính tha thẩn vào xóm Thùng Đấu phía ngoại ô thị xã Bắc Giang Hai bạn thơ vừa đi vừa nghêu ngao đọc thơ Ông Chương thì "Tố của Hoàng ơi", ông Bính thì "Ngày xưa vua nước Bướm ", tôi đi giữa, ngất nghểu như ba thằng rồ "
Lang thang như thế, hết Bắc Giang, Bắc Ninh lại đến Thái Nguyên, Lạng Sơn; trở về
Hà Nội, Nguyễn Bính lại tiếp tục xuống Hải Dương, sang Hải Phòng chán chê mê mỏi, lại
về sống với anh ruột Nhưng chỉ được một thời gian là Nguyễn Bính lại đi Lúc này (năm 1940) Trúc Đường đã chuyển ra Hà Nội và đang viết truyện dài "Nhan sắc" Nguyễn Bính
quyết định chia tay anh, đi Huế Trúc Đường tán thành nhưng không có tiền, bèn cho Bính chiếc máy ảnh, rồi về quê bán dãy thềm đá xanh - vật báu duy nhất còn lại của gia đình, đưa tất cả tiền cho em
Bính vô Huế, tháp tùng có Vũ Trọng Can Chính tại đây, giữ đúng lời giao ước với Trúc Đường, Nguyễn Bính sáng tác đều đặn: "Xuân tha hương", "Hoa với rượu", "Tựu trường", "Giời mưa ở Huế" và cũng đều đặn gửi ra cho Trúc Đường đọc, trước khi đưa đăng báo
Năm 1942, khi "Nhan sắc" của Trúc Đường ra mắt bạn đọc, thì cũng là thời gian Nguyễn Bính trở ra Hà Nội và về thăm quê mẹ, chuẩn bị một chuyến "hành phương Nam", 1943:
Trang 19Lưng vốn vẫn là mấy vần thơ, một bộ quần áo cũ nát, vẫn cũng mấy người bạn sính thơ, thích giang hồ; Nguyễn Bính đã đặt được chân đến Sài Gòn, Lục tỉnh Những tháng năm lưu lạc ở miền Nam, Nguyễn Bính đã đến Ba Tri - nhà của cụ Đồ Chiểu, đến Hà Tiên - nổi tiếng phong cảnh đẹp, ở trong nhà Mộng Tuyết, Đông Hồ một thời gian rồi lại trở lên Sài Gòn
Cách mạng tháng Tám (1945), tổng khởi nghĩa, Nam bộ kháng chiến, chống Nhật rồi chống quân Anh, Pháp; Nguyễn Bính lưu lạc từ vùng này sang vùng khác, khi thì bị hãm trong vòng thế lực của Bình Xuyên, khi thì lạc lõng ở các vùng giáo phái…với bao nhiêu tin đồn thất thiệt, lúc nói sống, lúc nói chết…nhưng thực sự, Nguyễn Bính đã trụ lại ở chiến khu Đồng Tháp và với tư cách nhà thơ - chiến sỹ, ông đang cất cao giọng hào hùng ca ngợi Đồng Tháp Mười:
… Gươm báu chôn vùi Đợi giờ quật khởi
Trang 20Gieo mùa hạnh phúc xây nền tự do
Đặc biệt, bài thơ ca ngợi tiểu đoàn 307 của Nguyễn Bính được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc, đã lan truyền khắp trong Nam ngoài Bắc Cho đến tận bây giờ, khí thế "đánh
đâu được đấy, oai hùng biết mấy " vẫn còn hừng hực
Từ một người bị thành kiến là "Văn nghệ sĩ cũ", "Văn nghệ sĩ lãng mạn", Nguyễn Bính đã thành người tri kỷ, tri âm của đông đảo cán bộ chiến sĩ, từ các đồng chí lãnh đạo như Lê Duẩn, Trần Văn Trà anh chị em văn nghệ sĩ như Bảo Định Giang, Hoàng Tấn, Đoàn Giỏi, Minh Lộc, Sơn Nam, Trần Kim Trắc, Hoàng Việt, Ba Du, Tám Danh cho đến các chiến sĩ vệ quốc đoàn, dân quân du kích, bà con nông dân, các em học sinh Nguyễn Bính sống trong tình yêu thương, đùm bọc của quê hương Nam bộ Ông cũng sống những giờ phút sảng khoái nhất để viết những câu thơ "Gươm súng bật giọng thép, thù sâu ôi thù sâu", những bài ca dao vận động đồng bào đánh giặc:
