Mục tiêu và những cơ sở khi biên soạn tài liệu “Lịch sử Sử học” Mục tiêu của tài liệu “Lịch sử Sử học” trang bị cho sinh viên đại học sư phạm ngành Lịch sử hệ thống kiến thức cơ bản về
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Mở đầu………5
Chương 1 Lịch sử Sử học là một khoa học……….7
1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của Lịch sử Sử học……… 7
1.2 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu Lịch sử Sử học……… 8
1.3 Phương pháp nghiên cứu Lịch sử Sử học……….9
LỊCH SỬ SỬ HỌC THẾ GIỚI Chương 2 Sử học thế giới thời cổ đại………11
2.1 Nhận thức lịch sử của con người thời nguyên thủy……… ….11
2.2 Sử học phương Đông cổ đại……… 11
2.3 Sử học phương Tây cổ đại……… 13
Chương 3 Sử học thế giới thời trung đại……… …17
3.1 Những nét chung về sử học thời trung đại……… 17
3.2 Sử học phương Tây thời trung đại……… 18
3.3 Sử học phương Đông thời trung đại……… 23
Chương 4 Sử học thế giới thời cận đại……… 27
4.1 Sử học tư sản……… ……….27
4.2 Sự ra đời và phát triển của sử học mác-xít……….….45
Chương 5 Sử học thế giới thời hiện đại……….…51
5.1 Khái quát sử học mác-xít từ năm 1917 đến năm 2000……….……… 51
5.2 Sự khủng hoảng của sử học tư sản ……….……… 55
5.3 Những chính về sử học thế giới ngày nay……… …….67
LỊCH SỬ SỬ HỌC VIỆT NAM Chương 6 Sử học phong kiến Việt Nam đầu thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ XIX… 70
6.1 Những nét chính về nhận thức lịch sử trước thế kỷ X……… 70
6.2 Sử học thời Lý – Trần……… 71
6.3 Sử học thời Lê và Tây Sơn……….…………74
6.4 Sử học thời Nguyễn (1802 – 1884)……….…………81
Chương 7 Sử học Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945……….…….93
7.1 Sử học phong kiến vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX………93
7.2 Sử học nô dịch của thực dân Pháp……… 94
7.3 Khuynh hướng sử học của những người yêu nước đầu thế kỷ XX………… …….96
Trang 47.4 Khuynh hướng sử học mác-xít ở Việt Nam……….……… 101
7.5 Hoạt động sử học của trí thức yêu nước những năm 30 – 40, thế kỷ XX…………106
Chương 8 Sử học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000……….….110
8.1 Sử học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954……….………110
8.2 Sử học Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975……….………113
8.3 Sử học Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000……….………125
Phụ lục……… ……….135
Tài liệu tham khảo……….………153
Trang 5MỞ ĐẦU
I Mục tiêu và những cơ sở khi biên soạn tài liệu “Lịch sử Sử học”
Mục tiêu của tài liệu “Lịch sử Sử học” trang bị cho sinh viên đại học sư phạm ngành Lịch sử hệ thống kiến thức cơ bản về sự hình thành, phát triển của nền sử học thế giới và Việt Nam từ khi ra đời cho đến năm 2000 để vận dụng vào nghiên cứu, học tập và giảng dạy lịch sử ở bậc trung học phổ thông Vì vậy khi biên soạn tài liệu “Lịch sử Sử học”, chúng tôi dựa trên những cơ sở quan trọng sau:
Đảm bảo tính chính xác khoa học và quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục và giáo dục lịch sử
Tăng cường tính thực hành trong học tập, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học
Phát huy tính tích cực của sinh viên trong học tập để nắm vững kiến thức, nội dung môn học kết hợp với vận dụng vào dạy học ở bậc trung học phổ thông
Trong khi biên soạn, chúng tôi kế thừa thành tựu nghiên cứu trong nhiều chuyên khảo, giáo trình đại học sư phạm trong nước
II Bố cục và nội dung tài liệu “Lịch sử Sử học”
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung tài liệu “Lịch sử Sử học” bố cục gồm 8 chương:
Chương 1 Lịch sử Sử học là một khoa học, trình bày đối tượng, nhiệm vụ, phương
pháp nghiên cứu và cơ sở phương pháp luận khi tiến hành nghiên cứu Lịch sử Sử học
Chương 2 Sử học thế giới thời cổ đại, bàn về sử học thế giới thời nguyên thủy và nền sử học phương Đông và phương Tây cổ đại
Chương 3 Sử học thế giới thời kỳ trung đại, trình bày những nét chung của sử học thời trung đại, chỉ ra những nét riêng của sự phát triển nền sử học phương Tây và nền sử học phương Đông thời trung đại.
Chương 4 Sử học thế giới thời cận đại, trình bày sự ra đời phát triển của sử học
thời Khai sáng, sự phát triển của sử học tư sản trong thế kỷ XIX, các khuynh hướng sử học tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và sự ra đời, phát triển của nền sử học mác-xít
Chương 5 Sử học thế giới thời hiện đại, khái quát sự phát triển của sử học
mác-xít và những khó khăn, khủng hoảng của nó Sự phát triển sử học các nước đang phát triển Sự khủng hoảng sâu sắc của sử học tư sản Triển vọng của sử học trong điều kiện cách mạng xã hội và sự phát triển khoa học-công nghệ hiện nay
Chương 6 Sử học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa sau thế kỷ XIX, trình bày sự ra đời,
phát triển và những thành tựu, hạn chế của sử học phong kiến Việt Nam trải qua các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn
Chương 7 Sử học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến năm 1945, khái quát bối
cảnh lịch sử, sự ra đời cùng những thành tựu, hạn chế của các khuynh hướng sử học khác nhau
Chương 8 Sử học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000, trình bày những thành tựu
to lớn của nền sử học mác-xít Việt Nam Chỉ rõ những hạn chế, phản động, một số đóng góp của sử học nô dịch thời thực dân Pháp và sử học của chế độ Việt Nam Cộng hòa
Trang 6Đầu mỗi chương có phần tóm tắt nội dung cơ bản Cuối mỗi chương có hệ thống câu hỏi hướng dẫn học tập và hướng dẫn đọc tài liệu tham khảo
Chúng tôi mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp để tài liệu được hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Trang 7CHƯƠNG 1 LỊCH SỬ SỬ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC
Với tư cách là một khoa học, Lịch sử Sử học có đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu, cơ
sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Lịch sử sử học là quá trình ra đời, phát triển của bản
thân khoa học lịch sử
Nhiệm vụ của Lịch sử Sử học: Làm rõ toàn bộ quá trình hình thành phát triển của khoa học lịch sử, thông qua việc nghiên cứu nội dung khoa học, thành tựu, tư tưởng sử học, những vai trò, đóng góp của những nhà sử học ở các thời đại khác nhau
Cơ sở phương pháp luận khi nghiên cứu Lịch sử Sử học là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tài liệu-sự kiện và khái quát lý luận, phải vận dụng linh hoạt vấn đề phân
kỳ lịch sử trên lập trường quan điểm của sử học mác-xít
Phương pháp nghiên cứu Lịch sử Sử học chủ yếu dựa trên hai phương pháp đặc thù
của khoa học lịch sử là phương pháp lịch sử và lô-gic
1.1 Đối tượng và nhiệm vụ của Lịch sử Sử học
Lịch sử loài người bắt đầu từ khi có con người xuất hiện Ngay từ đầu, con người có
ý thức về lịch sử của mình như: nguồn gốc, tổ tiên, quê hương, sinh hoạt… Sự nhận thức lịch sử trải qua chặng đường khá dài bắt đầu từ những tri thức lịch sử đầu tiên đến khi trở thành khoa học lịch sử Bởi vì con người xuất hiện cách đây từ 4 đến 6 triệu năm về trước trong khi khoa học lịch sử ra đời cho đến nay khoảng 2500 năm
Mọi sự vật, hiện tượng đều có lịch sử riêng, khoa học lịch sử cũng có lịch sử của
Thứ hai, là khoa học nghiên cứu lịch sử khoa học Lịch sử
Đối với chúng ta, thuật ngữ Lịch sử Sử học được hiểu đó là một khoa học chuyên nghiên cứu lịch sử của khoa học Lịch sử Đó là quá trình hình thành, phát triển thông qua việc tìm hiểu và tích lũy tri thức lịch sử, việc xác lập các quan điểm, các khuynh hướng, phương pháp nghiên cứu các tác giả, tác phẩm, các thời đại phát triển của sử học…
Là một khoa học, Lịch sử Sử học có đối tượng, chức năng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Lịch sử Sử học là quá trình ra đời, phát triển của bản thân khoa học lịch sử Do đó, Lịch sử Sử học phải nghiên cứu việc nhận thức lịch sử từ khi nó trở thành một khoa học trong xã hội có giai cấp đầu tiên Tuy nhiên Lịch sử Sử học cần
Trang 8phải nghiên cứu cả thời kỳ mà xã hội chưa có giai cấp, đó là sự nhận thức lịch sử của con người trong thời nguyên thủy
Nhiệm vụ của Lịch sử Sử học: Làm rõ toàn bộ quá trình hình thành phát triển của khoa học lịch sử, thông qua việc nghiên cứu nội dung khoa học, thành tựu, tư tưởng sử học, những vai trò, đóng góp của những nhà sử học ở các thời đại khác nhau Bởi vì, Lịch
sử Sử học không chỉ nghiên cứu một số tác phẩm của các nhà sử học nổi tiếng, các cơ quan nghiên cứu lịch sử mà toàn bộ thành tựu sử học đã đạt được thông qua hoạt động của các nhà sử học, của đông đảo nhân dân yêu thích và góp phần vào sự phát triển của khoa học lịch sử Lịch sử Sử học có những nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Tìm hiểu sự tích lũy tri thức lịch sử của xã hội loài người từ thời nguyên thủy đến ngày nay, chủ yếu từ khi khoa học lịch sử hình thành
- Những thành tựu nghiên cứu lịch sử của nhân loại, của mỗi dân tộc qua các chặng đường phát triển gắn với hoàn cảnh cụ thể của lịch sử loài người cũng như lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi thời đại
- Tác dụng của sử học đối với sự phát triển của xã hội nói chung, mỗi thời kỳ nói riêng
- Khuynh hướng, quan điểm, tư tưởng của một nền sử học, những cuộc đấu tranh trên lĩnh vực sử học giữa các giai cấp thù địch nhau trong xã hội
- Tích lũy phương pháp sưu tầm tư liệu, nghiên cứu lịch sử có điểm chung cho các nền sử học, đánh giá sử học, sự kế thừa và phát triển của sử học, theo vị trí, quan điểm của các nhà sử học thuộc về các thời đại, giai cấp khác nhau, có mối quan hệ với nhau
- Ghi chép cuộc đời sự nghiệp của các nhà sử học, đánh giá các công trình nghiên cứu sử học tiêu biểu theo các quan điểm khác nhau
Nghiên cứu làm sáng tỏ những nhiệm vụ của Lịch sử Sử học góp phần đẩy mạnh sự phát triển của khoa học lịch sử Bởi vì nó giúp cho giới sử học hiện nay và thế hệ sau rút
ra nhiều bài học kinh nghiệm về mặt phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và cả một số vấn đề nội dung lịch sử
1.2 Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu Lịch sử Sử học
Về mối quan hệ giữa tài liệu-sự kiện với khái quát lý luận
Cũng như trong nghiên cứu lịch sử, việc nghiên cứu Lịch sử Sử học phải xuất phát
từ thực tế khách quan, phải dựa trên tri thức cụ thể về bối cảnh lịch sử xã hội, điều kiện hình thành phát triển của một nền sử học, phải dựa vào những thành tựu nghiên cứu cụ thể của khoa học lịch sử ở từng thời đại, của mỗi nước, mỗi giai cấp, phải tìm hiểu những tác phẩm, công trình lịch sử
Về vấn đề phân kỳ Lịch sử Sử học
Việc phân kỳ Lịch sử Sử học phải dựa trên thành tựu nghiên cứu về phân kỳ lịch sử Phân kỳ Lịch sử Sử học thể hiện các giai đoạn trong quá trình hình thành, phát triển của bản thân khoa học lịch sử thế giới và dân tộc Phân kỳ Lịch sử Sử học phát triển trên cơ
sở học thuyết về Hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, gắn liền với việc tìm hiểu cụ thể các chế độ chính trị - xã hội khác nhau đã tồn tại trong lịch sử Hiện nay
có nhiều ý kiến khác nhau, trái ngược nhau về phân kỳ Lịch sử Sử học Những tiêu chí của phân kỳ Lịch sử Sử học:
- Dựa vào sự phân kỳ lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc
Trang 9- Xác định những mốc lớn, những sự kiện quan trọng trong nghiên cứu lịch sử, đánh dấu sự thay đổi trong quá trình phát triển của sử học như: sự ra đời của một số tác phẩm
sử học mở đầu cho sự phát triển của một khuynh hướng, tư tưởng mới của sử học, sự xuất hiện một phương pháp nghiên cứu có tác dụng, ảnh hưởng đến việc nghiên cứu lịch sử… Việc phân kỳ Lịch sử Sử học không phải lúc nào cũng trùng khớp với phân kỳ lịch sử mà
có những nét riêng
1.3 Phương pháp nghiên cứu Lịch sử Sử học
Phương pháp nghiên cứu Lịch sử Sử học về cơ bản phải dựa vào các phương pháp nghiên cứu khoa học lịch sử nói chung được vận dụng theo các nguyên tắc phương pháp luận về sự thống nhất giữa phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gic để miêu tả, khôi
phục đúng bộ mặt khoa học lịch sử trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định
Về phương pháp lịch sử, cần tránh việc miêu tả dài dòng, liệt kê chất đống tài liệu
mà phải dựa vào những sự kiện cơ bản, tài liệu chính xác, điển hình, đầy đủ để khôi phục lại bức tranh quá khứ của sử học đúng như nó tồn tại
Phương pháp lô-gic về cơ bản cũng là phương pháp lịch sử, nhưng đã thoát khỏi những chi tiết vụn vặt và đi sâu vào bản chất, lô-gic của sự phát triển, nêu rõ tính quy luật chi phối tác động đến sự vận động phát triển của sử học, phản ánh cuộc đấu tranh giữa các trường phái, giữa cái tiến bộ và cái bảo thủ trì trệ
Khi sử dụng các phương pháp cụ thể để nghiên cứu Lịch sử Sử học, cần coi trọng phương pháp tiếp cận, tìm hiểu trực tiếp các tác phẩm sử học của thời đại Không đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu các tác phẩm, các tác giả, các khuynh hướng tư tưởng, văn hóa của thời đại sẽ không hiểu được tính đa dạng của nền sử học Khi tiếp xúc với các tác phẩm
sử học ở các thời đại khác nhau cần thiết phải có sự phê phán, đấu tranh với các quan điểm sai trái, phải có thái độ khách quan khoa học
Lịch sử Sử học là một khoa học có đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được tiến hành nghiên cứu trên một cơ sở phương pháp luận sử học mác-xít theo một phương pháp khoa học
