1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu giảng dạy thống kê sinh học mô hình và số liệu

165 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 7,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, nhằm mục tiêu giúp người đọc hiểu rõ hơn về thống kê và ứng dụng thống kê trong nghiên cứu, độc lập phân tích và trình bày kết quả thí nghiệm thì tài liệu này Chương 4: Mô hình th

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG KHOA NÔNG NGHIỆP – TNTN CHĂN NUÔI & THÚ Y

Trang 2

Chương 1 GIỚI THIỆU

Thống kê sinh học là khoa học về phương pháp nghiên cứu số liệu ở trạng thái định tính và định lượng, trên các tham số trong từng mô hình thí nghiệm ở các chuyên ngành Chăn nuôi, Bảo vệ thực vật

Bố trí thí nghiệm được thể hiện trên các mô hình cụ thể nhằm đánh giá được sự tương tác giữa các nhân tố Số liệu thu thập được phân tích để tìm ra

sự khác biệt hay mối tương quan giữa các nhân tố trên công cụ thống kê Bên cạnh đó, công nghệ máy tính đã phát triển phần mềm Excel xữ lý số liệu một cách tốt hơn và Minitab là công cụ phân tích thống kê đa chiều Do đó, nhằm mục tiêu giúp người đọc hiểu rõ hơn về thống kê và ứng dụng thống kê trong nghiên cứu, độc lập phân tích và trình bày kết quả thí nghiệm thì tài liệu này

Chương 4: Mô hình thí nghiệm

Chương 5: Thiết kế thí nghiệm và số trung bình

Chương 6: Khảo sát hiện trạng

Chương 7: Tương quan và hồi quy tuyến tính

Chương 8: So sánh hai trung bình

Chương 9: Hoàn toàn ngẫu nhiên

Chương 10: Khối hoàn toàn ngẫu nhiên

Chương 11: Ô vuông latin

Chương 12: Thừa số hai nhân tố

Tài liệu được tác giả viết và chỉnh sữa nhưng khó có thể hoàn thành một cách tuyệt đối nhất Vì vậy, nội dung bài viết nếu có sai sót xin người đọc góp

ý cho tài liệu được hoàn thành tốt hơn

Xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Nguyễn Bình Trường

Giảng viên, Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông Nghiệp – TNTN, Trường Đại học An Giang Điện thoại: 0983377424

Trang 3

Chương 2 KHÁI NIỆM VỀ THỐNG KÊ

Một bắt đầu cho học tập và nghiên cứu về thống kê là phải hiểu được các khái niệm sử dụng phổ biến trong thống kê Khi hiển rõ các khái niệm giúp người đọc dễ dàng thực hiện các bố trí thí nghiệm, thu thập số liệu và trình bày biểu bảng thể hiện các chỉ tiêu cần thiết

2.1 KHÁI NIỆM

2.1.1 Thống kê

Thống kê là một công việc ghi nhận lại các số liệu từ một hiện tượng

hay một công việc cụ thể nào đó hoặc là các phương pháp để tổng kết các hoạt động từ những số liệu có được

Ví dụ: khảo sát chiều cao và cân nặng của 20 học sinh lớp 1A Trường Phổ Thông Thực Hành Sư Phạm Số liệu ghi nhận được là cân nặng và chiều cao của 20 bé Kết quả tính sẽ cho ra khối lượng trung bình và chiều cao trung bình của 20 bé

Thống kê sinh học theo các tài liệu có được thì thuật ngữ này bắt nguồn

từ tiếng Hy Lap: Biosmetron có ý nghĩa là sự sống và đo đạc Do đó, thống kê

sinh học là khoa học về các phương pháp để phân tích một vấn đề trong sinh học Thống kê sinh học được chia thành 2 loại là thống kê mô tả và thống kê suy diễn

+ Thống kê mô tả là thu thập số liệu của mẫu từ một tổng thể về một sự

kiện nào đó, dữ liệu này được phân tích trên các tham số mẫu và trình bày kết quả phản ánh được sự kiện đó

Ví dụ: Khảo sát năng suất sinh sản của dê trong tỉnh An Giang Kết quả là con

số ước lượng về năng suất sinh sản như thời gian lên giống lần đầu khoảng 10 tháng, số lần phối giống đậu thai là 2

+ Thống kê suy diễn là thực hiện việc ước lượng và phân tích các số

liệu có được trên mẫu Ví dụ: nghiên cứu khả năng tiêu hóa của bò trên loại thức ăn là cỏ Sử dụng cỏ cho gia súc ăn, lấy mẫu phân tích và tính ra tỉ lệ tiêu hóa là 60% Từ đây kết luận loại cỏ này có tỉ lệ tiêu hóa trên gia súc là 60%

2.1.2 Thí ngiệm

Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học cho một mục đích

nào đó Một đề tài có thể do một người hay một nhóm người thực hiện Trong một đề tài có thể có một thí nghiệm hay nhiều thí nghiệm

Thí nghiệm là tổ chức nghiên cứu trên một phương pháp nhất định để

đạt mục tiêu cụ thể Thực hiện một thí nghiệm đò hỏi người nghiên cứu phải

Trang 4

quan sát hiện tượng, đặt câu hỏi nghiên cứu, thu thập số liệu, phân tích số liệu

và đưa ra kết luận

Ví dụ: Có 2 loại thức ăn là cỏ voi và thân cây bắp, muốn sử dụng làm thức ăn nuôi bò vỗ béo thì loại nào tốt hơn Một thí nghiệm được thực hiện là sử sụng

2 loại thức ăn này cho vỗ béo bò, loại nào giúp bò tăng trọng nhiều thì tốt hơn

Mô hình thí nghiệm là một kiểu bố trí thí nghiệm phù hợp với đối tượng

có được để đạt mục tiêu nghiên cứu Mô hình phân lô so sánh, hoàn toàn ngẫu nhiên, khối hoàn toàn ngẫu nhiên, ô vuông Latin Ví dụ: một gia đình có 4 con dê đực khoảng 5 tháng tuổi, sinh viên A thực hiện thí nghiệm với mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên có 4 khẩu phần ăn và số lần lặp lại là 3 nên tổng số động vật thí nghiệm là 12 Vậy mô hình này và số động vật không phù hợp nhau phải chuyển sang mô hình khác

Sơ đồ bố trí thí nghiệm là làm rõ hơn cho người đọc về các nghiệm

thức hay khẩu phần trong thí nghiệm được thực hiện trên một đối tương cụ thể Ví dụ: một thí nghiệm được thực hiện với mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên trên 4 nghiệm thức và mỗi nghiệm thức có 4 lần lặp lại

Khẩu phần là các loại thức ăn mà một động vật hay một nhóm động vật

cùng ăn trong khoảng thời gian nhất định Ví dụ: một nông dân chăn nuôi bò chỉ có trồng cỏ cho ăn và không bổ sung gì thêm thì khẩu phần ăn của bò là 100% cỏ Nếu đến giai đoạn vỗ béo có bổ sung thêm thức ăn hổn hợp 2 kg/con/ngày thì khẩu phần ăn là 2 kg TAHH + 100% cỏ

Nghiệm thức là một nhân tố phân biệt sự khác nhau giữa các mức độ

ảnh hưởng trong thí nghiệm Tùy vào điều kiện cụ thể mà có thể xem nghiêm thức và khẩu phần là như nhau Ví dụ: sử dụng urea với các mức độ bổ sung 1%, 2% và 3% trên 10 kg rơm khô nhằm đánh giá tỉ lệ tiêu hóa của rơm thì gọi

là các nghiệm thức 1%, 2% và 3% không thể gọi là khẩu phần Ngược lại, một thí nghiệm nuôi dưỡng dê thịt sử dụng rau muống 1 kg, 2 kg và 3 kg và cỏ cho

ăn tự do thì có thể gọi là khẩu phần hoặc nghiệm thức

Khẩu phần 1: 1 kg Rau muống + cỏ tự do

Khẩu phần 2: 2 kg Rau muống + cỏ tự do

Khẩu phần 3: 3 kg Rau muống + cỏ tự do

Trang 5

Nghiệm thức I: 1 kg Rau muống + cỏ tự do

Nghiệm thức II: 2 kg Rau muống + cỏ tự do

Nghiệm thức III: 3 kg Rau muống + cỏ tự do

Đối tượng thí nghiệm là động vật hoặc thực vật hay là một đối tượng

nhất định tham gia trong bố trí thí nghiệm giúp thu được kết quả mong đợi Ví dụ: nuôi bò vỗ béo thì đối tương thí nghiệm là con bò, nghiên cứu bảo quản rơm khô làm thức ăn gia súc thì đối tương thí nghiệm là rơm khô

Đơn vị thí nghiệm là số lượng các đối tượng tham gia trong thí nghiệm

Cần phân biệt rõ một đơn vị thí nghiệm và tổng đơn vị thí nghiệm Một thí nghiệm so sánh năng suất sinh sản của 4 giống heo, mỗi giống có 4 lần lặp lại

và chỉ tiêu theo dõi là số lượng heo con sơ sinh/ổ Vậy tổng số đơn vị thí nghiệm là 4*4 = 16 nhưng một đơn vị thí nghiệm là một con heo nái