Con chim có cánh thì bay Con ơi! Có nước thì mày phải thương Thà rằng chết ở chiến trường Còn hơn chết ở trên giường thê nhi
Nhà thơ đã hoàn toàn hòa mình vào nhịp sống của toàn dân chiến đấu
Hòa bình lập lại, tập kết ra Hà Nội, Nguyễn Bính trở về ở với gia đình Trúc Đường Hơn mười năm xa cách, âu lo, nhung nhớ, anh em nay lại bên nhau, tiếp tục bàn bạc về sáng tác Nhưng một nửa trái tim của Nguyễn Bính còn ở miền Nam Niềm vui chưa trọn vẹn đối với Nguyễn Bính cũng như cán bộ chiến sĩ miền Nam tập kết Nguyễn Bính còn vợ và hai con gái ở Nam Bộ Lại những nhớ thương khắc khoải:
Mỗi tin bọn nó gây tang tóc
Em ạ! Đêm đêm mộng chẳng lành Còn vang tiếng thét rừng Tân Lập
V ẫn ứ thù sâu đập Vĩnh Trinh Đèn chong suốt sáng thơ đòi viết Cắn chặt vành môi lệ chảy quanh
Trang 21Tinh lên mặt giấy đèn soi tỏ Hồn hướng về Nam bút đẩy nhanh
(Xuân nhớ miền Nam)
Ba ôm tấm áo xanh giữa ngực Tưởng chừng nghe thổn thức tim con Bâng khuâng cặp mắt đen tròn Chắt chiu vang tiếng chim non gọi đàn
Treo áo con bên bàn làm việc Nhìn chim thêu ba viết thư này
Áo không gửi được hôm nay Thì ba giữ lấy mai ngày cho con
(Chim thêu)
Ở Hà Nội đến cuối năm 1964, Nguyễn Bính về công tác tại Ty Văn hóa Nam Hà, sau
hai mươi năm "Xuân tha hương", "Xuân lại tha hương", "Xuân vẫn tha hương" Công việc làm thơ tuyên truyền, ca ngợi chiến thắng miền Nam, thơ sản xuất về công, nông nghiệp cuốn hút Nguyễn Bính Đồng thời ông vẫn tiếp tục sáng tác các tập thơ "Gửi người vợ miền Nam", "Bức thư nhà" với lời lẽ trau chuốt mượt mà theo phong cách dân gian:
Được tin anh lòng mừng khôn xiết Trả lời anh em viết thư này, Trong màn con đã ngủ say, Ngoài sân trăng giải bóng cây la đà Nay em kể chuyện nhà anh rõ:
Mẹ bình yên, con nhỏ chịu chơi
Em theo công điểm kịp người, Lứa tằm, lứa lợn mẹ nuôi vẫn đều
…
Trang 22Đánh quân thù lập chiến công cao Cho dù xa cách bao lâu
Việc nhà em gắng trước sau vẹn tròn
Tài thơ Nguyễn Bính, phải chăng một phần do dòng tộc có truyền thống học giỏi (từ thời Lê Cảnh Thống (TK XVI) đã có người đỗ tiến sĩ, nay còn ghi bia đá ở Văn Miếu, Hà Nội) Một phần được sự dạy dỗ đến nơi đến chốn của người cậu, người thầy Trình Khiêm (Nguyễn Bính được cậu dạy cả chữ quốc ngữ và chữ Nho; chỉ dẫn động viên sáng tác về thơ phú, văn chương, giảng giải từng câu đối Viếng ông Nghè Giao cũ, bài thơ Đông Hoa Sen của Phạm Văn Nghị) Một phần là sự yêu thương chăm sóc của người anh ruột Trúc Đường ngay từ điểm xuất phát trên con đường "Marathon Thơ" mà Nguyễn Bính theo đuổi suốt đời, hay là do môi trường văn hóa, môi trường sống nơi quê mẹ?
