Vai trò tâm lý trong phát sinh, phát triển của bệnh - Ảnh hưởng của bệnh đối với tâm lý - Sự khác nhau giữa tâm lý thường và tâm lý bệnh - Những tác động của các yếu tố tự nhiên, xã hội
Trang 1ĐẠI HỌC PHAN CHÂU TRINH
TÀI LIỆU GIẢNG DẠY TÂM LÝ Y HỌC – ĐẠO ĐỨC Y HỌC
Giảng viên: ThS Phạm Thị Kiên
Tài liệu lưu hành nội bộ
PHỤ LỤC
Trang 21
Contents
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ Y HỌC 4
1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ 4
2.VỊ TR , ỐI TƯỢNG NGHI N CỨU TÂM LÝ Y HỌC 5
3.NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ Y HỌC 6
4.Ý NGH A TÂM LÝ Y HỌC V I HO T NG CỦA NHÂN VI N Y T 7
5.PHƯ NG PHÁP NGHI N CỨU TÂM LÝ HỌC Y HỌC 8
CÂU HỔI LƯỢNG GIÁ 9
TÀI LIỆU: 9
BÀI 2: TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH 10
1.KHÁI NIỆM VỀ BỆNH TẬT 10
2 ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH TẬT 13
3 QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ PHẢN ỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH 13
4 TÂM LÝ CHUNG KHI MẮC BỆNH 16
5 CÁC Y U TỐ ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH 17
6 TÌM HIỂU NHÂN CÁCH NGƯỜI BỆNH 19
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 20
TÀI LIỆU: 21
BÀI 3: TÂM LÝ NGƯỜI THẦY THUỐC 22
1 ẶC IỂM HO T NG CỦA NGHỀ Y 22
2 M T SỐ PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY THUỐC 23
3 HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY THUỐC 26
4 PHẨM CHẤT CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC 27
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 28
TÀI LIỆU: 28
BÀI 4: TÂM LÝ BỆNH HỌC 29
1 KHÁI NIỆM 29
2 MỐI QUAN HỆ TÂM VÀ THỂ 31
3 TÂM LÝ HỌC BỆNH LÝ 33
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 34
TÀI LIỆU: 34
BÀI 5: STRESS TÂM LÝ 35
1.KHÁI NIỆM STRESS 35
Trang 32
2.NGUYÊN NHÂN GÂY RA STRESS 38
3.CÁC Y U TỐ GÂY STRESS 39
4.NGUYÊN NHÂN GÂY RA STRESS CỦA NHÂN VI N Y T 40
5.CÁC PHẢN ỨNG TÂM LÝ THƯỜNG GẶP KHI STRESS 41
6.HẬU QUẢ CỦA STRESS – MỐI QUAN HỆ GIỮA STRESS VÀ BỆNH TẬT 41 7.PHƯ NG PHÁP GIÚP ỐI ẦU V I STRESS (Meichenbaum, 1977) 43
8.K T LUẬN 48
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 49
TÀI LIỆU 49
BÀI 6: M T SỐ MÔ HÌNH VỀ HÀNH VI SỨC KHỎE 50
1 I CƯ NG 50
2.MÔ HÌNH NIỀM TIN SỨC KHỎE (HEALTH BELIEF MODEL) 50
3 IỂM KIỂM SOÁT SỨC KHỎE 52
4.LÝ THUY T HÀNH VI ƯỢC HO CH ỊNH VÀ LÝ THUY T VỀ HÀNH NG C LÝ DO 52
5.MÔ HÌNH TRIANDIS 53
6.MÔ HÌNH CÁC GIAI O N THAY ỔI 55
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 57
TÀI LIỆU 58
BÀI 7: KHÁI NIỆM ĐẠO ĐỨC VÀ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP 59
1 KHÁI NIỆM VỀ O ỨC XÃ H I 59
2 KHÁI NIỆM VỀ O ỨC NGHỀ NGHIỆP VÀ O ỨC Y HỌC 60
3 NGUY N LÝ C BẢN CỦA O ỨC Y HỌC 61
4 VỊ TR TẦM QUAN TRỌNG CỦA Y ỨC 62
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 63
TÀI LIỆU 63
BÀI 8: NHỮNG N I DUNG ĐẶC TRƯNG ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC VIỆT NAM & 12 ĐIỀU Y ĐỨC 64
1 ẶC TRƯNG CỦA O ỨC Y HỌC XHCN: 64
2 O ỨC CỦA NGƯỜI CÁN B Y T 65
3 NHỮNG QUY ỊNH VỀ Y ỨC- 12 I U Y ỨC (TI U CHUẨN O ỨC CỦA NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC Y T ) 67
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 68
Trang 43
TÀI LIỆU: 69
BÀI 9: GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC VỚI NGƯỜI BỆNH, NGƯỜI NHÀ NGƯỜI BỆNH, C NG ĐỒNG VÀ ĐỒNG NGHIỆP 70
1.KHÁI NIỆM PHÂN LO I QUÁ TRÌNH GIAO TI P 70
2.KỸ NĂNG GIAO TI P 73
3 GIAO TI P GIỮA NGƯỜI THẦY THUỐC V I BỆNH NHÂN 75
4 GIAO TI P GIỮA NGƯỜI THẤY THUỐC V I NGƯỜI NHÀ NGƯỜI BỆNH 80 5 GIAO TI P GIỮA NGƯỜI THẦY THUỐC V I C NG ỒNG 80
6 GIAO TI P V I ỒNG NGHIỆP 81
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 82
TÀI LIỆU 82
BÀI 10: GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC VỚI NGƯỜI BỆNH, ĐỒNG NGHIỆP, CẤP TRÊN THEO VĂN HÓA TÂM TRÍ VÀ GIÁ TRỊ CỐT LÕI 83
1.GI I THIỆU CHUNG 83
2.CHẶNG ƯỜNG HÌNH THÀNH VĂN H A TÂM TR 84
3.TẦM QUAN TRỌNG CỦA VĂN H A TÂM TR 85
4.VĂN H A TÂM TR LÀ GÌ ? 85
5 ẶC TRƯNG VĂN H A ỨNG XỬ 93
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ: 96
TÀI LIỆU 96
BÀI 11: ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC 97
1.SỰ CẦN THI T CỦA O ỨC TRONG NGHI N CỨU KHOA HỌC VỀ Y SINH HỌC 97
2 O ỨC TRONG NGHI N CỨU Y SINH HỌC 100
CÂU HỎI TỰ LƯỢNG GIÁ 101
TÀI LIỆU 102
BÀI 12: CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY LIÊN QUAN ĐẾN ĐẠO ĐỨC Y HỌC 103
Văn bản số 1: 103
Văn bản số 2 107
Văn bản số 3 109
Văn bản số 4 111
CÂU HỎI LƯỢNG GIÁ 115
TÀI LIỆU 115
Trang 54
Chương 1: TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ Y HỌC
BÀI 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ TÂM LÝ HỌC VÀ TÂM LÝ Y HỌC
Mục tiêu học tập:
1 Trình bày được khái niệm và bản chất của hiện tượng tâm lý
2 Trình bày được đối tượng và phương pháp nghiên cứu của tâm lý học y học
3 Trình bày được các nhiệm vụ của tâm lý y học
4 Trình bày được ý nghĩa của tâm lý y học đối với nhân viên y tế
N I DUNG
1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ
1.1 Bản chất của hiện tượng tâm lý
Tâm lý con người là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt động thần kinh và hoạt động nội tiết, được nẩy sinh bằng hoạt động sống của
từng người và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử
1.1.1 Tâm lý là bản chất của vật chất cao cấp
Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng tâm lý là biểu hiện của vật chất, là sản phẩm dưới dạng đặc biệt của vật chất có tổ chức cao là bộ não của con người Sự phát triển của tâm lý luôn gắn với sự phát triển của hệ thống thần kinh Thế giới vật chất vận động và biến đổi không ngừng từ vô cơ thành thể hữu cơ, từ hữu cơ thành sự sống Sự phát triển đó liên tục, ngày càng phức tạp, hoàn chỉnh dần
và cuối cùng thành sự phản ảnh thế giới khách quan của những sinh vật có hệ thống thần kinh, có não bộ
Trang 65
1.1.4 Tâm lý con người có bản chất xã hội lịch sử
1.2 Đặc điểm chung của hiện tượng tâm lý
Hiện tượng tâm lý là hình ảnh của thế giới khách quan trong não bộ người, là hiện tượng chủ quan và là hình ảnh của hiện tại diễn ra ở thế giới bên trong của con người Hiện tượng tâm lý có các đặc điểm:
1.2.1 Tính chủ thể
Sự phản ánh tâm lý khác với sự phản ánh cơ giới vào sinh vật, bao giờ nó cũng mang dấu vết riêng của chủ thể phản ảnh Mỗi chủ thể phản ảnh hiện tượng tâm lý đều thông qua kinh nghiệm, thái độ, xúc cảm riêng của chủ thể, phản ảnh trình độ nghề nghiệp, trí thức và tâm lý riêng của chủ thể Tính chủ thể vì vậy luôn mang màu sắc riêng của cá nhân
1.2.2 Tính tổng thể của đời sống tâm lý
Mọi hiện tượng tâm lý không đứng riêng lẻ mà luôn liên quan tới mọi hiện tượng tâm lý khác ời sống tâm lý của cá nhân là trọn vẹn và mỗi hiện tượng tâm lý cũng mang tính toàn vẹn, chủ thể
Mọi hiện tượng tâm lý đều có mối liên quan chặt chẽ đến nhau và chịu sự chỉ đạo tập trung của não bộ
1.2.3 Sự thống nhất giữa hoạt động tâm lý bên trong và bên ngoài
Tâm lý là hiện tượng thuộc về thế giới bên trong song có liên quan chặt chẽ với thế giới bên ngoài qua những sự vật, hiện tượng của thế giới bên ngoài mà nó phản ảnh Hình ảnh tâm lý bên trong sẽ quyết định những biểu hiện ra bên ngoài bằng các hiện tượng tâm lý
