Chương 5. Sử học thế giới thời hiện đại
6.2. Sử học thời Lý – Trần
Năm 1010, nhà Lý thành lập, để củng cố, xây dựng một quốc gia độc lập tự chủ, việc gầy dựng và phát triển nền văn học, sử học đƣợc đặt ra. Nhà Lý chăm lo mở mang việc học tập và khoa cử để tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước. Năm 1070, nhà Lý dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử, Tứ Phối cùng Thất Thập Nhị Hiền, mở Quốc Tử giám làm nơi học tập của con em quý tộc quan lại. Năm 1075, Nhà Lý mở khoa thi đầu tiên chọn nhân tài. Nội dung học tập dựa vào Tứ Thƣ, Ngũ Kinh, Bắc sử. Lịch sử dân tộc vẫn chƣa đƣợc biên soạn, mặc dù đã có các sử quan chuyên ghi chép các sự kiện xảy ra trong triều đình và trong nhân dân. Tuy nhiên, trong “Việt điện u linh” đã mấy lần nhắc đến quyển “Sử ký” của Đỗ Thiện, khi chép về Phạm Cự Lượng, Mục Thận, Trương Hống, Trương Hát, Cao Lỗ… Sách “Lĩnh Nam chích quái” cũng vài lần nhắc đến “Sử ký” của Đỗ Thiện trong các truyện Hai Bà Trƣng, Triệu Quang Phục.
6.2.2. Sử học thời nhà Trần
Nhà Trần tiếp tục công cuộc dựng nước đã có nền tảng vững chắc từ thời nhà Lý, tiếp tục xây dựng Nhà nước trung ương tập quyền vững mạnh về các mặt, trong đó có giáo dục. Nhờ đó, quân dân nhà Trần đã ba lần đánh bại quân Nguyên-Mông.
Việc xây dựng đất nước và chiến thắng huy hoàng trong sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống tinh thần của nhân dân. Tinh thần độc lập mạnh mẽ, ý thức tự hào dân tộc sâu sắc thể hiện rất rõ trong việc tổ chức biên soạn lịch sử dân tộc.
Dưới thời Trần, trong bộ máy Nhà nước đã có Viện Quốc sử. Đây là cơ quan quốc gia chuyên lo việc sưu tầm và biên soạn lịch sử dân tộc. Nhiều nhà sử học nổi tiếng đã xuất hiện.
Nhà sử học Lê Văn Hưu với bộ Đại Việt sử ký
Lê Văn Hưu sinh năm 1230 mất năm 1322, người làng Phủ Lý Nam, xã Thiệu Trung, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 18 tuổi, Ông đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ, đệ nhị danh (Bảng nhãn). Ông đã từng làm Kiểm pháp quan (chức quan tƣ pháp, giữ hình luật) rồi Binh bộ thƣợng thƣ, sung chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Quốc sử viện Giám tu.
Lê Văn Hưu biên soạn xong bộ Đại Việt sử ký vào năm 1272 đời vua Trần Thánh Tông. Bộ sử này gồm 30 quyển chép từ đời Triệu Võ Đế (Triệu Đà) đến năm đầu của Lý Chiêu Hoàng (từ năm 207 TCN đến năm 1225). Bộ sử này không còn nữa, nhƣng nội dung chủ yếu của bộ sử đƣợc các nhà sử học đời Lê: Ngô Sĩ Liên, Vũ Quỳnh, Phạm Công Trứ, Lê Hy chép lại trong bộ Đại Việt sử ký toàn thƣ. Nhờ đó ngày nay chúng ta hình dung khá đầy đủ về bộ sử có giá trị này.
72
Đại Việt sử ký toàn thƣ, bản Chính Hòa khắc in năm 1697 trong phần Bản kỷ từ quyển 1 đến quyển 4 chép sử từ kỷ họ Triệu đến hết nhà Lý (từ năm 207 TCN đến năm 1225). Qua Đại Việt sử ký toàn thƣ in năm 1697 cho thấy đƣợc nội dung chủ yếu bộ sử Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu gồm: “sự tích của các triều đại” và “việc” của các triều đại, phần “lệ” hay “nghĩa lệ” đó là những quy định, phép tắc phải thực hiện nhƣ việc quy định nhà vua mới chết, chƣa an táng thì gọi là “đại hành” khi đã an táng rồi mới đặt tên thụy cho nhà vua v.v… Một nội dung quan trọng khác trong Đại Việt sử ký là những lời bình luận (khen, chê). Trong Đại Việt sử ký toàn thư có 30 đoạn ghi rõ “Lê Văn Hưu viết”, trong đó có 6 lời khen và 19 lời chê nhƣ khen Trƣng Trắc, Trƣng Nhị dựng nghiệp bá vương, khen Sĩ Nhiếp là người trí, khen Ngô Quyền nối lại được chính thống nước Việt… Chê Dương Tam Kha phản nghịch, chê Đinh Tiên Hoàng lập 5 Hoàng hậu…
Về phương pháp chép sử, Lê Văn Hưu chép theo phương pháp biên niên kết hợp với phương pháp sưu tầm tài liệu thực tế, noi gương Tư Mã Thiên đi xem phong thủy ở các nơi. Nhờ đó, Ông đã thu lƣợm thêm và chỉnh lý các tài liệu lịch sử, các hình thế sông núi và các địa điểm có liên quan đến các sự kiện lịch sử cần thiết.
