Sử học thời Nguyễn (1802 – 1884)

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 81 - 93)

Chương 5. Sử học thế giới thời hiện đại

6.4. Sử học thời Nguyễn (1802 – 1884)

Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn, khôi phục chế độ phong kiến trong cả nước và duy trì sự thống trị của mình trong gần một thế kỷ đến khi đầu hàng làm tay sai cho thực dân Pháp (1802 – 1884). Các vua đầu triều Nguyễn tăng cường thiết lập bộ máy nhà nước theo mô hình quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, thi hành chính sách kinh tế, chính trị, xã hội hà khắc. Nhân dân nhất là nông dân lâm vào cảnh đói khổ. Các cuộc khởi nghĩa chống triều đình không ngừng nổ ra khắp nơi.

82

Tuy nhiên, các vua đầu thời Nguyễn trong lúc ra sức lập lại trật tự phong kiến cũng khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, giáo dục, củng cố sự thống trị của Nho giáo nhằm tạo ra sức sống cho chế độ… Điều này cũng ảnh hưởng đến đời sống tinh thần và sự phát triển của nền văn hóa dân tộc. Chƣa bao giờ nền văn hóa dân tộc phát triển rực rỡ nhƣ thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX với nhiều tên tuổi tiêu biểu: Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Đoàn Thị Điểm… Nền văn hóa của dân tộc không vì sự suy yếu của các vương triều mà ngừng phát triển, trái lại nhờ có tiếp thu di sản truyền thống văn hóa lâu đời mà ngày một trưởng thành cùng với sức sống mãnh liệt của cả dân tộc.

Để củng cố hệ tư tưởng Nho giáo làm bệ đỡ cho chế độ phong kiến, triều Nguyễn rất quan tâm đến biên soạn lịch sử. Triều Nguyễn tiếp thu đƣợc di sản sử học to lớn, quý báu của dân tộc và các triều đại trước trong suốt 800 năm độc lập tự chủ.

Trước hết, triều Nguyễn chăm lo tổ chức bộ máy chép sử để biên soạn Quốc sử và sử của đương triều. Sách Đại Nam thực lục chép rằng “Năm Minh Mệnh thứ 2 (1821) đầu tiên mở sử quán, sai quan sử thần làm bộ Thực lục…, chia ra làm Tiền biên và Chính biên, cân nhắc ý nghĩa và điều lệ để làm khuôn phép cho nghìn muôn đời sau”. Tiếp đó, hai mươi năm sau, vào năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), triều đình “bắt đầu đặt quan và thuộc viên ở sử quán. Vua dụ rằng: Nước nào cũng có sử chép. Việc ấy đã có từ lâu, sử cốt chép lại chính sử để dạy bảo cho đời sau. Nay chuẩn cho lấy Quốc sử quán làm nơi soạn sử. Về số nhân viên từ Chánh, Phó, Tổng tài cho đến các chức Toản tu, Biên tu, Khảo liệu, Tằng lục. Chuẩn giao cho đình thần hội đồng kén chọn sung vào để làm. Các nhân viên được lấy vào không cứ là quan trong Kinh hay ngoài các tỉnh, người nào thực có tài năng về sử học, có thể làm nổi việc biên chép sử ấy chuẩn cho chọn tiến cử”.

Bộ máy của sử quán đời Nguyễn do Thiệu Trị lập ra vào năm 1841 có hai Tổng tài, hai phó Tổng tài, bốn Toản tu, tám Biên tu, bốn Khảo hiệu, sáu Đằng lục, bốn Thu trường kiêm biên sự. Nhà vua giao cho sử quán phải soạn tiếp Đại Nam thực lục cho hoàn thành và tiến hành soạn chép Đại Nam liệt truyện. Sử quán cũng có nhiệm vụ sửa chữa và cho phép in bộ Thực lục.