Câu hỏi hướng dẫn học tập
1 Tại sao nói Lịch sử Sử học là một khoa học?
2 Nêu khái quát nhiệm vụ của Lịch sử Sử học
3 Trình bày những nguyên tắc phương pháp luận cần tuân thủ trong nghiên cứu, học tập Lịch sử Sử học
4 Vì sao phải học tập, nghiên cứu Lịch sử Sử học?
HƯỚNG DẪN ĐỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Thanh Bình (chủ biên) 2007 Lịch sử Sử học thế giới Hà Nội NXB: Đại học
Sư phạm (tham khảo từ tr 5 đến tr 14)
Phan Ngọc Liên - Nguyễn Ngọc Cơ (Đồng chủ biên), Nguyễn Cảnh Minh, Trần Bá
Đệ, Nguyễn Thị Côi, Trịnh Đình Tùng Lịch sử Sử học Việt Nam 2006 Hà Nội NXB: Đại học Sư Phạm (tham khảo từ tr 5 đến tr 23)
Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường 1995 Lịch sử Sử học thế giới Bộ Giáo dục và Đào tạo - Đại học Huế (tham khảo từ tr 3 đến tr 5)
Trang 10Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia – Viện thông tin khoa học xã hội
1998 Sử học những tiếp cận thời mở cửa Hà Nội NXB: Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề
Trang 11LỊCH SỬ SỬ HỌC THẾ GIỚI CHƯƠNG 2 SỬ HỌC THẾ GIỚI THỜI CỔ ĐẠI
Nhận thức lịch sử của nhân loại trước khi chữ viết ra đời thể hiện trong các câu chuyện dân gian Đây là nguồn sử liệu quý cần phải phân tích, lựa chọn… rồi mới sử dụng
Trong thời cổ đại, do điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể, trên thế giới đã hình thành các nền sử học ở phương Đông và Phương Tây Ở các nước phương Đông cổ đại, tiêu biểu là ở Trung Quốc và Ấn Độ, sử học đã sớm ra đời và phát triển để lại cho đời sau những bộ sử đồ sộ có giá trị Ở phương Tây cổ đại có nền sử học của Hy Lạp và Rô-ma với những sử gia tên tuổi như Hê-rô-đốt, Tuy-xi-đít, Ta-xít và Pô-bi-li… Các tác phẩm của sử gia Hy Lạp và Rô-ma cổ đại đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng cơ sở đầu tiên của sử học
2.1 Nhận thức lịch sử của con người thời nguyên thủy
Trước khi có văn tự, một số kiến thức, quan niệm về lịch sử đã có trong các câu chuyện dân gian, cổ tích, truyền miệng của mọi dân tộc Những nhận thức đó, là sản phẩm của tư duy phản ánh những quan niệm của tập đoàn người về bản thân mình, về các
sự kiện lịch sử to lớn, về mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, các bản anh hùng
ca dưới hình thức cổ tích, thần thoại thường mô tả những sự kiện lịch sử Phân tích các chuyện cổ tích thần thoại Việt Nam, các bản anh hùng ca “Ma-ha-b-ha-ra-ta”, “Ra-ma-y-a-na” (Ấn Độ), “Kinh Thi” (Trung Quốc), “I-li-át và Ô-đi-xê” (Hy Lạp), những bài “tráng
sĩ ca” (Nga)… có thể tìm được những quan niệm về lịch sử của người xưa
Các câu chuyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích… là một sử liệu quý Qua nội dung của các loại hình văn học dân gian cổ xưa này, các nhà nghiên cứu học tập lịch sử
có thể tìm thấy nhiều tài liệu quý về cuộc sống của người đời trước Trong các câu chuyện ấy, tìm thấy sự mô tả hiện thực xã hội, những nhận thức, ước mơ của người xưa một cách rất rõ rệt, tuy được bao phủ bởi những quan niệm thần bí, huyễn hoặc, tước bỏ cải vỏ thần bí ấy sẽ tìm thấy những chất liệu phản ánh hiện thực lịch sử Thái độ đúng đắn của người học tập, nghiên cứu lịch sử không phải bác bỏ hoặc sử dụng nguyên xi các tài liệu văn học dân gian mà phải biết phân tích, lựa chọn rút ra các tài liệu lịch sử chân thực Mác-xim Gooc-ki, nhà văn Xô Viết nổi tiếng đã có lời khuyên mang nội dung những nguyên tắc phương pháp luận về việc sử dụng tài liệu văn học dân gian trong nghiên cứu Ông nói sử dụng tài liệu văn học dân gian không phải là rán (chiên) con gà còn nguyên cả lông, mà phải làm sạch lông, làm sạch ruột rồi mới nấu Điều ấy có nghĩa
là phải biết phân tích, lựa chọn tài liệu văn học rồi mới sử dụng
2.2 Sử học phương Đông cổ đại
Việc chuyển từ xã hội không có giai cấp sang xã hội có giai cấp, nhu cầu của giai cấp thống trị về việc sử dụng kiến thức làm một công cụ, vũ khí để khống chế, đàn áp về mặt tinh thần giai cấp bị trị và sự xuất hiện của chữ viết đã giúp cho việc tích lũy kiến thức được nhiều hơn, tốt hơn Trong xã hội có giai cấp, một số người trong tầng lớp thống trị có điều kiện (không phải lao động mà vẫn sống sung sướng, do bóc lột người lao động) giành cho mình quyền biên soạn lịch sử để phục vụ cho chế độ xã hội có áp bức Như vậy, từ việc nhận thức lịch sử của mọi người trong xã hội trở thành “độc quyền” của một số nhỏ người chuyên viết lịch sử Tuy vậy, nhân dân lao động vẫn ghi nhớ, kể chuyện, giáo dục lịch sử cho thế hệ trẻ và đương nhiên hình thành những quan điểm nhận thức khác nhau về lịch sử của người bị trị và kẻ thống trị Cuộc đấu tranh giai
Trang 12cấp trong xã hội phân chia thành giai cấp thù địch kéo theo việc đấu tranh trên lĩnh vực nhận thức lịch sử
Sử học (của giai cấp thống trị) được hình thành trong xã hội có giai cấp, trong xã hội chiếm hữu nô lệ và mang tính giai cấp của giai cấp thống trị Các nhà sử học đã tìm thấy nhiều tài liệu lịch sử trong các văn tự thời Ân, Thương (Trung Quốc), các bảng biên niên sử thời kỳ chiếm hữu nô lệ sơ kỳ ở Ai Cập, những tài liệu lưu trữ của nhà thờ và tư nhân Những tài liệu này rất quý vì nó ghi lại những sự kiện đương thời Song việc lựa chọn và giải thích sự kiện trong các loại tài liệu nêu trên đã mang tính chất giai cấp rõ rệt, nhằm phục vụ cho giai cấp thống trị Ví dụ, tài liệu chiến công của Pha-ra-ông trong các cuộc chiến tranh xâm lược Giáo lý của các tôn giáo cũng ảnh hưởng rất nhiều trong việc
mô tả và giải thích lịch sử, mọi hiện tượng lịch sử được giải thích bằng “ý trời”
Do điều kiện lịch sử - xã hội cụ thể, trên thế giới đã hình thành các nền sử học ở phương Đông và Phương Tây
Ở các nước phương Đông cổ đại, sử học đã sớm ra đời và phát triển Ở các nước cổ đại phương Đông đã sớm có lịch nên giúp cho sử học phát triển Lúc bấy giờ đã xuất hiện nhiều hình thức biên soạn lịch sử như biên niên sử, tiểu sử tự truyện… Các hình thức này tương đối phát triển ở Trung Quốc
Khoảng 2.000 năm TCN, xã hội có giai cấp đầu tiên và nhà nước Trung Quốc hình thành trên lưu vực sông Hoàng Cư dân cổ Trung Quốc là những người có nhiều kinh nghiệm làm thủy lợi, trồng kê, cao lương, dệt vải, đúc đồng… “Nhà vua” đầu tiên theo truyền thuyết của người Trung Quốc có công trị thủy là vua Vũ
Trong quá trình phát triển, giai cấp thống trị Trung Quốc xâm chiếm đất đai, mở rộng lãnh thổ của mình ở khu vực sông Dương Tử Quyền lực của giai cấp thống trị được
mở rộng, bao gồm địa chủ quý tộc quan lại (vương hầu, tôn thất, quan lại lớn trong triều đình…) Trong bộ máy chính quyền ấy có các quan chuyên lo việc giấy tờ của triều đình
Họ cũng có nhiệm vụ ghi chép các sự việc xảy ra chủ yếu trong cung đình gọi là “sử quan” Theo đạo lý lúc bấy giờ cũng như các nhà nho học, những sử quan cố giữ được khí tiết của mình là thà chết chứ không chịu chép sai sự thật dù bị đe dọa trấn áp Tiêu biểu là những nhà chép sử thời Xuân Thu Song nhìn chung các sử quan vì “ăn lộc triều đình” luôn trung thành với nhà vua, ghi chép mọi sự việc có liên quan đến đời sống của nhà vua mà phản ánh rất ít đến đời sống của xã hội, của nhân dân
Trong tình hình các chư hầu của nhà Chu đánh giết nhau để tranh giành quyền lực,
xã hội Trung Quốc cổ đại hỗn loạn, nhân dân vô cùng cực khổ, trật tự kỷ cương bị đảo lộn Vì vậy Khổng Tử (tên Khâu, hiệu Trọng Ni, sống vào những năm 551 – 479 TCN) người nước Lỗ đã đề ra một số cải cách xã hội lấy “nhân” và “lễ” làm hạt nhân tư tưởng chính trị của mình Theo Khổng Tử, “nhân” là lòng thương yêu người, còn “lễ” là khuôn phép xã hội trong vòng kỷ cương, trật tự Để góp phần vào việc giữ gìn trật tự phong kiến, Khổng Tử nêu một số tấm gương đạo đức, nghĩa hiệp trong quá khứ để răn dạy người đương thời và tập hợp trong bộ kinh Xuân Thu Kinh Xuân Thu vốn là quyển sách lịch sử về nước Lỗ, quê hương của Khổng Tử, chép từ đời Lỗ Ẩn Công (722 TCN) đến
Lỗ Ai Công (481 TCN) và một số sự kiện có liên quan đến nhà Chu và các nước chư hầu Viết lịch sử ngoài mục đích lấy chuyện xưa để dạy người đời nay “Ôn cố nhi tri tân”, Khổng Tử còn thể hiện rất rõ quan điểm của mình là viết sử để phục vụ chế độ đương thời, tôn sùng nhà vua, phân biệt rõ rệt các tầng lớp trong xã hội từ vua, quần thần đến thứ dân Ngoài “Xuân Thu” trong “Kinh Thi”, các quan âm nhạc đời Chu ghi chép các bài hát dân gian từ đời thượng cổ đến đời vua Bình Vương nhà Chu Những bài ca này không chỉ có giá trị văn học mà còn là nguồn sử liệu quý giá về cuộc sống của các tầng
Trang 13lớp nhân dân Trung Quốc từ thời Tây Chu (thế kỷ XI – VIII TCN), đến giữa thời Xuân Thu (thế kỷ VI TCN) “Kinh Thư chép những điển, mô, huấn ca, thệ mệnh của vua tôi dạy bảo khuyên răn nhau từ thời Nghiêu Thuấn đến Đông Chu, cũng là một tác phẩm có giá trị sử học vì cung cấp cho người đời sau những hiểu biết về phép tắc, trật tự xã hội lúc bấy giờ
Thời cổ đại, đất nước Ấn Độ bao gồm cả bán đảo Induxtan và toàn bộ lưu vực hai con sông Ấn và sông Hằng Ấn Độ là nơi sớm hình thành xã hội có giai cấp đầu tiên Các nhà nước cổ Ấn Độ đã xuất hiện trước tiên ở ven sông Ấn từ 2.500 năm TCN và ở ven sông Hằng vào khoảng 1.500 TCN Lịch sử của thời đại xa xôi này còn được phản ánh trong bộ kinh Vê-đa và các bộ sử thi
Bộ kinh Vê-đa gồm 4 tập, tập hợp những bài ca ngợi các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên như thần mưa và sấm, lửa, sông, biển… Qua các tập kinh Vê-
đa, người đời sau biết được tình hình xã hội lúc bấy giờ (sự phân chia thứ bậc, đẳng cấp, các luật lệ tập tục, những cuộc chiến tranh…) và cuộc đấu tranh của con người với thiên nhiên
Những bộ sử thi Ma-ha-b-ha-ra-ta và Ra-ma-y-a-na được quần chúng sáng tác tập thể trong nhiều thế kỷ thuộc thiên niên kỷ thứ I TCN, khi những bộ tộc Aryan đã định cư
ở đồng bằng sông Ấn – Hằng và phát triển thế lực xuống miền Nam Ấn
Ma-ha-b-ha-ra-ta gồm 110.000 câu thơ đôi, tức là 220.000 dòng thơ Nội dung cơ bản của bộ sử thi này kể lại nguyên nhân nổ ra, diễn biến và kết quả của trận chiến đấu lịch sử 18 ngày đêm trên cánh đồng Ku-ru-sê-tra tại vùng đồng bằng sông Hằng giữa hai dòng họ Rau-va-ra và Pan-đa-va đều là con cháu của Ba-ra, được coi là thủy tổ của nhân dân Ấn Độ Nhiều nhà nghiên cứu xác định nội dung bộ sử thi phản ánh những cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc Aryan trong quá trình xây dựng những quốc gia cổ đại ở vùng đồng bằng sông Hằng Ma-ha-b-ha-ra-ta được xem là bộ bách khoa toàn thư của Ấn Độ
Nó cung cấp nhiều hiểu biết về đời sống văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị, quân sự của nhân dân Ấn Độ lúc bấy giờ Vì vậy tục ngữ Ấn Độ có câu: “Cái gì không tìm thấy ở trong Ma-ha-b-ha-ra-ta thì cũng không thể tìm thấy được ở Ấn Độ”
Ra-ma-y-a-na gồm 7 cuốn, 500 đoạn và 24.000 câu thơ đôi, ra đời vào khoảng mấy trăm năm trước Công nguyên Nội dung câu chuyện kể về cuộc chiến đấu giữa hoàng tử Ra-ma và bọn quỷ sứ Rac-xa-ra trong rừng Dan-da-ca suốt 14 năm trời Ra-ma-y-a-na đã phản ánh cuộc sống, nguyện vọng, ước mơ của nhân dân Ấn Độ trong thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Ấn Độ và nhiều nước Đông Nam Á, có quan hệ với văn hóa Ấn
Độ
2.3 Sử học phương Tây cổ đại
Ở phương Tây, Hy Lạp rồi Rô-ma là những nơi thủ công nghiệp và thương nghiệp phát triển mạnh đã dẫn tới sự hình thành nhanh chóng hàng chục nước nhỏ ở ven bờ biển bắc Địa Trung Hải Trên cơ sở đó, nền sử học ra đời
2.3.1 Sử học Hy Lạp cổ đại
Những quan niệm lịch sử trong thế giới cổ đại phương Tây chủ yếu là của các sử gia cổ Hy Lạp Hê-rô-đốt (490 – 425 TCN) là một kiều dân cư trú ở A-ten Tác phẩm của ông gồm 9 quyển viết về lịch sử Hy Lạp và các nước phương Đông như At-xi-ri, Ba-bi-lon, Ba Tư, Ai Cập Cuốn sách nổi tiếng của ông là “Cuộc chiến tranh Hy Lạp – Ba Tư”
Tuy Hê-rô-đốt còn chưa tách lịch sử với những câu chuyện kể về khoa học tự nhiên, địa lý, nhân chủng, văn học; song ông đã tập trung chú ý đến việc trình bày sự kiện
Trang 14theo những chủ đề nhất định (tiểu sử, lịch sử chiến tranh…) Dựa vào hệ tư tưởng của nền dân chủ chủ nô và quan điểm cho rằng thần linh có vai trò quyết định trong lịch sử, Hê-rô-đốt giải thích nguyên nhân, diễn biến và hệ quả các sự kiện
Mục đích chép sử của ông được xác định rõ và có nhiều yếu tố tiến bộ Mở đầu tác phẩm của mình, Hê-rô-đốt xác định “thu thập và ghi chép các kiến thức nhằm làm cho các sự kiện đã xảy ra trong quá khứ không bị lãng quên cùng với thời gian và những hành động của người Hy Lạp, cũng như người dã man, khiến chúng ta phải kinh ngạc, không
bị mai một đi; đặc biệt phải giải thích rõ vì sao những người này lại tiến hành chiến tranh với nhau” (Phan Ngọc Liên, 1995)
Với những thành tựu của mình, Hê-rô-đốt được mệnh danh là “cha đẻ của sử học phương Tây”
Tuy-xi-đít (460 – 395 TCN) cũng là một sử gia nổi tiếng thời Hy Lạp cổ đại Ông
là một vị chỉ huy trong quân đội A-ten trực tiếp tham gia chiến tranh và viết quyển “Lịch
sử cuộc chiến tranh Pê-lô-pô-ne” giữa hai phe giành quyền bá chủ ở Hy Lạp do S-pac-tơ
và A-ten cầm đầu trong tác phẩm của mình, Tuy-xi-đít chú ý mô tả sự kiện trên cơ sở tài liệu, gạt bỏ sự giải thích lịch sử bằng sự can thiệp của thần linh, cố gắng đi sâu vào sự kiện, nêu lên mối liên hệ nhân quả của các sự kiện Đây là bước phát triển trong sử học
cổ đại
Tác phẩm sử học của Tuy-xi-đít đề cập trước hết đến những vấn đề lịch sử chính trị, sự tranh giành giữa các quốc gia cổ Hy Lạp và phần nào nói đến cuộc đấu tranh giai cấp giữa các quốc gia ấy Trong tác phẩm của mình, Tuy-xi-đít ít nhiều cũng nói đến các mối quan hệ kinh tế, xã hội lúc bấy giờ Đây là đỉnh cao của sử học thời cổ đại Những thành tựu của ông không chỉ ảnh hưởng nhiều đến các sử gia thời cổ đại mà còn ảnh hưởng không nhỏ đến giới sử học phương Tây thời cận đại
Ngoài hai nhà sử học nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại nêu trên, chúng ta có thể kể đến một sử gia khác
Pô-bi-li (201 – 120 TCN) không trình bày lịch sử một nước mà trình bày lịch sử các nước quan trọng nhất ở Địa Trung Hải bị Rô-ma chiếm từ năm 264 đến năm 146 TCN Đó là nội dung bộ “Thông sử” gồm 40 quyển Lần đầu tiên khái niệm “Lịch sử thế giới” xuất hiện Pô-bi-li rất chú trọng đến ý nghĩa và tác dụng giáo dục của lịch sử đối với mọi người Ông đã nói một câu nổi tiếng “Lịch sử là cô giáo của cuộc sống”
Các tác phẩm của sử gia Hy Lạp cổ đại đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng cơ
sở đầu tiên của sử học, tuy rằng sử học lúc bấy giờ chưa mang tính khoa học mà chỉ là một loại hình nghệ thuật Người ta đã ghi chép sử học với thi ca, chỉ có sự khác biệt “Thơ
ca nói về những gì chung nhất, còn sử học nói về những cái đơn nhất” (A-rít-tốt)
Những tác phẩm sử học của Hy Lạp cổ đại trong vòng từ thế kỷ IV đến thế kỷ II TCN có phát triển về số lượng và trình độ nghiên cứu, song chưa được nhiều so với thời Hê-rô-đốt và Tuy-xi-đít
2.3.2 Sử học Rô-ma cổ đại
Các nhà sử học Rô-ma cổ đại tiếp thu những thành tựu của sử học Hy Lạp và phát triển cao hơn Các tác phẩm của các nhà sử học Rô-ma có một ý nghĩa lớn trong phát triển hình thức biên soạn lịch sử, nhất là việc xác định niên đại của các sự kiện và biến cố chính xác hơn Tuy nhiên các sử gia vẫn tìm cách giải thích các sự kiện bằng tâm lý của những nhân vật đã tham gia vào những sự kiện ấy, đặc biệt sự can thiệp của các thần linh Cho nên những sự kiện đáng tin cậy vẫn lẫn lộn với các chuyện hoang đường
Trang 15Ta-xít (khoảng năm 50 – 120?) tác giả bộ sử “Biên niên La Mã” là sử gia nổi tiếng nhất thời Rô-ma Trong tác phẩm này, ông ghi chép quá trình diễn biến của nền chính trị đế quốc Rô-ma, bóc trần sự thối nát của nền chuyên chế ở Rô-ma, là “một đòn đánh vào đầu bọn vua chúa tàn bạo”, như các nhà bình luận lịch sử đã nói Tuy nhiên, Ta-xít chưa thoát khỏi quan niệm về số mệnh, về các điềm lành, dữ, các hiện tượng thần bí của tự nhiên chi phối lịch sử con người
Sống đồng thời với Ta-xít có sử gia Plutac (khoảng năm 45 – 127?) là nhà văn và
sử gia Ông là người Hy Lạp song làm việc cho đế chế Rô-ma và được phong danh hiệu
“quan chấp chính” Tác phẩm „Tiểu sử so sánh” của ông viết về cuộc đời của các nhân vật quan trọng của Hy Lạp và Rô-ma; ông không chỉ mô tả lời nói việc làm của họ mà đi sâu vào tính cách, tính tình của các nhân vật
Trong số các nhà sử học Rô-ma cổ đại phải kể đến Apian (? – những năm 70 của thế kỷ II), tác giả bộ “Lịch sử Rô-ma” từ lúc xây dựng thành Rô-ma đến đầu thế kỷ II gồm 24 tập Ph Ăng ghen đánh giá cao Apian như sau: “trong số các sử gia cổ đại mô tả cuộc đấu tranh nảy sinh trong lòng cộng hòa Rô-ma chỉ có Apian nói rõ nhất với chúng ta rằng, cuộc đấu tranh ấy nổ ra là vì quyền sở hữu ruộng đất” C Mác có nhận xét rằng Apian muốn “Khám phá ra những cơ sở vật chất của những cuộc nội chiến ấy và đã mô tả S-pac-ta-cút như một người đẹp nhất trong lịch sử cổ đại” (Đỗ Thanh Bình 2009 Tr.34)
Nhìn chung, các nhà sử học Rô-ma cổ đại đã có những đóng góp quan trọng vào
sự phát triển của sử học thế giới Mặc dù trong những tác phẩm của họ, diễn biến chính trị - xã hội vẫn còn gắn với cách giải thích lịch sử thần bí, siêu nhiên, song điều chủ yếu
là họ đã miêu tả được tương đối chính xác hiện thực quá khứ của đế quốc Rô-ma và một
số vùng lân cận khá rộng lớn mà trước kia các nhà sử học Hy Lạp chưa đề cập được
Ngoài các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp, Rô-ma kể trên, nền sử học ở một số nước khác ở châu Âu, châu Á… cũng đã hình thành Nhiều sử liệu thành văn của các dân tộc này chứng tỏ tư duy lịch sử của họ đã khá phát triển Song đến nay những nhà nghiên cứu sử học chưa biết nhiều đến công trình của họ Đây là một trong những vấn đề cần tìm hiểu
3 Sự xuất hiện của xã hội có giai cấp đã ảnh hưởng đến nhận thức lịch sử và
sự ra đời của Sử học như thế nào?
