Chương 7. Sử học Việt Nam từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945
7.4. Khuynh hướng sử học mác-xít ở Việt Nam
Những biến chuyển sâu sắc trong xã hội Việt Nam do chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp làm sớm nảy sinh một giai cấp mới, giai cấp vô sản. Mâu thuẫn xã hội gay gắt, cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp diễn ra mạnh mẽ. Trong điều kiện lịch sử ấy, Nguyễn Ái Quốc trong quá trình tìm đường cứu nước đã gặp tư tưởng Cách mạng tháng Mười, gặp chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Người đã tiếp thu chủ nghĩa xã hội khoa học và có công truyền bá vào Việt Nam. Khi nghiên cứu, học tập và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê-nin cho nhân dân ta, Nguyễn Ái Quốc càng nhận thức về sự cần thiết phải hiểu biết lịch sử. Bởi vì “học thuyết Mác là một sự tổng kết kinh nghiệm đã đƣợc một quan niệm triết học sâu sắc và những kiến thức rộng rãi về lịch sử soi sáng”.
Trên báo Người cùng khổ (Le Paria), báo Thanh niên, trong các bài giảng ở lớp huấn luyện Quảng Châu (Trung Quốc) cho cán bộ cách mạng Việt Nam (1925 – 1927), trong các bài viết trên nhiều báo, tạp chí khác ở Pháp, Liên Xô và trong các sách Bản án chế độ thực dân Pháp, Trung Quốc và thanh niên Trung Quốc (1925), Lịch sử nước ta (1945)… Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng tri thức lịch sử để làm vũ khí đấu tranh cách mạng.
Đồng thời Người cũng góp phần to lớn xây dựng nền móng cho sử học mác-xít ở Việt Nam.
Thật khó mà phân biệt ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh những tác phẩm nào là tác phẩm sử học thuần túy. Bởi vì biên soạn lịch sử không bao giờ là mục đích của Người.
Nhƣng tri thức lịch sử, nhất là nguyên tắc về chủ nghĩa lịch sử, quan niệm về duy vật lịch sử được trình bày và thể hiện trong mọi tác phẩm của Người. Tuy nhiên phải thấy rằng trong các tác phẩm của Hồ Chủ Tịch có những tác phẩm sử học có giá trị đặc biệt. Trên đại thể, chúng ta có thể chia công trình nghiên cứu lịch sử của Hồ Chủ Tịch làm hai loại:
Thứ nhất, những bài báo, luận văn chính trị, bài nói… có đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến những vấn đề lịch sử. Loại công trình này có tính chất cương lĩnh, được viết ra
102
do liên quan đến những nhiệm vụ cách mạng trước mắt, có những cơ sở lịch sử để nhận thức và thực hiện nhiệm vụ ấy. (Các báo cáo chính trị, một số bài báo viết vào những năm 1921 – 1926 và trong những thời gian sau đó). Loại này cũng bao gồm những công trình viết trong thời kỳ sự kiện diễn ra. Tác giả không chỉ miêu tả mà còn phân tích bản chất lịch sử của các sự kiện ấy (Nhƣ bài “Hành hình kiểu Lin-sơ” và một số bài viết trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ).
Thứ hai, những tác phẩm sử học hoặc những phần lịch sử trong một tác phẩm (nhƣ phần lịch sử trong cuốn Đường Cách mệnh, Lịch sử nước ta…)
Sau đây là một số tác phẩm tiêu biểu thuộc các loại trên về các mặt giá trị tài liệu khoa học, giá trị phương pháp luận, ý nghĩa, tác dụng đối với cuộc đấu tranh cách mạng lúc bấy giờ.
Trước hết, những vấn đề lịch sử được trình bày một cách sinh động và phong phú trong các bài báo của Nguyễn Ái Quốc viết từ năm 1921 đến năm 1926 và trong quyển Bản án chế độ thực dân Pháp và các bài báo trong các thời kỳ sau.