Ngẫu nhiên là khả năng các đối tượng thí nghiệm tham gia vào các đơn

vị thí nghiệm với một tỉ lệ bằng nhau Ví dụ: một thí nghiệm có 4 nghiệm thức, một nghiệm thức có 4 lần lặp lại và tổng số động vật có được là 16 con

bò thịt Sau khi kẻ sơ đồ bố trí thí nghiệm thì tỉ lệ được chọn giữa 16 con bò là như nhau trên một đơn vị thí nghiệm

Khối ngẫu nhiên là sự chọn lựa các đối tượng phân thành từng nhóm

theo một tiêu chí của thí nghiệm và bằng với số lượng nghiệm thức Một nhóm đối tượng đó phải có tỉ lệ như nhau khi phân chia vào các nghiệm thức trong một khối

Ví dụ: Có 16 con bò chia thành 4 khối trên chỉ tiêu khối lượng

số

Khối lượng - kg

số

Khối lượng - kg

số

Khối lượng - kg

Trang 6

Giai đoạn là một khoảng thời gian nhất định mà gia súc sử dụng một

khẩu phần nhất định Khái niệm về giai đoạn được sử dụng trong mô hình ô vuông Latin

Nhân tố là yếu tố tác động đến đối tượng thí nghiệm và thí nghiệm có

thể có một nhân tố hoặc 2 nhân tố Thí nghiệm một nhân tố là tác động của khẩu phần ăn đến khả năng tăng trọng hay sản xuất trứng của động vật thí nghiệm Thí nghiệm 2 nhân tố trong trường hợp này nhân tố 1 là tác động của khẩu phần ăn đến năng suất và nhân tố 2 là phái tính hay giống của động vật thí nghiệm

Giá trị P trong thống kê dùng để kiểm định giả thuyết đúng với mức ý

sau

Ứng dụng giá trị P này trong phần mềm Minitab được thể hiện qua bảng

Bảng 2.1: Kết quả phân tích giá trị P trong thống kê

Sai số trong thí nghiệm là tổng giá trị các tác động đến thí nghiệm

nhưng không thể loại trừ được

Biểu đồ thời gian hay tiến độ thực hiện đề tài là kế hoạch thực hiện thí

nghiệm với những khoảng thời gian nhất định từng công việc được thực hiện

là già và thu được kết

Bảng 2.2 : Biểu đồ thời gian của đề tài khảo sát trên trâu

01 Khảo sát nông hộ Hoàn thành số phiếu khảo sát Tháng 03 – 07/2012

02 Xử lý số liệu Nhập và phân tích số liệu Tháng 08 – 09/2012

03 Viết báo cáo Quyển đề tài hoàn chỉnh Tháng 10 – 11/2012

04 Báo cáo nghiệm thu Nghiệm thu Tháng 12/2012

2.1.3 Số liệu

Số liệu sơ cấp là số liệu từ các nguồn có sẳn trong những bào cáo thống

kê như niên giám thống kê hay báo cáo tình hình chăn nuôi thời điểm ngày 01 tháng 10 hàng năm Thu thập số liệu này ít tốn kém chi phí nhưng có thể có những chi tiết không đáp ứng được yêu cầu của thí nghiệm

Trang 7

Số liệu thứ cấp là số liệu thu thập trực tiếp ban đầu từ đối tương nghiên

cứu Số liệu này thu được trong khảo sát thử để đánh giá phiếu khảo sát có phù hợp với nội dung nghiên cứu Số liệu này đáp ứng ban đầu cho nghiên cứu nhưng tốn chi phí thu số liệu

Dữ liệu định tính là dữ liệu thu thập dưới dạng khoảng cách hay tỉ lệ

thường dễ thu thập Ví dụ: khảo sát độ tuổi trung bình của học sinh lớp 9

Dữ liệu định lượng là dạng dữ liệu thu thập khó hơn định tính, thu thập

bằng cách cân, đo và đếm để ra kết quả chính xác như khối lượng heo xuất chuồng, số lượng heo con sơ sinh/ổ

2.2 SỐ LẦN LẶP LẠI

Sử dụng dữ liệu có được trên 25 con bò sữa HF, chúng tôi phân ngẫu nhiên thành 5 nhóm tương ứng với số lần lặp lại là 3, 4, 5, 6 và 7 để phân tích cùng một chỉ tiêu theo dõi Từ đó có suy luận về số lần lặp lại cho một nghiệm thức trong thí nghiệm với số mẩu phù hợp

Qua kết quả Bảng 3 thể hiện, các chỉ tiêu theo dõi giữa 5 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P>0,05 Giá trị trung bình của số lần lặp lại là 3

có xu hướng nhỏ hơn số lần lặp lại nhiều hơn 3 đơn vị Số lần lặp lại là 4-5 không có biến động nhiều so với số lần lặp lại nhiều hơn 5: tỉ lệ chất khô là 10,9% cho số lần lặp lại là 4-5, đạm thô là 2,79% và 2,76% Cần chú ý tháng cho sữa trên bò sữa là yếu tố có giá trị biến động lớn theo năng suất sữa, vì chọn ngẫu nhiên để phân tích nên tháng cho sữa có P = 0,051; khi thực hiện thí nghiệm đánh giá năng suất sữa cần phải chú ý chỉ tiêu tháng cho sữa giữa các nghiệm thức phải như nhau hoặc khác biệt không có ý nghĩa thống kê Trên bò thịt đánh giá tăng trọng trong thí nghiệm nuôi dưỡng phải thỏa điều kiện về sự đồng nhất của độ tuổi và khối lượng bắt đầu thí nghiệm SD trên số lần lặp lại có sự biến động trên chỉ tiêu đạm thô là 0,07% với 3 lần lặp lại nhưng ở 4 đến 7 lần lặp lại trong khoảng 0,30-0,37%; tương tự các chỉ tiêu chất khô và đường sữa cũng gần giống như chỉ tiêu đạm thô

Bảng 2.3: So sánh sự sai khác về giá trị trung bình Chỉ tiêu

Mỡ sữa - % 3,23 0,32 3,4 0,25 3,41 0,46 3,76 0,51 3,75 0,36 0,218 Lactose - % 3,91 0,15 3,88 0,40 3,96 0,54 3,72 0,50 3,86 0,54 0,945 Sản Lượng/ngày - kg 9,17 0,72 8,37 0,77 8,48 1,79 7,04 1,04 8,06 2,82 0,529 Tháng cho sữa 3,78 0,35 3,9 0,49 4,27 0,61 4,83 0,40 4,66 0,76 0,051 Khối lượng – kg 435 20,1 461 53,5 450 49,3 483 84,5 490 39,2 0,56

Trang 8

Qua kết quả phân tích từ Bảng 2.3, nhận thấy số lần lặp lại từ 4 đến 5 đơn vị thí nghiệm cho một nghiệm thức là vừa đủ Chúng ta có thể thiết kế thí nghiệm với 4 lần lặp lại thì hợp lý hơn trong các bố trí thí nghiệm, vì trong một nghiệm thức có thể sử dụng cân đối cả 2 phái tính sẽ cân đối hơn so với số lần lặp lại là 5 Lưu ý rằng, trong bài viết này chúng tôi muốn thảo luận ở mỗi đơn vị thí nghiệm chỉ là một chứ không phải một cặp động vật thí nghiệm Vậy cần có ít nhất là 4 đơn vị thí nghiệm trong một nghiệm thức Nếu tăng số lần lặp lại lên càng nhiều thì mức đọ sai số càng thấp

2.3 SỐ ĐỘNG VẬT TRONG MỘT ĐƠN VỊ THÍ NGHIỆM

Động vật thí nghiệm thường sử dụng trong chăn nuôi: trâu, bò, dê, cừu, thỏ, chó, mèo, heo, gà, vịt Một đơn vị thí nghiệm tùy trường hợp chọn đối tượng thí nghiệm mà có số động vật trong một đơn vị thí nghiệm cho phù hợp Một động vật thí nghiệm: trong trường hợp đối tượng thí nghiệm là trâu,

bò, dê, cừu, heo, chó thì có thể sử dụng ít nhất một động vật thí nghiệm

Hai động vật thí nghiệm: trong trường hợp thí nghiệm trên thỏ và gà thì

sử dụng một cặp (đực và cái) hay một cặp cùng phái tính

Nhiều hơn 2 động vật thí nghiệm: trong trường hợp nghiên cứu đơn vị thí nghiệm là ổ heo con, ổ thỏ, ổ gà mái ấp trứng thì số con sơ sinh của ổ là số động vật thí nghiệm và số động vật thí nghiệm cho mỗi đơn vị thí nghiệm không bằng nhau vì phụ thuộc vào số con sơ sinh được sinh ra Thí nghiệm trên gia cầm thì số động vật trong một đơn vị thí nghiệm càng nhiều càng tốt Tất cả sự chọn lựa số động vật thí nghiệm trong một đơn vị thí nghiệm tùy thuộc vào đối tượng của thí nghiệm và kinh phí thực hiện Kinh phí có hạn chế thì chúng ta cũng cần thực hiện số động vật trên một đơn vị thí nghiệm đối với thỏ và gà là 2 con hoặc nhiều hơn vì lượng thức ăn tiêu thụ ít cần phải nhiều lần lặp lại để giảm sai số thí nghiệm

2.4 GIÁ TRỊ SD & SE

Sử dụng giá trị SD hay SE cũng là một vấn đề cần lưu ý trong việc trình bày kết quả nghiên cứu thể hiện qua Bảng 2.4