Thôn Vân có biếc có hồng Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều
Đê cao có đất thả diều Giời cao lắm lắm có nhiều chim bay
Khó mà đánh giá chính xác phần đời hay phần đạo đã tạo dựng nên một chân dung thơ Nguyễn Bính Công bằng mà xét, thì phải cả hai Quê hương đã trở thành máu thịt của nhà thơ Trong các tập thơ xuất bản ở các thời kỳ khác nhau, tập nào cũng có bài về quê hương; nhiều bài khác đề tài nhưng cũng xen vào những câu, chữ về quê hương:
Sáng giăng chia nửa vườn chè
(Thời trước - 1936)
Vào đám làng tôi mở trống chèo Bay cờ, gió lộng, đỏ đuôi nheo
(Trở về quê cũ - Hà Nội 1957) Quê hương với Nguyễn Bính có khi là hình dáng đất nước:
Quê hương tôi có ca dao tục ngữ Ông trăng tròn từng xuống mọi nhà chơi
Trang 23Một đĩa muối cũng nặng tình chồng vợ Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi
Quê hương tôi có Trường Sơn một dải
Có Hồng Hà lại có Cửu Long Giang
Có Hà Nội, có Hồ Tây, hồ Kiếm
Viết gửi về anh anh coi chơi Một vài dòng ngắn thế này thôi
Để anh thấu rõ tình mong nhớ Của đứa em anh ở cuối trời
(Lá thư về Bắc)
Tôi từ xa cách miền Nam Quê nhà lửa xém vườn cam bao lần Cây rừng mây núi khôn ngăn Trông về con mắt đăm đăm từng giờ
(Trưa hè)
Trang 24"Quê Mẹ" trong thơ Nguyễn Bính là tất cả con người, kỉ vật, lưu niệm: là khung cửi dệt, là cánh đồng xa, là đêm trăng sáng, là hạt mưa xuân, là tiếng trống chèo, là dòng sông, con đò; là người cha, người mẹ, người chị, là cô hàng xóm, cô hái mơ, anh lái đò; là ánh mắt nhìn trộm nhau qua dậu mồng tơi, qua khung cửa sổ; là mối thương thầm nhớ vụng trong đêm hát chèo, trong giấc mơ "quan trạng" "Chỉ có quê hương mới tạo dựng nên được từng câu, từng chữ Nguyễn Bính Trên chặng đường nửa thế kỷ thơ, mỗi khi những gắn bó mồ hôi nước mắt kia đầy lên, ngây ngất nhớ thương, day dứt không thể yên, khi ấy xuất hiện những bài thơ tình quê tuyệt vời của Nguyễn Bính"P20F
1
Tuy nhiên, chỉ có tình quê không vẫn chưa đủ tạo nên sự trường tồn của thơ Nguyễn Bính Trong "làng thơ" Việt Nam, không thiếu những nhà thơ tả cảnh que, tình quê Đó là các tác giả "Quê hương", "Bến Mi Lăng", "Cổng làng", "Chợ Tết", "Bến đò ngày xưa"P21F
2
P
Nhưng mỗi nhà thơ cảm xúc mọt cách riêng "Anh Thơ không nhà quê một tí nào, Anh Thơ
là người thành thị đi du ngoạn nên chỉ thấy cảnh quê:
Quán cũ nằm lười trong sóng nắng
19TBà hàng thưa khách ngả thiu thiu
1 Tô Hoài - Lời giới thiệu - Tuyển tập Nguyễn Bính, NXB Văn học, H., 1986,Tr 19
2 Tế Hanh, Yến Lan Bàng Bá Lân, Đoàn Văn Cừ, Anh Thơ
Trang 25Thơ Nguyễn Bính không có nhiều những bức tranh quê cụ thể như Anh Thơ, hoặc tỷ
mỉ với cảnh, với người như Đoàn Văn Cừ, nhưng lại khơi gợi nhiều ở thế giới nội tâm, ở tình đời, tình người, tạo nên phong cách riêng:
6T
(Thư gửi thầy mẹ)
Tầm tầm trời cứ đổ mưa Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!
Cô đơn lòng lại thêm buồn Tạnh mưa bươm bướm biết còn sang chơi?
Em là con gái trong khung cửi
Trang 26Lòng trẻ còn như cây lụa trắng
Mẹ già chưa bán chợ làng xa
(Mưa xuân) Những nét văn hóa làng quê như thế cứ hiện lên trong thơ Nguyễn Bính, rất tự nhiên
Ở nước ta, cộng đồng làng xã, vốn là cộng đồng láng giềng tồn tại từ ngàn đời, đã sản sinh ra nền văn hóa mang tính đặc thù Đó là những nề nếp, phong tục tập quán, tín ngưỡng
và cách cư xử trong quan hệ giữa người với người Làm ruộng tất phải sống trên mảnh đất của mình Trường hợp ngoại lệ con người phải bỏ xứ ra đi, còn thì phải sống nơi ông cha đã sống, rồi con cháu về sau cũng phải sống Dù có đi xa, làm nên chức này, tước kia hoặc tha phương cầu thực, không khi nào dám quên quê cha đất tổ Đó cũng là nếp thẩm mỹ dân tộc: giản dị, chân quê trong sinh hoạt giao tiếp ngoài xã hội; hiếu thảo, thủy chung trong quan hệ gia đình Chính tầng văn hóa này đã thâu giữ sâu kín hồn quê Nguyễn Bính và thơ ông đã khai thác thành công nếp sống văn hóa lành mạnh nơi làng quê, tạo nên phong cách
"chân quê " không lẫn vào đâu được
Cả thời trai trẻ sống ở làng quê nên cảnh vật, con người làng quê đã thấm sâu vào tâm hồn Nguyễn Bính, định hình và trở thành những chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ Do đó, mặc văn hóa phương Tây, mặc thị hiếu hiếu kỳ, Nguyễn Bính cứ tìm về với ca dao, với tiếng hát đồng quê mộc mạc và không hề dấu ý tưởng nghệ thuật của mình, ông ra một bản tuyên ngôn bằng thơP22F
1
P
:
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Th ầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
(Chân quê) Nói và làm đi đôi với nhau, một mặt Nguyễn Bính không từ bỏ chủ trương "thơ Việt viết cho người Việt, trước hết phải mang sắc thái và phong cách Việt",P23F