Theo Lê Văn Hưu, những truyền thuyết về Hùng Vương và Âu Lạc là chuyện hoang đường, không có cứ liệu đáng tin cậy. Về lịch sử thời nhà Lý, Lê Văn Hưu bỏ qua nhiều phần thuộc về quy chế tổ chức quan lại, thuế khóa mà chỉ chú trọng đến những sự việc có liên quan đến đời sống và hoạt động của vua quan.
Khi đƣa các sự kiện trên vào Đại Việt sử ký toàn thƣ để biên soạn lại lịch sử, Ngô Sĩ Liên đã nhận thấy nhiều chỗ giải thích chƣa thỏa đáng.
Mặc dù có những thiếu sót, Đại Việt sử ký vẫn là bộ sử quan trọng đầu tiên của nước ta, không khác gì bộ Sử ký của Tư Mã Thiên đối với lịch sử Trung Quốc. Lê Văn Hưu là người đặt nền móng cho sự hình thành nền sử học dân tộc và xứng đáng được đời sau tôn là “người cha của nền sử học Việt Nam”. Bởi vì: khi nói Đại Việt sử ký giữ vai trò mở đầu cho nền sử học nước ta, không chỉ hàm ý về mặt thời gian mà còn muốn nhấn mạnh rằng: Đại Việt sử ký toàn thư thực sự là công trình khai phá, mở đường cho những bước đi tiếp theo của sử học Việt Nam trên nhiều phương diện như sử liệu, nội dung tư tưởng, phương pháp chép sử, về mục đích của sử học và cả về quan niệm của người viết sử nữa.
Nhà sử học Hồ Tông Thốc với các bộ sử Việt sử Cương mục và Việt Nam thế chí.
Hồ Tông Thốc quê ở Nghệ An, chƣa rõ năm sinh, năm mất. Ông đỗ Trạng nguyên khoảng năm 1370 – 1372, đƣợc trao chức Học sĩ Viện Hàn lâm. Khi Hồ Quý Ly lên ngôi vua, ông xin về nghỉ và mất ở quê nhà. Ông viết nhiều sách, song nay thất lạc nhiều.
Về lịch sử, ông có quan niệm đúng đắn về phương pháp biên soạn, được trình bày trong bài tựa sách Việt Nam thế chí. Ông phê phán việc sửa chữa tùy tiện lịch sử dân tộc và cho rằng phải bình tĩnh suy xét. Vì lịch sử thời xƣa rất hỗn mang, phức tạp mà sự hiểu biết về thời kỳ này còn lại quá ít, lại nặng về truyền thuyết, hoang đường. Vì vậy theo ông, tốt nhất là thu thập tài liệu quá khứ qua những lời truyền miệng, đặc biệt của người già, sưu tầm các di tích, phân tích xác minh các tài liệu phần nào đã được ổn định ở các đền miếu. Tư liệu sưu tập được, xếp chọn theo loại để nối thành kỷ. Ông dành quyền phán xét cho độc giả và mong chờ cho mọi người góp ý. Ngô Sĩ Liên đánh giá Việt sử Cương mục của Hồ Tông Thốc là “chép việc cẩn thận mà vẫn giữ được khuôn phép, luận việc thiết mà không thừa:. Ngoài ra, có thể nói Hồ Tông Thốc là người đầu tiên ở nước ta đề cập đến một số vấn đề có tính chất lý luận về mối quan hệ giữa văn học dân gian và lịch sử thời cổ đại.
Bộ Việt sử Cương mục hiện nay không còn nữa. Bộ Việt Nam thế chí ghi lại những gì tác giả nghe đƣợc, không thêm thắt bịa đặt. Hiện nay sách cũng không còn. Theo An Nam chí lược của Lê Tắc thì bộ này do Trần Tấn soạn, Lê Văn Hưu sửa, gồm hai tập.
Tập một chép lịch sử 18 đời Hùng Vương, tập hai chép lịch sử thời Triệu.
Tác phẩm Việt Sử lược ra đời vào khoảng sau năm 1377. Hiện nay có người cho rằng, tác giả sách là Sử Hy Nhan. Sách bị đem về Trung Quốc khi Trương Phụ sang đánh cướp nước ta. Sau đó, Tuần phủ Sơn Đông (Trung Quốc) phát hiện được dâng cho vua Thanh. Đến đời vua Càn Long (1730 – 1796), sách đƣợc hiệu đính và in trong Khâm định tứ khố toàn thư, lấy tên Việt sử lược nhằm “Bổ khuyết cho phần truyện nước ngoài của hai quyển sử Tống – Nguyên đang còn chƣa đầy đủ”, song thực chất là để tìm hiểu về địa lý, lịch sử Việt Nam, phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lƣợc của nhà Thanh.