Bảng 2.4: Năng suất sinh sản heo nái thuần Landrace và Yorkshire

Mean SD Mean SD

Trang 9

SD hay SE trong trình bày số liệu? SD (standard deviation) là độ lệch chuẩn đo lường độ phân tán số liệu so với giá trị trung bình SE (standard error) là sai số chuẩn, được sử dụng khi suy diễn ra cho cả thổng thể SE là tỉ

số giữa SD và căn bật 2 của cở mẫu, chính vì thế các kết quả từ thống kê mô tả được trình bài dưới dạng Mean±SD

Vậy, chỉ tiêu SD được sử dụng khi so sánh 1-2 trung bình và SE khi so

sánh từ 3 trung bình trở lên

2.5 TRÌNH BÀY BẢNG SỐ LIỆU

Trình bày số liệu là quá trình thể hiện kết quả nghiên cứu trên những chỉ tiêu

cụ thể liên quan với nhau trong một biểu bảng Biểu bảng có cấu trúc cụ thể như sau

Trang 10

Chương 3 TỔNG THỂ & MẪU

Xác định dung lượng mẫu trong một nghiên cứu là rất cần thiết, tùy vào mục tiêu và vùng nghiên cứu thì số mẫu được chọn phù hợp Chúng ta không thể sử dụng hết tất cả các đơn vị của tổng thể để phân tích mà thông qua các tham số thống kê của mẫu dựa trên những công cụ nhất định

3.1 TỔNG THỂ

Tổng thể (Population) là đối tượng nghiên cứu của thống kê Tổng thể là một tập hợp tất cả các đối tượng nghiên cứu có cùng một tính chất nhất định nào đó Tổng thể là một tập hợp vô hạn nên trong nghiên cứu chỉ sử dụng giá trị của mẫu để ước lượng cho tổng thể Ngược lại, tổng thể là cơ sở cho nghiên cứu lấy ra một lượng mẫu nhất định

Bảng 3.1: Số lượng gia súc phân theo đơn vị trong tỉnh An Giang STT Huyện, TX, TP Số lượng bò Số lượng trâu Số hộ nuôi trâu

Trang 11

  1

n

SD SE

100

x

SD CV

3.2 MẪU

Tham số thống kê của mẫu được ước lượng từ tổng thể gồm có

Cỡ mẫu (Size)

Giá trị trung bình cộng (Mean)

Phương sai mẫu (Variance)

Độ lệch chuẩn (Standard Deviation - SD)

Tỉ lệ (Ration)

Tần suất (Relative Frequency)

Các chỉ tiêu này xin phân tích rõ tại chương 6 Mô hình khảo sát

Sai số chuẩn (Standard Error - SE) thường được sử dụng để suy diễn từ nghiên cứu ra tổng thể Thông thường giá trị SE được sử dụng khi so sánh từ 3 giá trị trung bình với nhau

Hệ số biến động (Coefficient of Variation - CV) dùng để đo lường độ phân tán của tổng thể Đó là phần trăm của tỉ số giữa độ lệch chuẩn và trung

động của mẫu:

Biên độ mẫu (Range) là vùng dữ liệu đi từ số nhỏ nhất đến số lớn nhất cũa chuỗi dữ liệu Khảo sát trình độ học vấn của 100 người chăn nuôi bò, kết quả cho tấy người có trình độ thấp nhất là lớp 3 và cao nhất là lớp 12

3.3 ƯỚC LƯỢNG TRUNG BÌNH

Đàn bò tỉnh An Giang năm 2017 có khoảng 11.979 con Muốn thực hiện nghiên cứu về chỉ tiêu vòng ngực và khối lượng bò thịt giai đoạn 12-24 tháng tuổi thì chúng ta không thể khảo sát hết toàn bộ đàn bò trong Tỉnh Nếu nghiên cứu chỉ tiêu này cho vùng ĐBSCL thì số mẫu càng lớn hơn nữa Do đó, với cở

và s (SD) thay thế cho σ Có 2 cách để thực hiện các ước lượng trong thống kê

Trang 12

3.3.1 Ước lượng điểm (Point Estmator)

Ước lượng điểm là kiểu ước lượng để đánh giá một chỉ tiêu theo dõi nhất định trong nghiên cứu Ước lượng điểm được ứng dụng trong các cuộc nghiên cứu khảo sát

Ví dụ: Nghiên cứu cần khảo sát số lượng heo sơ sinh trong một trại chăn nuôi có 500 heo nái Chọn ra 100 heo nái để khảo sát chỉ tiêu số heo sơ sinh/ổ,

giá trị ước lượng cho số heo con sơ sinh/ổ của µ của trại heo 500 nái

3.3.2 Ước lượng khoảng tin cậy

Khoảng tin cậy được sử dụng để đánh giá sự khác nhau Nếu khoảng tin cậy giữa các trung bình trùng nhau thì khác biệt không có ý nghĩa thống kê và ngược lại

Giả sử khảo sát chiều cao của sinh viên nam năm thứ nhất ngành Chăn

Độ lệch chuẩn

i

E y

n

ME SD

đi n = 30 thì chưa phù hợp Do đó, tùy vào điều kiện cụ thể trong nghiên cứu của một tỉnh hay một vùng thì số mẫu tổng của khảo sát phải đạt mức n = 100

Ví dụ: Khảo sát hiện trạng chăn nuôi trâu tại tỉnh An Giang, theo số liệu thứ cấp có được là đàn trâu tập trung niều nhất tại 4 huyện An Phú, Tân Châu, Tịnh Biên và Tri Tôn Nếu lấy n = 30 làm chuẩn thì mỗi huyện chọn ra 30 hộ

và cả tỉnh là 120 hộ thõa mãn cho số mẫu là 30 và 100 hộ cần khảo sát

3.4.2 Tính số mẫu theo công thức của Yamen

Trích từ Phan Thị Thanh Thủy (2017) sử dụng công thức khảo sát Salkind (2000) hoặc Yamane (1967) Nguyên tắc cơ bản của nghiên cứu khảo sát là phương pháp và kích cở mẫu lệ thuộc vào quần thể Kích cở mẫu không tăng lên cân đối với biến động trong quần thể Nếu quần thể rất lớn thì cở mẫu

Trang 13

*1( N e2

N n

không vượt quá 400 Tuy nhiên, xác suất của sai lầm loại 2 (b) yếu tố ảnh hưởng là 5% hay 10% trong toán học Theo Salkind (2000) để thực hiện cách chọn mẫu từ công thức này thì tổng thể phải >200

n: kích thước mẫu

N: tổng quần thể

e: xác suất xãy ra sai lầm loại 2 (10%)

Ví dụ: Có 400 hộ nuôi cá ở một vùng nông thôn thì số lượng mẫu là hộ gia đình cần có

n = 400/(1+400*0,10) = 80 hộ Trong nhiều trường hợp, ít nhất là một số thông số, một số các gia đình

có thể không trả lời hoặc dữ liệu có thể bị mất tích Để bồi thường mà 5 - 10% cần được xem xét cho điều tra do đó, các mẫu thực tế

n = 80 + (80 * 10%) = 88 Trở lại thí nghiệm về con trâu tập trung trên 4 huyện như ví dụ số n = 30 thì phải thực hiện 120 hộ cho cả tỉnh An Giang Với số liệu thứ cấp có được tại Bảng 3.1 về số lượng đàn trâu và số hộ chăn nuôi trâu

Bảng 3.1: Số lượng gia súc phân theo đơn vị trong tỉnh An Giang STT Huyện, TX, TP Số lượng Số hộ n

con

n + 10%

Nếu chọn 30 hộ/huyện thì tỉ lệ hộ được chọn củ Tri Tôn là 30/82 so với

An Phú là 30/197 hộ Tính trực tiếp trên số hộ cần khảo sát để thỏa điều kiện gio71o hạn của mẫu là 200 thì số hộ cần khảo sát tại Tri Tôn không đạt vì chỉ

có 82 hộ nuôi trâu nhưng xét về số lượng đàn trâu thì thõa điều kiện này Do

đó, số mẫu n được tính trên từng huyện và cộng thêm độ lệch 10% cho số n vừa tính được (Tinh Biên: 101 con) Tổng số trâu có được là 3.172 con/912 hộ nên mỗi hộ nuôi khoảng 3,4 con trâu và làm tròn số là 3 con/hộ Lấy số lượng trâu cần tính được đã hiệu chỉnh 10% chia cho 3 sẽ ra được số hộ cần khảo sát/huyện là 34 hộ

Theo công thứ của Yamane (1967) thì số hộ cần khảo sát là 126 hộ phân

bố trên 4 huyện đã thõa điều kiện số n = 30 và n = 100

Trang 14

3.5 TÍNH SỐ LIỆU THIẾU

3.5.1 Trường hợp thiếu 1 số liệu

Phân tích số liệu một chỉ tiêu nghiên cứu nhưng bị mất đi một giá trị thì có thể

sử dụng công thức của Yates (Phan Thị Thanh Thủy, 2017) để ước lượng số liệu thiếu như sau:

)1)(

1(

G T t K r X

t = Số nghiệm thức

r = Số nghiệm thức

K0 = Tổng các trị số quan sát của các nghiệm thức trong lần lặp lại

T0 = Tổng các trị số quan sát của một nghiệm thức có chứa số liệu thiếu G0 = Tổng chung của tất cả số liệu quan sát

Ví dụ: lượng đạm thô tiêu thụ của một thí nghiệm với 4 nghiệm thức và 4 lần lặp lại/nghiệm thức qua bảng sau