Điều mà các vua đầu đời Nguyễn rất quan tâm là bên cạnh việc biên soạn một bộ sử chung của dân tộc trên cơ sở tiếp thu các thành tựu sử học của đời trước, bổ sung, sửa chữa phần cơ nghiệp nhà Nguyễn để giáo dục nhân dân, để mọi người phải hiểu lịch sử nước nhà, chứ không phải chỉ biết sử Trung Quốc. Về việc này năm 1855, Tự Đức ra chỉ dụ như sau: “Đời nào khởi nghiệp tất phải có sử đời ấy. Nước Việt ta từ đời Hồng Bàng trở về sau, đời Trần, đời Lê trở về trước, trong khoảng hơn mấy nghìn năm, chính trị hay dở, nhân vật giỏi hay không giỏi, bờ cõi trong nước vẫn nguyên như cũ hay đổi khác, chế độ chấn chỉnh hay đổ nát, sử cũ chép lại vẫn còn thiếu sót nhiều. Đến nhƣ hình thức văn từ và nghĩa lý thể hiện trong sách sai lầm cũng không phải ít…” Sau khi lưu ý chương trình học tập, thi cử chƣa đƣa môn Việt sử, chỉ dụ viết tiếp: “…việc học Quốc sử chƣa ra mệnh lệnh bắt phải gia công cho nên học trò đọc và làm văn chỉ biết có sử Trung Quốc, ít người đoái hoài đến sử nước nhà. Việc đời cổ đã lờ mờ lấy gì làm kinh nghiệm cho đời sau? Đạo học sở dĩ chƣa đƣợc sáng tỏ nguyên nhân chẳng vì sử cũ chƣa đƣợc đầy đủ đấy sao?”

Chỉ dụ nêu sự cấp thiết phải bắt tay ngay vào việc biên soạn Quốc sử “nếu chƣa biên tập đƣợc bộ Việt sử, chƣa chấn hƣng đƣợc nền cổ học, thì đó cũng là khuyết điểm của triều đại thịnh trị… (Do đó) cần phải cử hành việc trọng đại ấy cho đƣợc kịp thời”.

Triều đình quy định rõ chế độ làm việc, nhiệm vụ, quyền lợi của những viên quan trong Viện Quốc sử. Chánh Tổng tài lo xem xét công việc chung. Phó Tổng tài đôn đốc

công việc. Từ Toản tu trở xuống chia nhau biên soạn. Giấy bút, đèn dầu và các vật dụng khác đƣợc quy định rõ ràng.

Nhờ tổ chức chặt chẽ như vậy nên công việc biên soạn Quốc sử bước đầu thu được nhiều kết quả trong những năm nửa đầu thế kỷ XIX. Tuy nhiên, công việc cũng mới bắt đầu, phải đến nửa sau thế kỷ XIX các bộ sử mới hoàn thành.

Đại Nam thực lục có hai phần: Tiền biên và Chính biên. Phần Tiền biên đƣợc biên soạn từ năm 1821 đến năm 1824 mới hoàn thành và bắt đầu in; phần này chép lịch sử các chúa từ năm 1558 đến năm 1777. Phần Chính biên đệ nhất kỷ cũng bắt đầu biên soạn từ năm 1821 đến năm 1847 mới xong, chép sử từ năm 1778 đến năm 1819, đời vua Gia Long. Chính biên đệ nhị kỷ bắt đầu từ năm 1841 đến năm 1861 thì hoàn thành, chép sử từ năm 1820 đến năm 1840, đời vua Minh Mạng. Chính biên đệ tam kỷ hoàn thành trong thời gian từ năm 1849 đến năm 1877, in năm 1879, chép sử thời vua Thiệu Trị (1841 – 1847). Chính biên đệ tứ kỷ chép đời vua Tự Đức (1847 – 1883), chép xong năm 1894, in năm 1899. Các đời vua sau lại tiếp tục biên soạn cho đến Chính biên đệ thất kỷ chép về vua Khải Định.

Khi biên soạn các tập của Đại Nam thực lục, Quốc sử quán triều Nguyễn đã sử dụng một khối lượng lớn tài liệu gồm chiếu, chỉ, sắc dụ, các bản tấu trình ở địa phương và tài liệu lịch sử các triều đại trước. Coi trọng công tác tư liệu khi biên soạn, vua Gia Long đã chỉ dụ: “Phàm sự tích cũ thì cần phải tìm xem xét rộng rãi để sẵn mà tham khảo… tưởng ở chốn đồng quê, các quan cũ và các cụ già, những điều ghi chép được, những điều tai nghe mắt thấy, hẳn có điều đáng đúng,… Lời nào có thể ghi vào sử đƣợc thì thưởng, thảng hoặc có can phạm húy cũng không bắt tội…”. Vua Minh Mạng cũng khuyến khích việc sưu tầm tài liệu: “Vậy chuẩn cho quan dân trong ngoài, phàm nhà nào cất được những bản biên chép điển cũ triều trước thì không kể tường hay lược, đem nguyên bản đến nộp hoặc đưa cho Nhà nước sao chép đều có khen thưởng”.