4 Phân tích nội dung lịch sử được phản ánh trong một tác phẩm thời cổ đại ở Trung Quốc hay Ấn Độ (tự chọn)
5 Tìm hiểu thêm về các sử gia Hy Lạp cổ đại
6 Phân tích một vài quan điểm chủ yếu của sử học Hy Lạp cổ đại
7 Đặc điểm của sử học Rô-ma cổ đại so với sử học Hy Lạp cổ đại
8 Nêu tên một số nhà sử học Rô-ma nổi tiếng và chỉ ra những đóng góp của họ đối với sự phát triển của khoa học lịch sử
Trang 16HƯỚNG DẪN ĐỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Thanh Bình (chủ biên) 2007 Lịch sử sử học thế giới Hà Nội NXB:Đại học Sư phạm (tham khảo từ tr 15 đến tr 35)
Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường 1995 Lịch sử Sử học thế giới Bộ Giáo dục và Đào tạo-Đại học Huế (tham khảo từ tr 6 đến tr 14)
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2006 Nhập môn sử học Hà Nội NXB Đại học Sư phạm (tham khảo từ tr 70 đến tr 75)
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia – Viện thông tin khoa học xã hội
1998 Sử học những tiếp cận thời mở cửa Hà Nội NXB: Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề
Trang 17CHƯƠNG 3 SỬ HỌC THẾ GIỚI THỜI TRUNG ĐẠI
Những nét chung của nền sử học thời trung đại là: củng cố quan hệ phong kiến,
ca tụng vua chúa, xem lịch sử là kết quả sự can thiệp của Trời vào đời sống của con người mà người đại diện là vua Mọi sự diễn biến lịch sử là theo ý Trời đã định trước Tuy nhiên, ở phương Tây và phương Đông, sử học có những bước phát triển riêng
Ở phương Tây, sử học thời trung đại chia thành các giai đoạn: từ thế kỷ V đến thế XI, sử học được giới quý tộc và tăng lữ dùng để củng cố giáo lý nhà thờ và dùng làm công cụ để thống trị dân chúng Đây gọi là “đêm trường trung cổ”, chìm ngập trong bóng đen của tư tưởng thần quyền Từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV, sử học phương Tây còn lẫn lộn nhiều sự kiện hoang tưởng với những sự kiện có thực Tuy nhiên, sử học thời kỳ này cũng có những bước tiến trong tư duy lịch sử Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, chế độ phong kiến đã suy yếu, giai cấp tư sản đang trưởng thành và đấu tranh chống lại chế độ phong kiến về mọi mặt Sử học lúc bấy giờ đang trên đường khắc phục những quan điểm phong kiến, tôn giáo và trở thành sử học nhân văn
Các nước phương Đông bước vào thời kỳ phong kiến sớm hơn ở châu Âu, sử học cũng ra đời sớm và không thoát khỏi sự kìm kẹp, khống chế của tư tưởng phong kiến Ở phương Đông thời trung đại, sử học phát triển theo hai dòng, dòng chính thống do Quốc
sử quán triều đình đảm nhận và dòng tư nhân do các cá nhân biên soạn Tiêu biểu là sử học Trung Quốc, các nhà sử học phong kiến đã có những đóng góp trong việc xác lập những thể loại và phương pháp sử học mô tả thực trạng các chế độ xã hội trong lịch sử
3.1 Những nét chung về sử học thời trung đại
Chế độ phong kiến hình thành trên cơ sở tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ Ý thức
hệ phong kiến cũng nảy sinh cùng với sự ra đời của chế độ phong kiến và chi phối mạnh
mẽ sử học Sự hình thành và phát triển của chế độ phong kiến ở các nước trên thế giới không giống nhau về thời gian, tính chất Do đó, sử học phong kiến ở các nước cũng mang màu sắc, nội dung khác nhau Tuy vậy, chúng ta vẫn tìm thấy những nét chung của nền sử học phong kiến Thấm nhuần tư tưởng củng cố quan hệ phong kiến, ca tụng vua chúa, các tác phẩm sử học thời kỳ này ở các nước đều xem lịch sử là kết quả sự can thiệp của Trời vào đời sống của con người mà người đại diện là vua Mọi sự diễn biến lịch sử
là theo ý Trời đã định trước Đó là nội dung cơ bản của thuyết Thiên mệnh trong sử học phong kiến
Hình thức chép sử phổ biến nhất thời phong kiến lúc đầu là loại biên niên sử, tiểu
sử, thánh truyện Tư tưởng về lịch sử toàn thế giới phát triển trên cơ sở tư tưởng tôn giáo thời phong kiến Ví dụ, tác phẩm “Lịch sử các nhà tiên tri và vua chúa” do sử gia Ta-ba-
ri, người Bát-đa viết vào cuối thế kỷ IX đầu thế kỷ X
Vì hạn chế thế giới quan tôn giáo mà tác giả các biên niên sử chỉ nêu mối quan hệ bên ngoài, các hiện tượng dưới hình thức liệt kê theo thứ tự niên đại, mà chưa đi sâu phân tích, phê phán tài liệu Các loại biên niên sử thời trung đại còn mang nội dung các truyện
cổ dân gian, nêu được tinh thần của thời đại như các biên niên sử Nga thế kỷ XII
Sự phức tạp của cơ cấu xã hội thời Trung đại, sự phát triển của các thành thị đấu tranh giai cấp gay gắt, quá trình tập quyền của các quốc gia phong kiến làm cho hình thức biên niên sử cũ không phù hợp và xuất hiện nhiều loại biên niên sử mới Các hình thức chép sử này phức tạp hơn về nguyên tắc chọn sự kiện và giải thích lịch sử Ngoài ra còn
có các loại hồi ký, sách giáo khoa và văn tuyển lịch sử ngày một phổ biến
Trang 18Từ thế kỷ XV, với sự phát triển của Văn hóa Phục hưng, sử học bắt đầu phát triển mạnh với tư tưởng mới: tư tưởng phê phán mà nội dung chủ yếu là xác định nguồn tư liệu gốc Từ đó sử học phát triển thêm nhiều ngành mới như Văn bản học, Niên đại học…
Đó là những nét chung của sử học phong kiến, chúng ta cần đi sâu vào sử học của phương Đông và phương Tây thời Trung đại
3.2 Sử học phương Tây thời trung đại
3.2.1 Sử học châu Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ XI
Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của thần học và sử học được dùng để củng cố giáo lý nhà thờ, cũng như chính sách thống trị của giai cấp phong kiến cầm quyền Các nhà thần học tìm mọi cách để chứng minh rằng, cần phải có quyền uy thế giới của giáo hội để tỏ rõ thần quyền là một tồn tại tất yếu Đó là thời kỳ “đêm trường trung cổ”, chìm ngập trong bóng đen của tư tưởng thần quyền
Đến cuối thế kỷ XI, ở châu Âu đã hình thành nền triết học của chủ nghĩa phong kiến theo Thiên chúa giáo đó là chủ nghĩa kinh viện Chủ nghĩa kinh viện là triết học của giai cấp phong kiến muốn giữ địa vị thống trị trong hệ thống giáo dục của xã hội Nhiệm
vụ của chủ nghĩa kinh viện là biện hộ và bảo vệ cho hệ thống tư tưởng của nhà thờ bằng những mánh khóe giả tạo có tính chất lô gic hình thức, tuyên truyền cho sự cuồng tín, thủ tiêu tư tưởng tự do Đặc điểm của chủ nghĩa kinh viện là duy tâm cực đoan Các nhà kinh viện chủ nghĩa cho rằng tất cả những gì được tôn giáo ghi lại là chân lý tuyệt đối và bất di bất dịch, do đó họ không quan tâm đến cái mới, đến khoa học tự nhiên
Trong bối cảnh như vậy, sử học có địa vị hết sức nhỏ bé, chỉ là “nô bộc của thần học” Điều này thể hiện ở việc sử học phục vụ giáo hội và nhà nước phong kiến Giai cấp cầm quyền sử dụng sử học như một công cụ để củng cố giáo lý và chính sách thống trị Mục đích thực dụng của sử học vẫn được duy trì như thời cổ đại, tuy nhiên sử học thời kỳ này không còn mang tư tưởng nhân văn của thời kỳ Hy Lạp, Rô-ma cổ đại Trong điều kiện ấy đối tượng nghiên cứu của sử học bị thu hẹp, chỉ hạn chế ở việc tìm hiểu cuộc sống các đại diện của giai cấp thống trị: Hoàng đế, những người cầm đầu giáo hội, các tướng lĩnh và quan lại Nội dung chủ yếu trong các tác phẩm sử học còn là những biến cố trong đời sống chính trị như chiến tranh, hoạt động ngoại giao, lập pháp, việc thay đổi vua và các triều đại Toàn bộ đời sống và lao động của quần chúng nhân dân không được
đề cập đến
Nhiệm vụ của sử học thời kỳ này quan niệm rất đơn giản: ghi chép các hoạt động của vua chúa và giáo hội để rút ra những kinh nghiệm thống trị và minh họa cho các giáo
lý của nhà thờ Vì thế, sử học lúc bấy giờ còn được gọi là “khoa học của vua chúa” Nhà
sử học Pháp Giăng-Bôt-xu-ê (J.Bossuet) trong cuốn “Bàn về lịch sử thế giới” cho rằng:
“Nếu đối với người khác lịch sử là điều vô ích thì đối với vua chúa việc học lịch sử vẫn cần thiết Nếu như kinh nghiệm đem lại sự sáng suốt để cai trị tốt hơn thì để có sự sáng suốt đó không có gì hơn là kết hợp kinh nghiệm hằng ngày với những tấm gương rút ra từ những thế kỷ qua” Nhà viết sử biên niên Ooc-đê Vích Vi-ta-li (1075 – 1148) trong cuốn
“Lịch sử giáo hội” đã xác định nhiệm vụ của sử học: “trong một công trình nghiên cứu lịch sử, mọi cái đều phải nhằm ca ngợi Đấng Sáng thế là người cai quản mọi sự vật, vì Đấng Sáng thế vĩnh hằng cho đến nay vẫn là người trực tiếp điều khiển lịch sử một cách diệu kỳ”
Đối tượng, mục tiêu, nội dung nghiên cứu lịch sử nêu trên chi phối nhiều đến phương pháp trình bày của các sử gia thời bấy giờ
Trang 19Tinh thần khoa học khiến một số sử gia tìm lối thoát khỏi sự ràng buộc của thần học
mà không bị trừng phạt Guy-bec-tơ (1053 – 1124) trong quyển “Lịch sử các cuộc thập tự chinh”, ông đã tìm lối thoát bằng cách chia tất cả “điều kỳ diệu” thành những “điều có thật” là những điều đã được giáo hội chấp nhận, và những “điều giả dối”, tức là điều không được giáo hội chấp nhận
3.2.2 Sử học châu Âu từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV
Trong tác phẩm sử học, nhiều sự kiện hoang tưởng còn lẫn lộn với những sự kiện
có thực, thế giới hiện thực luôn có mối quan hệ chặt chẽ với thế giới thần linh Trong tác phẩm „Lịch sử các nhà vua Anh” của Giéc-phơ-ri, khi trình bày các thế hệ vua nước Anh, tác giả đã đưa vào tác phẩm ông vua thần thoại Ac-tua cùng các hiệp sĩ Tác giả không phê phán những yếu tố hoang đường mà còn bịa đặt thêm nhiều chi tiết mới Nhà sử học Đức nổi tiếng của thế kỷ XII là Ốt-tô, trong tác phẩm “Bàn về hai vương quốc”, hay còn gọi là “Sách bàn về tính thay đổi của tòa án” đã trình bày một vương quốc thần thánh và một vương quốc trần tục Ông còn cho rằng: “Con người cần phải từ bỏ những công việc
ở trần gian và hướng tới thiên đường vĩnh hằng, bởi vì có hai vương quốc đang tồn tại: một là tạm thời, một là vĩnh viễn; một là trần tục; một là thiên đường; một là sa tăng; một
là Chúa trời” Tác phẩm còn lặp lại những chuyện bịa đặt về nguồn gốc Giáo hoàng, người thừa kế trực tiếp của các hoàng đế Rô-ma Ốt-tô không phân biệt những biến cố chủ yếu với những biến cố thứ yếu, lẫn lộn cuộc khởi nghĩa của người trong nước với cuộc xâm lăng của các bộ tộc “dã man” Trong phần “Các Hoàng đế Rô-ma”, Ốt-tô còn đưa vào tác phẩm nhân vật thần thoại như thần Thời gian (Ianus), thần Mùa màng (Saturnus) trong thần thoại phương Tây Phần cuối của của biên niên sử, Ốt-tô miêu tả ngày tận thế và ngày xuất hiện của vương quốc thần linh
Khi giải thích những hành động của con người, các nhà sử học thời kỳ này thường viện đến sự can thiệp của Chúa, xem đó là nguyên nhân cơ bản quyết định mọi biến động trong cuộc sống Nhà biên niên sử Giăng Vi-lơ (1224 – 1317) cắt nghĩa sự may mắn trong các trận chiến Ai Cập là “Chúa quyền lực vô biên đã tha thứ cho chúng ta khi Người cứu chúng ta thoát khỏi cái chết và hiểm họa” Do đó, con người phải kính Chúa
và làm theo Chúa
Tuy nhiên, sử học phong kiến châu Âu thời kỳ này cũng có những bước tiến trong
tư duy lịch sử Mặc dù bị tôn giáo kìm hãm, một số nhà sử học vẫn tìm cách ghi lại sự thật lịch sử Trong một số tác phẩm, lịch sử bước đầu đã thoát khỏi quan niệm về sự phát triển theo thiên mệnh mà đã giải thích theo “điều thiện”, “cái ác” Thiện sẽ thắng ác Ô-guýt-tanh trong tác phẩm “Về trận mưa đá do Chúa tạo nên” đã giải thích sự diệt vong của đế quốc Rô-ma như sau: Thế giới bao gồm hai vương quốc cách biệt, vương quốc thần thánh, hiện thân cho chân lý và chính nghĩa và vương quốc trần tục, hiện thân cho hung ác và bạo lực Từ khi Giê-su xuất hiện, vương quốc thần thánh ngày một hùng mạnh, vương quốc trần tục đang đến ngày tận thế Rô-ma là một trong những quốc gia trần tục cuối cùng, nó đã hoàn thành việc hợp nhất thế giới sau khi làm xong tất phải diệt vong Như vậy, quá trình lịch sử trong tư duy của Ô-guýt-tanh dù rất đơn giản và hoang tưởng nhưng đã bao hàm yếu tố biến đổi và phát triển
Các nhà sử học thời kỳ này cũng nêu lên quan niệm về tính thống nhất của toàn thể nhân loại Quan niệm này của Thiên Chúa giáo rộng hơn quan niệm thời cổ đại Giáo lý nhà thờ cho rằng, mọi người đều bình đẳng trước Chúa, song trên thực tế xã hội có giai cấp thì giai cấp thống trị và bị trị chẳng bao giờ bình đẳng
Những quan điểm thần học trong sử học chỉ bị đánh đổ khi chế độ phong kiến lung lay dưới những đòn giáng mạnh mẽ của khởi nghĩa nông dân Ví dụ ở Séc thế kỷ XV và ở
Trang 20Đức thế kỷ XVI, do cuộc đấu tranh chống phong kiến mạnh mẽ của nông dân mà nảy sinh nhiều học thuyết xã hội – lịch sử, thù địch với chế độ phong kiến Đỉnh cao của hệ tư tưởng mới này là tư tưởng của Tô-mát Man-đa chủ trương dùng đấu tranh để xóa bỏ sự bất bình đẳng về giai cấp và chế độ tư hữu
3.2.3 Sử học châu Âu thời kỳ Phục hưng (thế kỷ XV – XVII)
Văn hóa Phục hưng ra đời ở I-ta-li-a vào thế kỷ XV và phát triển mạnh mẽ vào thế
kỷ XVI – XVII khắp cả châu Âu Thế kỷ XV – XVII, chế độ phong kiến đã suy yếu, giai cấp tư sản đang trưởng thành và đấu tranh chống lại chế độ phong kiến về mọi mặt Sử học lúc bấy giờ đang trên đường khắc phục những quan điểm phong kiến, tôn giáo và trở thành sử học nhân văn
Trong số các nhà triết học lớn ảnh hưởng nhiều nhất đối với sử học Phục hưng có Bai-cơn (F.bacon) và Đề-các (R.Descartes)
Bai-cơn (1561 – 1626) là nhà triết học Anh, người sáng lập ra chủ nghĩa duy vật Anh và khoa học thực nghiệm Ông phê phán triết học trung cổ, đồng thời cho rằng triết học kinh viện và thần học đã ngăn cản bước tiến của khoa học, làm cho khoa học bị lẫn lộn với mê tín dị đoan Theo ông phải kiểm tra kỹ các giáo lý bằng con đường thực nghiệm Ông cho rằng, triết học chân chính phải có tính chất thực tiễn, nghĩa là phải dựa trên sự phân tích các hiện tượng tự nhiên và trên những tài liệu của kinh nghiệm
Bai-cơn sáng lập ra triết học quy nạp cho rằng phải dựa trên những chứng cứ cụ thể
để rút ra mệnh đề lý thuyết Ông nêu rõ cần phải thận trọng khi nêu các phán đoán Vì vậy trong sử học ông coi trọng sự chính xác của nguồn tư liệu gốc Ông nêu ý kiến các nhân tố cản trở nhà sử học tái tạo quá khứ một cách khách quan đó là: xây dựng sự kiện qua lời kể; thụ động theo các học thuyết; định kiến cá nhân; huyền thoại
