Khuynh hướng sử học của những người yêu nước đầu thế kỷ XX

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 96 - 101)

Chương 7. Sử học Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945

7.3. Khuynh hướng sử học của những người yêu nước đầu thế kỷ XX

Sự xâm lƣợc và thống trị của thực dân Pháp tất yếu gây ra sức phản kháng mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam trên mọi lĩnh vực. Sử học đã sớm trở thành một công cụ, vũ khí đấu tranh của những nhà nho tiến bộ và yêu nước vào những thập kỷ đầu thế kỷ XX.

Khi Pháp đã hoàn thành việc “bình định” và thiết lập bộ máy cai trị, nhiều nhà nho yêu nước, tiến bộ không thể trực tiếp đấu tranh vũ trang chống Pháp, đã gởi gắm tấm lòng của mình vào các bộ sử tự soạn, hy vọng thức tỉnh thế hệ trẻ tiếp tục đứng dậy đấu tranh. Có thể điểm qua một số tác giả sau:

Đặng Xuân Bảng (1828 – 1910), đỗ Tiến sĩ năm 1856, làm quan rồi bỏ về nhà mở trường dạy học, viết sách. Trong số sách về lịch sử, đáng lưu ý có Sử học bi khảo, Đơn phương danh vật bi khảo, Việt sử cương mục toát yếu, nhằm bổ sung các tài liệu cho chính sử về các mặt thiên văn, địa lý, quan chế. Ông cũng phê phán những quan điểm sai lầm của sử quan nhà Nguyễn đối với Tây Sơn “Tại sao có thể lƣợc bỏ hẳn sử tích trong khoảng 15 năm, khiến cho mai một không ai biết nữa…”.

Hoàng Đạo Thành (1838 – 1908), đậu cử nhân, làm giáo thụ rồi về nhà nghỉ, viết sách. Ông tham gia hoạt động trong phong trào Duy Tân. Sách Việt sử tân ước toàn biên của ông đƣợc in nhiều lần. Đây là loại sách giáo khoa lịch sử, trong đó ông đã mạnh dạn trình bày rõ về lịch sử phong trào Tây Sơn (tuy còn sơ lƣợc).

Lê Trọng Hàm (1872 - 1931) cùng nhóm Nam Việt đồng thiên hội (ở vùng Giao Thủy, Nam Định) biên soạn quyển Minh đô sử (tên đầy đủ là Tân đinh Nam Á Đại Minh đô đế quốc quốc sử - nghĩa là Bộ Quốc sử đƣợc viết mới của đế quốc Đại Minh đô). Sách chép lịch sử nước ta vào thời cuối Lê, đầu Nguyễn, nội dung không có gì mới vì vẫn dựa vào tài liệu, quan điểm sử học phong kiến. Song các tác giả cũng đánh giá đúng về Tây Sơn, nhƣ một triều đại hiển hách mà Quang Trung là “bậc đại hùng” vì tài năng quân sự, sự thuyết phục lòng người.

Nổi bật trong sử học Việt Nam đầu thế kỷ XX là Phan Bội Châu. Phan Bội Châu biệt hiệu Sào Nam, Thi Hán, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1867 tại thôn Sa Nam xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, con một nhà nho nghèo. Từ sớm Phan đã có nhiệt tình yêu nước. Ông là một lãnh tụ xuất sắc trong phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX.

Trong hoạt động yêu nước chống Pháp, Phan Bội Châu viết nhiều sách văn học, sử học, triết học “cốt để vận dụng kinh nghiệm và kiến thức đời trước vào chính trị cứu nước”, “lấy câu chuyện và nhân vật lịch sử làm tỉ dụ để giáo dục một tư tưởng, một đường lối”.

Sách sử của Phan Bội Châu có nhiều thể loại với những nội dung khác nhau.

- Các quyển Song Tuất lục, Hà Thành liệt sĩ truyện ghi chép về lịch sử một phong trào cụ thể.

- Các quyển Kỷ niên lục, Sùng bái giai nhân, Hoàng Phan Thái, Việt Nam nghĩa liệt sử chép về cuộc đời hoạt động và thành tích chiến đấu của những anh hùng xả thân cứu nước.

- Việt Nam vong quốc sửViệt Nam quốc sử khảo là những tác phẩm sử học có giá trị và tác dụng lớn trong phong trào yêu nước chống Pháp.

Việt Nam vong quốc sử nói về lịch sử mất nước Việt Nam. Sách gồm 4 phần chính:

Nguyên nhân và sự thật về Việt Nam mất nước; tiểu truyện các chí sĩ đã hy sinh để cứu nước không thành; chính sách làm ngu tối, nghèo khổ người Việt Nam của thực dân Pháp; tương lai của Việt Nam sẽ ra sao.