2 VỊ TRÍ, ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU TÂM LÝ Y HỌC
Tâm lý y học vừa là bộ phận của y học vừa là bộ phận của tâm lý học có đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu tâm lý người bệnh, tâm lý nhân viên y tế trong hoạt động phòng bệnh, góp phần không ngừng bảo vệ và nâng cao sức khỏe thể chất tâm thần con người và xã hội Tâm lý y học là lĩnh vực khoa học ứng dụng của tâm lý học.Về đối tượng nghiên cứu và vị trí của tâm lý học y học, cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Có thể tóm tắt những ý kiến khác nhau này thành các nhóm sau:
- Cung cấp những tri thức tâm lý học đại cương và trên cơ sở đó vận dụng vào
Trang 76
y học, nghiên cứu những biểu hiện tâm lý ở từng loại bệnh
- Nghiên cứu đặc điểm tâm lý người bệnh và ảnh hưởng của những đặc điểm đó lên sức khỏe, thể lực, bệnh tật
- Phân tích về mặt tâm lý của bản chất các bệnh thần kinh (theo Ekpectiep – là một bộ phận hẹp của tâm lý y học)
- Nghiên cứu vai trò của các yếu tố tâm lý trong quá trình điều trị, quá trình xuất hiện và diễn biến của bệnh
- Nghiên cứu vai trò của các yếu tố tâm lý trong dự phòng, bảo vệ và nâng cao sức khỏe
3 NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ Y HỌC
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu tâm lý người bệnh
- Nghiên cứu những biểu hiện tâm lý của bệnh Vai trò tâm lý trong phát sinh, phát triển của bệnh
- Ảnh hưởng của bệnh đối với tâm lý
- Sự khác nhau giữa tâm lý thường và tâm lý bệnh
- Những tác động của các yếu tố tự nhiên, xã hội lên tâm lý người bệnh
- Vai trò của tâm lý trong điều trị
- Vai trò của tâm lý trong phòng bệnh và bảo vệ sức khỏe
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu tâm lý thầy thuốc và nhân viên y tế
- Nghiên cứu những phẩm chất, nhân cách của thầy thuốc và nhân viên y tế
- Y đức học và phẩm chất đạo đức thầy thuốc và nhân viên y tế
- Hoạt động giao tiếp của thầy thuốc và nhân viên y tế
3.3 Một số nhiệm vụ chung của tâm lý y học
- Nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu tâm lý học lâm sàng
- Các trắc nghiệm tâm lý y học
- Những vấn đề tâm lý học trong giám định lao động, quân sự, pháp y
3.4 Nội dung nghiên cứu của tâm lý y học
Các nội dung cơ bản gồm:
- Những quy luật cơ bản về tâm lý người bệnh, tâm lý thầy thuốc và nhân viên
y tế, tâm lý giao tiếp, không khí tâm lý trong các cơ sở điều trị
- Học thuyết về tác động tương hỗ giữa tâm lý và thực thể
- Tác động tâm lý của các yếu tố môi trường tự nhiên, xã hội… đối với bệnh
- Y đức và phẩm chất đạo đức của thầy thuốc và nhân viên y tế
- Nguyên tắc, phương pháp nghiên cứu tâm lý trong lâm sàng
- Một số vấn đề tâm lý học trong giám định sức khỏe, lao động, quân sự…
Trang 8cơ sở, cần thiết cho tất cả các nhân viên y tế Con nguời khi bị bệnh, tâm lý ít nhiều đều bị biến đổi do tác động của bệnh tật và ngược lại, tâm lý không bình th ường là một trong những nguyên nhân phát sinh, phát triển của bệnh tật Nhiều khi yếu tố tâm lý là nguồn gốc của các bệnh thực thể , hoặc là yếu tố làm cho bệnh bùng phát Cho nên tìm hiểu yếu tố tâm lý trong tiền sử bệnh là quan trọng
để ngăn ngừa bệnh tật cho người bệnh Quang cảnh bệnh viện, thái độ của nhân viên y tế , cách thăm khám lâm sàng, các thao tác kỹ thuật và đặc biệt các cuộc phẫu thuật có ảnh hưởng rất lớn đến trạng thái tâm lý người bệnh Thực tế chúng
ta đã gặp những cơn choáng xúc cảm, thậm chí dẫn đến tử vong Coi trọng yếu tố tâm lý trong điều trị là rất cần thiết Các thầy thuốc thời xưa coi lời nói giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống các phương pháp điều trị Những lời khuyên của thầy thuốc chỉ trên cơ sở nắm vững đời sống, tình trạng hiện tại và quá khứ của người bệnh Lời khuyên không phải bao gồm không chỉ kế hoạch điều trị mà còn phải nói rõ cho người bệnh biết các nguyên nhân hỗ trợ cho người bệnh phát triển Thầy thuốc phải giải thích rõ cho người bệnh: điều trị chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ thể trở lại bình thường, muốn khỏi bệnh lâu dài và ngăn ngừa tái phát, không thể không loại trừ các nguyên nhân gây ra nó, tức là giải thích cho người bệnh về vệ sinh cá nhân Nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng, thuốc có tác dụng tốt
là nhờ sự đóng góp của cơ chế ám thị Những điều trên đây cho thấy, vấn đề tâm
lý trong y học cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc Rõ ràng là, không có tri thức về tâm lý y học, không coi trọng trạng thái tâm lý và nhân cách người bệnh thì không thể nói đến một nền y học tương lai Xetrenop đã cho rằng, người thầy thuốc không những là chuyên gia về trạng thái thực thể mà còn là chuyên gia về tâm lý cho người bệnh
Trang 98
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ HỌC Y HỌC
Phương pháp nghiên cứu của tâm lý y học là các phương pháp nghiên cứu tâm lý học nói chung và của tâm lý học y học nói riêng Phương pháp nghiên cứu đặc biệt là tâm lý học lâm sàng được dùng để nghiên cứu tâm lý người bệnh
Phương pháp có thể gồm 3 phần như sau:
5.1 Khai thác thông tin người bệnh
- Thu nhập thông tin tạo điều kiện cho mối quan hệ giao tiếp
- Khai thác bệnh: Cần chú ý trạng thái chung, sự rối loạn giấc ngủ, biến đổi khí sắc và trạng thái tâm lý khác thường của người bệ nh
- Khai thác tiền sử bệnh: Hỏi bệnh nhân về thời điểm xuất hiện bệnh? bắt đầu
và diễn biến? tiền sử đời sống, mối quan hệ của bệnh nhân nhằm tìm cơ hội thâm nhập vào thế giới nội tâm của người bệnh, tạo mối quan hệ tốt giữa thầy thuốc và người bệnh
5.2 Khám bệnh nhận định về tâm lý người bệnh
Tìm hiểu trạng thái tâm lý: tìm hiểu đầy đủ trạng thái tâm lý, ý thức, các hoạt động của người bệnh, Sơ bộ đánh giá mức độ phát triển trí tuệ , khí chất, những nét tính cách đặc trưng, phản ứng xúc cảm của người bệnh
5.3 Phần kết luận
Trong phần kết luận, ngoài việc chẩn đoán bệnh cần phải có các chẩn đoán về nhân cách, về trạng thái người bệnh Xem nhân cách người bệnh hướng nội hay hướng ngoại, kiểu khí chất chính Xác định hình ảnh lâm sàng bên trong của bệnh, trạng thái tâm lý người bệnh trong mối tương quan với bệnh và hoàn cảnh mắc bệnh ề xuất nghệ thuật giao tiếp, kế hoạch thực hiện tâm lý trị liệu, vệ sinh tâm lý, với người bệnh
Tóm lại, tâm lý học y học nghiên cứu những vấn đề về tâm lý người bệnh, tâm lý thầy thuốc, tâm lý bệnh học…bằng những phương pháp đặc trưng của mình Nó
có cơ sở phương pháp luận là những quan điểm duy vật biện chứng và học thuyết thần kinh chủ đạo Tâm lý học y học thực sự cần thiết cho một nền y học hiện đại Chỉ có những người thầy thuốc vừa có đủ tri thức về y học thực thể , vừa có
Trang 109
hiểu biết sâu sắc về tâm lý y học mới có thể phòng bệnh, chữa bệnh một cách toàn diện và có hiệu quả
CÂU HỔI LƢỢNG GIÁ
1 Bản chất của hiện tượng tâm lý là?
C Khách quan và yếu tố xã hội D A & C đúng
2 Tâm lý có những đặc điểm chung nào?
C Thống nhất giữa yếu tố bên trong và bên ngoài D Tất cả đều đúng
3 ối tượng của Tâm lý Y học là ai?