Bảng 3.2: Số liệu thô thiếu của lượng đạm tiêu thụ

*)14(

4,825)9,186

*4()30,184

Trang 15

Sử dụng số liệu có được thay vào vị trí thiếu và phân tích phương sai như dạng

3.5.1 Trường hợp thiếu 2 số liệu

Khi số liệu của một chỉ tiêu phân tích thiếu 2 số liệu như bảng sau

Bảng 3.3: Số liệu thô thiếu của lượng đạm tiêu thụ

Trang 16

là phù hợp, một nghiệm thức cần phải có bao nhiêu đơn vị thí nghiệm để được đánh giá có độ tin cậy và mỗi đơn vị thí nghiệm cần phải có bao nhiêu động vật thí nghiệm Mục tiêu của bài viết này nhằm đánh giá, số mẫu cần thiết cho một đơn vị thí nghiệm, trên các mô hình thí nghiệm phổ biến trong Chăn Nuôi nói chung và trên gia súc ăn cỏ nói riêng, là cơ sở tham khảo trong chuyên ngành Chăn Nuôi

Mô hình thí nghiệm là đối tượng bị tác động bởi nhân tố nên có một số

mô hình phổ biến sau

3.1.1 Đối với thí nghiệm điều tra khảo sát

Thực hiện thí nghiệm khảo sát về hiện trạng chăn nuôi hay năng suất sinh trưởng và sinh sản trâu, bò, dê… thì cần phải sử dụng bảng câu hỏi thiết

kế sẵn và số liệu thứ cấp Cách điều tra là tiếp xúc người chăn nuôi, thu thập các số liệu thứ cấp có liên quan, thiết kế bảng câu hỏi, điều tra thử, sửa bảng câu hỏi Thực hiện điều tra: phỏng vấn người chăn nuôi, quan sát thực tế, đo đạc kỹ thuật trên số mẫu cần thiết Điều tra lại (nếu số liệu thu được chưa đáp ứng yêu cầu), nhập và phân tích số liệu, sau đó viết báo cáo khoa học Số mẫu bao nhiêu là đủ cho một thí nghiệm khảo sát Theo thống kê thì số mẫu n > 30 được xem như đại diện cho một tổng thể Một cách khác là sử dụng công thức Yamane (1967), nguyên tắc cơ bản của nghiên cứu khảo sát là phương pháp Trong phương pháp kích cở mẫu lệ thuộc vào quần thể Tuy nhiên, kích cở mẫu không tăng lên cân đối với biến động trong quần thể Nếu quần thể rất lớn

Trang 17

thì cở mẫu không vượt quá 400 Tuy nhiên, xác suất của sai lầm loại 2 (b) yếu

tố ảnh hưởng là 5% hay 10% trong toán học Kích thức mẫu toán học n =

lầm loại 2 (10%) Thực hiện công thức này khó khăn ở chổ phải biết số tổng thể (N) là 1.577 hộ chăn nuôi trâu tại An Giang vào năm 2011, kết quả cân đối thực hiện trên 141 hộ chăn nuôi trâu trên 3 huyện là 44, 48 và 49 hộ đảm bảo

số n > 30 với số trâu được khảo sát là 395 con Kết quả thể hiện tại Bảng 1

Bảng 3.1: Các chiều đo của trâu qua các tháng tuổi tại 3 huyện

cả nước thể hiện qua Bảng 2

Bảng 3.2: Khối lượng của trâu qua các tháng tuổi Tháng

tuổi

Các tỉnh miền Bắc

Các tỉnh miền Trung

Các tỉnh miền Nam

n Mean ± SD n Mean ± SD n Mean ± SD

6 tháng

Đực 44 89,15 ± 7,63 64 85,44 ± 5,69 17 98,88 ± 6,12 Cái 58 82,45 ± 7,76 45 79,60 ± 7,43 18 92,75 ± 5,44

60 tháng

Đực 236 436,70 ± 54,56 82 420,33 ± 34,56 111 448,27 ± 53,81 Cái 340 379,45 ± 34,43 170 377,80 ± 44,82 317 388,81 ± 44,14

Nguồn: Mai Văn Sánh và ctv (2008), n: số mẫu, Mean: giá trị trung bình, SD: độ lệch chuẩn

So sánh kết quả Bảng 1 và Bảng 2 cho thấy, với số mẫu là 395 con trâu

so với 3.028 mẫu thì người đọc sẽ thấy rằng độ tin cậy từ số liệu Bảng 2 rất lớn, điều đó hoàn toàn hợp lý Trong cả 2 thí nghiệm này đều có một điểm chung là số mẫu trâu đực:cái trên các tỉnh miền nam là 17:18, số này nhỏ hơn 30; vòng ngực trâu trên 24 tháng tuổi tại An Giang của con đực:cái là 27:207 thì số trâu đưc nhỏ hơn 30 Xét về tổng thể là con trâu thì số lượng trâu khảo sát của miền Nam là 35 con và trâu An Giang trên 24 tháng tuổi là 234 con Đây là một điểm hạn chế trong các cuộc khảo sát không thể tránh khỏi

Trang 18

17

Yếu tố ảnh hưởng trong khảo sát là chi phí tổ chức điều tra không thể thực hiện trên trên tổng thể vì tốn rất nhiều chi phí, thời gian thực hiện dài không đáp ứng được tính thời sự của vấn đề và tính chính xác trong nghiên cứu phải dựa trên một số phương pháp suy luận với độ tin cậy cho phép Chọn mẫu khảo sát là một phương pháp chọn ra một shương pháp chọn một số mẫu

từ tổng thể chung, điều tra thực tế rồi suy rộng cho toàn bộ tổng thể Mẫu được chọn phải ngẫu nhiên, đại diện cho tổng thể và cần phải có công thức thích hợp

Vậy để thực hiện một thí nghiệm khảo sát cần phải có số n ≥ 30 trên mỗi chỉ tiêu theo dõi là phù hợp, để đạt được kết quả tốt hơn nhằm giảm sai số thí nghiệm thì trong điều kiện cho phép nên nâng cao dung lượng mẫu là phù hợp tuỳ vào kinh phí và thời gian cho phép

3.1.2 Đối với thí nghiệm so sánh 2 giá trị trung bình

Đinh Văn Tuyến và ctv (2008) so sánh khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn trên hai nhóm bê lai đã thực hiện bố trí phân lô so sánh như Bảng 3 Đây là thí nghiệm một chiều tác động thức ăn lên sự phát triển của giống nên

số n = 5 cho mỗi lô thí nghiệm là hợp lý Kết quả bố trí thí nghiệm được thể hiện rõ qua Bảng 3 bên dưới

Bảng 3.3: Bố trí thí nghiệm phân lô so sánh theo dõi tăng trọng

(Bê lai Sind)

Lô II (Bê Brahman thuần)

Phương thức nuôi dưỡng Cá thể

cho ăn tự do

Cá thể cho ăn tự do

Nguồn: Đinh Văn Tuyến và ctv (2008),

Trường hợp phân lô so sánh trên bò cái sinh sản thì không phù hợp với n

= 5, ngoài chỉ tiêu theo dõi trên bò cái sinh sản thì phải so sánh được khả năng tăng trọng bê lai F1 thể hiện qua Bảng 4 Đối với việc đánh giá năng suất sinh

không thể dừng lại với n =10 Nếu chỉ sử dụng 10 bò cái cho mỗi lô thí nghiệm thì tỉ lệ bê sinh ra không thể là 10, bởi vỉ tỉ lệ thụ thai trên bò khoảng 50-60%, hệ luỵ là số n cần đánh giá thật sự là rất ít Trong trường hợp này nên

sử dụng số bò cái trong mỗi lô thí nghiệm với n >10 và tốt nhất phải từ 15 bò cái trên 1 lô thí nghiệm Thí nghiệm đã chọn n = 20 cho mỗi lô thí nghiệm nhưng tỉ lệ bê cho mỗi lô là 9 và 12 Cần phải có một số mẫu lớn trong nghiên cứu này vì khả năng phát triển con giống trong mọt vùng sinh thái quyết định

Trang 19

hướng phát triển trong tương lai Do đó phải có dung lượng mẫu đủ lớn để đến một kết luận chính xác

Sơ đồ 3.1: Bố trí thí nghiệm phân lô so sánh trên bò cái

Lặp lại ♂Red Sind × ♀ bò Vàng ♂Brahman × ♀ bò Vàng

Nguồn: Nguyễn Bá Trung và Nguyễn Bình Trường (2014)

Mục tiêu so sánh giữa 2 giá trị trung bình khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không Thông thường dạng bố trí thí nghiệm này phải chú ý đối tượng thí nghiệm theo dõi khả năng sinh sản hay tăng trưởng được thể hiện theo sơ đồ bên dưới

Trong trường hợp chỉ so sánh khả năng tăng trọng cùng một nhóm đối tượng là bò ảnh hưởng bởi 2 khẩu phần ăn thì số lượng đơn vị thí nghiệm cho mỗi lô nên dừng lại với n ≥ 5 và cho sinh sản thì n ≥ 15

3.1.3 Đối với thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên

Sơ đồ 3.2: Mô hình bố trí thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên

Thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên là thí nghiệm trên các đơn vị thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên vào các nghiệm thức Số đơn vị thí nghiệm phải đồng đều nhau và có cùng một điều kiện sống Mục tiêu của mô hình này

là so sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức Mô hình thí nghiệm này chỉ so sánh sự tương tác giữa các nghiệm thức trên các chỉ tiêu theo dõi, không đánh giá được sự tương tác giữa các đơn vị thí nghiệm trong cùng một nghiệm thức

Từ đó làm cho giá trị sai số sẽ lớn, vì tất cả các nguồn biến động đực tính vào sai số Khắc phục hiện tượng này được thực hiện trên mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên

Trang 20

19

3.1.4 Đối với thí nghiệm khối hoàn toàn ngẫu nhiên

Sơ đồ 3.3: Mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên

Ghi chú: F100:C0, F73:C27, F53:C47, F37:C63, F28:C72: lần ư t à hẩu phần c tỉ lệ thức ăn thô

và thức ăn tinh hác nhau à 00 :0 ( 00 : 0), :2 ( : 2 ), : ( : ), : ( : ) và 28 : 2 ( 28 : 2) (t nh tr n v t ch t h )

Sơ đồ 3 do Đậu Văn Hải và Nguyễn Thanh Vân (2016) thực hiện khi sử dụng 20 bò lai Brahman có khối lượng trung bình 227 13 kg, bố trí theo mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức tương ứng với 5 tỉ lệ thức

ăn thô:tinh trong khẩu phần và 4 lần lặp lại cho một khẩu phần tương ứng với

4 bò lai Brahman Vậy số đơn vị thí nghiệm cho một nghiệm thức là 4 con bò được nuôi theo từng cá thể, thể qua qua sơ đồ 2

Mục tiêu của mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên là đánh giá sự khác nhau giữa các nghiệm thức nhưng có sự tác động của yếu tố khối Một khối phải thoã điều kiện có đủ các nghiệm thức của thí nghiệm và giá trị chọn lựa ban đầu của một khối phải đạt mức gần bằng tuyệt đối, có nghĩa là sự biến động giữa các đơn vị thí nghiệm càng ít, như thế thì giảm được sai số của thí nghiệm Nguồn biến động trong thí nghiệm được chọn làm cơ sở để phân chia khối trong thí nghiệm, các đơn vị thí nghiệm trong một khối phải được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên

3.1.5 Đối với thí nghiệm ô vuông latin

Sơ đồ 3.4: Mô hình ô vuông Latin

Trang 21

một nghiệm thức có 4 đơn vị thí nghiệm Trong thí nghiệm hình vuông Latin

số đơn vị thí nghiệm ảnh hưởng bởi số động vât tham gia thí nghiệm

Mục tiêu so sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức nhưng bị hạn chế

về số lượng động vật thí nghiệm Mô hình thường sử dụng phổ biến trên đối tượng bò, trâu và dê Cách thực hiện thí nghiệm chia ra các giai đoạn tương ứng với số khẩu phần ăn và số động vật thí nghiệm Một giai đoạn thí nghiệm

có thể kéo dài từ 14 đến 21 ngày tuỳ vào điều kiện thực tế Mục tiêu thí nghiệm nhằm kiểm soát sự biến động 2 chiều của môi trường thí nghiệm

3.1.6 Đối với thí nghiệm thừa số hai nhân tố

Sơ đồ 6 của Nguyễn Xuân Trạch và Trần Văn Nhạc (2008) thực hiện thí nghiệm nuôi dưỡng trên bò thịt trong 3 tháng Bố trí thí nghiệm có 2 nhân tố: nhân tố 1 là tuổi bò giai đoạn 18-21 và 24-27 tháng; nhân tố 2 là 3 mức bổ sung thức ăn tinh 1,5; 2,5 và 3,5 kg/con với khẩu phần cơ sở gồm cỏ xanh và

lá áo bắp ngô cho ăn tự do Tổng số bò sử dụng là 30 bò đực địa phương và một khẩu phần có 5 con bò là số đơn vị thí nghiệm của một nghiệm thức Mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của độ tuổi và mức sử dụng thức ăn tinh trong khẩu phần đến tăng trọng và hiệu quả kinh tế vỗ béo bò thịt

Sơ đồ 3.5: Thí nghiệm thừa số 2 nhân tố mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên

3.1.7 Đối với thí nghiệm ô vuông latin kép

Sơ đồ 3.6: Thí nghiệm thừa số 2 nhân tố mô hình ô vuông Latin kép Giai

Trang 22

21

Thí nghiệm hình vuông Latin kép thật sự là hình vuông Latin Hình vuông Latin kép được hiểu là một dạng của mô hình thừa số 2 nhân tố trong điều kiện không đủ động vật thí nghiệm Latin kép có nghĩa là hai hình vuông Latin được thực hiện song song, có số khẩu phần là như nhau và cùng loài động vật Thí nghiệm này có 2 nhân tố nhằm đánh giá sự tương tác giữa 2 nhân tố khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không

Một giai đoạn trong thí nghiệm hình vuông Latin, thực hiện trong 14 ngày hoặc 21 ngày tuỳ vào điều kiện tực tế thí nghiệm Điều này ảnh hưởng từ ước lượng khẩu phằn ăn mới tính từ lúc thức ăn đi vào từ miện và ra khỏi hậu môn, muốn giải quyết vấn đề này chỉ nên dựa vào sinh lý từng đối tượng thí nghiệm Một giai đoạn vẫn có thể thực hiện trong 14 ngày với 10 ngày thích nghi và 4 ngày lấy mẫu tiêu hoá; có thể tính lượng thức ăn tiêu thụ từ ngày thứ

8, lấy mẫu phân từ ngày thứ 10 và dự phòng 1 ngày cho các sai sót trong quá

trình thực hiện sẽ phân tích rõ tại mục 4.2 thí nghiệm tiêu hóa in vivo

3.1.8 Đối với thí nghiệm bố trí lô phụ

Bố trí thí nghiệm lô phụ gồm bốn giống lúa (G1, G2, G3, G4) là 4 nghiệm thức lô phụ và 6 mức độ đạm (Đ1, Đ2, Đ3, Đ4, Đ5, Đ6) là sáu nghiệm thức lô chính với 3 lần lặp lại

Sơ đồ 3.7: Thí nghiệm thừa số 2 nhân tố với lô phụ Lặp lại 1 Lặp lại 2 Lặp lại 3

T1 T4 T2 T5 T3 T6 T4 T1 T5 T2 T6 T3 T3 T6 T4 T1 T5 T2

G1 G4 G3 G1 G4 G2 G4 G1 G2 G3 G4 G2 G4 G1 G2 G3 G1 G4 G4 G1 G4 G2 G3 G3 G3 G2 G3 G4 G1 G3 G3 G4 G1 G2 G4 G2

G2 G2 G1 G3 G2 G4 G2 G3 G4 G1 G2 G1 G2 G3 G4 G1 G3 G1 G3 G3 G2 G4 G1 G1 G1 G4 G1 G2 G3 G4 G1 G2 G3 G4 G2 G3

Trên từng mô hình thí nghiệm theo mục tiêu cụ thể mà tác giả có thể chọn cho mình một mô hình thí nghiệm phù hợp Mỗi một mô hình cần có số

n tốt nhất trên từng chỉ tiêu nghiên cứu Đối tượng thí nghiệm là gia súc nhai lại có giá trị kinh tế khá cao, việc huy động một lượng lớn gia súc trong cùng

độ tuổi là điều khó khăn để hoàn thành thí nghiệm Do đó, tuỳ vào kinh phí có được mà các tác giả chọn mô hình thí nghiệm hợp lý là điều cần thiết

Do đó, số mẫu cho một chỉ tiêu khảo sát phải bằng hoặc lớn hơn 30 đơn

vị và số đơn vị thí nghiệm so sánh giữa 2 trung bình phải đạt khoảng 5-15 động vật thí nghiệm Số lượng đơn vị thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi mục tiêu nghiên cứu, động vật thí nghiệm và kinh phí thực hiện một thí nghiệm Các chủ nhiệm đề tài nên dựa vào mục tiêu nghiên cứu mà chọ số lượng cho phù hợp điều kiện cụ thể

Trang 23

nhiều điều kiện khác nhau để đi đến thành công Một số ý kiến bị nhầm lẫn trong việc đánh giá thành phần dinh dưỡng của thức ăn và lượng chất khô tiêu thụ, trong phân tích dưỡng chất của gia súc ăn cỏ, cần phải đánh giá được giá trị dưỡng chất cả thức ăn cho ăn và thức ăn thừa Vì lượng thức ăn cho gia súc

ăn bị ảnh hưởng bởi tập tính ăn của từng cá thể và điều kiện tiểu khí hậu làm mất nước trong mẫu nên DM thức ăn thừa luôn cao hơn DM thức ăn cho ăn

