Sự khủng hoảng của sử học tƣ sản

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 55 - 93)

Chương 5. Sử học thế giới thời hiện đại

5.2. Sự khủng hoảng của sử học tƣ sản

Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga 1917, của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, nhất là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai cũng như sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đã ảnh hưởng lớn đến sử học tư sản. Như vậy sự khủng hoảng của sử học tƣ sản là do sự phát triển của tình hình chính trị xã hội nói chung của xã hội tƣ bản nói riêng và của bản thân sử học tƣ sản.

Ở thế kỷ XIX, tầm mắt của nhà sử học còn bị hạn chế về cả không gian lẫn thời gian, họ chỉ bao quát đƣợc khoảng thời gian từ 3 đến 4 ngàn năm và phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các cuộc chiến tranh, những hoạt động của các chính phủ hoặc lịch sử văn minh. Với sự phát triển mạnh mẽ của xã hội, những phạm vi nghiên cứu này bị vƣợt qua.

Đồng thời, những thành tựu khảo cổ học đã cho con người những nhận thức mới về các nền văn minh bị thời gian che phủ, ngành Lịch sử kinh tế xã hội, một khoa học phát sinh do ảnh hưởng trực tiếp của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã mở rộng phạm vi nghiên cứu lịch sử… Tất cả đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu những quá trình phát triển cơ bản của xã hội, phân tích vai trò của quần chúng nhân dân chứ không chỉ dừng lại ở chỗ miêu tả những biến cố tách rời nhau. Sự thay đổi về đối tượng dẫn đến sự thay đổi về phương pháp. Một số sử gia tƣ sản còn tiếp tục quan niệm rằng không cần đến triết học và giới hạn nhiệm vụ của sử học ở việc sưu tầm tài liệu, sự kiện lịch sử thì không thể mở rộng được đối tượng nghiên cứu mà chỉ quanh quẩn trong việc nghiên cứu các biến cố chính trị. Sang thế kỷ XX, các nhà sử học phải mở rộng nghiên cứu đến những vấn đề kinh tế xã hội. Việc nghiên cứu lịch sử một cách toàn diện này không thể chỉ dùng phương pháp miêu tả bề ngoài, một phương pháp thịnh hành của sử học thế kỷ XIX, mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất những sự kiện lịch sử một cách khoa học và phải đứng trên lập trường duy vật biện chứng. Nhưng đa số các sử gia tư sản lại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy tâm vì họ không thể chấp nhận những thay đổi xã hội đang dẫn đến sự sụp đổ không thể tránh khỏi của chủ nghĩa tƣ bản. Chính mâu thuẫn này đã đƣa sử học tƣ sản dần tới sự khủng hoảng.

Sự khủng hoảng của sử học tƣ sản vào đầu thế kỷ XX và cho đến thập niên 60 của thế kỷ này được thể hiện trước hết ở lý luận và triết học lịch sử làm cơ sở cho việc giải thích những thay đổi to lớn trong thế giới: cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào giải phóng và độc lập dân tộc.

Ga-lê-ti (Alfredo Galletti), một học giả I-ta-li-a đã viết rằng thế kỷ XIX là thế kỷ của lịch sử, còn thế kỷ XX thì “đã làm mất đi vẻ uy vọng và tôn nghiêm vua chúa của lịch sử, đã giam lịch sử trong tu viện của sự thông thái hay biến nó thành đày tớ chính

56

trị… Không còn ai tin rằng lịch sử có thể giáo dục đƣợc điều gì, không còn ai coi nó, nhƣ xưa kia, là trường học tinh thần vĩ đại, ở đó dạy người ta suy nghĩ, dự kiến các sự kiện và điều khiển chúng” (Đỗ Thanh Bình. 2007: 139). Không chỉ một mình A.Ga-lê-ti nói lên điều này mà còn đề cập trong nhiều tác phẩm của các học giả tƣ sản khác.