4 Nhiệm vụ của Tâm lý y học nghiên cứu gì?
5 Phương pháp tâm lý lâm sàng dùng để nghiên cứu?
Trang 1110
BÀI 2: TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH
Mục tiêu học tập:
1 Trình bày được khái niệm về bệnh tật và những ảnh hưởng của bệnh tật
2 Phân tích được những thay đổi về nhận thức và phản ứng của người bệnh
3 Trình bày được những biểu hiện tâm lý chung khi bị bệnh, tâm lý của người bệnh
và áp dụng thực hành thái độ chăm sóc, điều trị của người thầy thuốc phù hợp
N I DUNG:
1 KHÁI NIỆM VỀ BỆNH TẬT
1.1 Khái niệm về sức khỏe
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO): “ Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện
về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải là không có bệnh hay khuyết tật
cơ thể”
Theo WHO các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe bao gồm môi trường kinh
tế và xã hội, môi trường vật lý, đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân
Người có sức khỏe tốt là người mà hình thể được phát triển cân đối cả về chiều cao, cân nặng và kích thước vòng ngực, vòng bụng, vòng mông…,; là người có sức nhanh, sức mạnh, sức bền; là người mà tinh thần luôn luôn vui vẻ, sảng khoái
và ham thích hoạt động; là người ít ốm đau, không bệnh tật
1.2 Khái niệm về bệnh tật
- Bệnh là những tổn thương thực thể hay cơ năng ở một bộ phận hay nhiều bộ phận của cơ thể ảnh hưởng đến sinh hoạt bình thường của con người, làm cho con người khó chịu, đau đớn Có nhiều bệnh tự qua khỏi nhưng có nhiều bệnh nếu không cứu chữa đúng mức thì bệnh càng phát triển dẫn đến những hậu quả tai hại ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống và cả đến tính mạng người bị bệnh
- Tính chất của bệnh: Bệnh có thể là một tổn thương thực thể một cơ quan, bộ phận cơ thể: gảy tay, sưng phổi, viêm tai cũng có thể là cơ năng gây rối loạn các chức năng sinh lý làm cho người bệnh đau đớn, khó chịu nhưng thầy thuốc không
Trang 1211
tìm ra dấu hiệu bệnh lý: Rối loạn thần kinh chức năng, Hysteria Từ những bệnh chức năng nhưng kéo dài có thể trở thành bệnh thực thể có thể dẫn đến tử vong: cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, loét dạ dày tá tràng
- Tính toàn diện của bệnh tật: Khi bị một bệnh nào đó thì không chỉ bộ phận mắc bệnh bị tác động mà có ảnh hưởng đến các bộ phận khác, thậm chí cả toàn thân Ví dụ: Loét dạ dày tá tràng do độ toan của dịch vị rối loạn, tiêu hóa bị ảnh hưởng, bệnh nhân buồn bực khó chịu, mất ngủ, ăn mất ngon Về mặt tâm lý y học khẳng định: "
điều trị người bệnh, không phải điều trị bệnh"
1.3 Đặc điểm về bệnh
1.3.1 Sự thay đổi trạng thái quân bình của cơ thể
Giảm hoàn toàn hay từng phần khả năng thích nghi với môi trường và hạn chế
1.3.2 Những đổ vỡ do căn bệnh gây ra
ổ vỡ không gian tâm lý: người bệnh giảm những thú vui và hạn chế không gian tư duy (ví dụ: người bệnh lúc trước thích đọc báo và trao đổi tin tức với những ngươi xung quanh, bây giờ bị bệnh họ không còn hứng thú đọc sách báo nữa và thu mình lại, hạn chế tiếp xúc với người khác)
ổ vỡ lịch sử của người bệnh và thời gian: bệnh gây ra sự biến đổi cơ bản trong lịch sử cá nhân Tình trạng khỏe mạnh có sự thay đổi so với trước đây
và thay vào đó là trạng thái bị bệnh
ổ vỡ hình ảnh bản thân so với những người khác Bệnh đến làm thay đổi hình ảnh bản thân đã có trước đó, làm tổn thương tính ái kỷ (tình yêu chính bản thân, sự tự tin, lòng tự trọng…) Bệnh nhân có thể cảm thấy mình mất giá trị (Bệnh nhân ung thư khi hóa trị liệu rụng tóc)
ổ vỡ hình ảnh thân thể: Khi ta khỏe mạnh, ta hầu như quên là ta có một cơ
Trang 1312
thể, cơ thể ta yên lặng Nhưng khi ta bệnh, ta có cảm giác như cơ thể phản bội
ta, bị biến dạng, hư hỏng mà ta không làm chủ được nữa Bệnh trở thành một cái gì xa lạ với chúng ta Bệnh phá vỡ sự yên lặng của cơ thể Ta có những cảm giác mới mà thường là rất khó chịu (cảm giác nóng bỏng, cảm giác kim châm, đau nhói) làm đảo lộn hình ảnh thân thể của bản thân mà ta có trước đây Những vết sẹo là những dấu vết của sự thay đổi cơ thể mà ta thấy được
Tóm lại, bị bệnh, đặc biệt là những bệnh mãn tính, nghĩa là trở thành “ một đồ
vật để được chăm sóc” một sự việc được thuốc hóa ó là sự mất kiểm soát tình huống xã hội của bản thân (ví dụ phải ngưng làm việc và không thể trợ cấp cho
nhu cầu của gia đình) và đôi khi mất cả khả năng kiểm soát của chính bản thân (ví dụ không kiểm soát được đại tiện và tiểu tiện) Tác động của sự đảo lộn này
là sự đánh giá thấp về bản thân và cảm giác đánh mất chính bản thân với chiều kích trầm cảm Bệnh là một tình huống mới, đem đến những thay đổi mà bệnh nhân phải có hướng thích nghi dựa trên nguồn trợ lực của chính nó, trên sự nâng
đỡ của gia đình và nhân viên y tế
1.3.3 Lợi ích thứ phát của bệnh tật
Bệnh tật đa phần thường là tiêu cực, nó có thể làm cho người bệnh thay đổi từ điềm tĩnh, tự chủ, khiêm tốn thành cáu kỉnh, khó tính, nóng nảy; từ người chu đáo, thích quan tâm đến người khác thành người ích kỷ; từ người lạc quan thành người bi quan…Tuy nhiên bệnh cũng có thể là nguồn lợi ích Ta gọi đó
là lợi ích thứ phát của bệnh tật
Những lợi ích thứ phát của bệnh là do hậu quả của căn bệnh Những lợi ích này không can thiệp trực tiếp trong việc bệnh xuất hiện nhưng có thể tạo điều kiện thuận lợi cho việc bệnh kéo dài (một số bệnh nhân khó lành bệnh vì họ thích hưởng lợi ích thứ phát của bệnh)
Lợi ích thứ phát có thể có ý thức, được người bệnh biết (ví dụ làm mọi cách
để ngưng làm việc) hoặc vô thức (tránh sự bắt buộc của xã hội và gia đình, được nhìn nhận là bị bệnh, được mọi người quan tâm, chăm sóc…)
Trang 1413
2 ẢNH HƯỞNG CỦA BỆNH TẬT
- Bệnh ảnh hưởng đến tinh thần nhân cách bệnh nhân: Bất kỳ một bệnh gì dù nhẹ hay nặng đều cũng có ảnh hưởng đến tinh thần người bệnh, các hiện tượng tâm lý bị ảnh hưởng do đó người bệnh thường lo âu, buồn phiền, nhân cách bị thay đổi,
thường thì vui vẻ, dễ gần gũi nhưng khi bị bệnh trở nên khó tính,đến cầu cứu thầy
thuốc trong trạng thái không vui, đòi hỏi cao, khi bị bệnh thì thần kinh ảnh hưởng sớm nhất và nặng nề nhất
- Bệnh ảnh hưởng đến người xung quanh: Trước nhất là gia đình và người thân rất lo âu cho bệnh tật và tính mạng bệnh nhân, ngược lại bệnh nhân lại lo bệnh có thể lây cho người thân, lo ảnh hưởng kinh tế, sinh hoạt, hạnh phúc gia đình ối với
xã hội có sự ảnh hưởng xã hội, thương tiếc lo lắng cho một thành viên của xã hội
3 QUÁ TRÌNH NHẬN THỨC VÀ PHẢN ỨNG CỦA NGƯỜI BỆNH
3.1 Nhận thức cảm tính: Gồm có cảm giác và tri giác, là giai đoạn nhận thức sơ
đẳng, phản ánh những thuộc tính bên ngoài, biểu hiện quan trọng của nhận thức này trong tâm lý người bệnh là thiết lập cảm tình ban đầu giữa người bệnh với môi
trường tự nhiên và xã hội
3.2 Nhận thức lý tính: Gồm có tư duy và tưởng tượng là giai đoạn nhận thức cao
hơn, phản ánh những thuộc tính bên trong của sự vật, nhận thức này thể hiện được bản chất của sự vật và hiện tượng, ví dụ: chất lượng điều trị tốt, bác sỹ rất giỏi và
rất tốt bụng
3.3 Các loại nhận thức: Do mức độ bệnh tật mà tâm lý, tinh thần và nhận thức của
người bệnh có khi bình thường, có khi bị rối loạn Có 4 loại chính:
- Nhận thức đứng đắn bình thường: Loại này có quá trình hưng phấn cân bằng với quá trình ức chế Số bệnh nhân này chịu ảnh hưởng rất tốt đối với thầy thuốc của mình, phân biệt được cái đúng, cái sai
- Nhận thức cường điệu quá mức: Bệnh nhân kiểu này có quá trình hưng phấn mạnh hơn ức chế, bệnh nhân dễ bị kích thích, nhạy cảm với đau cho nên thường la lối om sòm dù chỉ đau nhẹ, nghiêm trọng hóa vấn đề sức khỏe của mình, dễ nổi nóng, dễ phản ứng thể hiện qua lời nói, nét mặt, đòi hỏi Bác sỹ giỏi, khám bệnh ngay, điều trị ngay và nôn nóng muốn lành bệnh ngay nên rất tích cực chữa bệnh,
Trang 15- Nhận thức không ổn định, loạn nhận thức: Loại bệnh nhân này ý thức hay thay đổi, lúc thì coi thường xem nhẹ bệnh tật, lúc lại lo lắng sợ hãi, sợ chết, sợ biến chứng Từ chỗ không tin mình bị bệnh đến không tin thầy thuốc, nhận xét chẩn đoán và điều trị của thầy thuốc, cho nên đi tìm hết thầy thuốc này đến thầy thuốc khác, đến chỗ muốn có một thầy thuốc chẩn đoán theo ý mình