Việt Nam vong quốc sử là một bản cáo trạng đanh thép đối với tội ác của bọn Pháp cướp nước và ca tụng lòng yêu nước, chí khí anh hùng của các nghĩa sĩ chống Pháp mưu cầu độc lập, tự do cho đất nước.

Việt Nam quốc sử khảo chép đầy đủ, có hệ thống lịch sử nước ta, từ đời các vua Hùng đến khi mất vào tay Pháp (đến cuối thế kỷ XIX) sách gồm 10 chương.

- Tổ quốc chúng ta (Vua Hùng dựng nước và hai lần trung hưng: Ngô Quyền và Lê Lợi).

- Nhân khẩu, Địa lý – sản vật.

- Những thời đại biến chuyển.

- Sự thịnh suy của nhân quyền và dân trị.

- Những vị anh hùng thời trước chống ngoại xâm, mưu độc lập.

- Các vĩ nhân, văn sĩ.

- Sự gian khổ trong việc kinh lý Chiêm Thành và các xứ Man mới nơi biên giới.

- Sự khuất phục về ngoại giao của các triều đại.

- Đầu đuôi mối quan hệ giữa nước ta với người châu Âu.

Qua một số tác phẩm lịch sử chủ yếu nêu trên, Phan Bội Châu thể hiện quan điểm sử học khác tất cả các sử thần phong kiến trước kia. Nếu sử gia phong kiến biên soạn lịch sử là để nêu tấm gương cho người đời nay noi theo mà phục vụ vương triều thì Phan Bội Châu với tư cách là người yêu nước xem sử học là một công cụ, một vũ khí đấu tranh đem lại độc lập cho đất nước. Vì vậy, một nội dung chủ yếu trong sách sử của Phan Bội Châu là mô tả những hành động anh dũng vì dân, vì nước của những bậc anh hùng dân tộc trong công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Có thể rút ra một số quan điểm sử học của ông:

Thứ nhất, theo Phan Bội Châu lịch sử không phải là lịch sử của vua chúa, quan lại mà trước hết là lịch sử công cuộc xây dựng đất nước, mở mang bờ cõi, bảo vệ chủ quyền.

Qua Việt Nam quốc sử khảo và Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu không quy lịch sử của đất nước (Quốc sử) cho lịch sử một gia đình, dòng họ (gia sử, sử triều đại). Vì vậy ông khẳng định: “Xét theo sử đều gọi Lê Tổ là Thái tổ, là đức tổ sáng nghiệp. Nay tôi gọi là Tổ trung hƣng, kẻ thức giả sẽ trách mắng tôi. Nhƣng đây tôi bàn về Quốc sử. Quốc sử sao lại theo lẽ gia sử đƣợc? Lấy riêng một nhà Lê mà nói thì Lê tổ là Thái tổ và là tổ nghiệp. Lấy cả nước Nam mà nói thì Lê tổ là Trung hưng lần thứ hai”. Qua đó chúng ta nhận thấy Phan Bội Châu đã tiếp cận đến quan điểm lịch sử là lịch sử của quần chúng nhân dân, một quan điểm khá mới mẻ lúc bấy giờ ở nước ta.

Tư tưởng này đã thể hiện trong nhiều tác phẩm của Phan Bội Châu, khi ông hô hào đồng bào phải hợp quần với nhau để cùng nhau đánh Pháp cứu nước. Bởi vì ông ý thức rằng nhân dân là một trong ba yếu tố lớn hợp thành một quốc gia: “đất đai, nhân dân và

98

chủ quyền”. trong ba yếu tố đó, nhân dân là yếu tố căn bản nhất không thể thiếu đƣợc, vì có nhân dân mới giữ được đất nước và giành được chủ quyền đang nằm trong tay bọn xâm lược: “Một Trưng Vương mà không có ngàn vạn Trưng Vương vô danh làm vây cánh, một Mai Hắc Đế mà không có hàng vạn Mai Hắc Đế đồng tâm góp sức thì nước ta sao khỏi chia thành quận huyện”.