2
Pmặt khác, ông còn
1 Hoàng Tấn: Nguyễn Bính - Một vì sao, NXB Đồng Nai, 1999
2 Hoàng Tấn (Trích hồi ký): Nguyễn Bính - Một vì sao Sđd.
Trang 27là người viết sách dạy cách làm thơ lục bátP24F
1
P
Ông không lý luận, phân tích dài dòng mà chỉ
ra những ví dụ thật để chứng minh cho những điều ông viết: "Thơ lục bát phải làm cho đúng vần, nếu sai vần thì không thể thành thơ được" Những người làm thơ lục bát có thể lấy những bài: "Lỡ bước sang ngang", "Chân quê", "Tương tư", "Người hàng xóm" của Nguyễn Bính làm khuôn mẫu của thể thơ dân tộc này
Sự nghiệp thơ Nguyễn Bính có thể nói rất thành công Ngay từ sáng tác đầu tiên, được trao giải thưởngP25F
2
P
, rồi được bạn đọc hồ hởi đón nhận, thậm chí có cả những mối tình của
"những cô Tý, cô Mơ, cô Mận, cô Tơ - gái làng canh cửi có thể vứt cả lồng tơ khung cửi
mà đi theo anh chàng làm thơ tài đến thế"P26F
3
P
Thế nhưng Nguyễn Bính vẫn như con ong cần mẫn xây cái tổ thơ của mình Mỗi bài viết gửi đi, ông đón những tin về kết quả bài thơ của mình trong dư luận quần chúng bạn đọc, rất hồ hởi, hồn nhiên "Ông là người rất trân trọng nguồn thơ dân gian, nhặt nhạnh chắt chiu một từ, một ý của người lao động Tôn quần chúng làm thầy của nhà thơ, có khi dù chỉ một chữ"P27F
4
"Một lần ông trầm trồ tấm tắc cảm ơn mãi anh hay chị công nhân nhà in, đã xếp lầm một chữ trong thơ ông - làm cho thơ hay vọt lên, ngoài cả dự kiến của tác giả 5Tvốn 5Tlà, Nguyễn Bính viết về sự hi sinh dũng cảm của người mẹ trẻ, lấy thân mình bảo vệ đứa con thơ trong một trận bom Nguyễn Bính viết:
Lấy thân làm bức thành đồng UchoU con
Người thợ in - không biết vì có tài thẩm thi xuất chúng, hay đơn giản thôi chỉ vì lầm chữ, đã xếp thành câu:
Lấy thân làm bức thành đồng UcheU con
Nguyễn Bính sung sướng, trân trọng, cảm kích tự xét: “Cái từ cho nó yếu ớt, bị động, tầm thường bao nhiêu thì cái từ che nó năng nổ, dũng cảm, chủ động quyết liệt bấy nhiêu Ha! Quần chúng sáng tạoP28F
Trang 28Cũng lại một chữ - lần khác, Nguyễn Bính trằn trọc thâu đêm để tìm một chữ Hạt mầm mạ gieo xuống đất, nó bén rễ rồi trỗi dậy, vươn dậy, nhú thẳng cái thân non tí xíu Hiện tượng ấy gọi là gì nhỉ? Nguyễn Bính dậy sớm, hút thuốc lào, thở dài chưa tìm ra chữ cho tới lúc tan sương, mới sực tìm thấy cái chữ quên khuấy đi tự hồi nào A! Đây rồi Mạ ngồi Và Nguyễn Bính viết:
Mộng một đêm qua, mạ đã ngồi
Nguyễn Bính rất đắc ý với cái từ "ngồi" Cái vốn văn hóa dân gian của ông đã giàu, nhưng như người đãi cát tìm vàng, Nguyễn Bính luôn đi Lượm lặt và ghi nhớ Chính sự cần
cù, say mê thơ ca của bản thân và lại được sống trong môi trường văn hóa sâu đậm như vậy, Nguyễn Bính có điều kiện thuận lợi để trở thành "Thi sĩ của đồng quê "
Trang 29CHƯƠNG 2: NHỮNG YẾU TỐ VĂN HÓA DÂN GIAN TRONG ĐỀ
TÀI THƠ NGUYỄN BÍNH
Đề tài là khái niệm chủ yếu thể hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học Đọc bất cứ tác phẩm nào, người ta cũng bắt gặp những cảnh, những người và những tâm tình cụ thể, sinh động Đó là phạm vi miêu tả trực tiếp của tác phẩm Nhưng mục đích của tác phẩm, không chỉ là giới thiệu những hiện tượng cụ thể, cá biệt của đời sống hay của tưởng tượng mà bao giờ cũng xuyên qua một phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác phẩm