Trong cuốn “Tinh thần và lịch sử”, sau khi so sánh ý thức lịch sử thế kỷ XIX với thế kỷ XX, Xi-mông (Paul Simon) cho rằng điều khác biệt chủ yếu là “con người thế kỷ XX đã mất lòng tin vào lịch sử của mình” (Đỗ Thanh Bình. 2007: 139). Xi-mông cho rằng, sở dĩ có tình trạng này là vì thế kỷ XIX là thế kỷ tương đối êm đẹp, là thời kỳ hoàng kim của văn minh tƣ sản. Trong suốt thời kỳ đó, các lề thói biến chuyển chậm chạp và không rõ rệt, luật pháp ổn định, các nguyên tắc trong mọi lĩnh vực chính trị, đạo đức, triết học, tôn giáo tỏ ra vững chắc và tự nhiên, con người sống yên với ảo tưởng, dường như họ có thể thoát khỏi sự tấn công của thời gian và cũng ít lo lắng về lịch sử của riêng mình. Họ tin vào sự ổn định của bản chất mình và cảm thấy rằng mình phù hợp với bản chất đó” (Phan Ngọc Liên. 2007: 140). Lịch sử diễn ra với họ thật lô-gic và sáng rõ. Theo Xi-mông, thế kỷ XX lại hoàn toàn khác, vì có nhiều chiến tranh, thất vọng và bi quan, dĩ nhiên là đối với giai cấp tƣ sản. Ông cho rằng, trong tiếng súng của năm 1914, niềm tin vào hiện tại và với uy lực của lịch sử đã giảm sút. Con người với nỗi lo sợ đã ý thức được rằng lịch sử không phải chỉ là quá khứ và bản thân con người cũng mất phương hướng đi về tương lai. “Đã qua rồi thời kỳ mà lịch sử là một dòng sông xinh đẹp người ta có thể chơi thuyền trên nó hoặc ngắm nó một cách thích thú từ hai bên bờ. Còn hiện tại thì lịch sử được hiểu như thực tế của nó, tức là yếu tố cuốn trôi con người như biển cả, mà ở đấy ý chí con người và sức mạnh của số mệnh cuộn vào nhau, vẽ nên một con đường hàng hải ngoắt nghéo mà mục tiêu không bao giờ biết trước và bất cứ ở đâu cũng có thể gặp tai nạn” (Phan Ngọc Liên. 2007: 140). Xi-mông đi tới kết luận rằng, con người thế kỷ XX không coi lịch sử là lô-gic mà coi lịch sử là bi kịch. Đấy là cái nhìn của giai cấp tƣ sản khi quyền thống trị bị đe dọa vì sự phát triển cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới.

Bức tranh mà Xi-mông vẽ lên, tuy chƣa đƣợc phân tích một cách khoa học, nhƣng cũng cho thấy những đặc điểm cơ bản của khủng hoảng tư tưởng lịch sử tư sản. Nó thể hiện ở chủ nghĩa bi quan, sự hoài nghi với quá khứ và mất lòng tin vào tương lai. Trước tình hình này, nhà sử học Pháp B-rô-đên (F. Braudel), trong quyển “Trách nhiệm của lịch sử”, đã thốt lên: “Đã biết bao thay đổi! Tất cả hay hầu nhƣ tất cả các biểu tƣợng xã hội, trong đó kể cả những cái gì mà mới hôm qua đây chúng ta sẳn sàng chết vì chúng không cần dài lời, đều đã mất hết nội dung… Tất cả các khái niệm lý tính đều bị bẻ cong hay đập nát… Khoa học, nơi ẩn náu và biểu tƣợng mới của niềm tin thế kỷ XIX, đột nhiên hoàn toàn thay đổi, dẫn đến một cuộc sống mới, kỳ diệu, nhƣng không ổn định, luôn luôn vận động và không thể tiếp cận. Còn chúng ta thì không nghi ngờ gì, không bao giờ có thì giờ và khả năng tiến hành cuộc đối thoại với nó. Tất cả các khoa học xã hội gồm cả sử học cũng biến chuyển theo cùng một phương hướng, tuy không rõ nhưng dứt khoát”

(Phan Ngọc Liên. 2007: 141).

Lý giải về tình trạng này, các sử gia tƣ sản đầu thế kỷ XX có nhiều ý kiến khác nhau. Ni-côn (Nichols), Giáo sƣ đại học Pennsylvania tìm nguyên nhân của tình hình này ở ảnh hưởng của vật lý học và triết học đối với sử học. C. Hô-xi (Karl Heussi), nhà sử học Đức lại cho rằng “khủng hoảng của chủ nghĩa lịch sử nảy sinh từ sự phát triển bên trong của bản thân lịch sử”. Ông cho rằng nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là sự thất vọng đối với lịch sử chính trị và quân sự sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, sự hoài nghi trước các loại tài liệu giả mạo… Như vậy, theo Hô-xi, sự khủng hoảng của tư tưởng lịch sử chỉ có tính chất ngẫu nhiên, đó là hậu quả phát sinh của chiến tranh thế giới. Pô-

vic (F.M.Powicke), nhà sử học Anh cho rằng nguyên nhân của cuộc khủng hoảng là do khoa học lịch sử lạc hậu hơn với cuộc sống. Một mặt, Pô-vic thừa nhận những thành tựu to lớn của sử học thế kỷ XX, mặt khác lại nhấn mạnh đến tâm trạng bất an của các nhà sử học trước các vấn đề hiện đại mà họ không thể nào giải đáp rõ ràng. B-răc-lao (G.