Sức mạnh của quần chúng mà Phan Bội Châu ý thức đƣợc ở trong lịch sử đã trở thành những lời kêu gọi tha thiết, thành hành động trong cuộc sống. Sau khi chỉ trích những người chỉ lo ăn chơi, không dám đấu tranh, “mòn mỏi tiêu ma, hấp hối đợi chết nhƣ chó chết đói, nhƣ cá chết cạn, rồi cũng đến chết nhƣng chết vô danh…”, Phan Bội Châu chỉ con đường đấu tranh: “Huống chi lấy cái số nhiều 25 triệu dân, nếu mà thực đồng tâm hiệp lực, kẻ này nắm tay người kia, người kia xòe ngón, người thổi lửa kẻ chất rơm, tất cả đều bước lên cùng đấu tranh với người Pháp, nghìn người Việt tất có thể giết được mười người Pháp, muôn người Việt tất có thể giết được trăm người Pháp, bốn năm nghìn người Pháp, chỉ cần bốn năm vạn người Việt Nam giết đi, thì cái bọn mắt mờ râu quăn kia quyết không thể cùng sống chung với người Việt Nam được”.

Thứ hai, từ xác định đối tƣợng sử học, Phan Bội châu đã khái quát nhận thức, kinh nghiệm của mình thành câu trả lời có tính chất phương pháp luận về vấn đề “vì sao phải học lịch sử”. “Học lịch sử để làm gì?”

Phan Bội Châu khẳng định sự cần thiết phải học lịch sử:

“Quốc sử ở một nước cũng như gia phả ở một nhà. Nhà mà có gia phả thời con cháu mới biết cao tằng khảo tông của nhà mình. Nước nhà có sách sử thời dân trong nước mới biết công lao khó nhọc về sự nghiệp khai sáng của tiền nhân mà sinh mối cảm tình mật thiết. Nếu con cháu mà quên gia phả, thời chắc là bất hiếu. Dân trong nước mà không biết Quốc sử thời chắc dân nước ấy là dân vong quốc tổ…”. Tuy chú trọng việc học quốc sử, song ông cũng không bác bỏ học lịch sử nước ngoài, chỉ có điều là chỉ biết việc nước ngoài mà không hiểu lịch sử nước ta là: “Tục ngữ có câu: “Phật trong nhà, cầu Thích Ca ngoài đường”. Tôi không dám bảo ngoài đường không có Thích Ca, hay Thích Ca ngoài đường là không bổ ích cho ta. Nhưng theo nguyên lý của loài người, tất phải biết Phật trong nhà đã. Phật trong nhà mình là ai, chính là những tiền nhân ở trong sử nước ta, mà là người có công đức với nòi giống, dòng họ ta”.

Thứ ba, khi xác định phải học sử ta, Phan Bội Châu nêu rõ học sử là để giáo dục truyền thống dân tộc, đặc biệt là lòng yêu nước. Trong Việt Nam Quốc sử khảo sau khi được giới thiệu toàn diện về đất nước, con người, lịch sử dân tộc, ông kết luận: “Đáng yêu thay! Thật là tấc đất tấc vàng những thứ mà tiên vương, hiền nhân để lại cho con cháu thật là vô cùng phong phú. Địa hình thì hiểm trở nhƣ vậy, địa sản thì phì nhiêu nhƣ vậy, hiện tại không có vốn để làm bá vương mà lại chực làm nô lệ suốt đời sao!”

Theo Phan Bội Châu, học sử phải làm sao cho mọi người không thể ngồi im nhìn quân thù giày xéo quê hương mà đứng lên tranh đấu:

Phải học tập truyền thống lịch sử dân tộc qua tìm hiểu lịch sử, vì Phan Bội Châu đã vạch rõ dân tộc Việt Nam “không phải là những kẻ cúi đầu cúi cổ, cam chịu nô lệ mãi mãi, có bản tính chống ngoại xâm” (Việt Nam Quốc sử khảo). Trong số những anh hùng ấy “có người đánh giặc mà chết, có người mạo hiểm mà chết, có người chết để thực hiện chí mình” (Việt Nam nghĩa lật sử).

Từ cơ sở ấy, chúng ta nhận thấy Phan Bội Châu đã rút ra bài học để hình thành một quan niệm mới về chủ nghĩa anh hùng. Đó không phải là sự liều mạng mà biết hành động khôn ngoan theo các bậc tiền nhân, đƣợc ghi chép lại trong lịch sử. Phan Bội Châu đã

khuyến cáo học gương Trần Hưng Đạo “lập công lớn, dẹp yên được giặc mạnh là nhờ ba điều: a. Lòng nhiệt thành, b. Có kiến thức, c. Có nhân cách cao thƣợng” (Việt Nam Quốc sử khảo). Học tập Lê Lợi: “Vị anh hùng bậc nhất trong nước ta” để rút ra bài học về việc thắng lợi là do “một là nhân hòa, hai là khéo dụng mưu, ba là kịp cầu tài” (Việt Nam Quốc sử khảo).