để khái quát một phạm vi hiện thực đời sống nhất định, có ý nghĩa sâu, rộng hơn
Việc xác định đề tài cho phép liên hệ nội dung tác phẩm với một mảnh đời sống nhất định của thực tại Tuy nhiên, không nên đồng nhất đề tài với đối tượng nhận thức, chất liệu của đời sống hay nguyên mẫu thực tế của tác phẩm
Đề tài của tác phẩm là phương diện nội dung của tác phẩm, là đối tượng đã được nhận thức, là kết quả lựa chọn của nhà văn Đó là sự khái quát phạm vi xã hội, lịch sử của đời sống được phản ánh trong tác phẩm
Thực chất đề tài là một khái niệm về loại của hiện tượng đời sống được mô tả Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài Chẳng hạn có thể gặp đề tài người nông dân, người công nhân, người chiến sỹ trong các tác phẩm văn học hiện đại; đề tài về các chàng trai, cô gái, người vợ, người chồng trong các tác phẩm văn học dân gian Thậm chí có thể gặp đề tài số phận người phụ nữ với nhiều tình cảnh: phải lấy chồng không ra gì, lấy chồng nghèo, bị ép duyên, góa bụa
Đề tài là cơ sở để nhà văn khái quát những chủ đề và xây dựng hình tượng, những tính cách điển hình, những hoàn cảnh điển hình Song cũng có những trường hợp chủ đề và đề tài hòa quyện vào nhau như một số thơ trữ tình, ví như tác phẩm của Tố Hữu, Nguyễn Bính Trước nay ta vẫn quan niệm và sử dụng khái niệm đề tài theo nghĩa rộng Ví dụ đề tài tình yêu quê hương đất nước, đề tài tình yêu đôi lứa, đề tài chống thực dân phong kiến Cách quan niệm và sử dụng ấy không sai, nhưng do khái niệm bao quát, nghĩa khá rộng, cho nên khi vận dụng để phân loại hay phân tích các hiện tượng, cách quan niệm ấy cản trở các
Trang 30Trong văn học dân gian nói chung, ca dao nói riêng, chúng tôi hiểu đề tài là những môtíp (mẫu đề) Bản thân các môtíp trong văn học dân gian đã thể hiện tính truyền thống Đến lượt mình, môtíp trong văn học dân gian lại được xây dựng từ các công thức truyền
Đề tài luận văn chúng tôi vừa đề cập đến văn học, vừa đề cập đến văn hóa dân gian, cho nên bên cạnh việc sử dụng thuật ngữ đề tài theo nghĩa rộng, chúng tôi còn sử dụng thuật ngữ này theo nghĩa hẹp của khoa nghiên cứu văn học dân gian
Công thức Folklore là những kiểu mẫu ổn định, điển hình khác nhau của truyền thống dấu hiệu chung của công thức là ở sự lặp lại, tiêu biểu, điển hình, tạo nên sự ổn định mang tính khuôn mẫu Ví dụ: đề tài về quê hương thì có các công thức: địa danh - phong cảnh, địa danh - sản vật, địa danh - con người; với những hình ảnh "non xanh, nước biếc",
"tranh họa đồ" Đề tài về người phụ nữ với chồng thì có công thức: "Vì nên", "Vì phải",
"Vì cho" Hoặc đề tài người đi kẻ ở, công thức sẽ là: "Ai về nhắn", "Ai về gửi", "Ai về đi theo"…
Công thức một mặt là bộ phận của bài ca, mặt khác là các "chi tiết" có mặt trong nhiều tác phẩm Trong ca dao, một công thức được sử dụng trong nhiều bài ca khác nhau Ví dụ, trong mẫu đề "xếp hạng bình giá" có công thức chi tiết "cao nhất, sâu nhất, đẹp nhất":