Để giúp cho việc phân tích chính xác số liệu trên các thí nghiệm, tác giả xin

giới thiệu các kiểu thí nghiệm in vivo và phương pháp xử lý số liệu trên gia

súc làm cơ sở tham khảo trong chuyên ngành Chăn Nuôi

4.2.1 Các kiểu thí nghiệm tiêu hoá in vivo

Các mô hình thí nghiệm phổ biến trong chăn nuôi như khảo sát, phân lô

so sánh, hoàn toàn ngẫu nhiên được giới thiệu trong tạp chí khoa học kỹ thuật Chăn Nuôi số 214 (Nguyễn Bình Trường, 2016) Trên tất cả các mô hình

này đều có thể thực hiện một thí nghiệm tiêu hoá in vivo, chỉ có mô hình khảo

sát ít được áp dụng Bởi vì đây là mô hình nghiên cứu đánh giá mẫu để suy

diễn cho tổng thể chung Thí nghiệm tiêu hoá in vivo có ba kiểu ứng dụng

Kiểu 1: Nghiên cứu tỉ lệ tiêu hoá của một loại thức ăn nhất định như cỏ Voi, VA06 qua các thời gian thu hoạch, dạng này thường được thực hiện nhằm đánh giá tiêu hoá của một loại thức ăn gia súc Số lượng gia súc tối thiểu

là 3 đơn vị thí nghiệm/thực liệu và mỗi giai đoạn phải có 7-21 ngày để điều chỉnh lượng thức ăn và thu mẫu, thu mẫu tổng thể là phương pháp đáng tin cậy nhất nhưng để giảm thời gian và chi phí nên sử dụng chất chỉ thị (Ajmal Khan

et al., 2003) Kiểu này cũng có thể ứng dụng trong thí nghiệm đánh giá tác động của giống gia súc: Brahman, Sind, Charolai hay loài gia súc: bò, trâu, dê lên sự tiêu hoá của một loại thức ăn

Kiểu 2: Đây là dạng thí nghiệm nuôi dưỡng trong thời gian dài như thí nghiệm thay thế cây đậu phộng cho cỏ Voi để đánh giá năng suất sữa của bò (Nguyễn Bình Trường, 2013) hay thí nghiệm vỗ béo bò với các mức độ đạm khác nhau của thức ăn tinh trong khẩu phần (Nguyễn Hữu Văn và ctv, 2012)

và kết hợp thực hiện thí nghiệm tiêu hoá in vivo để đánh giá tỉ lệ tiêu hoá các

dưỡng chất làm cơ sở đánh giá các khẩu phần thí nghiệm Điều kiện thí

Trang 24

Kiểu 3: Ứng dụng cho mô hình thí nghiệm cần nhiều động vật thí nghiệm nhưng điều kiện thí nghiệm không thể đáp ứng đủ, như mô hình ô

vuông Latin và ô vuông Latin kép Một thí nghiệm in vivo được thực hiện qua

3 giai đoạn: (1) giai đoạn động vật dần thích nghi với chế độ ăn thí nghiệm, (2) sau giai đoạn thích nghi là giai đoạn đảm bảo rằng động vật đã quen với chế độ ăn thí nghiệm và để làm sạch đường tiêu hóa của các khẩu phần trước đây và được duy trì trong chế độ ăn của thí nghiệm, (3) giai đoạn cuối cùng là giai đoạn thu thập lượng thức ăn, thức ăn thừa, phân và nước tiểu được ghi lại Mỗi một giai đoạn được thực hiện khoảng 7-10 ngày (MC Donal et al., 2010) Trong tất cả các thí nghiệm về tiêu hóa, đặc biệt đối với động vật nhai lại, rất cần đúng giờ và số lượng thức ăn trong mỗi ngày không nên thay đổi

Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ tannin trên cừu thì Alam M R et al (2007) thực hiện đúng như mô tả gồm 3 giai đoạn trong 24 ngày với 10 ngày thích nghi, 7 ngày ăn thí nghiệm và 7 ngày thu mẫu, nhưng Vu C C et al (2011) thực hiện một giai đoạn thí nghiệm trong 30 ngày với 20 ngày thích nghi và 10 ngày thu mẫu Theo chúng tôi thì giai đoạn 1 và 2 có thể gom

chung lại để phát triển thí nghiệm tiêu hoá in vivo qua 2 giai đoạn là thích nghi

và lấy mẫu Để thực hiện điều này thì thời gian thích nghi phải đảm bảo để con vật làm quen môi trường nuôi mới, thải hết thức ăn cũ trong đường tiêu hóa, làm quen với thức ăn thí nghiệm, xác định lượng ăn tối đa và có điều kiện để quan sát trạng thái của con vật Một số khuyến cáo về thời gian chuẩn bị cụ thể đối với trâu, bò, dê, cừu là 10-15 ngày, ngựa và heo là 8-10 ngày, gia cầm

Trang 25

là 6-8 ngày và thỏ là 6-7 ngày (Lê Đức Ngoan và ctv, 2014) nhưng phụ thuộc loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Một thí nghiệm ô vuông Latin với 4 nghiệm thức là 4 khẩu phần ăn của

bò ta được thực hiện qua 4 giai đoạn Mỗi giai đoạn kéo dài 14 ngày với 7 ngày thích nghi và 7 ngày thu mẫu được thực hiện bởi Nguyễn Văn Thu (2010), Özelçam H et al (2015)

Cùng thực hiện thí nghiệm ô vuông Latin trên bò với 4 nghiệm thức nhưng Hồ Quảng Đồ (2014) tiến hành một giai đoạn trong 15 ngày với 11 ngày thích nghi và có 4 ngày lấy mẫu, bên cạnh đó thì Manríquez O M et al (2016) cũng thực hiện một giai đoạn với 14 ngày có 10 ngày thích nghi và 4 ngày thu mẫu

Tiếp tục một thí nghiệm ô vuông Latin đánh giá ảnh hưởng của chế độ ăn kiêng ngô chưa qua chế biến hoặc xông hơi và có hoặc không có bổ sung

enzyme đối với tiêu hóa in vivo các chất dinh dưỡng của hạt ngô trong phân bò

Holstein Mỗi giai đoạn của thí nghiệm là 13 ngày, 10 ngày đầu tiên của mỗi giai đoạn là để điều chỉnh chế độ ăn mới và 3 ngày cuối cùng là để lấy mẫu (Lee S Y et al., 2002)

Một thí nghiệm in vivo có thể thực hiện trong cùng một giai đoạn đối với

dạng 2 hoặc thực hiện đơn lẻ từng giai đoạn đối với dạng 3 Qua các thí nghiệm mô tả ở trên thì người đọc không biết chọn một dạng nào cho phù hợp? Giai đoạn thích nghi được thực hiện 7, 10 hay 11 ngày điều ảnh hưởng từ thực liệu dùng trong thí nghiệm, nếu thức ăn thí nghiệm có tỉ lệ xơ càng cao thì khả năng tiêu hoá càng lâu Để xác định chính xác thời gian của một loại thức ăn đi từ miệng đến hậu môn thì bổ sung thêm một chất màu khó tiêu như oxit sắt hoặc carmine để nhận dạng trong phân được gọi là chất chỉ thị như đề xuất của Ajmal Khan et al (2003) Theo MC Donal et al., (2010) phương pháp này chỉ thực hiện trên thú độc vị, đối với động vật nhai lại là không thành

Trang 26

và thời gian thí nghiệm có thể ngắn hoặc dài hơn phụ thuộc loại thức ăn như

đã đề cập ở trên

Dựa trên những kết quả có được từ các tác giả thì chúng tôi có đề xuất một dạng mới cho mô hình thí nghiệm sau: một giai đoạn thí nghiệm được thực hiện trong 14 ngày như Nguyễn Văn Thu (2010) nhưng giai đoạn thích nghi kéo dài đến 10 ngày như đề xuất của MC Donal et al., (2010) và Lê Đức Ngoan và ctv (2014) Sau khi động vật ăn thích nghi khẩu phần mới được 7 ngày thì ngày thứ 8-14 ghi nhận lượng thức ăn cho ăn cùng với thức ăn thừa

và lấy mẫu liên tục (7 ngày), riêng lượng phân thải ra được thu từ ngày thứ

11-14, có nghĩa là ghi nhận lượng phân thải ra và thu mẫu trong 4 ngày liên tục giống với Hồ Quảng Đồ (2014) Thu mẫu phân trong 4 ngày liên tục đã đảm bảo số lần lặp lại như mô tả của Nguyễn Bình Trường (2016) là cần có 4 đơn

vị thí nghiệm trong một nghiệm thức và phù hợp với MC Donal et al., (2010)

là cần nhiều hơn một động vật (thường là bốn) được sử dụng Vì động vật, thậm chí cùng loài, tuổi và giới tính, nhưng khả năng tiêu hóa cũng khác nhau một chút trong bản thân nên lặp lại nhiều lần là cơ hội hơn để phát hiện các sai

số và đảm bảo giai đoạn thích nghi là 10 ngày

4.2.2 Phương pháp xử lý số liệu thô

Nguyên tắc cơ bản để tính lượng thức ăn tiêu thụ là

+ Tính được lượng dưỡng chất cho ăn trừ lượng dưỡng chất thừa

+ Tính tỉ lệ tiêu hoá dưỡng chất của thức ăn phải có được giá trị lượng dưỡng chất tiêu thụ và giá trị dưỡng chất của phân thông qua công thức theo

Cho ăn thích nghi Thu phân

Thu mẫu phân Ghi nhận thức ăn cho ăn & thừa

07

Trang 27

Giả sử một thí nghiệm ô vuông Latin với 4 nghiệm thức tương ứng với 4 giống dê: Bách thảo (1), Boer (2), Saanen (3), dê Cỏ (4) và 4 giai đoạn, số liệu bên dưới thể hiện trong một giai đoạn thí nghiệm với 14 ngày, 7 ngày thích nghi, 7 ngày thu thức ăn thừa và thu phân trong 4 ngày Lượng thức ăn là cỏ VA06 cho ăn cố định là 4 kg/con/ngày