Vấn đề lứa tuổi rất quan trọng, mỗi lứa tuổi trong quá trình cuộc sống, tác động của các quá trình bệnh lý, ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức của bệnh nhân
- ối với trẻ em, học sinh thường hoang mang lo sợ, dễ phản ứng, sợ đau
- ối với thanh niên thường coi thường bệnh , đánh giá cao sức khỏe của mình, chú nhiều thẩm mỹ, sợ xấu người
- ối với người trưởng thành thì nét tâm lý chững chạc hơn, các đặc điểm tâm lý
ổn định hơn nên phản ứng đối với bệnh tật và nhận thức của mình đối với bệnh mang dấu vết nhân cách đã hình thành vững chắc
- ối với người lớn tuổi thì kiểu cường nhận thức thường chiếm ưu thế và phổ biến Bệnh nhân thường bi quan với tác hại của bệnh tật, đánh giá thấp sức khỏe, khả năng chống đỡ của mình, bệnh nhân dễ lo sợ, hoang mang khó tính, đòi hỏi cao, yêu cầu giải đáp tường tận, khoa học
3.4 Các loại phản ứng: Từ nhận thức khác nhau bệnh nhân có các phản ứng khác
nhau đối với bệnh tật, với thầy thuốc, với bản thân mình
- Phản ứng hợp tác: ây là loại bệnh nhân có nhận thức bình thường, khi bị bệnh thường lắng nghe ý kiến thầy thuốc, và hợp tác với thầy thuốc trong quá trình điều trị, quan hệ tốt với nhân viên y tế và tin tưởng chuyên môn
- Phản ứng nội tâm: Bệnh nhân tiếp thu có nghiên cứu ý kiến của bác sỹ, không phản ứng lung tung, phát biểu đúng lúc, có tổ chức, khi đã có ý kiến có nhận xét thì
Trang 1615
khó thay đổi, trầm lặng khó tính ối với loại này nếu thầy thuốc có uy tín, tác động tốt tâm lý bệnh nhân sẽ được bệnh nhân tin tưởng một cách chắc chắn, nếu sai sót với bệnh nhân sẽ khó khôi phục lòng tin
- Phản ứng bàng quan: Người bệnh coi thường bệnh tật, mặc kệ tới đâu hay đó, thờ ơ với tất cả, thầy thuốc nói sao nghe vậy không phản đối cũng không quá sốt sắng, họ cho là bệnh không quan trọng rồi sẽ khỏi do đó mất cảnh giác, bệnh có thể trầm trọng hơn, loại bệnh nhân này thường ít kêu la mà âm thầm chịu đựng ối với bệnh nhân này cần chú ý động viên thường xuyên để bệnh nhân có ý thức quan tâm tới sức khỏe của mình
- Phản ứng nghi ngờ: Luôn luôn nghi ngờ, thiếu tin tưởng, nghi ngờ thầy không giỏi, thuốc không tốt, nghi ngờ chẩn đoán, nghi ngờ kết quả X quang, xét nghiệm chạy chữa lung tung ối với loại bệnh nhân này thầy thuốc cần nêu những bệnh nhân điển hình chẩn đoán và điều trị có kết quả tốt để gây ấn tượng mạnh mẽ
- Phản ứng tiêu cực: Luôn lo lắng cho bệnh tật của mình không chữa được, sẽ tàn phế, sẽ chết Dù có thầy thuốc giỏi, thuốc tốt cũng chẳng giúp ích gì, nhất là khi bị bệnh mãn tính khó chữa khỏi như đái đường, suy tim, người bệnh luôn có tư tưởng chờ chết ối với bệnh nhân này thầy thuốc cần giải thích cho bệnh nhân hiểu về bệnh tật của mình, và chứng minh bằng những bệnh nhân mắc bệnh tương tự nhưng vẫn sống và sinh hoạt bình thường, một số bệnh gây đau đớn như ung thư thì chữa triệu chứng, giảm đau kịp thời sẽ có tác động rất tốt đến tâm lý bệnh nhân
- Phản ứng hốt hoảng: Dù chỉ mắc bệnh nhẹ nhưng hốt hoảng, lo sợ Thông thường thầy thuốc phải dùng thuốc an thần nếu giải pháp tâm lý bằng lời nói không hiệu quả
- Phản ứng phá hoại: Bệnh nhân không thỏa mãn mọi cái với người xung quanh,
dễ phản ứng, có những hành động tiêu cực như không chịu uống thuốc, không chịu
để nhân viên y tế chăm sóc, thậm chí phản đối với nhân viên y tế, gây gổ, cãi vã hành hung Loại này thường gặp ở các bệnh nhân có nhân cách bệnh lý, bệnh tâm thần Thầy thuốc phải thương yêu giúp đỡ, nhưng cũng phải cương quyết với những hành động sai trái
Trang 1716
4 TÂM LÝ CHUNG KHI MẮC BỆNH
Bệnh tật là một sự cố không ai muốn vì vậy khi có bệnh tật mọi người đều có sự lo lắng nhất định, mức độ lo lắng phụ thuộc vào tính chất của bệnh Thông thường mối
lo xoay quanh các vấn đề sau:
4.1.Bệnh nặng hay nhẹ: Nếu bệnh nhẹ thì nổi lo tất nhiên ít, nếu bệnh nặng, ác
tính, khả năng tử vong cao, thì tất nhiên lo lắng nhiều thậm chí tuyệt vọng Nhưng bệnh nhân không phải là người am hiểu về chuyên môn nên họ không phân biệt được bệnh nặng hay nhẹ Vả lại trong thời gian đầu bệnh chưa xác định được chẩn đoán, thì không có cơ sở để tiên lượng bệnh Với tâm trạng lo âu sẵn dù thầy thuốc
có giải thích bệnh nhân cũng không thể tin hoàn toàn, chính trong hoàn cảnh đó bệnh nhân thường hay tìm hiểu ở bệnh nhân khác, dò hỏi các nhân viên y tế khác hoặc tìm đọc các tài liệu chuyên môn
4.2 Bệnh phải chữa lâu hay mau: Tâm lý của bệnh nhân khi mắc bệnh ai cũng
muốn mau lành, gặp trường hợp mau khỏi, tâm lý ít bị ảnh hưởng Nếu lâu khỏi hay mãn tính thì ảnh hưởng tâm lý không phải là nhỏ Ngoài việc lo lắng bệnh có thể chuyển biến nặng hoặc ác tính thì những trường hợp phải điều trị lâu dài có thể ảnh hưởng đến công ăn việc làm, tốn kém tiền bạc, đảo lộn mọi sinh hoạt của gia đình, mức sống gia đình giảm sút Sự thay đổi đó làm cho bệnh nhân suy nghĩ mình làm phiền gia đình và trở thành gánh nặng của gia đình, đặc biệt khi người thân vô tình nói những điều xúc phạm hoặc phàn nàn ca cẩm, vì thế mọi biện pháp đều tỏ ra bất
lực Chính vì vậy những người mắc bệnh lâu dài cần được đặc biệt chú ý về mặt
tâm lý, cần có sự quan tâm sâu sắc đến họ, đến hoàn cảnh và cũng đòi hỏi có nghệ
thuật trong công tác tư tưởng
4.3 Ai là người chạy chữa cho mình: Mối băn khoăn này khá phổ biến ở nhiều
người bệnh, tất nhiên ở mức độ khác nhau, do muốn khỏi bệnh, muốn khỏi nhanh
do vậy họ muốn được thầy giỏi và thuốc tốt Theo tâm lý chung họ mong muốn là
được thầy thuốc vừa giỏi, vừa tốt chăm sóc
Trước hết thầy giỏi nghĩa là chẩn đoán bệnh đúng Không gì làm cho bệnh nhân nản lòng bằng thầy thuốc loay hoay, lúng túng tìm mãi không ra bệnh nên không thể điều trị được Chúng ta không phủ nhận là có những bệnh khá hiếm, tuy vậy phải có
Trang 1817
hướng và tìm cách để tiếp cận chẩn đoán có phương pháp, không nên chẩn đoán quá hời hợt, dừng ở mức nêu triệu chứng Cũng không nên làm các xét nghiệm liên tiếp, các xét nghiệm không có chủ định làm cho bệnh nhân mệt, luôn luôn thay đổi chẩn đoán, từ đó họ kém tin tưởng và khó lòng chấp hành đầy đủ y lệnh, đặc biệt nghiêm trọng đối với bệnh ngoại khoa phải mổ nhưng bệnh nhân thiếu tin tưởng ở người sẽ mổ mình
4.4 Khi phải nằm viện: Trừ trường hợp đặc biệt không mấy bệnh nhân muốn nằm
viện, nằm viện đã là một sự khổ tâm đối với người bệnh Càng khổ tâm hơn khi bệnh viện không đủ sức đảm đương mọi việc mà phải cần người nhà vào chăm sóc,
tự lo việc ăn uống, tự lo chạy thuốc khi có chỉ định của thầy thuốc, người bệnh cảm thấy mình làm phiền lòng quá nhiều người, nghĩ ngợi không an tâm điều trị, trong điều kiện đó hiển nhiên là điều trị ít kết quả và phần nào trái với nguyên tắc điều trị
Vì vậy tuy còn khó khăn nhưng phải phấn đấu để giảm mức tối đa những băn khoăn
lo lắng của người bệnh về ăn uống, chăm sóc và chạy thuốc men
Về mặt tư tưởng từ trước đến nay ta thiên về giáo dục một chiều, yêu cầu thầy thuốc, nhân viên phải phục vụ bệnh nhân vô điều kiện, nhưng ngược lại chưa làm cho bệnh nhân thấy được đầy đủ hơn thái độ cần có của họ đối với thầy thuốc, nhân viên y tế vì lợi ích của chính bản thân họ.Tuy vậy cũng cần hiểu rằng khi bị bệnh tính tình và tâm lý của nhiều bệnh nhân thay đổi và sau khi khỏi bệnh tâm lý trở lại bình thường và cũng có nhiều người cảm thấy ân hận về thái độ của mình khi nằm viện Vì vậy nhiều thầy thuốc lâu năm trong nghề họ thường tỏ ra thông cảm với hiện tượng trái tính trái nết của người bệnh và mọi suy nghĩ hành động của họ đều tập trung vào chữa chạy sao cho có hiệu quả tốt nhất
5 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TÂM LÝ NGƯỜI BỆNH
5.1 Quá trình giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân: Người thầy thuốc / điều
dưỡng khi giao tiếp với bệnh nhân cần tránh những yếu tố bất lợi cho cuộc giao tiếp
và tạo được tình cảm sau giao tiếp
5.2 Mối quan hệ thầy thuốc bệnh nhân
5.2.1.Tầm quan trọng của mối quan hệ thầy thuốc- bệnh nhân
Trang 1918
- Nghĩa vụ của người thầy thuốc
- Mối quan hệ bệnh nhân tốt có tác dụng điều trị bệnh tốt:
+ Tạo niềm tin cho bệnh nhân đối với thầy thuốc
+ Có tác dụng tâm lý của thuốc và phương pháp điều trị ngoài tác dụng thật + Hợp tác tốt của bệnh nhân trong quá trình điều trị