N hất cao là núi Tản Viên Nhất sâu là vũng Thủy Tiên, cửa Vường Nhất trong là nước giếng Hồi
Nhất béo, nhất bùi là cá rô câu
1 TS Bùi Mạnh Nhị: "Công thức truyền thống và đặc trưng cấu trúc của ca dao dân ca trữ tình", TCVH số 1/1997
Trang 31Trong các mẫu đề "Em ơi anh bảo", "Em ơi chị bảo" cũng có các chi tiết "nhất cao, nhất đẹp":
Em ơi chị bảo em này Nhất mặn là muối, nhất cay là gừng Nhất cao là núi Tam Từng
Chị còn đạp đổ nữa rừng cỏ may Nhất đẹp là núi Sơn Tây
Chị còn chả tiếc nữa dây bìm bìm
Những trường hợp này, chứng tỏ cái gọi là công thức vẫn không là sự lặp lại nhàm chán theo một khuôn mẫu cứng nhắc; ngược lại, nhiều khi trở thành cái độc đáo
Sau đây là một số đề tài trong ca dao được sử dụng trong thơ Nguyễn Bính Theo chúng tôi, đề tài trong thơ Nguyễn Bính có những dạng giống ca dao, có những dạng không giống ca dao, 10Tnhưng 10Thoặc có nội dung tương đồng ca dao (nghĩa là cùng hồn quê, cùng cảm nhận) hoặc có nội dung khác ca dao (cùng đề tài nhưng cảm nhận khác)
2.1 Đề tài quê hương
Quê hương trong các tác phẩm nghệ thuật vừa là đề tài, vừa là chủ đề, vừa là nội dung phản ánh, tùy thuộc vào sự sáng tạo của mỗi tác giả
Quê hương là nơi dòng họ, gia đình qua nhiều đời sinh sống làm ăn, đã có sự gắn bó tự nhiên về các quan hệ xã hội, kinh tế, tình cảm
Khái niệm về quê hương rất đa dạng, khó có một định nghĩa đầy đủ về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn" của mình, nhưng quê hương vẫn được biểu hiện có khi vỏn vẹn chỉ bằng một câu ca dao, một câu thơ mà đã đủ ý nghĩa:
Cây đa cũ, bến đò xưa
Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ
(Ca dao)
Trang 32Nước gương trong soi tóc những hàng tre
(Tế Hanh)
Quê hương tôi nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá
(Đồng chí - Chính Hữu) Đối với Nguyễn Bính, khi viết về quê hương, nhà thơ cũng thường viết về dòng sông - con đò, mảnh vườn - ao cá, giàn trầu - khung cửi và những công thức: địa danh - phong cảnh, địa danh - sản vật - con người:
Thôn Vân có biếc có hồng Hồng trong nắng sớm, biếc trong vườn chiều
(Anh về quê cũ)
Quê hương tôi có múa xòe, hát dúm
Có hội Xuân liên tiếp những đêm chèo
Có Nguyền Trâu có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều
(Bài thơ quê hương) Chúng tôi sẽ khảo sát đề tài này trong thơ Nguyễn Bính qua một số dấu ấn văn hóa tiêu biểu
: "Nước tức thể cộng đồng siêu làng" Làng hình thành từ khi có một vài người; rồi dần
dần hai, ba gia đình khác kéo nhau tới làm ăn Nếu trồng trọt dễ, kiếm ăn được, thì dân số sẽ tăng lên mãi và lúc đó làng một cái tên cụ thể (Đặng Xá, Lê Xá, Làng Mui, Làng Vóc, Làng Quang, Làng Trang Nghiêm )P32F
3
1 Tâm lý người Việt Nam và vài hằng số của nó Tạp chí Tổ Quốc số 8/1987, Dẫn theo, Nguyễn Duy Bắc: Bản sắc dân tộc trong thơ ca Việt Nam hiện đại (1945-1975), NXB Văn hóa dân tộc H., 1998 Tr 33
2 Về sự hình thành bản sắc dân tộc Việt Nam, Dẫn theo, Nguyễn Duy Bắc, Sđd Tr 33