Việt sử lược gồm 3 quyển: quyển 1 chép về lịch sử từ buổi đầu Hùng Vương, An Dương Vương cho đến triều Lê. Quyển 2 và quyển 3 chép từ đời Lý Công Uẩn đến Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Phần đầu của sách rất sơ lược, ở các phần sau lại có nhiều đoạn giống hệt Đại Việt sử ký toàn thƣ sau này. Do đó có thể đoán đƣợc rằng, Việt sử lƣợc đã chép tóm tắt (có những đoạn nguyên văn) Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu.
Việt sử lược đã miêu tả khá chi tiết (tuy có nhiều nét hoang đường) phong tục, tâm lý người Việt Nam thời Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và Đạo giáo trong xã hội.
Những phần nhƣ vậy không đƣợc ghi lại trong Đại Việt sử ký toàn thƣ. Việt sử lƣợc còn có những sử liệu chi tiết sinh động về cảnh sinh hoạt sa đọa của Lê Ngọa Triều, việc Đàm Cam Mộc thuyết phục Lý Công Uẩn lên ngôi, việc Lý Thường Kiệt đánh châu Ung phá âm mưu xâm lược Việt Nam của nhà Tống.
Việt sử lƣợc thể hiện lòng tự hào dân tộc, lòng mong muốn giữ gìn những giá trị tinh thần, văn hóa của nhân dân từ thuở xa xƣa. Đặc biệt tác giả tỏ lòng ngƣỡng mộ Lê Văn Hưu và Đại Việt sử ký, có ý thức góp phần lưu giữ tài liệu lịch sử cho con cháu.
Vào khoảng năm 1333, Lê Tắc viết An Nam chí lược, Lúc bấy giờ ông đang sống ở Trung Quốc thuộc triều Nguyên. An Nam chí lƣợc ghi lại một số sự kiện về các quan lại, phong tục tập quán, công bố nhiều thư từ giữa nước ta và Trung Quốc xưa. An Nam chí lược giúp người đọc hiểu một phần về tình hình thời Lý – Trần, lịch sử đạo Phật, các nhà sƣ…
Ngoài ra, lúc bấy giờ còn có các quyển Thiền uyển tập anh ngữ lục và Tam tổ thực lục liên quan đến lịch sử đạo Phật.
Thời Trần có các bộ Thực lục về các đời vua. Đời Trần Anh Tông, Đoàn Nhữ Hài đã đốt bỏ bản thảo thực lục cũ mà viết bộ mới. Những tập thực lục này là cơ sở để Phan Phu Tiên (thời Lê sơ) viết ra Đại Việt sử ký tục biên. Bộ Trung hƣng thực lục chép sự tích công trạng các danh tướng của nhà Trần trong kháng chiến chống Nguyên. Bộ thực lục của Nguyễn Trung Ngạn viết về sự nghiệp đánh Ai Lao của Trần Minh Tông.
Ở thời Trần còn có một nguồn tài liệu rất phong phú đƣợc khai thác trong kho tàng thần thoại và truyện cổ dân gian liên quan đến sự tích phi thường của những anh hùng dựng nước và giữ nước.
Việt điện u linh tập được Lý Tế Xuyên viết vào đời Khai Hựu (1329 – 1341) ghi lại sự tích một số thần trong thần thoại cổ và một số anh hùng dân tộc nhƣ Bố Cái đại vương, Thái úy Trung phụ dưỡng vũ uy thắng công Lý Thường Kiệt. Tản Viên hiệu thánh Khuông quốc hiển ứng vương. Tuy không thoát khỏi màu sắc hoang đường, song
74
tác phẩm đã thể hiện lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và những chiến công của các anh hùng dân tộc. Có thể gạn lọc trong các truyện này một số chi tiết lịch sử trung thực. Nói về Bố cái đại vương, Lý Tế Xuyên viết: Trong đời Đại Lịch nhà Đường (766 – 779), bên ta rối loạn, Vương cùng em đem binh đi chinh phục được khắp các vùng…
Quan đô hộ tên là Cao Chính Bình đem quân đón đánh, bị thua, lo quá phát bệnh chết.
Vương vào phủ Đô hộ giữ quyền trị dân được bảy năm thì mất”.
Nhiều truyền thuyết dân gian khác cũng được Trần Thế Pháp sưu tầm và biên soạn.
Đó là cơ sở để Vũ Quỳnh và Kiều Phúc đời Lê sơ biên soạn lại trong Lĩnh Nam chích quái.
Nhìn lại sử học Việt Nam thời Lý – Trần đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển, gắn liền với thời kỳ phát triển của văn hóa Đại Việt. Tầng lớp nho sĩ ngày càng giữ vị trí quan trọng trong xã hội, trở thành đạo quân chủ lực của dòng sử chính thống với những bộ Quốc sử do Viện Quốc sử của triều đình tổ chức biên soạn. Ngoài ra một số nho sĩ sống gần gũi nhân dân cũng đóng góp vào sự phát triển của sử học nói riêng, của văn hóa Đại Việt nói chung. Những tác phẩm và tác giả lịch sử có liên quan nói trên thực sự đặt cơ sở cho sự ra đời của nền sử học Việt Nam.