- Quan hệ thầy thuốc bệnh nhân không tốt có tác dụng xấu đến quá trình điều trị: + Bệnh nhân thiếu tin tưởng do đó mặc dù điều trị đúng thuốc, đúng bệnh, đúng phương pháp nhưng tác dụng điều trị giảm
+ Phát sinh bệnh do thầy thuốc gây ra, gọi là bệnh y sinh
5.2.2 Mối quan hệ thầy thuốc bệnh nhân đang bị cơ chế thị trường chi phối, kể cả trong các cơ sở y tế nhà nước và y tế tư nhân
5.3 Môi trường và tâm lý người bệnh: Môi trường bao gồm sự quan tâm của
người thân, bạn bè và xã hội
5.4 Những đặc điểm thái độ của bệnh nhân
- Bệnh nhân muốn gì ? Khi bị bệnh, bệnh nhân rất lo âu cho mình và cho gia đình,
mong muốn được chữa khỏi bệnh một cách nhanh chóng để trở lại cuộc sống bình thường Họ sợ nhất là phải nằm viện, sợ mắc bệnh nặng không cứu chữa được hoạt
để lại di chứng, hoặc tàn phế
- Bệnh nhân sẵn sàng trình bày bệnh tật Tâm lý chung của bệnh nhân là mong muốn gặp Bác sỹ, iều dưỡng để trình bày cặn kẽ bệnh tật của mình sau 24 giờ qua, để Bác sỹ hiểu hết bệnh tật của mình vì vậy đôi khi dài dòng và chiếm nhiều thời gian.Thầy thuốc và điều dưỡng phải kiên nhẫn lắng nghe, chọn lọc cái tinh, vừa nghe vừa suy nghĩ để trở thành tài liệu cho chẩn đoán và điều trị, không nên cáu gắt, ngắt lời bệnh nhân
- Bệnh nhân rụt rè e thẹn Trước thầy thuốc, bệnh nhân thường có tâm lý phức tạp,
vừa muốn trình bày mọi điều với thầy thuốc nhưng cũng có khi lại e thẹn, rụt rè nhất là những người mắt các bệnh truyền nhiễm do lối sống
Trang 2019
- Thầy thuốc cần thông cảm và tế nhị giữ những điều kín đáo cho họ nếu họ có ý yêu cầu
- Bệnh nhân luôn luôn quan sát nhận xét
- Lòng tin của bệnh nhân: Thông thường bệnh nhân nằm bệnh viện , hoặc tìm đến
thầy thuốc họ đều có niềm tin sẽ được cứu chữa, được cứu sống và luôn có ấn tượng tốt đẹp với thầy thuốc và bệnh viện, luôn kính trọng thầy thuốc
- Vì sao bệnh nhân phản ứng với thầy thuốc: Khi bệnh nhân phản ứng với thầy
thuốc việc đầu tiên thầy thuốc phải tự xem xét mình Bệnh nhân phản ứng thông thường do:
+ Cảm thấy không được quan tâm đúng mức, không được tôn trọng, hoặc thậm chí bị “ bạc đãi”
+ Thái độ thầy thuốc và nhân viên y tế không đúng đắn gây xúc phạm họ, cũng
có khi thái độ của các thầy thuốc, của nhân viên y tế đối xử với nhau không đúng mức
+ Việc thăm khám học tập phiền phức của sinh viên trên cơ thể bệnh nhân quá nhiều trong lúc thầy thuốc thực sự lại quá ít
6 TÌM HIỂU NHÂN CÁCH NGƯỜI BỆNH
6.1 Thương tổn về xu hướng nhân cách
- Có bệnh nhân có nhu cầu vượt quá điều kiện và khả năng của mình, song cũng
có bệnh nhân có nhu cầu chung chung, mơ hồ, thậm chí không có nhu cầu bình thường nhất Nhiều bệnh nhân lại có nhu cầu thiên lệch
- Có bệnh nhân giảm hoặc mất hứng thú trong công việc, trong đời sống Trái lại
có bệnh nhân tăng hứng thú, thậm chí có những hứng thú khó hiểu, khác thường
ôi khi những hứng thú đó trở thành trung tâm chú ý cho mọi hành động hoặc toan tính của người bệnh
- Có những bệnh nhân có những nguyện vọng và ước ao to lớn, cũng có những bệnh nhân an phận, chấp nhận thực tại của mình
- Có sai sót về thế giới quan, niềm tin, lý tưởng dẫn đến sự nhìn nhận sai lệch bản thân, thế giới xung quanh
Trang 2120
6.2 Sai sót về thuộc tính tính cách
Bệnh nhân đôi khi cũng có những nét tính cách không đầy đủ, không phù hợp, thậm chí có những nét tính cách độc ác, dối trá mê tín, dễ bị ám, thị phụ thuộc, vị tha một cách kỳ quặc, thù hận, lo sợ, đa nghi
6.3 Sai sót về thuộc tính năng lực
Bệnh nhân có thể có những sai sót về năng lực chung, hoặc có sai sót về năng lực một lĩnh vực chuyên môn nào
6.4 Sai sót về khí chất và các thành tố khác trong nhân cách
- Bệnh nhân biến đổi về kiểu khí chất hoặc nẩy sinh các thuộc tính khác không bình thường ( nóng nảy vô cớ, ù lì không nói, không cười )
- Có bệnh nhân giảm sút hoặc mất nét đặc trưng giới tính, cũng có thể bệnh nhân sai sót trong phát triển và định hướng giới tính
6.5 Sai sót chung về nhân cách: Bệnh nhân có sai sót về những đặc điểm chung
của nhân cách như mất tính toàn vẹn, mất tính gắn bó, nhân cách bị chia cắt Nhân cách bệnh nhân có thể biến đổi theo hướng bệnh lý phân liệt, hoang tưởng chống lại
xã hội
CÂU HỎI LƢỢNG GIÁ
1 Em hiểu như thế nào là bệnh tật? cho ví dụ minh họa?
2 Nếu và phân tích quá trình nhận thức của người bệnh?
3 Tâm lý chung của người bệnh là gì? Từ đó nêu sự thấu cảm của em (của người Thầy thuốc) về tâm lý người bệnh?
4 Em hãy phân tích mối quan hệ giữa Thầy thuốc và bệnh nhân?
5 Người bệnh có những yếu tố nhân cách nào người Thầy thuốc cần chú ý quan tâm? Cho ví dụ minh họa
Trang 2221
TÀI LIỆU:
1 Giáo trình Tâm lý học y học (2017), Trường ại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Nguyễn Văn Nhận (2006), Tâm lý học y học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
3 Phạm Thị Minh ức (2009), Tâm lý và Đạo đức y học: Dùng cho đào tạo Cử nhân Điều dưỡng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
Trang 2322
BÀI 3: TÂM LÝ NGƯỜI THẦY THUỐC
Mục tiêu học tập:
1 Trình bày được các đặc điểm hoạt động của nghề y
2 Trình bày được một số phẩm chất nhân cách người thầy thuốc
3 Trình bày được sự hình thành và phát triển nhân cách của người thầy thuốc
N I DUNG
1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT Đ NG CỦA NGHỀ Y
1.1 Sự tiếp xúc thường xuyên với bệnh tật: Sự tiếp xúc thường xuyên với bệnh tật
không chỉ là mối đe dọa sức khỏe thể chất mà cả sức khỏe tâm lý của người thầy thuốc Bên cạnh việc chứng kiến niềm vui, hạnh phúc của người bệnh được điểu trị khỏi, thầy thuốc/điều dưỡng cũng luôn gặp phải những đau khổ, sự bất lực trước bệnh tật, trước cái chết của họ Sự dằn vặt, day dứt của thầy thuốc/điều dưỡng có thể còn kéo dài, thậm chí suốt đời nếu như cái chết của người bệnh lại do sơ xuất,
sai lầm của họ gây ra
1.2 Tính đa dạng , phức tạp của đối tượng hoạt động: Nghề thầy thuốc thuộc
nhóm ngành nghề hoạt động giữa con người với con người Trong nghề y, con người vừa là khách thể, chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên, xã hội vừa là chủ
thể tác động lên người khác
Với đối tượng hoạt động này, không cho phép thầy thuốc/điều dưỡng có thái độ làm việc tắc trách, qua loa, không cho phép thầy thuốc phạm sai lầm, dù là sai lầm rất nhỏ Những sai lầm của thầy thuốc/điều dưỡng sẽ gây tác hại trực tiếp đến tính mạng của người bệnh thầy thuốc/điều dưỡng sẽ có rất ít cơ may để chuộc lại lỗi lầm
1.3 Là một nghề nhân đạo: Tính nhân đạo của nghề y thể hiện trước hết là đem lại
sức khỏe, cuộc sống cho người bệnh Việc chữa bệnh, cứu người nhiều khi làm hao tổn sức lực, tâm trí, có khi đe dọa cả tính mạng của người thầy thuốc Người thầy thuốc/điều dưỡng không bao giờ cho phép mình từ chối lời đề nghị giúp đỡ của
người bệnh
Trang 24lý mạnh đến mức có thể làm mờ đi, thậm chí xóa bỏ hẳn một hoặc một số triệu chứng của bệnh Dựa trên cơ sở của tác động này mà người ta đã xây dựng chuyên ngành liệu pháp tâm lý, nhằm tổ chức những tác động tâm lý theo hướng điều trị tích cực, có lợi cho người bệnh Tuy nhiên cũng có các trường hợp do thầy thuốc/điều dưỡng thiếu cân nhắc, thiếu thận trọng trong lời nói, hành vi mà đã tạo
nên những phản ứng tâm lý trái ngược với kết quả điều trị, gây hại cho người bệnh
1.5 Có sự trợ giúp của nhiều phương tiện công cụ: Trong sự phát triển của xã
hội, những tiến bộ mới nhất của khoa học, kỹ thuật thường sớm được con người áp dụng vào lĩnh vực y tế, từ máy chụp X- quang đến các phương tiện chẩn đoán bằng
siêu âm, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ Bên cạnh những phương tiện kỹ
thuật tiên tiến được áp dụng sự phát triển mạnh mẽ của hóa dược cũng đang cung cấp cho thầy thuốc hàng loạt thuốc mới trong lâm sàng Chính các đặc điểm hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi người thầy thuốc phải không ngừng hoàn thiện những phẩm chất tâm lý- nhân cách cần thiết của mình, để đáp ứng ngày một tốt hơn yêu
cầu của nghề nghiệp
2 M T SỐ PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY THUỐC
2.1 Xu hướng nghề nghiệp của người thầy thuốc: Xu hướng nghề y là một bộ
phận quan trọng của xu hướng nhân cách, quy định tính tích cực và sự lựa chọn thái
độ của người thầy thuốc/điều dưỡng trong các hoạt động