3 Toan Ánh "Làng xóm Việt Nam" NXB TPHCM 1999,Tr19
Trang 33Ở Việt Nam để đối phó với môi trường tự nhiên, đáp ứng nhu cầu của nghề trồng lúa nước mang tính thời vụ, người nông dân phải hợp sức với nhau (chống lụt, bão, hạn hán ) hoặc để đối phó với môi trường xã hội (nạn trộm cướp ), cả làng phải hợp sức mới có hiệu quảP33F
1
P
Do đó người Việt Nam liên kết với nhau tới mức "bán anh em xa mua láng giềng gần" Người Việt không thể thiếu được anh em, họ hàng; đồng thời cũng không thể thiếu được bà con làng xóm Tình làng, nghĩa xóm từ thế hệ này đến thế hệ khác, cứ thế mở rộng phát triển
Trong cuộc mưu sinh, người Việt Nam không chỉ có "đầu tắt mặt tối" quanh năm suốt mùa, mà họ còn biết tổ chức nhiều sinh hoạt văn hóa như đình đám, lễ hội để vừa nghỉ ngơi, vừa là dịp giao lưu "làng trên xóm dưới" Đây chính là đặc điểm để làng đi vào thơ ca Văn hóa làng để lại dấu vết rất rõ trong thơ Nguyễn Bính Khảo sát 89 bài trong
"Tuyển tập Nguyễn Bính", chúng tôi thấy có 37 bài (41,57%) tác giả sử dụng các chi tiết
"làng", "xóm", "thôn" (làng tôi, làng mình, làng Trang Nghiêm, làng Đặng, thôn Đoài, thôn Đông, xóm Tây, xóm Đình, đầu làng, giếng làng, lũy tre làng )
Đầu làng tiếng sáo ai kêu (Chuyện tiếng sáo diều)
Khỏi lũy tre làng tôi nhận thấy
(Mùa xuân xanh)
Cả đôi gánh nước giếng làng
(Trông bóng cờ bay)
Văn hóa dân gian, cụ thể là ca dao thường nhắc đến làng:
Đầu làng có cái giếng tiên Người ngoan rửa mặt, người hiền soi gương
(TL II, Đ.192)
Làng tôi có lũy tre xanh
Có sông Tô Lịch uốn quanh xóm làng
Trang 34Nhưng nói đến làng, ca dao hay thơ Nguyễn Bính không chỉ dừng lại ở những địa điểm "đầu làng", "cuối làng" mà còn hay nhắc đến mảnh vườn ao cá: vườn cau, vườn chè.,
Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen
(Anh về quê cũ) Mảnh vườn, ao cá hình thành ban đầu do nhu cầu đời sống "tự túc" của nhà nông; dần dần vườn, ao trở thành phong cảnh làng quê, kỷ niệm tình người:
Sáng trăng sáng nửa vườn chè Một gian nhà nhỏ đi về có nhau
(Thời trước)
Trang 35Th ầy ơi, đừng chặt vườn chè
Mẹ ơi đừng bán cây lê con trồng
(Thư gửi thầy mẹ) Nói đến làng, cũng như ca dao, Nguyễn Bính đều nhắc đến con đê làng, phiên chợ làng Chợ làng thường không to lắm, cũng không ở hẳn trong làng mà ở ngoài lũy tre xanh Nhìn vào chợ làng, người ta có thể thấy được cả gương mặt của làng về sản xuất, đời sống, nếp sinh hoạt Chợ làng họp theo phiên Có khi cách 5, 10 ngày một phiên Hàng hóa đều
"cây nhà lá vườn" Ngày họp chợ là ngày vui của mọi người:
Mồng một chơi cửa chơi nhà Mồng hai chơi điếm, mồng ba chơi đình Mồng bốn chơi chợ Quả Linh
Mồng năm chợ Trình, mồng sáu non Côi
(Ca dao tục ngữ Nam Hà)
Ai về Hoằng Hóa mà coi Chợ Quăng một tháng ba mươi phiên chiều
(TL.I, A.176)
Con đường thấp, con đê cao Bọn người đi chợ rẽ vào đồng ngô
(Trưa hè) Chợ làng là mối quan tâm của những người xa quê Khi có dịp thăm hỏi, người ta hay hỏi thăm phiên chợ làng:
Xuân này trong ấy ra sao nhỉ Ngõ cũ hoa mai nở mấy cành?