Brraclough) ở đại học Ocpho cho rằng nguyên nhân chủ yếu của sự hoài nghi và thất vọng đối với lịch sử là vì khoa học lịch sử thoát li cuộc sống. Để khắc phục điều này, B- răc-lao cho rằng cần phải từ bỏ học thuyết “châu Âu là trung tâm” để tìm hiểu lịch sử của cả thế giới.

Trước tình hình của sử học tư sản ở thế kỷ XX, một số sử gia phương Tây cố tìm một lối thoát cho việc nghiên cứu lịch sử của mình, khi chủ nghĩa xã hội trên thế giới đang gặp khó khăn. Một số sử gia Đức nhƣ E. Tơ-ri-ôn, F. Mê-i-nơ-ne muốn giải quyết sự khủng hoảng của sử học bằng cách củng cố hơn nữa quan điểm duy tâm về lịch sử, củng cố quan điểm của chủ nghĩa Căng mới trong lịch sử, tức là đề cao vai trò tuyệt đối của cá nhân trong quá trình phát triển của lịch sử. Những quan điểm nhƣ vậy nhằm chống quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin về tính quy luật của sự phát triển lịch sử một cách quyết liệt, mạnh mẽ hơn.

Nhiều nhà sử học theo phái Răng-ke nhƣ V. Đin-tây, G. Ric-ke đã lẩn tránh vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề quan hệ giữa nhận thức và tồn tại trong khoa học lịch sử.

Họ cho rằng, nhà nghiên cứu không thể nhận thức đƣợc quá khứ lịch sử.

Phủ nhận khả năng của con người trong việc nhận thức lịch sử, các sử gia tư sản nhằm bác bỏ tính hiện thực của quá khứ, không thừa nhận lịch sử vận động theo quy luật khách quan. Họ đồng nhất nhận thức lịch sử với hiện thực lịch sử, xem nhận thức về lịch sử của mỗi người lới là bản thận hiện thực lịch sử. Một số sử gia theo “chủ nghĩa khách quan” tuy thừa nhận quy luật trong xã hội, song lại cho quy luật là cái gì “thiêng liêng”,

“cao siêu” mà con người không thể nhận thức và hành động theo quy luật được. Theo họ, con người chỉ có thể là “nô lệ cho ý muốn của lịch sử, là những cơ quan hành pháp bổ trợ cho một định mệnh của lịch sử”.

Lợi dụng sử khủng hoảng đi tới sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, các nước Đông Âu, các nhà sử học phương Tây đẩy mạnh hơn nữa việc chống chủ nghĩa Mác – Lê-nin, chống chủ nghĩa cộng sản, chống phong trào cách mạng thế giới. Khuynh hướng chống cộng trong sử học phương Tây ngày nay càng gia tăng và thể hiện trên các lĩnh vực chủ yếu sau đây:

Tấn công vào học thuyết hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác – Lê-nin để đi tới xóa bỏ hoàn toàn cách phân kỳ lịch sử của sử học mác-xít. Họ đƣa ra nhiều cách phân kỳ lịch sử khác nhau song đều nhằm biện hộ cho sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tƣ bản, nhƣ học thuyết về sự tuần hoàn trong lịch sử (các thời kỳ lịch sử phát triển theo chu kỳ, rồi trở lại điểm cũ), lý thuyết về các nền văn minh đang đƣợc phổ biến trên thế giới ngày nay (giải thích mọi sự phát triển lịch sử là do sự tiến bộ của các nền văn minh, văn hóa, phủ nhận vai trò của lao động sản xuất và cách mạng xã hội).

Tấn công vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và chế độ cộng sản, cho rằng chủ nghĩa Mác – Lê-nin là sự “ngụy tạo”, chế độ cộng sản là “con ghẻ” của lịch sử và “sự kết thúc của thế kỷ XX cũng là sự chấm dứt cuộc xung đột giữa chủ nghĩa tƣ bản đa nguyên và chủ nghĩa Mác – Lê-nin”.

Chống lại sự phát triển của các nước độc lập dân tộc, vì cho rằng mọi sự phát triển trên thế giới đều phải do một số “trung tâm” quyết định.