2.1.1 Nhu cầu: Hoạt động nghề y nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về vật
chất và tinh thần của người thầy thuốc
2.1.2 Hứng thú nghề nghiệp: ể nắm bắt được bệnh tật của người bệnh, người thầy
thuốc/điều dưỡng phải không ngừng học tập nâng cao kiến thức, sử dụng điêu luyện các phương tiện điều trị Chính những khát vọng hiểu biết là động lực thúc đẩy
Trang 2524
mạnh mẽ người thầy thuốc vươn lên, tạo niềm vui, sự say mê trong họat động nghề nghiệp của họ
2.1.3 Lý tưởng nghề nghiệp: Lý tưởng là một biểu tượng hoàn thiện , mẫu mực để
con người vươn tới, là sự thể hiện tập trung cao nhất của xu hướng nhân cách Lý tưởng nghề là sự thể hiện cụ thể của lý tưởng chung trong họat động nghề của chủ thể
2.2 Tính cách người thầy thuốc
2.2.1 Yêu nghề , say mê lao động nghề nghiệp: Lòng yêu nghề phải được xây dựng
trên cơ sở nhận thức rõ vai trò , trách nhiệm ,về những khó khăn, gian khổ và sự hy sinh thầm lặng mà người thầy thuốc phải chịu đựng Lòng yêu nghề chỉ có được khi các hoạt động nghề nghiệp của người thầy thuốc được thúc đẩy bởi hệ thống các động cơ đúng đắn: phụcvụ nhân dân, phục vụ tổ quốc
2.2.2 Tinh thần trách nhiệm: Người thầy thuốc phải có trách nhiệm đối với nghề
nghiệp của mình, biết giữ gìn truyền thống và tính chất nhân đạo của nghề y Phải
có trách nhiệm đối với người bệnh, phải tận tình thận trọng, tỉ mỉ trong công tác thăm khám và cứu chữa người bệnh, không bị ràng buộc những điều kiện quyền lợi
cá nhân Trách nhiệm rõ ràng đối với đồng nghiệp, có tinh thần tương trợ, giúp đỡ,
vì sự tiến bộ chung và vì người bệnh Trách nhiệm đối với xã hội rất to lớn, phải quan tâm chăm sóc sức khỏe của nhân dân, của cộng đồng Một trách nhiệm không thể thiếu của người thây thuốc là trách nhiệm đối với bản thân mình, phải luôn tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chăm lo việc nâng cao sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần cho chính bản thân mình
2.2.3 Tính trung thực: ây là một trong những phẩm chất nhân cách cơ bản của
người thầy thuốc
2.2.4 Sự dũng cảm: Sự dũng cảm của người thầy thuốc thể hiện trong nhiều hoàn
cảnh khác nhau, từ những việc tưởng chừng nhỏ, đến những việc khó khăn, nguy hiểm
2.2.5 Tính tự chủ: Trong nhiều trường hợp thầy thuốc phải hết sức tự chủ, bình tỉnh
để đấu tranh với bệnh tật, cứu sống con người
Trang 2625
2.2.6 Tính khiêm tốn: Khiêm tốn học hỏi, khiêm tốn trong công việc cũng là một
đức tính quý báu của người thầy thuốc
2.3 Năng lực của người thầy thuốc/điều dưỡng:
2.3.1 Năng lực chuyên môn y học: Người thầy thuốc phải làm chủ được các kỹ
năng, kỹ xảo thiết yếu, chung cho ngành nghề đồng thời phải có được các kỹ năng,
kỹ xảo đặc thù của từng chuyên khoa
2.3.2 Năng lực giao tiếp: Năng lực giao tiếp của người thầy thuốc thể hiện ở chỗ
biết cách gợi mở để người bệnh mô tả một cách chân thật những cảm giác chủ quan
về bệnh Năng lực giao tiếp của người thầy thuốc còn thể hiện trong sự khéo léo, nhuần nhuyễn các phương tiện giao tiếp mà trong đó có ngôn ngữ Các phương tiện phi ngôn ngữ như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt cũng có vai trò to lớn
2.3.3 Biết nghiên cứu khoa học và tổ chức hoạt động thực tiễn: Người thầy thuốc
phải đi sâu nghiên cứu bệnh căn, bệnh sinh của bệnh, tìm ra những thuốc mới, phương pháp chữa bệnh mới phù hợp với người bệnh, phải biết ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ mới, khai thác vốn y học cổ truyền dân tộc Người thầy thuốc phải biết tổ chức lực lượng một cách khoa học để cùng hoạt động đạt tới mục đích
là cứu chữa người bệnh và không ngừng nâng cao sức khỏe con người.Mặc khác còn phải biết tổ chức, quản lý, điều hành người bệnh
2.3.4 Cơ sở tâm lý của năng lực người thầy thuốc
- Kiến thức - Kiến thức chuyên môn- Hiểu biết về khoa học xã hội- nhân văn
- Phẩm chất nhận thức cảm tính - ộ nhạy cảm cao- Óc quan sát
- Tư duy lâm sàng của thầy thuốc là tư duy biện chứng được thực hiện thông qua một loạt các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa các triệu chứng, hội chứng và chỉ ra bản chất bệnh tật của người bệnh
2.4 Vấn đề đạo đức của người thầy thuốc: Tám đức tính cơ bản của người thầy
thuốc chân chính mà Hải Thượng Lãn Ông đã tổng kết, cho đến nay vẫn là những
lời khuyên quý báu:
- Nhân: nhân từ, bác ái, không ích kỷ
- Minh: Hiểu biết sâu rộng, sáng suốt
Trang 2726
- Trí: khôn khéo, nhạy bén, không cẩu thả
- ức: phải có đạo đức, không làm điều ác
3 HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH NGƯỜI THẦY THUỐC
3.1 Xác lập mô hình nhân cách: ể phát triển và hoàn thiện nhân cách các phẩm
chất tâm lý, nhân cách người thầy thuốc, trước hết cần phải xác lập được mô hình nhân cách theo yêu cầu của chức trách, nhiệm vụ hoạt động nghề nghiệp Một mô hình như vậy sẽ là mục tiêu giáo dục, rèn luyện của người thầy thuốc Trong thực tế công tác giáo dục không phải lúc nào chúng ta cũng có thể đáp ứng được hoàn toàn
mô hình đã xác lập Do đó việc xác lập mô hình nhân cách mới chỉ là bước đầu,
mang tính định hướng cho các biện pháp tiếp theo
3.2 Xác định mức độ phù hợp nghề nghiệp: Mỗi nghề có những yêu cầu nhất định
về tâm lý- nhân cách của chủ thể hoạt động nghề Do vậy ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường, người học sinh cần được tư vấn nghề thông qua các hoạt động hướng
nghiệp
3.3 Nhân cách hình thành , phát triển trong hoạt động: Thông qua hoạt động học
tập, người thầy thuốc lĩnh hội và phát triển những kiến thức của các thế hệ trước đã tích lũy được Thông qua hoạt động giao tiếp, năng lực giao tiếp của người thầy thuốc được hình thành, hoàn thiện và phát triển
Trang 2827
3.4 Hoàn thiện , phát triển nhân cách là một quá trình: Người thầy thuốc là chủ
thể của một hoạt động nghề nghiệp đặc biệt- nghề khám và chữa bệnh, đem lại sức khỏe, hạnh phúc, tuổi thọ cho con người ây là một nghề cao quý, được toàn xã hội tôn vinh Người thầy thuốc muốn hoàn thành tốt sứ mệnh nghề nghiệp vẻ vang của mình, một mặt bản thân không ngừng học tập, rèn luyện vươn lên, mặt khác toàn xã hội phải có nghĩa vụ và trách nhiệm giáo dục để người thầy thuốc có đạo đức cao cả, có tài năng y học vững vàng và phát triển toàn diện, hài hòa cả về thể
chất và tâm lý- nhân cách
4 PHẨM CHẤT CỦA NGƯỜI THẦY THUỐC
Phẩm chất nhân cách người thầy thuốc là sự kết hợp hài hòa các phẩm chất đạo đức, phẩm chất nghề nghiệp, phẩm chất tâm lý cá nhân
4.1 Các phẩm chất đạo đức: bao gồm các phẩm chất có liên quan đến nghề nghiệp,
một nghề lấy hạnh phúc con người lên trên, hết lòng hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ tính mạng bệnh nhân Vì vậy thầy thuốc cần có:
- Lòng trắc ẩn, giản dị, khiêm tốn, ngay thẳng, chính trực , tế nhị , yêu lao động , biết tôn trọng mọi người
- ặt lợi ích người bệnh lên trên
- Yêu nước yêu chủ nghĩa xã hội , ngoài các chuẩn mực đạo đức cần có trong giai đoạn hiện nay thầy thuốc cần có tinh thần phấn đấu cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh
4.2 Các phẩm chất nghề nghiệp
- Yêu nghề say mê lao động nghề nghiệp, có kiến thức sâu rộng
- Làm chủ kỹ năng kỹ xảo, nâng cao không ngừng trình độ và năng lực chuyên môn, năng lực quản lý, năng lực tổ chức
- Có năng lực giao tiếp, xử lý tốt các mối quan hệ trong lĩnh vực nghề nghiệp ( thầy thuốc-bệnh nhân, thầy thuốc-đồng nghiệp )
- Có tinh thần trách nhiệm, lương tâm nghề nghiệp, tôn trọng người bệnh
- Thực sự cầu thị và giữ gìn bí mật nghề nghiệp
Trang 2928
4.3 Một số phẩm chất tâm lý khác
- Có tinh thần trách nhiệm (trách nhiệm nghề nghiệp, trách nhiệm với bệnh nhân
và nhân dân nói chung, trách nhiệm với cấp ủy chính quyền và với bản thân ), tính trung thực, lòng dũng cảm, tính nguyên tắc, tính khiêm tốn
- Ham học hỏi nghiên cứu và cầu tiến
- Phong thái bên ngoài: niềm nở, khiêm tốn, bình tĩnh; ăn mặc đàng hoàng, sạch
sẽ đứng đắn, gây cảm tình và sự kính trọng đối với bệnh nhân
CÂU HỎI LƢỢNG GIÁ
1 Em hiểu như thế nào về đặc điểm hoạt động của người Thầy Thuốc?
2 Theo em phẩm chất nào của người Thầy Thuốc là quan trọng nhất? vì sao?
3 Năng lực của người Thầy thuốc đóng vai trò như thế nào trong việc phát triển phẩm chất, nhân cách của người Thầy thuốc?