Bước 1: Xử lý số liệu thô thực hiện trên từng giai đoạn

Bảng 4.1: Thức ăn thừa trong giai đoạn 1 (kg/con/ngày)

Bảng 4.2: Lượng phân trong 4 ngày của giai đoạn 1 (kg/con/ngày)

Cỏ thừa dê 1 17,5 61,9 Phân dê 1 35,9 54,7

Cỏ thừa dê 2 17,4 62,1 Phân dê 2 33,6 51,9

Cỏ thừa dê 3 16,6 58,8 Phân dê 3 37,1 54,1

Cỏ thừa dê 4 17,2 60,9 Phân dê 4 35,6 53,6

Trong mỗi giai đoạn thí nghiệm, ngoài việc cân lượng thức ăn cho ăn, thức ăn thừa và phân thì chúng ta phải lấy mẫu song song của từng cá thể để

Trang 28

27

phân tích dưỡng chất Cách lấy mẫu phải đảm bảo chính xác, tốt nhất là sử dụng cân điện tử loại 1 kg để cân mẫu và sau khi sấy mẫu khô và nghiền mịn thì trộn mẫu lại với nhau, đảm bảo mẫu trộn phải có được mẫu của các ngày thí nghiệm

Bước 3: Tính lượng dưỡng chất tiêu thụ thật sự

Bảng 4.4: Thành phần dưỡng chất tiêu thụ giai đoạn 1

cho ăn (kg DM)

Dưỡng chất thừa (kgDM)

Dưỡng chất tiêu thụ (kgDM)

1 1 4 0,616 0,350 0,671 0,117 0,073 0,498 0,278

2 1 4 0,616 0,350 0,635 0,110 0,069 0,505 0,282

3 1 4 0,616 0,350 0,497 0,082 0,048 0,533 0,302

4 1 4 0,616 0,350 0,601 0,103 0,063 0,513 0,287

Lượng dưỡng chất tiêu thụ thật sự của dê phải tính riêng lẻ từ thức ăn

= 0,350 Tương tự như thế chúng ta tính cho thức ăn thừa trên từng cá thể

0,616 – 0,117 = 0,498 Lưu ý rằng, trạng thái mẫu tươi chỉ sử dụng một lần duy nhất với DM% để qui ra ở trạng thái khô hoàn toàn, tất cả các chỉ tiêu còn lại như NDF, OM, CP muốn tính được thì dựa vào giá trị DM vừa tính ra, nhân với tỉ lệ các dưỡng chất còn lại

Bước 4: Tính tỉ lệ tiêu hoá từng dưỡng chất

Bảng 4.5: Tỉ lệ tiêu hoá dưỡng chất giai đoạn 1

Dê Giai Dưỡng chất

tiêu thụ (kgDM)

Dưỡng chất phân (kgDM)

Tỉ lệ tiêu hoá (%)

Phương pháp tính dưỡng chất trong phân cũng tương tự như thức ăn cho

ăn và thức ăn thừa Uớc tính tỉ lệ tiêu hoá từng dưỡng chất thông qua công thức của MC donal et al (2010)

Tỉ lệ tiêu hoá DM = {(0,498 – 0,122)/0,498} x 100% = 75,5%

Tỉ lệ tiêu hoá NDF = {(0,278 – 0,067)/0,278} x 100% = 76,0%

Điểm chú ý cơ bản nhất trong nuôi dưỡng gia súc ăn cỏ là phải thu

nhận lượng thức ăn thừa Thí nghiệm tiêu hoá in vivo thích hợp với nhiều mô

hình thí nghiệm và ước đoán trực tiếp giá trị tiêu hoá thức ăn trên gia súc Thí

nghiệm tiêu hoá in vivo được thực hiện qua 3 kiểu ứng dụng trong chăn nuôi

Trang 29

với giai đoạn thích nghi và thu mẫu Ảnh hưởng từ nguồn thức ăn có hàm lượng xơ cao hay thấp sẽ tác động thời gian thu mẫu phân Trong bài viết này tác giả đề xuất một giai đoạn thí nghiệm là 14 ngày, thu mẫu thức ăn từ ngày thứ 8 và thu mẫu phân từ ngày thứ 11 Bên cạnh đó thì ví dụ minh hoạ thể hiện

rõ hơn ứng dụng vào thực hiện thí nghiệm trên cách xử lý số liệu thô, phân tích dưỡng chất, tính ra từng dưỡng chất tiêu thụ và tỉ lệ tiêu hoá dưỡng chất trước khi phân tích thống kê bằng Minitab

Trang 30

Chương 5 THIẾT KẾ THÍ NGHIỆM & SO SÁNH SỐ TRUNG BÌNH

Thiết kế thí nghiệm trong quyển sách này tôi xin giới thiệu về phương tiện & phương pháp để tổ chức một thí nghiệm gồm có: địa điểm và thời gian, phương pháp bố trí thí nghiệm, chỉ tiêu theo dõi, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích mẫu và phân tích số liệu thu được

5.1 THIẾT KẾ THÍ NGHIỆM

Thực hiện một thí nghiệm vơi tên là “Ảnh hưởng của cây đậu phộng ủ với 2%SA (sulfat ammonium) trên năng suất và chất lượng sữa bò” Để thực hiện thí nghiệm này thì phần viết đề cương nghiên cứu phải đủ các nội dung bên dưới của chương “Phương tiện và phương pháp thí nghiệm”

+ Địa điểm và thời gian nghiên cứu: là nơi thực hiện thí nghiệm và

khoảng thời gian thực hiện từ tháng bắt đầu đến khi kết thúc thí nghiệm

+ Phương pháp bố trí thí nghiệm: là mô hình được chọn để thực hiện thí nghiệm, tùy vào mục tiêu của thí nghiệm và số động vật có được để thực hiện

mô hình thí nghiệm là hoàn toàn ngẫu nhiên, khối hoàn toàn ngẫu nhiên hay ô vuông Latin…

+ Các chỉ tiêu theo dõi: là các chỉ tiêu nghiên cứu của thí nghiệm được

sử dụng để đánh giá tính hiệu quả giữa các nghiệm thức hay các khẩu phần ăn trong thí nghiệm

+ Cách thu thập số liệu: là mô tạ lại qui trình thực hiện chăm sóc nuôi dưỡng đối tượng thí nghiệm để thu thập số liệu thô

+ Phương pháp phân tích: là phương pháp ứng dụng vào thí nghiệm theo một tác giả hay một tổ chức nào đó để chúng ta có được số liệu về chỉ tiêu theo dõi

+ Phương pháp xử lý số liệu: có nhiều mô hình xử lý khác nhau tùy vào thí nghiệm bị tác động môt hay nhiều chiều Trong phương pháp sử lý số liệu lưu ý rằng, một chỉ tiêu nào đó được phân tích là khác biệt có ý nghĩa thống kê thì phải tiến hành so sánh các số trung bình giữa các nghiệm thức của chỉ tiêu

đó bởi LSD, Duncan, Scheffé hay Tukey theo mô tả tại mục 3.2

5.1.1 Thí nghiệm khảo sát hiện trạng

5.1.1.1 Địa điểm và thời gian

Nghiên cứu theo dõi trên đàn bò của 651 hộ tại 6 huyện trong tỉnh An Giang, chia thành 3 vùng khảo sát bao gồm: vùng Núi (Tịnh Biên - Tri Tôn), vùng Đồng Bằng (Châu Thành - Châu Phú) và vùng Cù Lao (Chợ Mới - Tân Châu)

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 10/2016 đến tháng 03/2017

Trang 31

5.1.1.2 Nội dung

Cơ cấu đàn được tính trên số lượng bò theo giai đoạn tuổi, cơ cấu giống

là số lượng mỗi giống bò trên tổng số, qui mô chăn nuôi là số lượng bò nuôi trong mỗi hộ, chuồng trại được đánh giá trên tiêu chí kiên cố, bán kiên cố hay thô sơ và phương thức chăn nuôi là kiểu nuôi nhốt hay chăn thả của nông hộ

và thức ăn sử dụng trong nuôi bò

Tuổi của bò (tháng) được tính từ khi sinh ra điến thời điểm thực hiện

nghiên cứu, khối lượng bò (kg) sử dụng thước dây của Viện Khoa Học Kỹ

Thuật Nông Nghiệp Miền Nam (ILRI-IAS-L1) đo vòng ngực qui ra khối lượng bò

Các chỉ tiêu sinh sản gồm lên giống lần đầu (tháng) là tuổi tính từ khi bò cái được sinh ra cho đến khi động dục lần đầu, tuổi phối giống lần đầu (tháng) được tính từ khi bò cái sinh ra tới khi bò được phối giống lần đầu, tỉ lệ đậu

thai (lần) được xác định dựa trên số lần phối trên 1 lần đậu thai, đẻ lần đầu

(tháng) được tính từ khi bò cái sinh ra tới khi bò đẻ lần đầu, thời gian lên

giống lại sau đẻ (tháng) được tính từ khi gia súc sinh con cho đến lần lên

giống lại gần nhất, khoảng cách giữa hai lứa đẻ (tháng ) được tính từ khi gia súc đẻ bê con cho đến khi đẻ bê con lần tiếp theo, mùa sinh sản (tháng trong

năm) là thời gian sinh con của bò mẹ hàng năm

5.1.1.3 Phương pháp

+ Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đuợc thực hiện theo phương pháp điều tra hồi cứu và cắt ngang (Kaps và Lamberson, 2004), bằng cách lựa chọn và điều tra các hộ nuôi

bò ngẫu nhiên trong vùng khảo sát, khi xác định đuợc hộ cần điều tra thì tiến hành phỏng vấn theo mẫu câu hỏi đã đuợc chuẩn bị và đo các chỉ tiêu cần thiết theo bảng câu hỏi được thiết kế sẳn