Trong nghiên cứu, Bai-cơn coi trọng phương pháp, ông nêu hình tượng người thọt
đi đúng đường đến đích trước người khỏe chân mà chạy sai đường để nói về tầm quan trọng của phương pháp
Đê-các (1596 – 1650) coi nhiệm vụ cuối cùng của tri thức là sự thống trị của con người đối với lực lượng tự nhiên, sự phát minh và sáng chế các phương tiện kỹ thuật, sự nhận thức những nguyên nhân và hành vi, sự hoàn thiện bản tính con người Để thực hiện nhiệm vụ này, Đê-các cho rằng trước hết phải hoài nghi mọi sự tồn tại hiện có Hoài nghi như vậy không phải là không tin vạn vật mà chỉ là thủ đoạn để tìm ra cơ sở tuyệt đối xác thực của sự hiểu biết Ông coi nguyên lý “Tôi suy nghĩ do đó tôi tồn tại” là cơ sở của nhận thức Triết học của Đê-các theo lối suy diễn, nhận thức quy luật tự nhiên, xã hội để soi sáng các hiện tượng
Đối với sử học, Đê-các không coi đó là một khoa học, nếu như chỉ mô tả sự kiện mà không tìm ra quy luật Ông cho rằng sử học quá yếu về tính phê phán, mang tính nghệ thuật nhiều hơn và không biết chọn lựa sự kiện… Tuy nhiên những quan điểm triết học của Đê-các đã ảnh hưởng lớn đến sử học: nó tạo ra không khí triết học cho những cố gắng nghiên cứu để đạt tính chính xác, tính trong sáng và tính phê phán trong công tác sử học Ông đề ra quan niệm về sự tiến bộ không ngừng và cho rằng sự tiến bộ đó đã được xác định từ đầu cho đến khi đạt được tình trạng hoàn hảo Ông đề cao phương pháp trong nghiên cứu: “Thiếu phương pháp người tài cũng có thể không đạt kết quả Có phương pháp thì người tầm thường cũng trở nên phi thường”
Văn hóa Phục hưng mà hai trào lưu triết học của Bai-cơn và Đê-các đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà sử học, làm nảy sinh một tư tưởng mới trong sử học – tư tưởng phê
Trang 21phán, các nhà sử học đã đấu tranh bác bỏ quan điểm lịch sử của giáo hội phong kiến Họ giải thích lịch sử ở ngay chính bản thân lịch sử, đặt vấn đề về quy luật nội tại của lịch sử
và cho rằng bản tính con người quy định các quy luật ấy Chính vì vậy, sử học thời Phục hưng đạt được nhiều thành tự lớn trên các mặt:
Về phê phán tư liệu, các nhà sử học I-ta-li-a thời kỳ này tìm hiểu sâu sắc các tác phẩm sử học thời kỳ Hy Lạp, Rô-ma cổ đại Họ đã trở thành những người đầu tiên xây dựng kỹ thuật khôi phục bản gốc, phát hiện những chỗ sai lạc, những điều thêm bớt và thiếu sót trong các văn kiện, phân rõ bản văn chính của tác giả với những chỗ vay mượn, đồng thời chú dẫn tư liệu Đại diện cho khuynh hướng này là L.Bruni, F.Bongđo, N.Makiaveli…
Một trong những người đầu tiên tỏ thái độ nghi ngờ tính khoa học của các tài liệu đương thời là nhà sử học nhân văn I-ta-li-a Lô Ren-xô Van-le (1407 – 1457) Là thư ký của Giáo hoàng, ông nhận thấy có những tài liệu rất quan trọng trong thời trung đại lại là tài liệu giả Ông dùng phương pháp phân tích, so sánh 10 bản danh mục khác nhau về những tác phẩm của Ti-tơ Li-vơ (sử gia thời Rô ma cổ đại), xác định được bản gốc ít sai sót được chép lại Khi nghiên cứu cac bản thảo của nhà thờ, ông đã bóc trần điều giả dối được gọi là “Tặng vật của Công-x-tan-tin”, che đậy những khát vọng của Giáo hoàng về quyền thế tục Tài liệu trong nhà thờ ghi rằng: một trong những hoàng đế Rô-ma cuối cùng là Công-x-tan-tin, sau khi làm phép rửa tội vào năm 313, vì lợi ích của mình, Giáo hoàng đã từ bỏ quyền lực của mình ở Rô-ma và dời đô đến Công-x-tan-tin-nô-pô-li Điều
đó đã làm cho Giáo hoàng dường như là người thừa kế “hợp pháp” chính quyền của hoàng đế Rô-ma Phân tích một cách tỉ mỉ nội dung và cấu trúc ngôn ngữ của tài liệu, Van-le đã chứng minh đấy là tài liệu được biên soạn trong văn phòng của Giáo hoàng vào khoảng thế kỷ XIII, chứ không phải vào thế kỷ IV Ông khẳng định, đó là “Sự giả mạo thô bỉ” Sự việc này làm cho giáo hội Rô-ma phẫn nộ, tòa án khép Van-le tội tử hình vắng mặt
Trong việc sưu tầm và phê phán tư liệu có sự đóng góp quan trọng của dòng tu nê-đic-tanh, một dòng tu được thành lập vào thế kỷ VI Trung tâm hoạt động của nó là tu viện Xanh Giéc-manh-đơ P-rê (Pháp) Tu viện có những bộ sưu tập lớn các tài liệu cổ Kèm theo mỗi bộ sưu tập có một bản phân tích nguồn gốc của mỗi tài liệu
Bê-Về đấu tranh tư tưởng, trong sử học thời Phục hưng có Phong trào cải cách tôn giáo, một phong trào chính trị - xã hội ở Tây Âu thế kỷ XVI có ảnh hưởng lớn đối với công tác phê phán, chống các xu hướng sai trái Phong trào ra đời trên cơ sở cuộc đấu tranh của nông dân và giai cấp tư sản mới nảy sinh nhằm chống lại chế độ phong kiến Phong trào khoác một cuộc đấu tranh tôn giáo chống giáo hội Thiên chúa, chỗ dựa của chế độ phong kiến Sử học cũng tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh này
Lu-thơ, một trong những người đề xướng phong trào và những người ủng hộ ông,
đã hoài nghi nhiều tài liệu dùng làm cơ sở xây dựng luật pháp và giáo lý của nhà thờ Dưới sự hướng dẫn của Lu-thơ, nhà sử học Anh Rô-bớt Bec-nơ (1495 – 1540) đã xuất bản cuốn “Tiểu sử các giám mục Rô-ma”, trong đó đưa ra nhiều sự kiện mô tả sự chuyên quyền của Giáo hoàng Công trình lớn nhất của sử học thời cải cách tôn giáo là 13 tập
“Lịch sử giáo hội trình bày theo các thế kỷ” của Mác-vây Xla-xét-sơ cũng nhằm tố cáo tội ác của giáo hộ Rô-ma
Chống lại quan điểm sử học nhân văn thời Phục hưng, các nhà sử học của giáo hội
do Hồng y giáo chủ Xe-đa Ba-rô-ni (1538 – 1607), giám đốc thư viện Va-ti-căng cầm đầu đã cho xuất bản 12 tập “biên niên sử Giáo hội” để bảo vệ quyền lực của giáo hội Cuộc đấu tranh tư tưởng trong thời kỳ cải cách tôn giáo đã dẫn tới nhiều kết quả tích cực
Trang 22đối với sự phát triển của sử học Nó làm suy yếu sự thống trị của giáo hội Thiên Chúa giáo, thủ tiêu sự khống chế tuyệt đối của nó đối với con người Nhiều tư liệu và văn kiện lịch sử lâu nay bị cất giấu đã được công bố Các nhà sử học của cả hai phái, trong khi luận chiến đã cố gắng phát hiện và chứng minh các sai sót trong các tài liệu lịch sử của nhau Do đó, họ tỏ ra thận trọng khi sử dụng các tư liệu trong nghiên cứu lịch sử và xác định thái độ phê phán sử liệu
Kết quả của các cuộc bút chiến về cải cách tôn giáo là sự ra đời một tác phẩm có ý nghĩa bước ngoặt đối với sự phát triển của phương pháp luận sử học Cuốn “Phương pháp nghiên cứu lịch sử” của Bô-đanh (J.Bodin, 1530 – 1596) xuất bản năm 1566 Tác giả nêu
sự cần thiết của việc phân tích và phê phán các bằng chứng gốc Theo ông, nhà sử học cần có tri thức ngoài nguồn sử liệu (chủ yếu là tri thức địa lý và niên đại) Ông đề ra các nhân tố tác động đến lịch sử, bao gồm các nhân tố tĩnh (như địa lý, khí hậu, nhân chủng
có tác động thường xuyên và các nhân tố động (là những nhân tố xã hội liên quan đến hoạt động của con người)
Về phương pháp luận sử học, thời Phục hưng cũng có những bước tiến đáng kể Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công tác phê phán tư liệu và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, nhiều vấn đề lý luận sử học được đề cập, do đó phương pháp luận sử học cũng phát triển Điều này thể hiện qua sự ra đời các tác phẩm lý luận cụ thể Chẳng hạn như sự ra đời của tác phẩm “Phương pháp nghiên cứu lịch sử” của Bô-đanh nêu trên Cuốn “Lịch sử của các lịch sử” của nhà sử học Pháp Đơ La Pô-pơ-li-ni-e (De la Popeliniere) xuất bản năm 1599 đã phê phán những đoạn tự sự trong các công trình sử học, bắt các nhân vật phải nói lên những điều do nhà sử học nghĩ ra; chống lại việc đưa quá nhiều phán đoán về quá khứ mà không dựa trên những bằng chứng tin cậy Ông nêu một yêu cầu của viết sử: tự sự phải chân thật, phải đấu tranh với thần thoại và huyền thoại, cần phải phát hiện ra những nguyên nhân tự nhiên của các biến cố lịch sử
Cuốn “Nghệ thuật lịch sử” của Vô-xơ (J.Voss) người Bỉ, xuất bản năm 1628 được xem là cuốn phương pháp luận sử học đầu tiên, nêu các quy tắc và kỹ thuật viết sử Tác giả nhấn mạnh: phải phân biệt đúng giữa cái thực và cái giả (chân – ngụy) và đề ra kỹ năng viết sử là “Nghệ thuật lịch sử” và “Nghệ thuật phê phán” Cơ sở của phương pháp luận tuy còn nặng nề về phương pháp viết sử, song cũng đề cập đến việc nhận thức lịch
sử Vi-pê-na-rô trong “Sách dạy cách viết sử”, khuyên người viết và học lịch sử cần tránh
và loại khỏi các câu chuyện của mình những điều gây nên sự bực bội và kinh hãi
Sự chuyển biến nhận thức lịch sử thời Phục hưng thể hiện rõ ở quan niệm về sự chuyển biến của lịch sử, chống lại quan điểm của nhiều nhà khoa học còn cho thế giới là bất di bất dịch và xã hội chuyển động theo vòng tròn Ma-chi-ơ-vên-ti (1469 – 1572) khẳng định tương lai có thể đoán trước được, vì mọi dân tộc luôn được khích lệ bởi một
số nguyện vọng và ham thích Nhà sử học Guy-xi-ô-đi-ni (Guicciardini, 1483 – 1540), trong “Bút ký về những công việc chính trị và dân sự”, đã viết: “Các sự kiện của quá khứ soi sáng cho tương lai, bởi vì thế giới bao giờ cũng là một, tất cả những gì đang có và sẽ
có đã tồn tại ở một thời gian khác, còn cái gì đã qua sẽ được lặp lại dưới những tên gọi và những hình thức khác, nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể nhận biết được nó mà chỉ
có những nhà thông thái đã quan sát và suy nghĩ một cách kỹ lưỡng mới có thể nhận ra” Chống lại các quan điểm phi lịch sử như trên, dần dần đã xuất hiện những tư tưởng về sự phát triển theo thời gian, về tính biến đổi của thế giới Nhà sử học người Pháp Bô-đanh là một trong những nhà tư tưởng đầu tiên của châu Âu đã hình thành tư tưởng về sự tiến bộ Ông bác bỏ tư tưởng phổ biến về thời đại hoàng kim trong quá khứ xa xưa, đưa ra giả thuyết rằng con người ngày càng tiến bộ hơn, họ đã tiến từ thời kỳ mông muội và dã man
Trang 23đến thời đại văn minh Một mặt ông cho rằng: “Thiên nhiên dường như đã phục tùng quy luật tuần hoàn vĩnh cửu đến mức hình như tất cả mọi vật đều quay theo một vòng tròn”, nhưng mặt khác ông lý giải: Vòng tuần hoàn đó là hư ảo, vì mỗi vòng tuần hoàn mà chúng ta thấy được trên thực tế là một bước tiến mới”
Với sự phát triển của sử học thời Phục hưng về các mặt phương pháp luận, nội dung, phương pháp nghiên cứu nên nhiều ngành sử học mới ra đời, phát triển Chúng ta
có thể dẫn ra đây một số ngành học bổ trợ
Ngành Văn bản học: Năm 1681, nhà sử học Pháp Ma-bi-lôn (Jean Mabilon, 1632 – 1701), người biên soạn nhiều tập tư liệu gốc về dòng tu Bê-nê-dic-tanh đã cho ra đời tác phẩm “Cuốn sách về văn bản học” Trong đó ông hệ thống tất cả những biện pháp kỹ thuật nhằm xác định niên đại chính xác và tính chân thực của tư liệu Tác phẩm này đánh dấu sự ra đời của ngành Văn bản học
Ngành Niên đại học cũng có bước tiến S-can-lin-gơ (Scalinger, 1540 – 1609) chia thời gian trong sử học theo nguyên tắc toán thiên văn, Pê-ta-vanh (Petavins) ghi thời gian của các sự kiện như là những gì xảy ra trước hoặc sau sự ra đời của Chúa Giê-su; sang thế kỷ XVII, lịch G-rê-go ra đời
Cuối thế kỷ XVI, trên lĩnh vực nghiên cứu lịch sử đã xuất hiện các nhà sử học (chủ yếu ở Pháp) có ý thức nghề nghiệp của mình; trước đây chỉ có những người làm một nghề khác (như dạy học) kiêm thêm nghiên cứu lịch sử Mục đích chính của họ là tái tạo quá khứ một cách khách quan, đặt vị trí sử học như là một khoa học Họ phản đối xu hướng thực dụng của nhà thờ và giới cầm quyền, chú ý cải tiến phương pháp nghiên cứu, trước hết là phê phán sử liệu
Tóm lại, thời Phục hưng là thời kỳ trỗi dậy của tinh thần phê phán, phản ánh ý thức
hệ tư sản, tấn công vào dinh lũy của chế độ phong kiến trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng Trong lĩnh vực sử học, nảy sinh yêu cầu nghiên cứu các văn bản cụ thể để chỉ ra sự giả dối của sử học nhà thờ, kích thích sự phê phán sử liệu, làm cho việc nghiên cứu lịch sử được chân thực hơn Tuy nhiên, các sử gia nhân văn quá cường điệu vai trò cá nhân, hầu như coi thường vai trò của quần chúng nhân dân, chỉ giới hạn việc nghiên cứu ở lĩnh vực lịch sử chính trị, song việc chống tư tưởng tôn giáo là một bước tiến lớn trong sử học Vì vậy cuộc đấu tranh giữa sử học của phong kiến, giáo hội và sử học nhân văn đã diễn ra khá gay gắt
Sử học thời Phục hưng đánh dấu sự trỗi dậy của tinh thần phê phán (sử liệu và quan điểm, phương pháp) Song nhược điểm của nó mới dừng lại ở tìm hiểu, phân tích bề ngoài của sự kiện
3.3 Sử học phương Đông thời trung đại
Các nước phương Đông bước vào thời kỳ phong kiến sớm hơn ở châu Âu, sử học phong kiến cũng ra đời sớm và không thoát khỏi sự kìm kẹp, khống chế của tư tưởng phong kiến Tuy nhiên, sử học phong kiến phương Đông có một điểm khác với sử học phương Tây Ở phương Tây nền sử học thời trung đại, dưới sự khống chế của tôn giáo và triều đình phong kiến đã tỏ ra có những bước lùi so với sử học thời cổ đại Còn ở phương Đông thời trung đại, sử học không bị đình trệ mà vẫn tiếp tục phát triển theo hai dòng, dòng chính thống do Quốc sử quán triều đình đảm nhận và dòng tư nhân do các cá nhân biên soạn Tiêu biểu là sử học Trung Quốc, các nhà sử học phong kiến đã có những đóng góp trong việc xác lập những thể loại và phương pháp sử học mô tả thực trạng các chế độ
xã hội trong lịch sử Nhìn chung, sử học phong kiến Trung Quốc có những thể loại sau đây:
Trang 24“Đoạn đại sử” ghi chép lịch sử của các triều đại chứ không phải viết theo từng
“nước” nhỏ như trước đó Ban Cố là người đầu tiên viết “Đoạn đại sử” “Đoạn đại sử có bốn nội dung: Kỷ, Truyện, Biểu, Chỉ Kỷ: viết về các hoàng đế Truyện: nói về tầng lớp quan lại, hoặc họ hàng thân thích của nhà vua và một số nhân vật có tiếng tăm trong xã hội Biểu: liệt kê nhân vật theo các loại như “Thân vương biểu”, “Bách quan công khanh biểu”, “Phi tần biểu” Chỉ: ghi chép về một “nước” hay một địa phương về mọi mặt, trừ những hoạt động của con người Các bộ “Đoạn đại sử” thường viết rất dài, mỗi bộ gồm tới hàng trăm tập nên các sử gia Trung Quốc chia mỗi bộ thành hai phần: “Hội yếu” (tóm tắt phần quan trọng nhất) và “Bản mạt” (phần gốc, phần phụ)