Nghiên cứu nhiều bài báo trong Hồ Chí Minh Toàn tập nhƣ các bài Đây công lý của thực dân Pháp ở Đông Dương và Lên án chủ nghĩa thực dân, cũng nhƣ các sách Bản án chế độ thực dân Pháp và luận văn chính trị nhƣ các Tham luận tại Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (1924), cho thấy Nguyễn Ái Quốc tập trung trình bày sâu sắc các vấn đề lịch sử chủ yếu, liên quan đến việc giải quyết những nhiệm vụ cách mạng lúc bấy giờ.
- Xã hội thuộc địa và bản chất của chủ nghĩa thực dân.
- Vấn đề áp bức chủng tộc (như vấn đề người da đen ở Mỹ) thực chất là vấn đề áp bức giai cấp.
- Phong trào cách mạng (phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân) không ngừng nổ ra ở Việt Nam, ở Đông Dương và ở nhiều nước thuộc địa khác.
- Mối quan hệ giữa cách mạng vô sản và phong trào giải phóng dân tộc.
Các vấn đề trên là những sự kiện đang diễn ra trước mắt. Vì vậy các bài báo, quyển Bản án… thực sự là những “trang lịch sử của những sự biến trước mắt”, “lịch sử sinh động hàng ngày”. Phạm vi và đề tài nghiên cứu trong các tác phẩm trên của Người có nhiều mặt, không chỉ trình bày và đánh giá các sự kiện đang diễn ra mà còn đề cập đến các sự kiện xa xƣa để cắt nghĩa nguồn gốc lịch sử của các sự kiện hiện tại và tiên đoán con đường phát triển tương lai. Có thể dẫn làm ví dụ các bài Các nước đế quốc chủ nghĩa và Trung Quốc, Đông Dương và Thái Bình Dương. Những bài báo của Hồ Chí Minh viết trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc (Tờ Thanh niên với 88 số, từ 6/1925 đến 4/1927), ở Pắc Bó (tờ Việt Nam độc lập) và từ sau Cách mạng tháng Tám. Riêng từ năm 1951 đến năm 1969, Người đã viết 1259 bài với 23 bút danh khác nhau trên báo Nhân dân. Các bài báo đều phản ánh những sự kiện lịch sử lớn quan trọng ở nước ta và trên thế giới lúc bấy giờ.
Sự nghiệp báo chí của Hồ Chí Minh hoàn toàn chứng minh luận điểm của Lê-nin rằng “Báo chí chính luận là lịch sử đương đại”. Những vấn đề lịch sử mà Người đề cập rất sâu sắc không những về tài liệu khoa học mà còn nêu đƣợc những kết luận và khái quát – lý luận về quá trình phát triển của lịch sử. Cho nên phải xem những bài báo ấy là một bộ phận trong sự nghiệp sử học của Hồ Chí Minh. Thực ra, trong số những bài báo ấy có những công trình nghiên cứu lịch sử có giá trị (nhƣ các bài Phong trào cách mạng ở Đông Dương, Cuộc kháng Pháp, Phong trào công nhân ở Viễn Đông). Có thể nói rằng Nguyễn Ái Quốc không phải là nhà báo bình thường mà là nhà báo – lý luận, nhà báo sử học. Cái vĩ đại của Nguyễn Ái Quốc-một ký giả, một nhà viết sử không phải chỉ ở chỗ
Người dùng báo chí làm công cụ đấu tranh cách mạng mà còn ở trình độ uyên bác khoa học, ở chỗ Người đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để phân tích các hiện tƣợng lịch sử, tìm sự thật lịch sử, đấu tranh chống mọi sự xuyên tạc lịch sử và góp phần xây dựng và phát triển chủ nghĩa Mác ở nước nhà để phục vụ công cuộc đấu tranh.