Phan Bội Châu cho rằng học sử phải làm cho phong trào yêu nước, cách mạng phát triển, nhằm đánh đuổi Pháp giành độc lập, rồi để lại bài học cho con cháu đời sau, làm cho truyền thống dân tộc luôn luôn sống trong các thế hệ tiếp nhau của lịch sử.

Thứ tư, Phan Bội Châu qua nhiều tác phẩm của mình đã có một quan niệm khá đúng đắn về người anh hùng, về vai trò cá nhân trong lịch sử, bên cạnh việc thừa nhận vai trò to lớn của quần chúng nhân dân. Đây là một bước tiến trong nhận thức lúc bấy giờ.

Phan Bội Châu đã sớm thấy đƣợc mối liên hệ giữa anh hùng và quần chúng. Nói về Lê Lợi “Nếu không có ức triệu anh hùng vô danh khác lôi kéo để thúc đẩy giúp đỡ cho thì vị anh hùng lỗi lạc đó cũng không thể thành công đƣợc” (Việt Nam Quốc sử khảo).

Do đó Phan Bội châu rất coi trọng vai trò của nhân dân trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. So với sử thần phong kiến thì quan điểm này đã hơn hẳn và càng đi gần đến nhận thức đúng đắn về vai trò quyết định của quần chúng nhân trong lịch sử.

Từ quan niệm nhƣ vậy, Phan Bội Châu mới xác định đƣợc đối tƣợng của sử học nhƣ đã nêu trên: Không phải là công việc của vua quan mà là những hoạt động trong xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân cả nước. Theo ông, “làm sử một nước không phải làm sử một nhà; phải phân biệt rõ rệt Quốc sử với gia sử” (Việt Nam Quốc sử khảo).

Thứ năm, Phan Bội Châu là người đầu tiên của nước ta nhìn thấy sự vận động và phát triển của lịch sử. Ông đã nêu lên các thời đại tiến hóa trong lịch sử nước ta, thời đại sau cao hơn thời đại trước. Đó là: Thời đại động vật, Thời đại từ động vật sang dã man, Thời đại dã man, Thời đại từ dã man sang khai hóa, Thời đại khai hóa và Thời đại từ khai hóa xu hướng lên văn minh.

Sự phân kỳ lịch sử như trên chưa có cơ sở khoa học thật sự, song là bước phát triển so với nhận thức lịch sử phát triển do “ý trời” dường như dậm chân tại chỗ.

Phan Bội Châu thấy được sự vận động của lịch sử: nước ta từ nhà Đinh đến nhà Nguyễn tuy có bước phát triển, nhưng vẫn nằm trong “thời đại dã man”. Song lịch sử không ngƣng trệ mà phải vận động để thoát khỏi “tình trạng dã man” nay với sự xuất hiện của các nhà canh tân đất nước. Đó là Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ và nhiều người khác. “…đã giồng cái mầm khai hóa trước tiên”. Họ đã góp phần chuyển nước ta từ thời đại dã man sang thời đại khai hóa và ông khẳng định rằng, bao giờ nước ta độc lập hoàn toàn thì mới có văn minh thật sự”.

Phan Bội Châu dựa vào sự vận động của lịch sử đã tiên đoán rằng: “Người nước ta đã khai hóa rồi thì đoàn thể ngày càng đƣợc củng cố, trình độ càng đƣợc nâng cao…”

nước ta sau vài chục năm hoặc một vài kỷ (một kỷ là 12 năm) nữa sẽ là thời kỳ hèn yếu qua đi, thời kỳ lớn mạnh sẽ đến chăng? (Việt Nam Quốc sử khảo). Cũng theo quan niệm này, ông phân ra các thời đại: “Thời đại chủ quyền mười phần hoàn toàn”, Thời đại chủ quyền còn một nửa chƣa toàn vẹn”, “Thời đại chủ quyền có cũng nhƣ không”, “Thời đại chủ quyền hoàn toàn thuộc về người khác” và tất yếu sẽ đến “thời đại mà chủ quyền trở về ta”. Cách phân kỳ theo tiêu chí “chủ quyền dân tộc” cũng có ý nghĩa đối với lịch sử nước ta mà chúng ta cũng có thể tham khảo để hiểu rõ sự phát triển của lịch sử.

100

Thứ sáu, trong viết sử Phan Bội Châu rất coi trọng công tác tƣ liệu, bao giờ cũng chú thích rõ ràng, chỗ nào chƣa rõ thì chua “còn đợi xét”. Khi dẫn tài liệu cũ đáng tin cậy thì ghi “sử chép rằng”. Tuy nhiên viết sử phục vụ cuộc đấu tranh chính trị kịp thời, cho nên có những lúc ông chƣa khảo sát, xử lý đầy đủ tài liệu nên còn sai sót, thiếu chính xác.