“Cương, mục” là thể loại lịch sử có từ đời Tống “Cương” ghi tóm lược nội dung chủ yếu trong một đoạn ngắn; “Mục” ghi chép sự việc xảy ra một cách tỉ mỉ, cụ thể Nguyên tắc của lối viết sử theo cương, mục thể hiện tính khoa học ở sự chính xác về niên đại các sự kiện, về giải thích rõ việc lên ngôi, sự thoán nghịch, sự ban phong (đất đai, chức tước…) Vì vậy, thể loại này trở thành mẫu mực cho việc viết sử ở Trung Quốc và nhiều nước phương Đông Thời Tống, Chu Hy viết bộ “Thông giám cương mục”, chép lịch sử theo thể biên niên và chia thành “cương”, “mục” Mục đích của tác phẩm là đề cao chính thống, làm cho mọi người hiểu rõ, tuân thủ và bảo vệ chính thống Do đó, lối viết sử “cương”, “mục” khó tránh khỏi chủ quan, phiến diện, thiên vị để tôn thờ nhà vua
“Sử thông” là thể loại viết lịch sử cả nước, còn gọi là “thông sử” Vào thế kỷ XI, dưới thời Tống, sử gia Tư Mã Quang đã chủ trì biên soạn bộ “Tư Trị Thông Giám” gồm
300 quyển Mục đích của việc biên soạn được tác giả nêu rõ là “Thông các chính sự, hiểu biết mọi thời kỳ thái bình hay loạn lạc‟ Như vậy qua khảo sát một khối lượng tài liệu cẩn thận, kế thừa những thành tựu sử học đời trước, tác giả đã trình bày theo thứ tự thời gian những việc thịnh suy của các triều đại kế tiếp nhau trong 1.326 năm của lịch sử phong kiến Trung Quốc
Đỉnh cao của sử học Trung Quốc thời phong kiến là tác phẩm “Sử ký” của Tư Mã Thiên
Tư Mã Thiên tự là Tử Trường, sinh năm 145 TCN ở Long Môn (nay thuộc huyện Hán Thành, tỉnh Thiểm Tây Trung Quốc) Cha ông là Tư Mã Đàm đã làm Thái sử lệnh đời Hán và trước đó nhiều người trong dòng họ ông đã từng giữ chức sử quan đời nhà Chu Thừa kế truyền thống gia đình về nghiên cứu, biên soạn lịch sử, Tư Mã Thiên còn
có thiên tư đặc biệt nhất là bỏ công sức nhiều để tìm hiểu quá khứ Ông không chỉ chăm chú đọc sách cổ mà còn đi du ngoạn rất nhiều nơi trong nước để thăm các di tích, thu thập tài liệu Vì vậy trong tác phẩm nổi tiếng của ông, Sử ký được đánh giá là một trong những tác phẩm cổ điển xuất sắc của Trung Quốc
Sử ký gồm 130 thiên với 52 vạn chữ, chia ra 5 phần: Bản kỷ, Biểu, Thư, Thế gia, Liệt truyện
Bản kỷ gồm 12 quyển, chép sự tích các đế vương từ thời Ngũ đế đến Hạ, Thương, Chu, Tần, Sở của Hạng Vũ và nhà Hán bao gồm 12 bản kỷ Về Hạ, Thương, Chu mỗi triều đại được ghi ở một bản kỷ Nhà Tần có hai bản kỷ, một bản chép từ khi có nước Tần đến Tần Thủy Hoàng, một bản chép về Tần Thủy Hoàng Một bản kỷ về Hạng Vũ Hán
có các bản kỷ về Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ Hiện nay thiếu mất bản kỷ Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ
Bản kỷ chép lại sự việc của những người, những nước đã chi phối cả thiên hạ Ông chép riêng lịch sử nước Tần trước Tần Thủy Hoàng thành một bản kỷ, vì trong thời Chiến quốc nước Tần là nước chi phối vận mệnh của tất cả các nước Dù Huệ Đế làm vua,
Trang 25nhưng Lữ Hậu thực sự cầm quyền nên ông vẫn làm bản kỷ về Lữ Hậu Việc đặt một người đàn bà lên ngang hàng với địa vị các bậc “đế” là điều mà cả các sử gia đời sau của Trung Quốc cũng không dám làm Ông còn dành cho Hạng Vũ những lời đẹp nhất, mặc
dù Hạng Vũ là kẻ thù của nhà Hán và về danh nghĩa chưa phải là “đế” mà trong thực tế là người có công nhất trong việc tiêu diệt nhà Tần Điều này thể hiện Tư Mã Thiên rất tôn trọng sự thực khách quan
Biểu: ghi chép năm tháng các biến cố của các nhân vật đế vương, của các nước chư hầu và của một số công thần, danh thần nhà Hán Các biểu trong “Sử ký” được Tư Mã Thiên lập ra giúp người đọc có cái nhìn đối chiếu các sự kiện, hoặc căn cứ vào niên đại, hoặc căn cứ vào sự tương quan đồng thời giữa các nước để hiểu biết toàn diện về lịch sử một nước rộng lớn và bị chia cắt, phân tán như Trung Quốc
Trong “Sử ký”, Tư Mã Thiên lập ra 10 biểu, gồm Thế biểu thời Tam đại; Niên biểu mười hai nước chư hầu; Niên biểu sáu nước thời Chiến quốc; Nguyệt biểu những việc xảy ra thời Hán Sở; Niên biểu của các nước chư hầu từ thời Hán; Niên biểu các công thần của Hán Cao Tổ; Niên biểu các nước chư hầu từ thời Huệ Đế và Cảnh Đế; Niên biểu các nước chư hầu từ niên hiệu Kiến Nguyên; Niên biểu các vị vương thời Vũ Đế; Niên biểu các danh thần từ khi nhà Hán lên ngôi
Thư: gồm gó tám thư viết tám mặt thiết chế chủ yếu của lịch sử một nước Đó là: Lễ thư, Nhạc thư, Luật thư, Lịch thư, Thiên quan thư, Phong thiên thư, Hà cừ thư, Bình chuẩn thư Trong các thư nêu rõ sự biến đổi, những cống hiến về lễ, nhạc, luật lệ, việc làm lịch, thiên văn v.v… qua các thời đại Lễ nghi được thể hiện trong “Lễ thư”; nhạc trong “Nhạc thư”; luật lệ trong “Luật thư”; thiên nhiên trong “Thiên quan thư”; việc mê tín, cúng tế của vua chúa trong “Phong thiên thư”; các con sông đào ở Trung Quốc trong
“Hà cừ thư”; tình hình kinh tế trong “Bình chuẩn thư” Các tài liệu chính xác đến nỗi người đời sau thường dựa vào đó để đính chính những sai sót trong các sách nói về những thể chế xã hội
Thế gia: gồm 30 thiên, chủ yếu viết về lịch sử các nước chư hầu (Tề, Lỗ, Triệu, Sở…) và những người có địa vị cao trong giới quý tộc gồm các thái hậu, những người được phong tước ở một nước như Chu Công, Thiệu Công và những người có công lớn như Trương Lương, Trần Bình Tư Mã Thiên còn ghi ở phần này hai người thường dân không có một tấc đất phong, đó là Khổng Tử, một nhà tư tưởng lớn thời cổ đại và Trần Thiệp, người cố nông đã cầm đầu cuộc khởi nghĩa nông dân đầu tiên trong lịch sử thời Hán
Liệt truyện: gồm 70 thiên viết về các nhân vật và sự kiện khác nhau Danh từ “Liệt truyện” do chính Tư Mã Thiên đặt ra, ghi lại sự tích không chỉ những người có vị trí cao trong xã hội Trung Quốc như các danh tướng (Mông Điềm, Lý Quảng, Vệ Thanh) những
vị quan to (Trương Thích Chi, Công Tôn Hoằng…) mà cả những nhân vật ở ngoài Trung Nguyên như (Nam Việt, Đông Việt, Triều Tiên, Tây Di, Hung Nô, Đại Uyển), cuộc đời
và hành trang của những du hiệp, thích khách trọng nghĩa khinh tài (trong “Thích khách liệt truyện”, “Du hiệp liệt truyện”), những nhà tư tưởng như Lão Tử, Trang Tử, Tuân Khanh…, những nhà văn như Khuất Nguyên, Tư Mã Tương Như, những thầy bói, thầy thuốc, thậm chí cả những anh hề, những tên sâu mọt, đàn áp bóc lột dân chúng, những bọn ngoại thích lộng quyền và vô số những nhân vật ti tiện khác
Có thể nói Tư Mã Thiên là “người cha của sử học Trung Quốc” về hai thể loại chủ yếu đầu tiên: Đoạn đại sử và Sử thông Cả hai thể loại này đều bắt nguồn từ phương pháp biên soạn sử ký của Tư Mã Thiên Ông là người đầu tiên viết lịch sử toàn Trung Quốc Trước đó chỉ có những người viết lịch sử từng “nước” nhỏ, như nước Lỗ, Tần, hoặc viết
Trang 26về một sự kiện (như chiến tranh) Trong khi viết về lịch sử Trung Quốc, ông đã thấy có mối liên hệ nhất định giữa kinh tế với chính trị, luật pháp cũng như lịch sử trên mọi mặt của đời sống xã hội “Sử ký” của Tư Mã Thiên mô tả toàn bộ lịch sử Trung Quốc trong suốt 3.000 năm, từ đời Hoàng đế cho đến đời Hán Vũ Đế, với một không gian lịch sử rộng lớn, gồm nhiều lĩnh vực của đời sống và các tầng lớp xã hội khác nhau
Tư Mã thiên có một thái độ công minh, dứt khoát, không thiên vị đối với các nhân vật lịch sử Lời khen chê của ông rất rõ ràng, đôi khi vượt qua sự ràng buộc của chế độ đương thời để nêu lên sự thật lịch sử Ông đã dành những trang đẹp nhất để nói về Hạng
Vũ, kẻ thù của nhà Hán, đó là một con người phi thường “tài năng và ý chí hơn người”,
“từ cận cổ đến nay chưa có ai được như thế” Trái lại Lưu Bang, người sáng lập ra nhà Hán lại được mô tả là một kẻ “không lo làm ăn”, “tham tiền và ham gái, ngạo mạn và thô lỗ” Ông phơi bày bức tranh đau thương của xã hội đương thời như cảnh vua chúa mê tín (trong Phong thiên thư), vua quan phung phí tài sản của nhân dân (trong “Bình chuẩn thư”), cảnh quan lại tàn ác (Khốc lại truyện”), cảnh nhà nho cầu an, giả dối (“Công Tôn Hoằng truyện”, “Thúc Tôn Thông truyện”)
Những phân tích, nhận xét của Tư Mã Thiên rất độc đáo, táo bạo vượt lên trên thời đại của mình Ở một mức độ nào đó ông đã nhìn thấy sức mạnh nằm trong dân chúng Ví
dụ, trong “Cao Tổ bản kỷ” và “Trần Thiệp thế gia”, ông cho rằng mặc dù Lưu Bang và Trần Thiệp tài trí bình thường nhưng vì luôn nắm bắt nguyện vọng dân chúng nên đã lập nên công trạng
Tư Mã Thiên cũng là sử gia Trung Quốc đầu tiên viết về những dân tộc bị gọi là
“mọi rợ” mà tuyệt nhiên không tỏ thái độ khinh miệt
Chính vì những thành công trên, “Sử ký” của Tư Mã Thiên được các nhà sử học đời sau đánh giá là một công trình biên soạn lịch sử vào bậc nhất của sử học phương Đông thời phong kiến, trở thành mẫu mực cho việc biên soạn lịch sử sau đó
Nhìn chung, sử học Trung Quốc thời phong kiến, trải qua các triều đại từ Tần, Hán, Đường, Tống, đến Minh, Thanh đã phát triển với nhiều sử gia, nhiều công trình lịch sử nổi tiếng đánh dấu sự phát triển của một nền văn hóa rực rỡ Dĩ nhiên sử học Trung Quốc không thể thoát khỏi việc chi phối của tư tưởng nho giáo nhằm bảo vệ trật tự xã hội phong kiến Sử học Trung Quốc thời phong kiến không chỉ là công cụ nô dịch về tinh thần nhân dân trong nước mà còn phục vụ trực tiếp cho âm mưu xâm lược của phong kiến Trung Quốc với các nước láng giềng Ví dụ, trước khi quân Minh xâm lược Đại Việt, với danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”, triều đình nhà Minh đã biên soạn hoàn thành quyển “Việt kiệu thư” tìm hiểu khá tỉ mỉ về đất nước Đại Việt
Ngoài Trung Quốc, sử học thời phong kiến cũng khá phát triển ở nhiều nước khác của phương Đông như Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ Ở đây xin giới thiệu nhà sử học lớn nhất của người Ả Rập đó là Ibn Haldun (1332 – 1406) Trong “Phần mở đầu” của tác phẩm “Sách về những tấm gương rút từ lịch sử người Ả Rập, Ba Tư, Béc-be và các tộc người cùng sống với họ trên quả đất”, ông đã phát triển tư tưởng triết học- lịch sử khá tiến bộ, gần giống như quan điểm của các đại biểu tiên tiến của nền sử học nhân văn ở I-ta-li-a Ibn Haldun bác bỏ sự giải thích bằng quan điểm của ý thức hệ tôn giáo Ông xem lịch sử là sự thay đổi thường xuyên của đời sống và phong tục của con người, là một quá trình diễn biến không ngừng sự thịnh suy của các quốc gia Ông nêu rõ rằng, trong nghiên cứu lịch sử phải “đi sâu nghiên cứu các hiện tượng riêng lẻ bằng cánh cửa lớn của nguyên nhân chung”; mặt khác lại phải đặt biệt chú trọng ý nghĩa to lớn của hoàn cảnh địa lý đến lịch sử xã hội
Trang 27Câu hỏi hướng dẫn học tập
1 Đặc điểm của sử học phong kiến châu Âu từ thế kỷ V đến thế kỷ XI?
2 Đặc điểm của sử học phong kiến châu Âu từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XVII?
3 Nêu nét chung về thể loại chép sử, quan điểm sử học của sử gia phong kiến
4 Những đặc điểm trong nghiên cứu lịch sử của Tư Mã Thiên (về mặt phương pháp sưu tầm tài liệu, biên soạn và về quan điểm)
5 Nêu giá trị lịch sử của tác phẩm Sử Ký của Tư Mã Thiên
6 Cách viết lịch sử theo thời đại, “đoạn đại sử” của Trung Quốc ảnh hưởng như thế nào đến sử học nước ta thời phong kiến?
HƯỚNG DẪN ĐỌC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đỗ Thanh Bình (chủ biên) 2007 Lịch sử sử học thế giới Hà Nội NXB Đại học Sư phạm (tham khảo từ tr 36 đến tr 62)
Phan Ngọc Liên, Trần Vĩnh Tường 1995 Lịch sử Sử học thế giới Bộ Giáo dục và Đào tạo-Đại học Huế (tham khảo từ tr 15 đến tr 22)
Phan Ngọc Liên (chủ biên) 2006 Nhập môn sử học Hà Nội NXB Đại học Sư phạm (tham khảo từ tr 76 đến tr 80)
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia – Viện thông tin khoa học xã hội
1998 Sử học những tiếp cận thời mở cửa Hà Nội NXB: Thông tin khoa học xã hội – chuyên đề
Trang 28CHƯƠNG 4 SỬ HỌC THẾ GIỚI THỜI CẬN ĐẠI
Những trào lưu tư tưởng thế kỷ XVII – XVIII nảy sinh trong thời cận đại bắt đầu từ Cách mạng Hà Lan (thế kỷ XVI), có liên quan đến việc phát triển sử học và biến sử học thành một khoa học thực sự Thời cận đại với những nội dung cơ bản của nó (cách mạng
tư sản thành công, giai cấp tư sản nắm quyền thống trị, mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt giữa tư sản với vô sản, với tư cách là những giai cấp độc lập, cơ bản của xã hội; cuộc xâm chiếm, đô hộ thuộc địa và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân) đã hình thành các khuynh hướng sử học khác nhau Chúng ta tìm hiểu những nét chủ yếu của mỗi khuynh hướng chính, đó là:
Sử học thời Khai sáng: Trào lưu tư tưởng mới của giai cấp tư sản tiến bộ nhằm chống chế độ phong kiến Nó là một bộ phận của trào lưu tư tưởng của thời đại chủ nghĩa tư bản đang lên, khi mà cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế biểu hiện trên mọi lĩnh vực và trở thành trung tâm của đời sống xã hội, mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Tùy tình hình cụ thể của mỗi nước ở châu Âu, sử học thời kỳ Khai sáng
có những nét khác nhau
Sử học tư sản thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX: Sử học tư sản thế kỷ XIX phát triển rất phong phú về khả năng miêu tả và tính triết học Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sử học tư sản hình thành nên nhiều khuynh hướng Sự xuất hiện các khuynh hướng sử học nói lên sự phát triển phong phú của sử học, mặt khác thể hiện sử học tư sản đã lâm vào cuộc khủng hoảng Nét chung của các khuynh hướng sử học tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tìm cách phủ nhận các phương pháp khách quan khoa học, chống lại học thuyết phản ánh mác-xít, gạt bỏ mọi sự nhận thức về thế giới do các giác quan lý tính hoạt động thực tiễn đem lại
Trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác ra đời Đó là chủ nghĩa xã hội khoa học thể hiện lập trường quan điểm của giai cấp công nhân trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình là xóa bỏ chế độ tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã
duy vật lịch sử, sử học mác-xít ra đời C Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lê-nin đã đặt nền móng và phát triển nền sử học mới, sử học mác-xít.