Đại Nam thực lục biên soạn theo lối biên niên ghi chép các sự kiện về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, đối ngoại… xảy ra dưới thời các vua Nguyễn. Các vua là nhân vật trung tâm của việc chép sử, nên Thực lục đã ghi chép “cơ nghiệp”, “công việc trị nước”, phẩm chất “hiếu thảo” với cha mẹ, “hòa mục với họ hàng”, “dùng người hiền tài, tìm lời nói thẳng, thương dân, trọng nghề gốc…”. Tuy nhiên, qua Thực lục cũng tìm thấy một số tài liệu phản ánh nhiều mặt của đời sống xã hội nước ta lúc bấy giờ như: lễ tế Nam giao, cày ruộng Tịch điền, chú trọng an ninh quốc phòng, phát triển nông nghiệp, lịch sử quan chế, khoa cử, tình hình các địa phương qua các “chương sớ tâu lên được vua chuẩn y”.

Đại Nam thực lục lấy việc biên soạn chính xác làm chính: “đã là thực lục thì các việc cứ lấy sự thật mà chép cho có trước sau mới trở thành tín sử”. Cho nên, các tư liệu ghi chép về hành động cử chỉ của nhà vua do viện Đô sát đảm nhận đƣợc chuyển sang Quốc sử quán làm sử liệu mà không qua nhà vua. Vì vậy, Thực lục cũng ghi đƣợc một số sự kiện khách quan nhƣ “quân Xiêm trong lòng thì sợ quân Tây Sơn nhƣ sợ cọp”, hoặc ghi nguyên văn lời phê phán của Tổng đốc Bình Phú Thân Văn Nhiếp về việc vua Tự Đức trước tình hình “đất cũ bị mất giặc phương Bắc tràn qua, lũ hạn, nạn bão… dân không đƣợc nhờ để sống…”, thế mà nhà vua vẫn hoang phí xây Vạn Niên Cơ, mua đàn Tây, tranh Tây, tổ chức vui chơi tốn kém. Tuy nhiên, Thực lục không tránh khỏi các thiếu sót của cách viết sử phong kiến, xuyên tạc phong trào Tây Sơn.

Đại Nam liệt truyện gồm ba phần chính: Đại Nam liệt truyện Tiền biên soạn từ năm 1841 đến năm 1852. Đại Nam Chính biên liệt truyện sơ tập hoàn thành trong thời gian từ năm 1852 đến năm 1899. Đại Nam liệt truyện nhị tập bắt đầu soạn từ năm 1895 và bắt

84

đầu in năm 1909. Đại Nam liệt truyện chép tiểu sử, sự nghiệp của các hậu phi, hoàng tử, công chúa, chƣ thần, cao tăng ẩn dật, nghịch tử, gian thần ở mỗi đời vua.

Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục bắt đầu khởi thảo từ năm 1856 đến năm 1884 mới hoàn thành. Hơn 30 người tham gia biên soạn và 12 người Đẳng tả. Tự Đức chủ trì việc biên soạn. Nhà vua xem xét việc ghi chép, viết phần “ngự phê”, là những lời nhận định, đánh giá một số nhân vật và sự kiện lịch sử. Tự Đức còn gợi ý và quyết định phần Phàm lệ và việc phân kỳ.

Bộ sách sử này gồm có hai phần: Tiền biên và Chính biên bao gồm 52 quyển.

Tiền biên gồm 5 quyển chép từ Hùng Vương (2879 TCN) đến thời Mười hai sứ quân (966 – 967).

Chính biên gồm 47 quyển chép từ thời Đinh Tiên Hoàng (970 – 979) đến đời Lê Mẫn Đế (1787 – 1789).