Ý nghĩa và tác dụng của những bài báo, quyển Bản án… của Hồ Chí Minh rất to lớn. Những bài viết trong các năm từ năm 1921 đến năm 1928 “có thể khuấy động tâm hồn của người mất nước, của người lao khổ bị áp bức, bóc lột đến như thế. Những bài báo đọc lên cứ thúc người ta hành động” (Đường Bác Hồ đi cứu nước – Bùi Lâm)
Những bài báo của Nguyễn Ái Quốc làm cho kẻ thù hết sức hoảng sợ. Thực dân Pháp đã cấm, truy lùng việc phát hành tờ Le Paria về Việt Nam. Thanh tra mật thám Đông Dương Mác-ti lúc bấy giờ xem tờ Thanh niên là “Hình ảnh trung thực về sách lược mà Nguyễn Ái Quốc đã sử dụng”. Sách lƣợc đó là gỉ? Cũng chính Mác-ti trả lời” “Trong những số đầu, nó đề cập nhiều nhất đến sức mạnh của đoàn kết… khêu gợi tinh thần độc lập, tình cảm dân tộc đặc trưng cố hữu của người An Nam. Tiếp đó nó cung cấp dần cho độc giả những lời khuyên… rút ra từ lịch sử An Nam… Lịch sử các cường quốc trên thế giới…” Nó chuẩn bị cho người đọc hiểu rằng: “Chỉ có Đảng Cộng sản mới có thể đảm bảo cho hạnh phúc của An Nam”.
Cuốn Đường Cách mệnh tập hợp những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại lớp huấn luyện cán bộ Việt Nam ở Quảng Châu (1925 – 1927). Trong đó các vấn đề lịch sử cụ thể có một vị trí quan trọng: lịch sử các cuộc cách mạng tƣ sản Mỹ, Pháp, Công xã Pa-ri, Cách mạng 1905, Cách mạng tháng Hai, Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, lịch sử ba Quốc tế và các tổ chức quốc tế của phụ nữ, Công đoàn, Thanh niên… những tài liệu về thực dân Pháp xâm lƣợc chiếm đất đai của nhân dân ta, về lịch sử hợp tác xã… Giá trị của phần lịch sử này, trước hết là một cơ sở quan trọng cho sự hình thành và phát triển của nền sử học mác-xít ở nước ta. Lần đầu tiên ở nước ta, những vấn đề lịch sử đƣợc trình bày với đầy đủ tài liệu, sự kiện, vừa dựng lại bức tranh quá khứ, vừa nêu đƣợc bản chất của nó. Đƣợc nhƣ vậy là vì Nguyễn Ái Quốc đã thu thập đƣợc nhiều tài liệu đƣợc lựa chọn chính xác, vận dụng tài tình quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào việc nghiên cứu lịch sử. Có thể dẫn ra đây một vài ví dụ:
Xuất phát từ quan điểm “dân chúng công nông là gốc của cách mệnh”, Nguyễn Ái Quốc trình bày rõ ràng trong cách mệnh tƣ sản Pháp thế kỷ XVIII nhân dân Pháp đã lên án vua và vợ con là phản quốc tặc (kẻ phản bội Tổ quốc) rồi đem ra chém. Từ đó Người đi đến kết luận khái quát, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc rằng một khi “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”. Hoặc đứng vững trên quan điểm mác-xít cho rằng đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội, Nguyễn Ái Quốc giải thích chính xác nguồn gốc của các cuộc cách mạng trong lịch sử. Cuộc cách mạng tƣ sản Pháp thế kỷ XVIII nổ ra “là vì tƣ bản mới bị tụi phong kiến ngăn trở, dân thì bị vua, quý tộc và cố đạo áp bức. Vậy nên tƣ bản mới liên hợp với học trò, dân cày và người thợ để phá phong kiến”. Còn Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười nổ ra là vì
“Tụi hoạt đầu (bọn phản bội cách mạng) và tụi tƣ bản lên cầm quyền, bao nhiêu nguyện ƣớc chung nó quên hết. Chúng cứ bắt lính đi đánh, ruộng đất cứ ở trong tay địa chủ, lò máy cứ ở trong tay nhà giàu, công nông không đƣợc dự vào chính phủ”. Sự phân tích trên hoàn toàn khác và vượt xa cách giải thích của một số người nghiên cứu lịch sử bấy giờ ở nước ta, cho rằng mọi sự thay đổi lịch sử đều do trời, hoặc nhân dân nổi lên “làm giặc là vì không thi đậu làm quan” nhƣ Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lƣợc.