TÀI LIỆU:
1 Giáo trình Tâm lý học y học (2017), Trường ại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
2 Nguyễn Văn Nhận (2006), Tâm lý học y học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội
3 Phạm Thị Minh ức (2009), Tâm lý và Đạo đức y học: Dùng cho đào tạo Cử nhân Điều dưỡng, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội
Trang 3029
BÀI 4: TÂM LÝ BỆNH HỌC
Mục tiêu học tập:
1 Xác định được mối quan hệ giữa tâm lý và bệnh lý
2 Trình bày được mối quan hệ tâm lý - thể chất, môi trường xã hội và bệnh lý
3 Trình bày được tâm lý học bệnh lý
N I DUNG
1 KHÁI NIỆM
1.1 Tâm lý học và y học có mối liên hệ mật thiết với nhau
- Sự phát triển về kỹ thuật y học để tìm ra yếu tố sinh bệnh lý
- Hướng tiến bộ thứ hai là chăm sóc và phòng ngừa ngoài phạm vi cơ thể bằng cách tìm hiểu những tác động nhiều mặt trong cuộc sống con người
- i sâu vào sinh lý đồng thời cũng phải điều tra kỷ về tâm lý xã hội giúp cho việc chữa trị tốt nhất cho người bệnh
1.2 Các mặt cần tìm hiểu ở một con người
Tìm hiểu một con người cần nhìn về 3 mặt:
- Sinh lý (S): Con người là một sinh vật cần tìm hiểu về sinh lý: ăn uống, không khí, vận động, tính dục và giao tiếp với người khác Tuổi tác và giới tính, quá trình trưởng thành qua các lứa tuổi
- Xã hội (X): Con người là mối tổng hòa các quan hệ xã hội, thành phần vị trí, vai trò trong xã hội quyết định nhiều đặc điểm Cần tìm hiểu nhiều mặt như những hoạt động cơ bản: Lao động, học tập, vui chơi
- Xuất xứ và sinh sống trong môi trường tự nhiên nào, môi trường xã hội nào, Giai cấp, dân tộc, tôn giáo, quan hệ quốc tế, những sự di chuyển môi trường, gia đình nơi cư trú, nơi làm việc
- Tâm lý (T): Ở mỗi người đều có một cái tâm với cơ cấu và cơ chế hoạt động nhất định Những cơ cấu và cơ chế tâm lý cơ bản:
+ Cảm giác, tri giác, nhận thức
+ Tập luyện, học tập, trí nhớ, thói quen, nếp sống
+ Trí lực, biểu tượng, suy luận, học vấn
Trang 3130
+ Tín ngưỡng, tôn giáo, đạo lý
+ Khả năng thích nghi với biến động môi trường, biến cố cuộc sống
+ ộng cơ, cảm xúc, tình cảm
+ Những rối nhiễu tâm lý và cơ chế rối nhiễu ấy
Và dĩ nhiên trước đó thầy thuốc đã đánh giá sức khỏe chung, thể trạng con người rồi kết hợp với mọi thông tin và tổng hợp lại để đánh giá nhân cách tình trạng của đương sự
Về xã hội thì hiểu được những cơ cấu và biến động lớn, nhận ra những nhóm dân
cư có nguy cơ cao Hiểu rõ những nét lớn về các môi trường lao động khác nhau nhất là trong các ngành mà kỹ thuật công nghiệp thường xuyên bị thay đổi
Ba yếu tố này tác động lẫn nhau, khó để phân biệt mặt nào là quyết định và quan trọng nhất
Nên tìm hiểu cả 3 mặt Sinh lý, Xã hội, Tâm lý một cách toàn diện, không thể nói mặt nào là quan trọng hơn mặt nào Trong một trường hợp cụ thể cần phân tích cả 3 mặt rồi từ đó xác định vai trò của từng mặt quan trọng đến mức nào và từ đó vận dụng những biện pháp Chẳng hạn khi cần cấp cứu phải mổ không cần nói gì đến tâm lý xã hội, khi mổ xong rồi vào giai đoạn phục hồi sức khỏe, lại phải đặt vấn đề trở lại với nghề nghiệp cũ hay phải thay đổi nghề nghiệp? đây là lĩnh vực tâm lý xã hội
Làm nghề thầy thuốc, cũng như dạy học, lãnh đạo, tổ chức, tôn giáo là tìm cách tác động trực tiếp lên con người, cần có một cách nhìn toàn diện, nếu không sẽ không tránh khỏi những sai lầm đáng tiếc
Có thể phát họa mối quan hệ Sinh lý, Xã hội, Tâm lý như sau:
S
X T
Trang 3231
Ba mặt có quan hệ tác động qua lại Khi chữa bệnh nên nghĩ đến cả 3 mặt Có khi chỉ tác động lên Sinh lý là chủ yếu, chưa cần chú ý Tâm lý và Xã hội, trong trường hợp khác phải chú ý cả 3 mặt
Tóm lại thầy thuốc cần tìm hiểu không chỉ những ca bệnh mà phải tìm hiểu những người bệnh
+ Tìm hiểu người bệnh đang mong ước gì, chờ đợi gì ở thầy thuốc và bệnh viện giúp đỡ họ, trong cuộc sống có vấp váp gì, khổ tâm gì ?
+ Thầy thuốc và cán bộ y tế có nhiệm vụ góp phần với gia đình và xã hội để tạo điều kiện tối ưu cho cuộc sống của người bệnh chứ không đơn giản chỉ kê đơn hay làm phẫu thuật xong là hết bổn phận
+ ặc biệt trong những trường hợp bệnh mãn tính người bệnh không chỉ dựa vào thuốc men mà cần một chổ dựa tinh thần, vì vậy thầy thuốc không chỉ tác động bằng thuốc men, kỹ thuật mà bằng tấm lòng của người thầy thuốc: Lời nói,
cử chỉ của thầy thuốc đều tác động sâu sắc tới tâm lý người bệnh Ngược lại,bệnh nhân cũng tác động lên tâm lý của thầy thuốc, nhiều khi gây ra những phản ứng bất lợi Thầy thuốc và y tá phải hiểu để tránh những phản ứng bất lợi ấy
+ Tổ chức và những quy định trong các bệnh viện, cơ sở y tế, tác phong cán bộ, nhân viên đều tác động đến tâm lý người bệnh Thường phải kiểm tra để xem có phù hợp với tâm trạng các bệnh nhân hay không
+ Y học ngày càng chuyên sâu, dường như mỗi thầy thuốc chỉ thấy một khía cạnh mà quên mất toàn bộ con người
Tâm lý phải trở thành khoa học cơ bản của Y học Thầy thuốc phải đồng thời là một Nhà tâm lý học
2 MỐI QUAN HỆ TÂM VÀ THỂ
2.1 Những quan niệm về tâm và thể:
- Con người là một thể thống nhất gồm thể và tâm, đó là 2 vấn đề không tách rời theo quan điểm của y học cổ truyền
- Nhưng với sự phát triển của vật lý cơ học và hóa học, thì thể chất được xem như
là chiếc máy có thể giải thích được mọi hiện tượng bình thường hay bệnh lý giúp giải thích được mọi hiện tượng đến tầm tế bào phân tử
Trang 3332
- ối với hiện tượng tâm lý có hai thái độ:
+ Hoặc xem là những hiện tượng phụ không cần quan tâm đến
+ Hoặc xem là thể chất và tâm lý tách rời nhau không ảnh hưởng lẫn nhau
- Trong y học cả 2 suy nghĩ trên dẫn đến chỉ tập trung cho tìm ra những nguyên nhân thực thể mà bỏ qua những hiện tượng tâm lý và cho là vô hình
- Những quan niệm trên trái ngược với nhận xét mỗi hiện tượng tâm lý, đặc biệt là những cảm xúc mạnh hay kéo dài tác động rõ rệt đến tình trạng thể chất và ngược lại và nhất là những thầy thuốc theo xu hướng này bao giờ cũng vấp phải những bệnh chứng mà không thể nào tìm ra vết tích thể chất và thường cho rằng:
+ ến một lúc nào đó sẽ tìm ra những thương tổn rõ rệt
+ Hoặc cho là bệnh tưởng tượng, bệnh chức năng, không chết ai
- Trong y học xuất hiện từ bệnh thần kinh (neurosis) đây là một khái niệm mơ hồ, chỉ những cái gì không rõ
- "Neurosis” trở thành một cái sọt để chứa mọi hiện tượng bệnh lý không có tổn thương thực thể, và từ đó thầy thuốc không cần quan tâm đến iển hình là những
ca hysteria: Liệt tay chân, triệu chứng không ăn khớp với một khu vực nhất định liên quan đến một dây thần kinh nào, tiến triển bất thường, trong chốc lát có thể lành hẳn
2.2 Mối quan hệ tâm - thể
Tác động sinh lý của những cảm xúc làm chấn động hệ thần kinh thực vật và nội tiết đã được phân tích rõ: Nhịp tim và thở nhanh, tăng huyết áp, dạ dày ruột ngừng
co bóp
Trong trường hợp kéo dài thành mãn tính, thầy thuốc và bệnh nhân tập trung chăm chữa chứng bệnh thực thể, uống thuốc đau dạ dày, nhức đầu, táo bón nhưng rồi chứng bệnh lại tái phát, chạy chữa lung tung
Căn nguyên tâm lý xã hội sẽ gây ra một số bệnh chứng, bệnh chứng ở mỗi người một khác nhau, cũng có người không sinh bệnh, những bệnh chứng này phải kết hợp điều trị tâm lý Nhưng điều khó hiện nay đa số thầy thuốc ít quan tâm đến tâm
lý xã hội, đẩy bệnh nhân vào con đường thuốc men, xét nghiệm, tốn kém nhưng
Trang 34- Một hay nhiều căn nguyên tâm lý đóng vai trò hiện căn hay khởi căn
- Bệnh nhân có một kiểu nhân cách riêng, ví dụ bệnh nhân loét dạ dày, hen đi đôi với một cá tính đặc biệt
- Dùng tâm pháp có tác dụng rõ ràng Trong nhiều trường hợp việc uống thuốc hay tập thể dục tưởng như là tác động về sinh lý nhưng thực chất là tác động về tâm lý: ví dụ những câu nói có tác động tâm lý: đây là thuốc mới từ Pháp gởi về, đây là một thuốc gia truyền
Ở trẻ em rất hay gặp bệnh chứng tâm thể như khi phản ứng với một người nào đó liền co thắt thực quản nôn ọe, thầy thuốc, bố mẹ tìm cách đổi thức ăn là lạc hướng
mà đôi lúc chỉ thay đổi người khác cho ăn là hết
Ở người lớn với nhiều tiền căn tạo ra một tiền sử phức tạp, cuộc sống xã hội rối ren, thì căn nguyên tâm lý khó phát hiện và gỡ rối hơn Với kinh nghiệm lâm sàng và một số trắc nghiệm tâm lý, theo dõi lâu dài cũng dễ nhận ra một số bệnh chứng tâm
+ Những khái niệm đưa ra đúc rút từ lâm sàng nhưng không có cơ sở thực nghiệm nào cả
Trang 3534
+ Nhân tâm học không chú ý hoàn cảnh xã hội hiện hữu của bệnh nhân, chỉ biết
và mô tả những cơ cấu và cơ chế nội tâm như là một cuộc sống tách rời xã hội và phân tâm học cũng không gắn liền với những tiến bộ của khoa học khác
Một số tiêu chuẩn bệnh lý tâm - thể:
- Có căn nguyên tâm lý
- Bệnh nhân thường có một tính cách nhất định, phân tích nhân cách có thể giúp cho chẩn đoán