4.1 Sử học tư sản
Giai cấp tư sản dần trở thành giai cấp thống trị: từ giai cấp tiến bộ đang lên nó dần trở thành phản động, cản trở sự phát triến của lịch sử Sử học của giai cấp tư sản cũng thay đổi tính chất như vậy
4.1.1 Sử học tư sản thời Khai sáng
Từ thế kỷ XVII, đặc biệt trong thế kỷ XVIII cuộc đấu tranh chống thế giới quan phong kiến, tôn giáo diễn ra quyết liệt Trong cuộc đấu tranh này, sử học tư sản tuy mới hình thành, đã thể hiện thái độ khoa học đối với lịch sử Trong buổi đầu của thời cận đại,
sử học Khai sáng có ý nghĩa quan trọng trong cuộc đấu tranh chống thế giới quan phong kiến, tôn giáo – cơ sở tư tưởng của sử học phong kiến
Trào lưu tư tưởng mới của giai cấp tư sản tiến bộ đã truyền bá rộng rãi các tri thức khoa học trong các tầng lớp nhân dân nhằm chống chế độ phong kiến, mà trước hết là giáo hội, chỗ dựa tinh thần của chế độ phong kiến Trong bối cảnh thuận lợi đó, mặc dù ở các nước tư bản, sử học Khai sáng có những nét khác nhau, song có những nét chung nhất định Nó là một bộ phận của trào lưu tư tưởng của thời đại chủ nghĩa tư bản đang
Trang 29lên, khi mà cuộc đấu tranh chống chế độ chuyên chế biểu hiện trên mọi lĩnh vực và trở thành trung tâm của đời sống xã hội, mở đường cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản
Trong điều kiện mà những mâu thuẫn nảy sinh trong mối quan hệ kinh tế- xã hội mới của chủ nghĩa tư bản chưa phát triển gay gắt, thì cuộc đấu tranh để giải phóng khỏi thế giới quan phong kiến, thần học về thực chất là cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến Có thể nói, cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng đã dọn đường cho cuộc đấu tranh
xã hội mà phần thắng thuộc về giai cấp tư sản Tùy tình hình cụ thể của mỗi nước ở châu
Âu mà tư tưởng, văn hóa nói chung, sử học nói riêng của thời kỳ Khai sáng cũng khác nhau
Ở Pháp, đại diện điển hình cho nền văn hóa, tư tưởng Khai sáng châu Âu, các nhà
sử học đã nêu vấn đề về quy luật trong lịch sử mà từ trước đến nay chưa ai nêu được rõ ràng
Trước đó, các nhà tư tưởng Anh, Hà Lan vào thế kỷ XVII như G-rô-si, Hôp-pơ cũng nên lên những vấn đề lý thuyết về sự phát triển xã hội, song lại đồng nhất quy luật
tự nhiên với quy luật xã hội, xem lịch sử loài người là một quá trình bị chi phối chặt chẽ của quy luật tự nhiên Các nhà sử học Khai sáng Pháp lại tìm quy luật lịch sử trong bản chất con người, trong mối quan hệ con người với tự nhiên Những nhận thức về quy luật lịch sử có một ý nghĩa quan trọng để biến lịch sử thành một khoa học
Các nhà sử học Khai sáng Pháp đề ra việc biên soạn lịch sử thế giới, vì họ xuất phát từ việc thừa nhận sự thống nhất của xã hội loài người, sự cần thiết phải nghiên cứu lịch sử các dân tộc phát triển từ thấp đến cao Mông-te-x-ki-ơ nêu học thuyết về hoàn cảnh địa lý đến với sự phát triển của xã hội Nhiều nhà sử học bác bỏ quan niệm bó hẹp việc nghiên cứu lịch sử trên lĩnh vực chính trị mà chủ trương nghiên cứu các mặt khác của đời sống xã hội (kinh tế, văn hóa, giáo dục, tư tưởng…)
Ở Anh, các nhà sử học Khai sáng trên lập trường chống phong kiến, chống giáo hội đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về lịch sử chế độ phong kiến trong thời trung đại như vấn
đề ruộng đất của nông dân, viêc bóc lột địa tô phong kiến
Ở Đức, nhà khai sáng nổi tiếng Hec-đe đã phát triển tư tưởng về sự thống nhất và tính quy luật của sự phát triển lịch sử Ông nêu những mâu thuẫn trong quá trình phát triển lịch sử, song lại cho rằng sự phát triển này sẽ đến đỉnh cao nhất – lòng nhân đạo Quan điểm của Hec-đe vẫn còn tính chất duy tâm, song mang những yếu tố duy vật tự phát
Ở Nga, vào thế kỷ XVIII tuy chế độ phong kiến nông nô còn ngự trị, song các nhà
sử học cũng có những quan điểm tiến bộ như xem lịch sử là lịch sử chính trị của quốc gia M.V Lô-mô-nô-xốp muốn nghiên cứu lịch sử dân tộc trong phạm vi thế giới, tìm hiểu các giai đoạn thịnh suy thay nhau trong lịch sử Lô-mô-nô-xốp xem lịch sử là một phương tiện giáo dục cho nhân dân lòng yêu nước và đạo đức A.N Ra-đi-xếp nghiên cứu lịch sử trên quan điểm cách mạng, làm công cụ chống chế độ chuyên chế và chế độ nông nô
Nhìn chung, sử học Khai sáng đạt được những thành tựu cụ thể:
Thứ nhất, các nhà sử học Khai sáng đã có sự tiến bộ trong việc giải thích sự phát triển của lịch sử Họ đã thoát khỏi những quan niệm sai lệch về nguyên nhân có tính chất huyền bí của sự phát triển xã hội (do thần linh, các lực lượng siêu nhiên tạo ra), tìm thấy động lực sự phát triển nằm ngay trong bản thân tự nhiên và xã hội đó là các nhân tố khí hậu, địa lý, văn hóa, kinh tế…
Trang 30Nhân tố địa lý được các nhà Khai sáng rất chú trọng khi nghiên cứu lịch sử Mông-te-x-ki-ơ (1689 – 1755), một trong những người xây dựng lý luận địa lý – xã hội học cho rằng: bộ mặt tinh thần của một dận tộc, tính chất của pháp luật và những tổ chức của dân tộc đó phụ thuộc vào khí hậu, đất đai, diện tích rộng hẹp của lãnh thổ mà dân tộc
đó sống Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật”, ông khẳng định, pháp luật không chỉ là kết quả của những mối quan hệ khách quan mà còn là do lý tính định ra Lý tính dựa trên tinh thần dân tộc, mà tinh thần dân tộc lại do điều kiện địa lý quyết định Hec-đe (1741 – 1803), nhà sử học Đức, trong tác phẩm “Những tư tưởng về triết lý lịch sử của loài người” khi phác họa bức tranh lịch sử phát triển của nhân loại đã coi địa lý là nhân tố quan trọng quy định tính chất dân tộc và tất cả các hiện tượng khác của dân tộc đó Ông cho rằng, sự phân tán về chính trị của I-ta-li-a là do yếu tố địa hình núi non phức tạp của nước này, còn sự lạc hậu của châu Á là do tính đơn điệu của thiên nhiên châu Á
Nhân tố văn hóa cũng được các nhà sử học Khai sáng tìm hiểu Hu-mơ, nhà triết học Đức và là tác giả của bộ Lịch sử nước Anh gồm 19 tập cho rằng sự thay đổi về mặt
xã hội chủ yếu là do kết quả của việc di dân và tiếp xúc văn hóa thông qua việc trao đổi, buôn bán Ông được mệnh danh là “nhà quyết định luận văn hóa”, vì coi trọng yếu tố văn hóa trong sự phát triển của lịch sử
Nhân tố kinh tế được các nhà sử học Anh đặc biệt quan tâm, vì ở Anh đã có những thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế do cuộc cách mạng công nghiệp sớm diễn ra vào thế kỷ XVIII đưa lại Giôn-min La-rô (1735 – 1801), nhà sử học X-cốt-len trong cuốn
“Quan sát những sự khác biệt của các trạng thái xã hội” khẳng định rằng, ngoài khí hậu
và dân số, nhân tố kinh tế cũng ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Ông xem nguồn gốc hình thành chính quyền là do sự xuất hiện của chế độ sở hữu và sự phân phối không đồng đều của chế độ đó A-đam S-mít (1733 – 1790), nhà sử học Anh, trong tác phẩm
„Nghiên cứu về tự nhiên và những nguyên nhân giàu có của các dân tộc” cũng đã xem xét
sự phát triển của xã hội gắn liền với các điều kiện kinh tế, con người là sản phẩm của hoàn cảnh chung quanh
Nhân tố chính trị, luật pháp được Hên-vên (Helveins, 1715 – 1771), một đại biểu của chủ nghĩa duy vật và vô thần luận Pháp nêu ra Hên-vên cũng cho rằng con người là sản phẩm của hoàn cảnh xung quanh, tính cách con người không phải bẩm sinh mà do hoàn cảnh sinh sống và các tổ chức chính trị quy định Hoàn cảnh xã hội lại do luật pháp hiện hành tạo ra Vì vậy, ông khẳng định “luật pháp tạo ra tất cả”, mà bản thân luật pháp lại do những tư tưởng đang thống trị xã hội quy định Cách lập luận như vậy sẽ dẫn tới việc xác nhận vai trò quyết định của giai cấp cầm quyền
Ngoài ra còn có những nhà sử học giải thích sự biến đổi của xã hội theo quan điểm quyết định luận Tiêu biểu trong số này là nhà sử học I-ta-li-a, J.Vico (1668 – 1744) Một mặt Vico thừa nhận sự tồn tại của thượng đế khi ông cho rằng thượng đế vạch
ra quy luật cho lịch sử, nhưng mặt khác ông cũng thừa nhận rằng thượng đế không can thiệp vào tiến trình của lịch sử và nhân loại tiến hóa do những nguyên nhân nội tại của bản tính con người
Tuy còn hạn chế, chưa thoát khỏi những quan điểm duy tâm, thần bí, nhưng quan niệm về sự phát triển của xã hội loài người là một bước tiến quan trọng trong tư duy – tìm nguyên nhân nguồn gốc sự phát triển của xã hội ở ngay bản thân xã hội
Thứ hai, tư tưởng về sự tiến bộ của nhân loại và sự vận động của xã hội cũng xuất hiện trong thời Phục hưng được các nhà sử học Khai sáng trình bày rõ ràng, có cơ sở khoa học
Trang 31Tuyêc-gô (Turgot, 1727 – 1781), nhà sử học Pháp cho rằng khả năng đạt đến sự hoàn thiện là một thuộc tính quan trọng nhất của con người và chính khả năng đó đã phân biệt con người với phần tự nhiên còn lại ở mình Điều này mang tính quy luật, nhưng môi trường chủ yếu để thể hiện quy luật về sự tiến bộ là đời sống tinh thần Đây là sự nhận thức tính quy luật một cách duy tâm
Công-đóc-xê (Condorcet, 1743 – 1794), nhà tư tưởng Pháp trong tác phẩm “Phác họa về bức tranh lịch sử của trí tuệ con người” cũng cho rằng con người có khả năng to lớn trong sự hoàn thiện mình, vì tự nhiên không đặt ra một giới hạn nào cho sự tiến bộ này Tuy nhiên, theo ông quá trình phát triển của lịch sử cũng phải trải qua 10 thời kỳ và thời kỳ cuối cùng kết thúc bằng sự chiến thắng vĩnh viễn của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa Điều hạn chế này phản ánh sự mâu thuẫn trong tư tưởng của ông, nhưng đây là hạn chế khó tránh khỏi trong thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang lên
E Căng (Emmanuel Kant, 1724 – 1804), nhà triết học Đức, là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức Triết học của Căng được gọi là “triết học phê phán” với đặc điểm
cơ bản là “sự điều hòa chủ nghĩa duy tâm với chủ nghĩa duy vật, là sự thỏa hiệp giữa hai học thuyết này với nhau, là sự kết hợp vào trong một hệ thống những xu hướng triết học khác nhau, đối lập nhau” Những quan điểm triết lý lịch sử của Căng đánh dấu bước tiến trong nhận thức về tính phát triển của xã hội
E Căng đã dung hòa và kế thừa tư tưởng thần học của Bôt-xuy-ê và quan điểm đạo đức học của Rút-xô Ông viết: “Lịch sử tự nhiên bắt đầu bằng cái thiện vì nó là sản phẩm của Chúa; lịch sử của tự do bắt đầu bằng cái ác vì nó là sản phẩm của con người”
Và “tự nhiên ban cho con người sự thúc đẩy tới lòng nhân đạo mà không cho con người lòng nhân đạo”
E Căng khi thừa nhận sự phát triển của tự nhiên và xã hội đã khẳng định tính cộng đồng của con người tạo nên sức mạnh chứ không phải vai trò của cá nhân nào: “Về
cá nhân những gì ta thấy qua hình dạng lộn xộn và bất thường song vẫn có thể nhận biết được trong cái tổng thể chung dưới dạng phát triển liên tục của các thiên hướng bẩm sinh
dù rằng chậm chạp” Tuy nhiên, Căng vẫn chưa được giải thoát khỏi quan điểm duy tâm
về sự phát triển xã hội nằm ngoài hoạt động của con người và bị tự nhiên chi phối:
“Người ta có thể xem xét lịch sử nhân loại nói chung như là sự thực hiện một kế hoạch huyền bí của tự nhiên để lập nên một thể chế chính trị hoàn hảo” Theo ông, một thể chế chính trị hoàn hảo đó phải là một tổ chức dân chính mà ở đó luật pháp có thể trấn áp các lực lượng đối kháng và thiết lập các quyền tự do Việc xây dựng thể chế này sẽ gặp hai trở ngại chính: vấn đề chính quyền và sự không hiểu biết giữa các dân tộc Do đó, Căng đưa ra yêu cầu cần có một ông vua công minh, chính trực làm trọng tài cho các lợi ích khác nhau Ông cũng đề ra khái niệm “xã hội các dân tộc” nhằm bảo đảm an ninh cho các quốc gia
Ông cho rằng chỉ thực hiện một xã hội chung cho các dân tộc, dưới quyền cai quản của một ông vua anh minh, con người mới được hạnh phúc, đi tới “Kỷ nguyên Ánh sáng” Rõ ràng tư tưởng của Căng là sự dung hòa, sự pha trộn “một thứ mục đích luận sinh ra từ truyền thống Thiên Chúa giáo với một tư duy đạo đức học của thời đại Khai sáng”
Căng và các nhà triết lý lịch sử thời Khai sáng dù còn những hạn chế nhất định, nhưng đã nêu tư tưởng về sự tiến bộ về quyền tự do của con người sẽ được mang lại Dự báo này được xác nhận bằng những sự kiện của các cuộc cách mạng đầu tiên, đặc biệt là cuộc cách mạng tư sản Pháp thể kỷ XVIII Ông ca ngợi sự kiện này: “Một sự kiện như thế trong lịch sử thế giới không bao giờ bị lãng quên, bởi vì nó đã phát hiện ra từ trong
Trang 32sâu xa bản chất của con người một khả năng tiến bộ đạo đức mà không một chính khách nào cho đến nay đã ngờ đến được”
Thứ ba, các nhà sử học Khai sáng đã đạt được kết quả trong công tác phê phán sử liệu, nâng lên một trình độ mới cao hơn khi xây dựng các cơ sở làm tiêu chí cho việc xác minh tư liệu trong nghiên cứu lịch sử
Trước hết, các sử gia Khai sáng rất thận trọng khi sử dụng các tài liệu lịch sử Tính chân xác của sử liệu được coi trọng đặc biệt Vôn-te (Voltaire, 1694 – 1778) đã nêu lên một tấm gương về ý thức tôn trọng tính chân xác của sử liệu Ông cho rằng thông tin của nhà sử học phải chắc chắn và nhà sử học phải chú ý làm thỏa mãn người đọc bằng cách ngắn gọn và không nên chất đầy những chi tiết vô bổ vào tác phẩm của mình Về tác phẩm của mình, ông viết: “Chúng tôi viết nên những tác phẩm lịch sử này dựa trên chuyện kể của các nhân vật nổi tiếng đã nhiều năm ở bên cạnh Charles VII và Pie đại đế Những người này sau khi hoàng đế mất đã lui về ở nước tự do và không hề có ý định che giấu sự thật”
Đi đầu trong công tác phê phán sử liệu là các nhà sử học thuộc giáo đoàn đit-tanh (Bénédictins), những người được xem là trường phái học giả uyên bác của thế kỷ XVIII Một trong những phương châm mà họ đặt ra là “Phụng sự chân lý, vây dồn sai lầm bằng cách thắp sáng ngọn lửa phê bình…” Những nguyên tắc trong phê phán sử liệu
Bê-nê-đã được trình bày cụ thể trong quyển “Phương pháp nghiên cứu lịch sử” của Lăng-gơ-lê
đơ Phơ-rết-noa (Langlet de Fresnoy) sử gia Pháp
Đó là những yêu cầu đối với nhà sử học:
Phải so sánh tài liệu gốc và bản sao chép có điểm gì khác nhau hay không
Có những hiểu biết cần thiết ngoài nguồn sử liệu, quan trọng nhất là tri thức về tôn giáo và pphong tục, tập quán
Phải xem xét thông tin có được phản ánh khách quan hay không
Độ tin cậy của nguồn sử liệu (có phản ánh đúng hiện thực lịch sử hay không, có được xác nhận ở mức độ nào)
Những nguyên tắc trên chứng tỏ rằng các nhà sử học Khai sáng không chỉ kế thừa
mà còn phát huy xu hướng xác định văn bản (phê phán bên ngoài sử liệu) có từ thời Phục hưng
Về phương pháp luận, các nhà sử học Khai sáng đã nhận thức được sự cần thiết phải hiểu lịch sử trong bối cảnh rộng lớn hơn Điều này thể hiện trong nhiều tác phẩm của Vôn-te, Mông-te-x-ki-ơ, Ghi-bông… Vôn-te cho rằng, lịch sử trở thành một khoa học tùy thuộc vào sự phát triển của công tác phê phán và vào tầm mắt rộng lớn của nhà sử học đối với lịch sử và muốn xây dựng một hình ảnh chân thật về quá khứ cần phải có sự hiểu biết đối với toàn bộ lịch sử trong mọi biểu hiện của chúng Vì thế khi nhìn lại một số tác phẩm của mình, Vôn-te viết” Tôi xấu hổ vì đã nói nhiều đến các trận đánh nhau… Tôi
sẽ làm tốt hơn bằng cánh tránh tất cả các chi tiết về các cuộc chiến đã xảy ra… Tôi xem trọng một khoảng đất được khai hoang hơn là một đồng bằng phủ đầy xác chết Những ý kiến trên đây cho thấy sử học đã được các học giả xem xét với tư cách là một khoa học Còn Ghi-bông trong tác phẩm “Về sự sụp đổ của đế quốc Rô-ma” đã cho rằng nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ của đế quốc Rô-ma là sự phát triển của đạo Thiên Chúa