58

Với tư tưởng bi quan về sự “tận thế” của xã hội loài người, nhiều nhà sử học phương Tây đã nói tới sự “cáo chung của khoa học lịch sử”. Bởi vì theo họ “lịch sử là vô bổ vì nó dẫn người ta vào một thành phố chết, dò dẫm theo những bóng ma mờ ảo của quá khứ”. Họ còn cho lịch sử không những vô ích mà còn có hại vì nó gây tư tưởng “hận thù”, “chết chóc”. Theo họ hiện “không còn vua Lui XVI để treo cổ, không còn ngục Baxti để đánh chiếm” nên chẳng còn cách mạng và cũng chẳng cần lịch sử nữa.

Ngoài các khuynh hướng phản động được nêu trên, trong sử học tư sản cũng vẫn có những khuynh hướng tiến bộ. Những sử gia theo khuynh hướng này chống lại việc nghiên cứu lịch sử chỉ là việc trình bày đơn giản những sự kiện, chống việc xuyên tạc lịch sử và việc chống cộng điên cuồng. Nhiều sử gia tƣ sản tiến bộ thừa nhận quá trình tiến bộ, hợp quy luật của sự phát triển lịch sử và xem lịch sử là một khoa học.

Tóm lại, các học giả tƣ sản đã gắn cuộc khủng hoảng của “chủ nghĩa lịch sử “ với những biến chuyển trong đời sống xã hội, với quá trình nội tại của khoa học lịch sử và với ảnh hưởng của các khoa học khác, đặc biệt là ảnh hưởng của triết học đến khoa học lịch sử.

Một biểu hiện nổi bật của sử học tư sản là sự xuất hiện nhiều khuynh hướng khác nhau trong sử học. Các khuynh hướng này, dù có khi mâu thuẫn, đối lập nhau, nhưng đều tích cực tìm những cơ sở phương pháp luận có thể giúp họ bác bỏ khả năng nhận thức lịch sử một cách duy vật. Qua đó giúp thuyết phục chính mình và giai cấp mình tin vào sự vĩnh hằng của chủ nghĩa tƣ bản, chủ yếu nhằm chống chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Tuy nhiên, sử học tƣ sản vào thế kỷ XX cũng có những đóng góp nhất định vào sự phát triển của khoa học lịch sử nói chung.

Đóng góp lớn của nhiều nhà sử học tƣ sản ở công tác tài liệu, vốn là thế mạnh của sử học tƣ sản trong thời kỳ đang lên. Với sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, đƣợc sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu lịch sử, các nhà sử học tƣ sản đã làm phong phú nhiều nguồn tƣ liệu thành văn, hiện vật, phong tục… Khảo cổ học, dân tộc học đã thu đƣợc nhiều kết quả nghiên cứu, giúp cho việc khôi phục bức tranh quá khứ một cách khoa học. Các ngành khoa học bổ trợ, nhƣ Cổ tiền học, Văn hiến học, Văn bia học, Văn học học, Cổ tự học…

đã giúp cho sử học không chỉ về tài liệu phong phú, mà cả cách nhìn một cách toàn diện, chính xác hơn. Việc sử dụng những thành tựu của khoa học – kỹ thuật, kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học bổ trợ giúp ích nhiều hơn cho khoa học lịch sử. Tuy nhiên những thành tựu, đóng góp này không che lấp những quan điểm sai lầm, tính chất chống đối chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tiến bộ xã hội của sử học tƣ sản.

Để hiểu rõ hơn tính chất của sử học tƣ sản trong nửa sau thế kỷ XX, chúng ta trở lại với các khuynh hướng khác nhau của nó. Những khuynh hướng này về cơ bản vẫn tiếp tục các khuynh hướng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tuy có phần cải biên hay nêu lên những điểm mới. Sau đây là nhưng xu hướng tiêu biểu của sử học tư sản trong thế kỷ XX.

5.2.1. Thuyết định mệnh hữu cơ của S-pên-lơ (O. Spengler)

S-pên-lơ (1880 – 1936) được xem là người tiêu biểu cho xu hướng tìm cách rút ra quy luật lịch sử trong nghiên cứu quá khứ xã hội loài người. Ban đầu, ông giảng dạy toán học ở trường trung học ở Hamburg và trong thời gian này ông đã soạn thảo cuốn sách

“Phác thảo một hình thái học thế giới”. Đến năm 1918, đúng lúc nước Đức thua trận trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, cuốn sách này được xuất bản dưới đầu đề “Sự suy tàn của châu Âu”. Sách gồm hai tập, tập thứ nhất nêu các cơ sở khoa học và nghệ thuật qua các nền văn minh. Tập thứ hai chuyên bàn về những vấn đề của nước Đức hiện đại. Số

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 55 - 93)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)