104
Ở thời điểm lý tưởng cách mạng tư sản còn được một số người yêu nước của nước ta ngƣỡng mộ thì Nguyễn Ái Quốc đã thấy rõ bản chất của các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp thế kỷ XVIII là “cách mạng không đến nơi (không triệt để), tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục (tước đoạt) công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”.
Trong lúc bọn đế quốc thực dân ra sức xuyên tạc nước Nga Xô Viết thì Người đã trình bày sự thật lịch sử là “Cách mệnh nước Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ. Rồi lại ra sức cho công nông các nước và dân bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đạp đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tƣ bản trong thế giới”.
Do trình bày đúng đắn chính xác lịch sử các cuộc cách mạng tƣ sản Mỹ, Pháp và Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga nên Hồ Chí Minh mới rút ra được những bài học lịch sử quá khứ cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta lúc bấy giờ. Đây là một cơ sở quan trọng để xác định con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc.
Quyển Lịch sử nước ta là một quyển sử diễn ca, trình bày quá trình dựng nước và giữ nước với truyền thống đấu tranh oanh liệt chống bọn phong kiến Tàu, thực dân Pháp và bọn phát xít Nhật.
Cùng thể loại này trước đây đã có Đại Nam quốc sử diễn ca và trước đó nữa có Thiên Nam ngữ lục, song giá trị khoa học và tính tư tưởng của Lịch sử nước ta so với hai quyển ấy và quyển Việt Nam sử lƣợc của Trần Trọng Kim, cũng nhƣ những sách nghiên cứu mang danh Duy vật sử quan của nhóm Hàn Thuyên thì vƣợt xa. Nó đánh dấu một bước tiến mới trong nghiên cứu lịch sử nước ta và thể hiện sự thắng lợi của quan điểm mác-xít trong sử học Việt Nam.
Về mặt tài liệu khoa học, trong Lịch sử nước ta, Nguyễn Ái Quốc chọn lọc các sự kiện chính xác để khôi phục đúng bức tranh lịch sử với những nét cơ bản, đầy đủ về truyền thống yêu nước, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và giành độc lập của nhân dân ta.
Về mặt phương pháp luận, Lịch sử nước ta vận dụng một cách nhuần nhuyễn quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để giải thích các sự kiện, hiện tƣợng lịch sử, chống lại các loại tư tưởng “chính thống”, “ngụy”, thuyết “thiên mệnh” và khá nhiều quan điểm duy tâm thần bí đang đầy rẫy trong các sách sử của thực dân lúc bấy giờ. Trong Lịch sử nước ta, lịch sử dân tộc ta không còn là lịch sử các vua chúa, của sự đổi thay lần lƣợt các triều đại. Tư tưởng quần chúng là người sáng tạo, làm chủ lịch sử được thấu suốt trong việc trình bày chiến công của các tầng lớp nhân dân: từ em bé đến cụ già, từ người phụ nữ đến các anh hùng xuất thân áo vải. Hành động của quần chúng bao giờ cũng có tính chất quyết định sự phát triển lịch sử, bảo đảm mọi sự thắng lợi trong đấu tranh chống ngoại xâm:
“Vì dân hăng hái kết đoàn,
Nên khôi phục chóng gian san Lạc Hồng”.
Nét nổi bật trong Lịch sử nước ta là thái độ nghiêm minh của tác giả đối với trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn “khư khư cứ tưởng là mình khôn ngoan” để đến nỗi:
“Nay ta nước mất nhà tan,
Cũng vì những lũ vua quan ngu hèn”.
Tác giả ca ngợi công lao của những người có công với nước, dù họ xuất thân ở giai cấp phong kiến hay là những người nông dân khởi nghĩa như:
“Ông Trần Hƣng Đạo cầm đầu, Dùng mưu du kích đánh Tàu tan hoang”.