Với quan niệm tư tưởng và thành tựu nghiên cứu lịch sử cũng như các tác phẩm văn học có chủ đề lịch sử (Trùng Quang tâm sử), Phan Bội Châu đã đóng góp lớn cho sự phát triển của sử hoc Việt Nam. Có thể nói ông là tiêu biểu cho một khuynh hướng sử học mới ở nước ta vào đầu thế kỷ XX. Đó là khuynh hướng dân chủ tư sản. Điều quan trọng đáng lưu ý là Phan Bội Châu đã dùng sử học để thức tỉnh đồng bào đánh giặc cứu nước.

Vào đầu thế kỷ XX, Đông kinh nghĩa thục cũng có nhiều đóng góp vào việc biên soạn, giảng dạy lịch sử dân tộc.

Lịch sử dân tộc là một nội dung quan trọng trong chương trình giảng dạy và hoạt động của nhà trường. Nhiều sách giáo khoa lịch sử, địa lý được biên soạn như Nam Quốc giai sự, Nam Quốc vĩ nhân, Quốc sử giáo khoa, Nam Quốc địa dƣ, Bài ca địa dƣ và Lịch sử nước nhà. Để xác định nội dung và giá trị lịch sử trong một số tác phẩm và những hoạt động trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục của Đông kinh nghĩa thục, chúng ta cần tìm hiểu tổ chức này.

Đông kinh nghĩa thục là một trường tư thục, được một số nhà yêu nước như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền… lập ra ở Hà Nội (1907). Theo giấy phép của nhà cầm quyền Pháp, Đông kinh nghĩa thục là một trường học, cũng là cơ quan trung tâm của xu hướng cải cách của Bắc Kỳ. Tổ chức này lại do những sĩ phu yêu nước tiến bộ tổ chức nên nó cũng có xu hướng giáo hóa dân chúng để mở mang dân trí là tiền đề cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Mục đích là truyền bá tri thức, phát triển văn hóa dân tộc, cổ động lòng yêu nước. Trường bị thực dân Pháp đóng cửa vào tháng 12 năm 1907.

Trong chương trình dạy học của Đông kinh nghĩa thục, ngoài các môn “Cách trí”, Toán pháp”, “Văn chương”, “Địa lý”, “Công dân giáo dục”, Thể thao, thể dục”, môn Lịch sử có một vị trí quan trọng. Tri thức lịch sử đƣợc kết hợp chặt chẽ với tri thức nhiều môn học khác để làm cơ sở cho việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các tầng lớp nhân dân, nhƣ quyển Luân lý giáo khoa (tân đỉnh), có ý nghĩa là “sách giáo khoa luân lý có sửa chữa (ngụ ý khác với luân lý cũ) nhằm giáo dục đạo đức tư cách của người dân trong thời kỳ mới, đã đƣợc xây dựng trên cơ sở những hiểu biết về “quốc thể”, về đất nước, gia đình, xã hội, loài người. Điều này giúp cho mọi người hiểu rằng: Nước Nam ta, từ khi có họ Hồng Bàng dựng nước, lập biên cương, cai trị lãnh thổ này, đời nọ kế tiếp đời kia, nhân dân ta thấm nhuần ơn sâu của Tổ quốc, lần lên đến tận ngọn nguồn ai mà không tỏ lòng tôn kính (trích theo Văn thơ Đông kinh nghĩa thục).

Trong Quốc dân độc bản, Quốc văn tập độc, cũng tìm thấy nhiều kiến thức lịch sử như “nguồn gốc xã hội”, “Nước ta lập quốc từ xưa”, Nước ta khai hóa rất sớm”, “Nỗi bi thảm của quốc gia không được độc lập”… Đây là cơ sở để giáo dục lòng yêu nước.

Những nội dung nhƣ vậy có tác dụng giáo dục nhân dân rất lớn, khiến cho bọn thực dân phải lo lắng, bởi vì “không còn là một chuyện hoang đường khi khẳng định rằng Đông kinh nghĩa thục là một cái trung tâm phiến loạn”, nhƣ lời nhận định của viên thống đốc Bắc Kỳ lúc bấy giờ.

Đông kinh nghĩa thục coi trọng việc học tập lịch sử, xem nhƣ là nghĩa vụ thứ nhất hiện nay. Nôi dung các sách sử nổi bật tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc, song cũng lưu ý đến việc tìm hiểu lịch sử thế giới để mưu cho xã hội cải lương, thuận với xu thế thời vận, chuyển nghèo ra giàu, đổi yếu thành mạnh.

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 96 - 101)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)