Xuất phát từ quan điểm chính thống cho rằng “lịch sử là tấm gương lớn”, “viết sử là để nêu gương cho mọi người” từ vua đến dân chúng soi mà noi theo. Cho nên bộ sách sử này mang tên Khâm định Việt sử thông giám cương mục (có nghĩa là: vâng lệnh vua viết lịch sử nước Việt để treo gương sáng cho mọi người noi theo). Quan điểm nêu gương và soi gương qua lịch sử ở bộ sách này hoàn toàn theo tiêu chuẩn cương thường đạo lý của Nho giáo để xem xét, đánh giá con người và sự việc. Vì mục đích dùng sử để đề cao, ca tụng vương triều Nguyễn, cho nên trong Cương mục có những chỗ lịch sử bị xuyên tạc, việc nhận định, đánh giá thiếu công minh, khách quan. Chẳng hạn, khi bình luận về chiến công của Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Tự Đức phê rằng

“Ngô Quyền gặp được ngụy triều Nam Hán là một nước nhỏ, Hoàng Thao là thằng hèn kém, nên mới có đƣợc trận thắng trên sông Bạch Đằng. Đó là một việc may có gì đáng khen”. Trong khi Quốc sử quán xem việc nhà Trần thắng quân Nguyên là vì “Những tướng sai sang đều không phải là tướng giỏi”, cũng như quân Thanh bị Nguyễn Huệ đánh thua là tại “vua Càn Long ủy nhiệm không được người giỏi” thì Cương mục lại ca ngợi Gia Long “diệt đƣợc Tây Sơn, thống nhất bờ cõi, sai sứ sang thông hiếu với nhà Thanh”.

Với tư tưởng “chính thống”, Cương mục đã liệt tất cả những ai chống chúa Nguyễn, vua Nguyễn là giặc, là nghịch thần. Tây Sơn bị xem là ngụy triều.

Với mục đích viết Cương mục để giữ vững vương triều nhà Nguyễn, “nêu gương”

cho mọi người soi như vậy, nên sách đã bị hạn chế không ít về việc khôi phục lại quá khứ lịch sử của dân tộc mà các triều đại trước phần nào đạt được trong sách sử đã biên soạn.

Với tinh thần khoa học, khách quan, chúng ta nhận thấy rằng, Quốc sử quán nhà Nguyễn đã để lại một di sản quý về sử học, trong đó có bộ Cương mục. Một nét nổi bật của các nhà chép sử qua Cương mục là thể hiện lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ, tự hào dân tộc. Điều này đạt đƣợc cũng phải trải qua nhiều cuộc tranh luận sôi nổi, đi đến thống nhất rằng: “Nước Đại Việt ta dựng bờ cõi ở minh đô thủ trời, định rõ núi sông, nên đất đúc nên văn vật, vua chúa đời sau thay đời trước, phong khí ngày càng mở mang, thời đại không giống nhau, quy mô mỗi thời một khác, song mọi việc xảy ra ở nước mình, trên đất mình do nước mình làm với tinh thần độc lập, tự chủ” (Quốc sử quán triều Nguyễn. 1986. Cương mục, tiền biên (1). tr. 37).

So với các bộ sử trước, bộ Cương mục được tổ chức biên soạn chặt chẽ, chu đáo.

Gần 30 người tham gia làm trong 20 năm với những tên tuổi nổi tiếng như Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế, Trương Quan Đản, Nguyễn thông, Trần Văn Vi… các sử thần triều Nguyễn rất coi trọng việc sưu tập tài liệu để viết Cương mục và các sách sử khác.

Năm 1856, Quốc sử quán đã “xin in ra nguyên bản bộ Đại Việt sử ký phát giao cho để tra

xét. Xin viện Tập hiền ở Nội các soạn ra những sách nên cần để đủ tra cứu. Xin phái người ra Bắc Kỳ tìm kiếm những sách dã sử và sự tích từ sau khi nhà Lê Trung Hưng, cùng những phả ký tục biên của các nhà có danh tiếng”. Trong quá trình biên soạn Cương mục, Quốc sử quán thu nhận được nhiều sách ở các địa phương gởi đến, cũng như tham khảo 24 bộ chính sử của Trung Quốc để tìm tài liệu lịch sử có liên quan đến nước ta.

Nguyên tắc sưu tầm, chỉnh lý tài liệu để viết Cương mục cũng tuân thủ chặt chẽ việc “Tìm ngược lên nguồn gốc từ trăm đời về trước rồi châm chước với lời bàn luận của mọi người. Ví như người làm nhà, gom góp mọi vật liệu để soạn dùng vào từng việc, lại giống như người luyện kim khí, lọc đi lọc lại hàng trăm lượt để đi đến chỗ tinh vi”.