Trang 33Việc nhận thức nhiệm vụ và vai trò của sử học có bước tiến lớn Các nhà sử học Khai sáng xem nhiệm vụ của sử học không chỉ là miêu tả những sự kiện đã xảy ra mà còn giải thích và làm sáng tỏ ý nghĩa của các sự kiện ấy đồng thời tìm hiểu các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội Các nhà sử học Khai sáng cũng hoàn thiện hơn tư tưởng xem sử học có vai trò nhận thức thế giới Trong tác phẩm “Phương pháp nghiên cứu lịch sử” Phơ-rết-noa xác định: “Nhận thức lịch sử là sự hiểu các sự vật trong nguyên lý của nó, là hiểu những con người hợp thành bản chất lịch sử, là xét đoán hợp lý
về những con người đó Nghiên cứu lịch sử là nghiên cứu những động cơ, kiến giải những ham thích của con người để đi sâu vào hành vi của họ, và cuối cùng là để hiểu được tất cả những hành động bất ngờ, những điều lầm lạc của họ” Trong tác phẩm “Bàn
về bản chất và các thuộc tính của lịch sử”, Kê Kéc-nan, nhà sử học Đức cho rằng: “Lịch
sử là sự giải thích và nhận thức những sự việc đơn nhất hoặc cá biệt và nhằm giúp chúng
ta nhận thức và thấu hiểu cái chung từ những cái đơn nhất và cá biệt ấy”
Những quan điểm phương pháp luận sử học nêu trên chứng tỏ rằng các nhà sử học Khai sáng, đại diện cho tư tưởng của giai cấp tư sản đang lên, mong muốn nhận thức được chân lý lịch sử một cách toàn diện và sâu sắc Đúng là khi đứng trên một quan điểm của một giai cấp tiến bộ mới có khả năng nhìn thấy được bản chất của lịch sử Muốn nhận thức đầy đủ bản chất lịch sử, đạt tới chân lý cần phải phát hiện được quy luật, song
sự hiểu biết này còn công thức, máy móc khi quan niệm quy luật tự nhiên cũng giống như quy luật xã hội
Do ảnh hưởng tư tưởng của Đê-cac, Công-đóc-xê muốn xây dựng một khoa học
về con người theo những công thức toán học Ông cho rằng cũng như giới tự nhiên, lịch
sử của con người cũng bị chi phối bởi những quy luật mà con người khám phá được trong quá trình nghiên cứu Việc nhận thức được những quy luật đó có thể giúp cho việc đoán định một cách khoa học xu hướng phát triển của xã hội Tuy nhiên theo Công-đóc-xê, sử học có khả năng dự đoán tương lai khi hiểu biết được trình tự phát triển tự nhiên của xã hội Quan điểm này có mặt đúng về lý luận, nhưng dễ rơi vào bệnh công thức, máy móc khi thực hiện
Vi-cô phản đối xu hướng muốn mô hình hóa mọi hoạt động nghiên cứu theo công thức toán học của Đê-các Ông cho rằng khoa học phải nghiên cứu theo nhiều cách khác nhau tùy theo đối tượng của chúng Theo ông, lịch sử nhận thức những gì mà con người
đã làm, nên về phương pháp phải khác với các ngành khoa học tự nhiên Phương pháp nghiên cứu sử học phải tuân theo những quy luật riêng trong hoạt động của con người Đây là điều kiện thuận lợi để con người hiều về chính mình hơn là tìm hiểu vể thế giới tự nhiên Tuy nhiên Vi-cô chưa thấy đặc điểm nhận thức của con người về lịch sử của mình khác với nhận thức về thế giới tự nhiên, cũng như những quy luật chung của sự nhận thức
tự nhiên và xã hội
Dù có một số hạn chế, nhưng quan điểm phương pháp luận của các nhà sử học Khai sáng có một số điểm tiến bộ khi đặt vấn đề nghiên cứu lịch sử một cách nghiêm túc, khoa học và xem sử học là một khoa học
Sự phát triển của sử học Khai sáng còn thể hiện ở sự ra đời của các ngành khoa học bổ trợ cho Sử học Chẳng hạn như, ngành Niên đại học đã trở thành một ngành khoa học độc lập và phát triển thêm một bước mới với tác phẩm “Nghệ thuật chứng thực ngày tháng của các sự kiện, các pháp điển sử ký và các tác phẩm cổ đại khác từ khi có Đức Chúa trời” (1750) của các học giả thuộc giáo đoàn Bê-nê-đic-tanh Lời nói đầu của tác phẩm khẳng định: “Niên đại học và Địa lý học như hai con mắt của lịch sử… không có
Trang 34chúng thì toàn bộ các sự kiện mà cho đến nay chúng ta biết chỉ là một mớ hỗn độn mờ mịt chất đầy vào ký ức mà không được soi sáng bằng lý trí”
Văn kiện học có nhiệm vụ xác định tính xác thực của văn kiện cũng ra đời và phát triển trong thời kỳ Khai sáng Song thuật ngữ “Văn kiện học” đã được nhà sử học thế kỷ XVIII Ma-bi-lông (Mabilion) sử dụng để chỉ một ngành khoa học cần xây dựng
Cổ tự học nghiên cứu các tư liệu lịch sử gốc, viết bằng tay mà các nhà sử học phải làm sáng tỏ các hình thức và phương pháp họa hình các mẫu tự, chỉ rõ những chữ viết tắt… Sự ra đời của các ngành khoa học bổ trợ giúp cho gia đình khoa học Lịch sử thêm đông đủ, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu lịch sử được chính xác, phong phú
Bên cạnh những thành tựu, sử học Khai sáng còn những hạn chế nhất định, nổi bật là những điểm chủ yếu sau đây:
Trong khi cố gắng tìm nguyên nhân để giải thích những biến đổi trong xã hội, không phải do các nhân tố siêu nhiên mà do các nhân tố động, liên quan đến hành động của con người (như môi trường địa lý, khí hậu, trình độ tri thức của xã hội, các thuộc tính văn hóa của các nhóm xã hội, thậm chí cả các nhân tố kinh tế, đặc biệt là thương nghiệp) nhưng khi lý giải về sự khác nhau và sự thay đổi của xã hội thì những nhà sử học Khai sáng lại quá đề cao các nhân tố tĩnh, độc lập với hành động của con người
Tư tưởng về sự tiến bộ xã hội của các nhà sử học Khai sáng đã thoát khỏi quan niệm cổ xưa về tính biến đổi theo vòng tuần hoàn của thế giới nhưng chưa dựa trên sự phát triển nội tại của xã hội mà chỉ căn cứ vào những biểu hiện bên ngoài của các sự kiện Mặt khác, tuy các nhà sử học Khai sáng đã nhận thấy sự phát triển của lịch sử là sự phát triển đi lên, ngày càng hoàn thiện, do những quy luật chi phối, không phải là sự điều khiển của Chúa, song họ lại hiểu một cách máy móc, theo công thức toán học
4.1.2 Sử học tư sản trong thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
a Đôi nét về sử học châu Âu thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu phát triển nhanh chóng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của khoa học lịch sử Giai cấp tư sản đang lên muốn dùng lịch sử làm một công cụ, phương tiện chiến thắng hoàn toàn chế
độ phong kiến trên phạm vi thế giới Do ảnh hưởng của cuộc cách mạng tư sản Pháp
1789, tiếp đó cuộc chiến tranh Na-pô-lê-ông (1802 – 1812), tinh thần dân tộc và nguyện vọng độc lập dân chủ trỗi dậy ở nhân dân các nước châu Âu, đặc biệt ở các nước bị Na-pô-lê-ông chiếm đóng Sử học càng được chú trọng, vì nó giúp cho các dân tộc hiểu rõ mình và những khả năng của mình, củng cố lòng tin vào sức mạnh của dận tộc Vì vậy sử học tư sản trong thế kỷ XIX đạt đến sự hưng thịnh nhất và xứng đáng được thừa nhận rộng rãi trong xã hội, trở thành nữ hoàng của các khoa học Nó có uy tín cao nhất dưới con mắt của xã hội, vì người ta tìm thấy trong lịch sử câu trả lời cho những vấn đề quan trọng nhất của đời sống xã hội và tình thần Toàn bộ nền văn hóa chờ đợi sự phán xét của
sử học
Sử học thế kỷ XIX phát triển rất phong phú về khả năng miêu tả và tính triết học Các nhà sử học thời kỳ này rất chú trọng công tác thu thập và phê phán tư liệu, mở rộng kiến thức về nhiều loại sự kiện Tư tưởng “thông thái” (tìm hiểu nhiều sự kiện) chi phối hoạt động của các nhà sử học Mặt khác họ cũng rất quan tâm việc hiểu biết các quy luật chi phối lịch sử, đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau về sự phát triển của lịch sử, tạo nên một cuộc cách mạng về triết lý lịch sử Điều này thể hiện rất rõ trong các trường phái, khuynh hướng tư tưởng triết lý lịch sử của sử học tư sản
Trang 35Sự phát triển của các khuynh hướng, trường phái trong sử học vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở châu Âu, một mặt phản ánh sự phát triển của sử học; mặt khác cũng là một biểu hiện sự khủng hoảng của sử học tư sản, đặc biệt là vấn đề phương pháp luận Sự khủng hoảng diễn ra khi nó đang phát triển bắt nguồn ở chính sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản Điều này được thể hiện ở mấy điểm chủ yếu sau: Các sử gia tư sản nói tới quy luật nhưng không đề cập đến các quy luật khách quan chi phối lịch sử Phương tiện để nhận thức lịch sử theo họ là trực giác; mô hình lịch sử được xây dựng thông qua tâm lý chủ quan của nhà nghiên cứu Quá khứ được tái hiện dựa vào khả năng cảm nhận của sử học Kết quả nhận thức lịch sử mang tính chủ quan Nếu sử học thực chứng xem sự kiện là tất cả thì các khuynh hướng phản thực chứng xây dựng trong lịch
sử những mô hình cấu trúc chỉ chú trọng mối liên hệ giữa các sự kiện trong một tổng thể nhất định Mối liên hệ giữa các sự kiện, theo họ là các nhân tố tâm lý, tinh thần hoặc đôi khi là nhân tố văn hóa, hoàn toàn bị chi phối bằng cảm nhận cá nhân, ngẫu nhiên không theo quy luật khách quan
Vì vậy sử học tư sản cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX tìm cách phủ nhận các phương pháp khách quan khoa học, chống lại học thuyết phản ánh mác-xít, gạt bỏ mọi sự nhận thức về thế giới do các giác quan lý tính hoạt động thực tiễn đem lại Họ đồng nhất quá trình lịch sử với nhận thức lịch sử, theo đó cái chủ quan của con người cũng chính là cái khách quan của lịch sử Nhiều sử gia quy lịch sử thành lịch sử tinh thần tư tưởng và cho rằng lịch sử tồn tại ngay trong quá trình suy nghĩ và thể hiện lại Theo họ, nhà sử học tạo ra lịch sử đúng với mức độ mà lịch sử tạo ra nhà sử học
Cũng trong thế kỷ XIX, chủ nghĩa duy vật lịch sử mác-xít đã hình thành trên cơ
sở kế thừa, phát triển những thành tựu của sử học và các khoa học khác Bằng cách vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào nghiên cứu lịch sử xã hội loài người, C Mác, Ph Ăng-ghen đã đặt cơ sở cho sự ra đời của một nền sử học thực sự chân chính Hai ông đã đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng, khuynh hướng sai trái trong lĩnh vực
sử học Thông qua đó sử học mác-xít ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ, góp phần đẩy sử học tư sản lâm vào cuộc khủng hoảng sâu sắc vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tuy có những hạn chế do thời đaị và giai cấp, song sử học tư sản thế kỷ XIX cũng
có nhiều thành tựu đáng kể về nội dung, phương pháp và cả quan điểm
Trong thế kỷ XIX, phạm vi nghiên cứu của lịch sử được mở rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mặc dù các nhà sử học vẫn lấy chính trị làm đề tài chủ yếu của việc nghiện cứu Răng-ke với những tác phẩm “Hoàng đế các dân tộc phía nam châu Âu”, “Các Giáo hoàng, Giáo hội và Nhà nước Rô-ma thế kỷ XVI, XVII”, “Lịch sử nước Phổ”; Ghi-đô với “Tiểu luận về lịch sử nước Pháp”; Mi-nhê với “Lịch sử Cách mạng Pháp”; Che-ri với “Lịch sử hình thành và tiến bộ của đẳng cấp thứ ba”…
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, do ảnh hưởng của kinh tế chính trị học, nhiều công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế ra đời như: “Lịch sử kinh tế cổ đại” của Rây-nhê (L Reyniez),
“Lịch sử kinh tế, xã hội nước Pháp từ năm 1828” của Mông-tên (A Monteil), “Lịch sử thương nghiệp, xí nghiệp thủ công và hàng hải Anh” của Mac-phec-xơn (D Macpherson), “Giá cả và tiền tệ của Anh trong những năm 1793 – 1850” của Tu-cơ (T.Took) và Mac-phec-xơn Đặc biệt những công trình nghiên cứu về tình hình kinh tế của giai cấp công nhân ra đời như tác phẩm của Gas-kên (P Gasskell), Tu-xên ( D Tuchelt), Bu-rê (E Buret), Vin-ca (P.Vincard) Những vấn đề về văn hóa cũng thu hút sự chú ý của các nhà sử học Ngay từ thế kỷ XVIII, nhà nghiên cứu nghệ thuật Đức Giô-han Vi-kên-man (Giohan Vickenman) đã viết cuốn “Lịch sử nghệ thuật thời cổ đại”, vạch rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật với điều kiện tự nhiên và chế độ chính trị Trong thế kỷ
Trang 36XIX, nhiều công trình lịch sử, văn hóa ra đời, khẳng định văn hóa là một đề tài chính của khoa học lịch sử
Từ cuối thế kỷ XIX Do ảnh hưởng của chủ nghĩa Mác, một số nhà sử học tư sản
đã đề cập đến lịch sử xã hội, những vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân lao động
Phương pháp nghiên cứu được tăng cường trên cơ sở nghiên cứu về lý luận Tiêu biểu là các cuốn “Phê phán lịch sử sử học cận hiện đại” của Răng-ke, “từ điển các khoa học lịch sử và các môn bổ trợ” của Phabri (E Fabri), “Dự thảo nguyên tắc nghiên cứu lịch sử” của Ru-sơ (C.F Rush), “Dự thảo lý thuyết lịch sử” của Vas-mút (E.W.G Wachsmuth), Sự khởi đầu của công tác nghiên cứu lịch sử” của Lăng-loa (Langlois) và Xây-nhơ-bôt (Seignebos) Các công trình này đã đưa ra cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu lịch sử, lý giải các khái niệm sử học như: “sử liệu”, “các khoa học bổ trợ cho sử học” chỉ dẫn các bước nghiên cứu cũng như những hiểu biết cơ bản đối với nhà sử học Bước tiến của sử học tư sản lúc bấy giờ không chỉ là sự kết hợp giữa nội dung khoa học và tính thẩm mỹ của công trình nghiên cứu mà còn gắn nghiên cứu quá khứ với những diễn biến chính trị đương thời
Cùng với sự phát triển của sử học, các khoa học bổ trợ cũng hoàn thành Trước hết sự ra đời của ngành Khảo cổ học vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX cung cấp thêm nguồn tư liệu chân thực, đáng tin cậy cho nghiên cứu lịch sử Trước đó nguồn tài liệu duy nhất để các nhà sử học khôi phục lại quá khứ là tài liệu thành văn nên gặp nhiều khó khăn trong việc tìm hiểu thời kỳ lịch sử chưa thành văn, đặc biệt là lịch sử của những dân tộc chưa có chữ viết Với sự ra đời của Khảo cổ học, hạn chế này được khắc phục, vì
nó cung cấp tài liệu, hiện vật của thời đại xa xưa, kể từ khi con người mới xuất hiện Sự kiện có tiếng vang mạnh mẽ đầu tiên là việc phát hiện ra thành phố Rô-ma cổ đại Herculaum vào năm 1711 (bị núi lửa vùi lấp năm 79) Tiếp đó năm 1748, các nhà khảo
cổ phát hiện ra thành phố Pôm-pê-I, khai quật được nhiều tài liệu quý Giữa thế kỷ XIX, nhà khoa học người Pháp Buyt-xê-đơ-pec phát hiện một di chỉ cổ của con người với nhiều công cụ lao động thô sơ thời nguyên thủy
Ngành Dân tộc học cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng Tiêu biểu nhất là tác phẩm “Xã hội cổ đại” của nhà dân tộc học và khảo cổ học người Mỹ Mooc-gân (Morgan,
1818 – 1881), xuất bản năm 1877 Tác phẩm này lần đầu tiên giải thích kỹ vấn đề thị tộc
và tình bày sự phát triển của xã hội loài người từ chế độ thị tộc mẫu hệ sang thời kỳ thị tộc phụ hệ Mooc-gân chia xã hội nguyên thủy ra thành hai thời kỳ: mông muội và dã man đồng thời nêu mối liên hệ giữa mỗi thời kỳ với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất Trên cơ sở các tài liệu Dân tộc học, ông đã vạch rõ rằng, gia đình là một phạm trù lịch sử,
nó thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội Với phát hiện này ông đã đánh bại những quan điểm sai lầm về gia đình, xem gia đình như một phạm trù bất biến
Với sự phát triển của sử học, việc giáo dục lịch sử cũng được đưa vào nhà trường Chương trình, sách giáo khoa lịch sử được biên soạn Tri thức lịch sử được phổ biến rộng rãi trong quần chúng Do đó đội ngũ các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp ngày càng phát triển mạnh cả về số lượng lẫn chất lượng Vào cuối thế XIX Một số nước đã thành lập các viện nghiên cứu lịch sử
b Các khuynh hướng sử học chủ yếu
Hê-ghen và triết lý duy tâm về lịch sử