Hoặc:
“Nguyễn Huệ là kẻ phi thường, Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu”.
Cũng lần đầu tiên trong Lịch sử nước ta, Nguyễn Ái Quốc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa quần chúng nhân dân và cá nhân lịch sử. Chẳng hạn, Nguyễn Huệ thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm và lật đổ phong kiến trong nước là vì:
“Ông là chí cả mưu cao,
Dân ta lại biết cùng nhau một lòng”.
Giá trị khoa học của Lịch sử nước ta còn ở những khái quát lý luận rất sâu sắc về nguyên nhân của sự thành công và thất bại trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, về những bài học lịch sử rút ra từ quá khứ cho hiện tại, về việc đoán định sự phát triển của tương lai, về việc nhanh chóng nắm thời cơ… Đó là những vấn đề phương pháp luận quan trọng mà chúng ta cần học tập.
Ngoài giá trị khoa học, Lịch sử nước ta còn có giá trị nghệ thuật rất cao: sự kiện được trình bày một cách cô đọng, giản dị với lời thơ đẹp làm rung động lòng người. Ở đây thể hiện sự thống nhất, hài hòa giữa nhà viết sử và nhà thơ Hồ Chí Minh. Tác dụng của cuốn Lịch sử nước ta rất lớn, chỉ riêng về mặt giáo dục, giác ngộ quần chúng, nó đã tăng thêm lòng yêu nước, căm thù giặc: “Thật thế, không ai không yêu nước hơn khi biết đất nước mình giàu đẹp, không ai không căm thù giặc hơn khi biết đất nước mình bị chà đạp, dân mình bị nô lệ, không ai không dũng cảm, tin tưởng hơn khi biết được truyền thống oanh liệt, bất khuất của cha ông mình” (Lê Quảng Ba. 1965: 34).
Phân tích nội dung các tác phẩm sử học, hoặc có tính chất lịch sử của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh nêu trên, thấy rõ Người có những đóng góp cho buổi đầu xây dựng nền sử học mác-xít Việt Nam.
Về mặt phương pháp luận, Người đã cung cấp những quan niệm đúng đắn về đối tƣợng nghiên cứu lịch sử, về vai trò của nhân dân và cá nhân trong lịch sử, về nhiệm vụ, chức năng của sử học, về việc giải thích nhận định khách quan khoa học quá khứ…
Về tài liệu – sự kiện, với quan điểm duy vật lịch sử, Nguyễn Ái Quốc đã khai thác mọi nguồn tài liệu (trong sách vở cũ, trong công trình của các nhà nghiên cứu tƣ sản, tài liệu của chính phủ thuộc địa, tài liệu thực tế trong đời sống…) đã chỉnh lý, đƣa ra những sử liệu chân thực khách quan làm cơ sở cho việc trình bày đúng đắn lịch sử và nhận thức quá khứ, rút ra bài học kinh nghiệm cho hiện tại.
Về phương pháp nghiên cứu, Nguyễn Ái Quốc cũng có nhiều đóng góp quan trọng như lựa chọn tài liệu – sự kiện cơ bản, đủ để khôi phục bức tranh lịch sử, không rườm rà, chi tiết mà vẫn dựng lại quá khứ đúng như nó tồn tại. Người đã sử dụng phương pháp thống kê, toán học vào nghiên cứu lịch sử đảm bảo tính chất định lƣợng của công tác sử học.
Nguyễn Ái Quốc trước hết và chủ yếu là nhà cách mạng lỗi lạc, người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa lớn. Người cũng đóng góp nhiều cho sự phát triển sử học Việt Nam trong việc mở đầu, xây dựng nền sử học mác-xít ở nước ta. Những hoạt động cách mạng của Người từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cũng đóng góp hơn nữa cho sử học nước ta.
Cùng với những công trình của Nguyễn Ái Quốc, tài liệu văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, những luận văn của các chiến sĩ cộng sản lúc bấy giờ góp phần không nhỏ