- Những phương pháp trị liệu tâm lý có tác dụng chữa bệnh
CÂU HỎI LƢỢNG GIÁ
1 Tìm hiểu tâm lý của một con người cần tìm hiểu các yêu tố nào?
2 Vì sao nói Thầy thuốc đồng thời phải là một Nhà Tâm lý học?
3 Em hiểu như thế nào về mỗi quan hệ tâm- thể? Cho ví dụ?
Trang 3635
Mục tiêu học tập:
1 Hiểu được khái niệm stress và hội chứng thích nghi chung
2 Trình bày được các yếu tố gây stress
3 Trình bày được nguyên nhân gây ra stress của nhân viên y tế
4 Trình bày được hậu quả của stress
5 Trình bày được phương pháp phòng ngừa stress và áp dụng được bài tập thư giãn
N I DUNG
1 KHÁI NIỆM STRESS
Stress là một thuật ngữ tiếng nước ngoài, không dễ dịch ra tiếng Việt, nhưng rất thông dụng và phổ biến hiện nay
Thuật ngữ stress được dùng trong vật lý để chỉ sức nén mà vật liệu phải chịu đựng Stress (tiếng Anh) bắt nguồn từ chữ La-tinh “Stringere” có nghĩa là nghịch cảnh, bất hạnh
Stress trong tiếng Anh có hai nghĩa: nghĩa thứ nhất chỉ một mối kích động mạnh vào con người (vật lý, hóa chất, vi khuẩn hoặc một tác nhân tâm lý xã hội …); nghĩa thứ hai chỉ phản ứng sinh lý – tâm lý của người ấy
Stress là tình huống căng thẳng đòi hỏi con người huy động tiềm năng thích ứng
và phản ứng lại (hiện tượng tâm thể, một số triệu chứng tâm bệnh)
Stress thường dùng để chỉ những phản ứng sinh học của cơ thể (xuất mồ hôi, run, khô miệng,…) khi đối mặt với các cuộc tấn công tâm lý và thể chất của môi trường (đau đớn, đối diện với áp lực, cái chết,…) Khi bị đe dọa, cũng như khi gặp điều may mắn (như khi nghe tin vui), những phản ứng này cũng đều xuất hiện
Stress là một mối kích động đánh mạnh vào con người và là phản ứng sinh lý và tâm lý của con người ấy Mối kích động có thể là một tác nhân vật lý, hóa chất, vi khuẩn hoặc một tác nhân tâm lý xã hội Nói chung là một tình huống căng thẳng
Trang 3736
đột xuất đòi hỏi con người huy động tiềm năng thích ứng để phản ứng Mỗi loại kích động sẽ gây nên phản ứng đặc thù Phản ứng chung với mọi kích động thường gọi là hội chứng thích ứng chung (General Adaption syndrome –G.A.S)
1.1 Định nghĩa Stress
Stress là một tình trạng căng thẳng cấp, diễn ra của cơ thể bị bắt buộc phải điều động những tổ chức phòng vệ của nó để đương đầu với một tình huống đe dọa (J.Delay)
Stress là mối liên quan giữa con người và môi trường xung quanh Stress là mối tương tác giữa tác nhân công kích và phản ứng của cơ thể (Ferreri)
Stress là phản ứng sinh học không đặc hiệu của cơ thể trước những tình huống căng thẳng ây là phản ứng nhằm khôi phục lại trạng thái cân bằng nội môi, khắc phục được các tình huống để đảm bảo duy trì và thích nghi thỏa đáng của cơ thể trước điều kiện sống luôn biến đổi (Hans Selye, 1976)
Stress là cách để cơ thể thích nghi với các tình huống mới của môi trường
1.2 Ba loại hình Stress
- Stress sinh lý: ứng với hiện tượng thần kinh thể dịch và cơ quan nội tạng
- Stress tâm lý: Sự đánh giá chủ quan về một hoàn cảnh trong một thời
điểm nhất định, ứng với đặc tính vốn có của cả thể đó
- Stress xã hội: Tương ứng với sự tan vỡ, khủng hoảng trong mối quan hệ giữa
các thành viên trong gia đình hoặc một tổ chức, hoặc một thể chế xã hội, sự thay đổi trong cuộc sống của mỗi cá nhân (chuyển chỗ ở, mất tiền của, bệnh tật, thiên tại,…), những mâu thuẫn và áp lực cuộc sống,…
1.3 Ba giai đoạn hội chứng thích ứng chung - G.A.S ( Syndrome Général
d’adaptation )
1.4 G.A.S tạo nên sự mòn mỏi và xơ xác đối với cơ thể Kết quả là suy nhược toàn
thân, già nua và bệnh tật (Nhà nội tiết học Hans Selye đưa ra 1976)
1.3.1 GĐ1 – Giai đoạn báo động hay sốc
Cơ thể huy động năng lượng để đáp ứng những nguy cơ gây ra bởi stress Não tạo
ra những chất trung gian hóa sinh tác động đến hệ hô hấp, máu, cơ, gây ra sự tăng
Trang 3837
nhịp thở, tăng nhịp tim, huyết áp, co cơ, đồng tử giãn Hơn nữa, đường huyết, Adrenalin và Cholesteron tăng
1.3.2 GĐ2 – Giai đoạn chống đỡ (thích nghi hay phản kháng)
Cá nhân bắt đầu đề kháng với yếu tố gây stress đến mức độ stress trở thành phù hợp với đáp ứng và đề kháng có thể gia tăng theo tiêu chuẩn Cơ thể bắt đầu bị tràn ngập bởi cảm giác mệt mỏi, lo âu và căng thẳng Sự đối chọi của cơ thể có thể dẫn đến các rối loạn nho nhỏ (đau đầu, đau đớn) và các rối loạn này dịu lại nếu đương sự thích nghi được
- Chịu đựng hay cam chịu (enduring)
- Lẩn tránh hay bỏ chạy (fight)
- Bùng nổ hay trút cơn thịnh nộ (howling)
- Chống cự hay đối đầu (fight or coping)
1.3.3 GĐ3 – Giai đoạn kiệt sức (Stress bệnh lý)
Nếu các tác nhân có tính chất nghiêm trọng thì cơ thể sẽ trở nên suy yếu, khả năng thích nghi bị rối loạn, bị hao mòn, kiệt sức (burn-out), do cơ thể mất khả năng bù trừ Xuất hiện các rối loạn tâm lý (đa số là lo âu, trầm cảm) Một khi năng lượng khô kiệt, sức đề kháng bị tê liệt, cá nhân có thể bị bệnh rất nặng và có thể đưa đến cái chết Thường stress hiếm khi đi đến giai đoạn này
1.5 Năm phản ứng sinh lý thưởng gặp khi căng thẳng
Thường gặp là các rối loạn thần kinh thực vật vừa phải
Chúng thường tăng lên khi hồi tưởng lại các tình huống
stress hay khi phải đương đầu với các tình huống đó,
thường xuất hiện cùng với các rối loạn tâm thần và thường
biểu lộ trong lời than phiền về các rối loạn chức năng cơ
Trang 3938
sống dai dẳng
- ánh trống ngực, đau vùng trước tim, tăng huyết áp ở các biểu hiện giống rối loạn tim tâm căn
2.1 Từ môi trường bên ngoài
2.1.1 Cuộc sống gia đình
- Yếu tố kinh tế: nghèo túng, vỡ nợ,…
- Tình cảm: bất hòa, ly thân, ly hôn, tang chế,
2.1.2 Cuộc sống nghề nghiệp: mối quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp: bị
sa thải, thất nghiệp, công việc không phù hợp, về hưu, xung đột với đồng
- Thiếu dinh dưỡng lâu ngày
- Rối loạn bệnh lý mới xuất hiện, những bệnh lý ở giai đoạn cuối, bệnh mạn tính
2.2.2 Yếu tố bên trong
- Rối loạn về nhận thức và nhận thức sai lệch, hoặc yếu tố liên quan vô thức (giấc mộng, linh cảm,…) stress từ thời thơ ấu
- Những rối loạn cảm xúc mạnh: thất vọng, lo lắng, sợ hãi, buồn rầu, tức giận,…
Trong các điều kiện thông thường, stress là một đáp ứng thích nghi bình thường con người (Albrecht, 1979)
Trang 403.1 Các yếu tố chính
- Mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và yêu cầu xã hội, nhất là liên quan đến các vấn đề kinh tế
- Mâu thuẫn giữa cá nhân và môi trường xung quanh
- Mâu thuẫn trong đời sống cá nhân và gia đình
- Mâu thuẫn kéo dài trong công tác ở cơ quan
- Thiếu dinh dưỡng lâu ngày
- Môi trường sống và làm việc có nhiều nhân tố kích thích (tiếng ồn, ô nhiễm,…)
3.3 Những rối loạn cảm xúc mạnh
- Thất vọng
- Lo lắng