Hê-ghen G.W.F.Hegel, 1770 – 1830/1?) là nhà triết học lớn của Đức và thế giới vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Ông đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng
lý luận biện chứng về sự phát triển Triết học của ông là triết học duy tâm khách quan
Trang 37nhưng mang tính chất biện chứng Theo ông, nền tảng thế giới là “ý niệm tuyệt đối”, nó
có trước tự nhiên và loài người, tạo ra thế giới tự nhiên và loài người thông qua quá trình vận động và phát triển Quá trình vận động, phát triển của “ý niệm tuyệt đối” trải quan ba giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là giai đoạn lô gic, có trước thế giới Trong giai đoạn này “ý niệm tuyệt đôi” được biểu hiện như là một hệ thống khái niệm và phạm trù lô gic Trong giai đoạn thứ hai, “ý niệm tuyệt đối” vận động và chuyển hóa thành tự nhiên, do đó tự nhiên là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối” Giai đoạn thứ ba là giai đoạn mà “ý niệm tuyệt đối” phát triển đến mức cao nhất, gọi là “tinh thần tuyệt đối” Ý niệm tuyệt đối” được biểu hiện biện chứng trong tư duy con người qua các cấp độ: ý thức cá nhân, ý thức xã hội và cuối cùng đạt đến sự nhận thức cao nhất đối với bản thân, thể hiện ở các hình thức tôn giáo, nghệ thuật, triết học
Trong phạm vi triết học lịch sử, Hê-ghen đã nêu lên được mối liên hệ nội tại của
sự vận động không ngừng và sự thay đổi, biến đổi của xã hội Ông đã đưa ra quan niệm
về sự tiến bộ của lịch sử thế giới dựa trên nguyên tắc biện chứng của sự phát triển Sự phát triển của lịch sử được ông trình bày như cuộc đấu tranh của những mâu thuẫn Điều này góp phần làm phong phú cho phương pháp luận sử học
Mặc dù yếu tố duy tâm chi phối toàn bộ tư tưởng của Hê-ghen, nhưng trong các tác phẩm của ông có rất nhiều yếu tố của phép biện chứng Ông xem lịch sử là một quá trình thống nhất, hợp quy luật, trong đó các giai đoạn không lặp lại và mỗi giai đoạn là bước cần thiết cho sự phát triển chung của nhân loại Thay đổi xã hội là sự phát triển đi lên, chứ không phải chỉ là sự thay đổi về trình tự thời gian, vị trí và mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động hay sự phát triển Theo ông, lịch sử luôn bị chi phối bởi quy luật phủ định của phủ định Cái mới là sự trở lại với cái cũ, một sự thay đổi sâu sắc, biện chứng về lượng và chất, cái mới nảy sinh từ cái cũ Hai chiều hướng cơ bản của quá trình phát triển lịch sử là sự hình thành và mất đi của những sự kiện trong xã hội Chính hai chiều hướng này hợp thành sự thống nhất của quá trình lịch sử Như vậy, Hê ghen đã nhận thấy nguồn gốc, quá trình phát triển đi lên, khách quan của xã hội loài người Đây là sự tiến bộ lớn trong nhận thức
Tuy nhiên, về mặt triết lý lịch sử, phép biện chứng duy tâm của Hê-ghen có nhiều hạn chế Trước hết do tính chất duy tâm nên phép biện chứng của ông không thể đưa đến việc giải thích lịch sử về mặt vật chất Từ tư tưởng triết học của mình, Hê-ghen cho rằng
sự phát triển của lịch sử thế giới là sự phát triển không cùng của lý trí, là kết quả phát triển của “ý niệm tuyệt đối”, nhằm khẳng định sự chiến thắng cuối cùng của lý trí Do đó Hê-ghen xem những trình độ phát triển của lịch sử là trình độ phát triển của tinh thần Ông chia lịch sử nhân loại thành bốn giai đoạn: giai đoạn phương Đông, giai đoạn Hy Lạp, giai đoạn Rô-ma và giai đoạn Đức Theo ông, nước Đức là hiện thân của “tinh thần
vũ trụ mới” và ông kêu gọi thừa nhận hoàng đế Phổ, người nổi tiếng phản động lúc bấy giờ là nhân vật tiêu biểu thể hiện cho “tinh thần tuyệt đối” Theo ông, quần chúng nhân chỉ là “lực lượng mù quáng”, tuân theo “ý niệm tuyệt đối”
Tính chất duy tâm trong nhận thức của Hê-ghen dẫn tới sai lầm về chính trị Chẳng hạn ông xem lịch sử thế giới là quá trình nhận thức tự do, trong đó có những dân tộc không có lịch sử và loại nhiều dân tộc kém phát triển ra khỏi quá trình phát triển của nhân loại, đề cao dân tộc văn minh, coi dân tộc Đức là siêu đẳng Từ đó ông xem lịch sử dân tộc Đức là lịch sử của toàn nhân loại và tán dương Nhà nước quân phiệt Phổ là nhà nước ưu việt nhất Điều này phản ánh những mâu thuẫn sâu sắc giữa hệ thống siêu hình
và phép biện chứng của Hê ghen Ông đã từ bỏ phép biện chứng về sự phát triển không ngừng của xã hội, đề xướng sự nhân nhượng giữa chế độ phong kiến đang hấp hối và chủ
Trang 38nghĩa tư bản đang phát sinh Từ đó ông cho rằng chế độ quân chủ phong kiến ở Phổ là giai đoạn tột cùng của sự phát triển xã hội
Như vậy, phép biện chứng của Hê-ghen với hạt nhân là lý luận về sự phát triển, sự chuyển hóa từ những thay đổi về lượng dẫn đến thay đổi về chất… là một bước tiến lớn trong nhận thức nói chung, nhận thức lịch sử nói riêng Tuy nhiên nó cũng có những hạn chế: đó là quan điểm duy tâm phù hợp với tư tưởng kỳ thị dân tộc và chủ nghĩa bá quyền Những quan điểm này đã có ảnh hưởng nhiều đến khuynh hướng sử học tư sản phản động, đặc biệt là sử học Đức Một số sử gia như Strauc, B Bao-ơ… đã tiếp thu “tinh thần biện chứng” của Hê-ghen để nghiên cứu các vấn đề về lịch sử Thiên chúa giáo, cho rằng Thiên chúa giáo là sự phát triển cao của nhân loại C.Mác và Ph Ăng-ghen đã kế thừa những luận điểm cách mạng trong học thuyết của Hê-ghen và phát triển cao hơn
Răng-ke (Leopold Von Ranke, 1795 – 1886) và khuynh hướng sử học khách quan
Tư tưởng về triết lý lịch sử của Răng-ke, nhà triết học người Đức có ảnh hưởng lớn đến các nhà sử học châu Âu, đặc biệt ở Đức và Pháp Răng-ke được công nhận là
“bậc thầy của sử học phương Tây” thời bấy giờ và lập nên trường phái Răng-ke
Răng-ke theo thuyết bất khả tri thần học, thừa nhận ảnh hưởng trực tiếp của thần thánh đối với lịch sử và cho rằng con đường của Đấng tối cao là không thể nhận thức được Ông viết “Về quan điểm thần thánh, tôi cho rằng bản thân nhân loại có một sự đa dạng vô tận của các quá trình, sự đa dạng này ít nhiều thể hiện theo những quy luật chung
mà người ta không biết, quy luật này bí ẩn và vĩ đại hơn nhiều so với người ta nghĩ” (Kôminxki Lịch sử sử học thời trung đại tr.6) Vì thế ông cho rằng nhà sử học không thể nhận thức được chiều sâu của lịch sử, mà phải khuất phục trước cái bí ẩn, không thể nghiên cứu cơ sở sâu xa của quá trình lịch sử mà chỉ nghiên cứu cái nổi lên trên bề mặt của lịch sử Nhà sử học không được quyền phán xét lịch sử, lịch sử chỉ đơn giản “như là
nó có trong thực tế” Do đó ông đề ra năm quy tắc viết sử như sau:
Thứ nhất, nhà sử học không có nhiệm vụ xem xét, đánh giá quá khứ, cũng như không dùng để giáo dục người đương thời mà chỉ mô tả khách quan các sự kiện “Chỉ làm rõ chân tướng của sự thực lịch sử đã xảy ra, dựa theo bộ mặt vốn có của lịch sử để viết nên lịch sử”
Thứ hai, không có sự phụ thuộc giữa chủ thể nhận thức (nhà sử học) với đối tượng nhận thức (sự kiện lịch sử) Giả sử nhà sử học thoát ra khỏi mọi sự chi phối của xã hội thì sẽ công minh khi nhận xét các sự kiện Về thực chất Răng-ke không thừa nhận quy luật khách quan của lịch sử mà cho rằng, lịch sử là thể hiện “ý thượng đế” và nhà sử học phải diễn tả
Thứ ba, lịch sử là toàn bộ những sự kiện tồn tại khách quan trong bản thân mình
Nó mang một hình dáng có sẳn, một cấu trúc đã được xác định, nó tiếp cận trực tiếp với tri thức Vì vậy, nhà sử học chỉ cần thu thập một cách toàn diện, khảo đính một cách thuần túy khách quan, dựa vào các “tư liệu hàng đầu”, tài liệu của “nhân vật siêu phàm”
để thể hiện
Thứ tư, nhận thức phù hợp với một khuôn mẫu máy móc Nhà sử học ghi nhận sự kiện lịch sử một cách thụ động, như chiếc gương phản chiếu hình ảnh của một vật, như chiếc máy ảnh định hình cho một cảnh nào đó
Thứ năm, nhiệm vụ của nhà sử học là tập hợp một số lượng đầy đủ các sự kiện dựa trên các tài liệu đáng tin cậy Từ những sự kiện đó, từ ngay chính bản thân nhà sử
Trang 39học mà câu chuyện lịch sử được cấu tạo nên và tự để cho người ta diễn giải Bất cứ một suy diễn nào về mặt lý thuyết cũng đều vô ích, thậm chí còn có hại, vì nó đưa vào một yếu tố thuần lý
Các quy tắc viết sử của Răng-ke thể hiện quan điểm của mình về lịch sử Theo ông, tiến bộ không phải là quy luật chung của lịch sử nhân loại Bởi vì nhân loại trong hàng ngàn năm qua vẫn ở trong tình trạng nguyên thủy, thậm chí ở phương Đông là sự thụt lùi Ở đây giai đoạn cao nhất của sự phát triển xã hội đã đạt vào buổi đầu của lịch sử loài người Răng-ke cho rằng, chỉ có một số ít dân tộc như Rô-ma và Giéc-manh mới có
sự tiến bộ Ngay cả sự tiến bộ này cũng không diễn ra đồng đều trên các lĩnh vực của xã hội ở các thời kỳ khác nhau, ví dụ nghệ thuật đã đạt đến đỉnh cao so với các mặt khác của
xã hội ở thời Phục hưng, sau đó thì suy thoái Vì vậy không thể xác định một khuynh hướng chung cho toàn bộ sự phát triển của xã hội loài người mà chỉ nêu được khuynh hướng tiến bộ đối với từng thời đại Theo đó trong mỗi thời đại của xã hội loài người có một xu hướng nhất định thống trị Nhưng trong trào lưu tư tưởng của con người vào từng thời kỳ cũng nảy sinh xu hướng này hay xu hướng khác và trong từng xu hướng ấy lại có những biểu hiện khác nhau Xuất phát từ quan điểm này, Răng-ke phủ nhận ý kiến cho rằng thời đại sau phát triển cao hơn thời đại trước, thời đại trước là một bậc thang để đi đến thời đại sau Ông khẳng đinh: Tất cả mọi đỉnh cao trong lĩnh vực văn hóa đã đạt được trong quá khứ mà xã hội hiện nay không thể đạt được Theo ông, ngày nay không có nhà
sử thi nào cao hơn Hô-me, không có sử gia nào cao hơn Tu-xi-đít, không có triết gia nào cao hơn Platon… Những xu hướng thống trị của mỗi thời đại mà ông xác lập chỉ được
mô tả chứ không được tổng hợp thành quy luật, khái niệm chung Răng-ke không đồng ý với phép biện chứng của Hê-ghen về sự phát triển của xã hội loài người, đưa vận động theo một quá trình lô gic Ông bác bỏ những quy luật chung chi phối lịch sử
Theo Răng-ke, cuộc đấu tranh vì sự tồn tại, vì lãnh thổ, vì ảnh hưởng chính trị là những cái tạo thành nội dung cơ bản của lịch sử Vì thế ông đặc biệt chú trọng đến các sự kiện quốc tế trong quá tình nghiên cứu, thậm chí sự phát triển nội tại của một dân tộc cũng bị những ảnh hưởng từ bên ngoài chi phối Để chứng minh điều đó, ông giải thích cách mạng Pháp nổ ra không chỉ do tình hình nước Pháp mà chủ yếu lại do những biến đổi đã diễn ra từ thế kỷ XVI trong quan hệ của Pháp với các nước khác
Để đảm bảo tính “khách quan”, Răng-ke luôn coi trọng sự chân xác của sử liệu trong quá trình nghiên cứu, nhưng khi mô tả sự kiện, đôi lúc ông vẫn rơi vào trường hợp
mà C.Mác gọi là “Sự quy kết những sự kiện lịch sử vĩ đại thành những trò vớ vẩn” Ví
dụ, khi giải thích sự suy yếu của nước Đức thời trung đại sau khi Ốt-tô I chết, ông cho là
do Ốt-tô II mất sớm để lại đứa con trai nhỏ tuổi, do sự hùng cường của nước Anh, Pháp,
do cuộc đấu tranh của các giáo hoàng với các hoàng đế
Tóm lại quan điểm sử học của Răng-ke và khuynh hướng sử học khách quan của ông đã nêu được bản chất của một số nhân vật và sự kiện lịch sử, nhưng lại quy sự phát triển của lịch sử xã hội là do hoạt động của những nhân vât siêu phàm, phủ nhận vai trò
có tính quyết định của đông đảo quần chúng nhân dân Vì vậy quan điểm của Răng-ke không phản ánh đúng lịch sử khách quan mà chỉ nhằm đề cao các nhà quân phiệt thuộc giai cấp địa chủ và đại tư sản Đức
Quan điểm sử học của phái Răng-ke được bọn quân phiệt Hit-le triệt để khai thác
để thực hiện âm mưu bá chủ thế giới của chúng Vì vậy, Răng-ke và đồ đệ ngày càng bị phê phán gay gắt
Trang 40Khuynh hướng sử học lãng mạn
Vào nửa đầu thế kỷ XIX, ảnh hưởng của cách mạng Pháp 1789 lan rộng đến nhiều nước châu Âu và chi phối sự phát triển của châu Âu Trước sự thắng lợi của chủ nghĩa tư bản trên phạm vi thế giới, chế độ phong kiến bị suy yếu dần, giai cấp tư sản châu
Âu tỏ ra rất phấn khởi Một khuynh hướng sử học tư sản lấy mục đích luận của thuyết tiến hóa làm cơ sở tư tưởng ra đời Đại biểu cho khuynh hướng này là các nhà sử học Pháp thời Trung hưng như Chi-e-ri, Ghi-đô, Xi-mông-đi Khuynh hướng này được gọi là Khuynh hướng sử học lãng mạn, chứng minh rằng thế giới luôn phát triển theo một lô gic nhất định với mô hình tự do dân chủ tư sản Nhiệm vụ lịch sử của giai cấp tư sản lúc bấy giờ được xác định là xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, xây dựng xã hội tư bản, nên những nhà sử học của trường phái lãng mạn thể hiện tinh thần lạc quan và cũng đóng góp nhất định vào sự phát triển của sử học
Điểm nổi bật là các nhà sử học lãng mạn đã phát hiện ra giai cấp, đấu tranh giai cấp và nguồn gốc của đấu tranh giai cấp là quan hệ sở hữu tài sản Họ cho rằng lịch sử của chế độ phong kiến và sự hình thành của xã hội tư sản là lịch sử của cuộc đấu tranh giữa đẳng cấp thứ ba (chiếm đa số trong dân tộc Pháp) chống lại quý tộc và tăng lữ (chỉ
là một thiểu số) Đây là một quan điểm tiến bộ để tìm thấy động lực thực sự của sự phát triển xã hội Trong cuốn “Mười năm nghiên cứu lịch sử”, Chi-e-ri xem cuộc đấu tranh tôn giáo giữa phái Trưởng lão và phái Công giáo là cuộc đấu tranh giữa các đảng phái chính trị và lợi ích của các giai cấp khác nhau Ghê-đô trong cuốn “Tiểu luận về lịch sử Pháp‟
đã phân tích thời đại sau khi đế quốc Rô-ma sụp đổ để rút ra kết kết luận rằng, quan hệ ruộng đất là cơ sở của lịch sử Trong cuốn “Lịch sử Cách mạng Pháp”, tác giả tìm thấy nguyên nhân của cuộc cách mạng 1789 là sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích vật chất của các giai cấp trong xã hội trước Cách mạng
Tuy nhiên khi nêu vấn đề về giai cấp và đấu tranh giai cấp những nhà sử học lãng mạn Pháp có một số hạn chế nhất định Trước hết họ không có một ý niệm gì về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất khi đưa sinh hoạt xã hội vào quan hệ sở hữu tài sản
Dù thừa nhận động lực biến đổi của lịch sử là do hoạt động của một giai cấp, nhưng họ mới nhìn thấy những đặc trưng của giai cấp đang đấu tranh chống lại lực lượng phong kiến chứ chưa thấy đó là đấu tranh giai cấp Hơn nữa, các nhà sử học lãng mạn xem sự chinh phục là yếu tố quyết định sự phát triển của xã hội làm nảy sinh giai cấp Chi-e-ri cho rằng, sự chiến thắng của người Giéc-manh đối với Rô-ma đưa tới hình thành giai cấp phong kiến Những người đi chinh phục hợp thành giai cấp quý tộc phong kiến, còn những người bại trận hợp thành đẳng cấp thứ ba Cuộc đấu tranh của giai cấp tư sản chống quý tộc phong kiến là cuộc đấu tranh của thổ dân chống con cháu bọn đi chinh phục
Các nhà sử học lãng mạn Pháp còn tìm cách chứng minh sự vĩnh hằng của chủ nghĩa tư bản, xem cuộc đấu tranh thủ tiêu chế độ phong kiến là cuộc đấu tranh cuối cùng,
vì đẳng cấp thứ ba là cả dân tộc Pháp, không còn mâu thuẫn xã hội để đấu tranh mà chỉ
có chung sống hòa bình Quan điểm này không chỉ bảo vệ cho giai cấp tư sản thống trị
mà còn là một sự nhận thức không khoa học, phản động về chính trị Sau cách mạng
1830, các nhà sử học Trung hưng Pháp đã công khai bênh vực chế độ tư bản, tuyên truyền cho chủ nghĩa chủng tộc, xem dân tộc Pháp là dân tộc đầu tiên của châu Âu, đứng đầu mọi dân tộc Quan điểm này phục vụ cho chính sách xâm lược của thực dân Pháp Họ lên án cuộc đấu tranh của công nhân, xem sự kiện tháng 6/1948 như là sự lầm lẫn của lịch sử, không thấy đây là mở đầu cho cuộc đấu tranh giữa vô sản và tư sản với tư cách là hai giai cấp đối lập