Nguyên tắc này giúp các nhà chép sử chọn lựa rất cẩn thận, bỏ đi nhiều việc hoang đường (nếu cần thiết đƣa vào thì phải ghi bằng chữ nhỏ có chú thích rõ), bổ sung nhiều tƣ liệu quý. Chỗ nào còn nghi ngờ thì tiếp tục tra cứu thêm.

Cương mục là bộ sử cuối cùng do Quốc sử quán của một triều đại phong kiến nước ta hoàn thành. Nó tập hợp được thành tựu của sử học Việt Nam trước đó và đã có những đóng góp quan trọng về tư liệu và phương pháp chép sử. Tuy vẫn chép sử theo lối biên niên, song Cương mục đã chú ý đến việc kết hợp chép theo tuế thứ (chép thứ tự thời gian theo hệ can chi của phép lịch xƣa) và niên thứ (theo thứ tự hàng năm của niên hiệu một đời vua). Việc chép sử dựa theo bộ Thông giám cương mục của Chu Hy đời Tống (1130 – 1200), bộ Cương mục triều Nguyễn nêu ra từng “Cương”, chép ra thành từng “mục”, tức là ở phần “cương” chỉ chép đại cương về sự việc, đến phần “mục” mới chép rõ chi tiết, sự việc. Nhờ vậy mà người đọc nhận thức và tiếp thu lịch sử có hệ thống hơn.

Trong khi nêu rõ những sai lầm, thiếu sót của Cương mục, do quan điểm hay trình độ người viết, chúng ta đánh giá cao bộ sử này, trân trọng di sản sử học quý báu của dân tộc ta để tra cứu, sử dụng một cách chính xác, khoa học. Bộ Cương mục đã đề cao Quốc sử nước ta, trong khi các triều đại trước xem học Bắc sử (sử Trung Quốc) là chính, học

“Quốc sử” (sử dân tộc) là phụ. Khắc phục tình trạng này, khi chỉ dụ viết Khâm định Việt sử thông giám cương mục, vua Tự Đức căn dặn: “…nước Việt ta vốn là nước văn hiến lâu đời, nếu người ta biết lưu ý biên tập sau trước nối tiếp, đời nào có sử đời nấy, điều hay điều dở có thể khảo nghiệm được thì không lẽ gì chỉ có một mình Bắc sử được lưu hành mà thôi. Ấy thế mà người ta không chú ý, hễ động một tí là căn cứ vào Bắc sử; dẫu việc ấy là bất đắc dĩ nhưng chính là bởi tại người”.

Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục trong mức độ nào đó đã làm được điều mà Tự Đức đã nêu. Cùng với Đại Việt sử ký, Đại Việt sử ký toàn thư, bộ Cương mục đã nêu cao tinh thần dân tộc, góp phần làm cho nhân dân ta chú trọng quý mến lịch sử. Đây là bộ sử làm cơ sở cho việc biên soạn nhiều sách sử thời Nguyễn.

Loại lịch sử diễn ca đã có từ lâu ở Việt Nam rất đƣợc nhân dân ta ƣa chuộng. Vua Tự Đức đã chú ý đến việc biên soạn loại sách sử này để phổ biến rộng rãi trong nhân dân.

Năm 1858, Lê Ngô Cát (1827 – 1875) người làng Hương Lang, nay thuộc Chương Mỹ, Hà Tây đỗ cử nhân năm 1848, làm việc ở Quốc sử quán năm 1858, đƣợc tiến cử vào việc sửa sách “Sử ký quốc ngữ ca”. Sử ký quốc ngữ ca là của một tác giả khuyết danh thời Lê, diễn ca lịch sử từ đời Hồng Bàng đến khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê. Lê Ngô Cát đã sửa chữa bổ sung và diễn ca tiếp phần lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh (cho đến hết Lê Chiêu Thống). Ông viết xong trước năm 1860. Phạm Xuân quế đọc lại và nhuận sắc chút ít. Bản này có 3774 câu lục bát. Về sau Phạm Đình Toái (chƣa rõ năm sinh, mất) người xã Quỳnh Đôi nay thuộc Quỳnh Lưu, Nghệ An, đậu cử nhân năm 1842 đọc lại, sửa chữa, bổ sung, rút gọn thành một tác phẩm có 2054 câu lục bát và đặt tên là

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 81 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)