Chợ làng mẹ có đi phiên Tết
Vợ có may con tấm áo lành
(Xuân nhớ miền Nam)
Trang 36Chợ làng cũng là "hàn thử biểu" kinh tế địa phương:
Bến đò vắng, phiên chợ làng cũng vắng Vắng tiếng tiền trinh gieo rạn đáy thau mòn
(Làng tôi)
Và nói đến làng, các tác giả dân gian hay Nguyễn Bính đã gặp nhau ở cùng sự chú ý đến
"chi tiết" hội làng Hội làng được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu, khi công việc đồng áng
đã rảnh rỗi Người dân mở hội làng để ước vọng cầu mưa, cầu cạn, phồn thực, sức khỏe hoặc để mừng công, mừng vụ mùa bội thu Dù mục đích gì, thì hội làng cũng là những ngày rộn rã tiếng trống, tiếng chuông, tiếng pháo; giòn tan tiếng cười, tiếng reo vui và ngập tràn tiếng hát câu hò
Làng ta mở hội vui mừng Chuông kêu, trống gióng vang lừng đôi bên
(Tiếng trống đêm xuân) Hội làng là dịp các người già lễ lạt, cúng bái; các nam thanh nữ tú chưng diện, thi tài
Trên đường cát mịn một đôi cô Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa
Trang 37Gậy trúc dắt bà già tóc bạc Tay lần tràng hạt miệng nam mô
(Xuân về) Cũng là dịp các đôi trai gái hò hẹn giao duyên:
Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm
Em mải tìm anh chả thiết xem
(Mưa xuân)
Hội làng còn một đêm nay Gặp em còn một lần này nữa thôi
(Đêm cuối cùng) Ngày hội làng vừa là ngày vui của dân làng, vừa là những ngày "tình làng nghĩa xóm" thêm bền chặt:
Hội đông đông chật đình làng Đêm càng khuya khoắt, tình càng thiết tha
(Tiếng trống đêm xuân) Làng gần gũi thân thương như thế, cho nên không chỉ những người đang cư ngụ tại
quê nhà, mà cả những ai đang lưu lạc nơi đất khách, khi nói về mảnh đất "chôn nhau cắt
rốn" đều khẳng định chắc nịch: "làng tôi", "làng ta", "làng mình" Ca dao giới thiệu:
Làng ta bé nhỏ con con
Làng ta mười tám ông nghè
Làng tôi có lũy tre xanh
(TL II, L 149, 151, 152)
Trang 38Nguyễn Bính tâm tình:
Làng tôi cũng có sông có núi
(Làng tôi) Vào đám làng tôi mở trống chèo
- C ây đa cũ, bến đò xưa Chữ tình ta cũng đón đưa trọn đời
- Nhà Bè nước chảy chia hai
Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về
Cảm xúc về dòng sông, con đò là vô tận: dòng sông quê hương, dòng sông tổ quốc, dòng sông tuổi thơ, dòng sông lịch sử Chúng ta đã được thưởng thức "Bến đò ngày mưa" của Anh Thơ, "Nhớ con sông quê hương" của Tế Hanh Còn nhà thơ Nguyễn Bính? Ông
có đến 27 bài thơ đề cập đến "dòng sông con đò" trong 89 bài tuyển, chiếm 30,33%
Trang 39Điều đó chứng tỏ rằng Nguyễn Bính rất yêu và có suy nghĩ, cảm xúc nhiều về những hình ảnh này
Trước tiên, dòng sông, con đò là những cảnh đẹp quê hương, người dân thường nhắc đến với một niềm tự hào:
- Làng tôi cũng có sông có núi Núi nhỏ, sông con chảy lững lờ
(Làng tôi)
- Có chiếc thuyền nằm trên cát mịn
Có đàn trâu trắng lội ngang sông
(Không đề 2)
- Quê hương tôi có Trường Sơn một dải
Có Hồng Hà lại có Cửu Long giang
(Bài thơ quê hương) Tiếp đến, dòng sông con đò là địa chỉ xa cách hoặc hẹn hò đưa tiễn:
Lửa đò chăng cái giăng hoa
Mõ sông đục đục, canh gà te te
Chừ đây bên nớ bên tê
Sương thu xuống gió thu về bồng bênh
(Lửa đò)
Mặc dầu trời nắng chang chang
Má Tư vẫn cố chèo xuồng theo đưa:
" Con đi cho mẹ dặn dò Gửi lời kính chúc cụ Hồ muôn năm "
(Chung một lời thề)
Trang 40Dòng sông là những ẩn dụ về tình yêu:
Ba o giờ bến mới gặp đò Hoa khuê các , bướm giang hồ gặp nhau…
(Tương tư)
Hôm nay dưới bến xuôi đò Thương nhau qua cửa tò vò nhìn nhau
(Không đề 1) Song có lẽ, nói đến dòng sông, con đò, tác giả vẫn ưa dùng để diễn tả sự xa xôi, cách trở, nhớ thương, tủi hận:
C ũng là thôi, cũng là đành Sang sông lỡ bước riêng mình chị đâu
… Chị từ lỡ bước sang ngang Trời giông bão, giữa tràng giang lật thuyền
(Lỡ bước sang ngang)
Đưa anh đến bến đò ngang Con sào đẩy sóng, thuyền nan lìa bờ
(Áo anh)
Thùng thùng trống đánh ngữ liên Bước chân xuống thuyền
Vợ chồng đôi ngả Con sông chảy mãi về đâu?
(Làng tôi)
Sóng đầy lạnh bến dừa xanh
Kể từ ngày cưới xa anh lần đầu
(Đôi mắt)