5.1.2 Thí nghiệm phân tích phương sai

5.1.2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Địa điểm: Trại bò Nông Trường Sông Hậu - thành phố Cần Thơ Phòng thí nghiệm E205 Bộ Môn Chăn Nuôi – Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ

+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2007 đến 10/2007

+ Vật liệu thí nghiệm:

Trang 32

- Cây đậu phộng

- Chất bổ sung: urê, bột bắp, mật đường, phân ammonium sulfate

sử dụng trong quá trình bảo quản

+ Động vật: 16 bò lai F1 (HF x Lai Sind) đang cho sữa trung bình tháng

thứ 5

5.1.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Mục tiêu: Lựa chọn tỷ lệ thay thế của cây đậu phộng cho cỏ tự nhiên trên

bò đang cho sữa ở mức độ thích hợp

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (NT) tương ứng với 4 khẩu phần và 3 khối, mỗi khối tương ứng với 1 bò đang cho sữa Bốn nghiệm thức gồm

+ Cỏ tự nhiên 100% (ĐP0)

+ Cỏ tự nhiên được thay thế 15% (DM) cây đậu phộng xử lý (ĐP15) + Cỏ tự nhiên được thay thế 30% (DM) cây đậu phộng xử lý (ĐP30) + Cỏ tự nhiên được thay thế 45% (DM) cây đậu phộng xử lý (ĐP45) Thức ăn hổn hợp và bã bia cho ăn đều nhau ở các khẩu phần lần lượt là 4

5.1.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi

+ Các thực liệu trước và trong thí nghiệm được phân tích các thành phần dưỡng chất như vật chất khô (DM), chất hữu cơ (OM), đạm thô (CP), béo (EE), xơ trung tính (NDF) và xơ acid (ADF) Theo dõi năng suất và thành phần hoá học của sữa

+ Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày

+ Năng suất sữa/con/ngày

+ Thành phần dưỡng chất sữa: DM, OM, CP và EE

Trang 33

+ Tỉ lệ tiêu hoá in vivo: DM, OM, CP, NDF và ADF

+ Tiêu tốn thức ăn/kg sữa

+ Hiệu quả kinh tế

5.1.2.4 Cách thu thập số liệu

- Cân lượng thức ăn tiêu thụ hằng ngày bằng cân đồng hồ

+ Ở các nghiệm thức thay thế cây đậu phộng, cân cây đậu phộng cho ăn lúc 7 giờ, sau khi bò ăn hết thì cho ăn cỏ

+ Ở các nghiệm thức ăn cỏ tự do (ĐP0) cân cỏ cho ăn lúc 7 giờ và

17 giờ

+ Thức ăn hỗn hợp và bã bia cho ăn lúc 9 giờ và 16 giờ

+ Cân lượng cỏ thừa vào 6 giờ sáng hôm sau

- Thức ăn cho ăn và thừa được lấy mẫu, phơi, nghiền và phân tích

- Cân trọng lượng bò trước và sau thí nghiệm bằng cân chuyên dùng, mỗi đợt cân 3 ngày liên tiếp và lấy trung bình

- Năng suất sữa được theo dõi 10 ngày trước thí nghiệm và xuyên suốt trong thời gian thí nghiệm Thời gian theo dõi thí nghiệm là 2 tháng

- Mẫu sữa được lấy đem về phòng thí nghiệm phân tích ngay trong ngày

ở các thời điểm trước và trong thí nghiệm

5.1.2.5 Phương pháp phân tích

+ pH được đo bằng máy pH kế

C trong 3 giờ CP được xác định bằng phương pháp Kjeldahl và EE được xác định bằng cách dùng ethyl ether chiết trong hệ thống Soxhlet theo AOAC (1990) Phân tích NDF (neutral detergent fiber), ADF (acid detergent fiber) theo đề nghị của Robertson và Van Soest (1991) + Mỡ sữa phân tích theo APHA (1985)

+ Tỉ lệ tiêu hoá in vivo thực hiện trong 7 ngày liên tục (Mc Donald et al.,

2010) được tính như sau

Tỉ lệ tiêu hoá (%) = [(dưỡng chất tiêu thụ - dưỡng chất trong phân)/dưỡng chất tiêu thụ]*100

5.1.2.6 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai theo mô hình One way của Minitab 16 (Minitab, 2010) trên từng chỉ tiêu của mỗi thí nghiệm Nếu có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê thì dùng Tukey để so sánh

sự khác biệt giữa các nghiệm thức

Phân tích dữ liệu trên từng chỉ tiêu theo dõi cho các mô hình thí nghiệm được mô tả trong các chương tiếp theo Các tác giả nghiên cứu đang thực hiện

mô hình thí nghiệm nào thì ứng dụng vào để phân tích từ số liệu thô đến trình bày biểu bảng kết quả

Trang 34

5.1.3 Thí nghiệm suy luận 2 trung bình – so sánh cặp

Thực hiện tương tự như thí nghiệm hơn 2 trung bình như có một số điểm khác biệt

5.1.3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Giống với mục 5.1.2.1

5.1.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Mục tiêu: tùy thuộc và chủ đề thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức phân lô so sánh (so sánh 2 trung bình) với 2 nghiệm thức (NT) tương ứng với 2 khẩu phần và 5 lặp lại, mỗi lặp lại tương ứng với 1 bò Hai nghiệm thức gồm

+ Cỏ voi 100% (CV)

+ Dây đậu phộng (DĐP)

Thức ăn hổn hợp cho ăn đều nhau ở các khẩu phần là 2 kg/con/ngày

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

cho ăn tự do

Cá thể cho ăn tự do

5.1.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi

Số liệu được xử lý bằng phương pháp phân tích phương sai theo mô hình

so sánh cặp 2-sample-t của Minitab 16 (Minitab, 2010) trên từng chỉ tiêu của mỗi thí nghiệm Nếu có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê thì dùng Tukey để

so sánh sự khác biệt giữa các nghiệm thức

5.2 THỂ HIỆN KẾT QUẢ

5.2.1 Phương pháp trình bài số liệu

Có thể trình bày các dạng khác nhau theo mục tiêu nghiên cứu nhưng cần phải lưu ý điều này Tỉ lệ phần trăm hay tỉ lệ tần suất trong các thí nghiệm khảo sát phải thể hiện rõ, ví dụ: tỉ lệ giống bò Brahman trong vùng khảo sát

Trang 35

chiếm tỉ lệ cao nhất là 45% thì chúng ta phải ghi thêm chú thích phía sau là 40,0% (400/1.000 con) Nếu chỉ dựa vào số phần trăm sẽ làm cho kết quả nghiên cứu có nhiều sai lầm lớn như 40,0% (4/10 con) Đây là điều quan trọng

Thể hiện các kết quả trên biểu bảng phải thoã sự thích thú và hài lòng của người đọc:

đó khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P=0,052 nhưng với mức confidence level là 99% thì khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không Tương

tự như thế, giá trị sai số SE cũng nên sử dụng 3 số lẽ thì phù hợp

Bảng 5.4: Tăng khối lượng và tỷ lệ tiêu hóa trên bò thí nghiệm

Tăng khối lượng

a0,42b 0,39b 0,011 0,069

Hệ số chuyển hóa thức ăn 5,44b 9,02ab 9,57a 0,035 1,007

Tỷ lệ tiêu hóa (%)

Nguồn: Nguyễn Bá Trung (2014), KL: khối lượng, NT 1: cây bắp rau và cỏ VA06, NT 2: cây bắp rau

cùng một hàng là khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

5.3 PHƯƠNG PHÁP SO SÁNH GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH

Một chỉ tiêu theo dõi của thí nghiệm được đánh giá là khác biệt có ý nghĩa thống, các trung bình của chỉ tiêu hay còn gọi là trung bình gữa các nghiệm thức phải được phân tích để xem xét sự khác nhau gữa các nghiệm thức Có thể sử dụng 5 phương pháp sau

5.3.1 Phương pháp LSD – Least Significant Difference

LSD là phương pháp đơn giản nhất để so sánh sự khác biệt giữa 2 trung bình theo ý đồ thí nghiệm, nên sử dụng phương pháp này với mô hình phân lô

so sánh hay so sánh cặp giữa 2 trung bình Nếu thực hiện nhiều trung bình thì LSD sẽ phạm sai lầm loại I, có nghĩa là bác bỏ giả thuyết đúng

'

*

, 2 /

i

i Y Y

Trang 36

i

i Y Y

trường hợp như sau

+ Số lần lặp lại bằng nhau

j

E Y

Y

r

MS SD

i i

r r

nghĩa thống kê với mức α

không có ý nghĩa thống kê với mức α

5.3.2 Phương pháp Scheffé

Phương pháp này áp dụng trong trường hợp số lần lặp lại bằng nhau giữa các nghiệm thức Nếu số nghiệm thức là 2 thì Sch tương đương với LSD, nếu

số nghiệm thức nhiều hơn 2 thì Sch>LSD nên ít phạm sai lầm loại I hơn LSD

Có thể sử dụng trong các thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên hay khối hoàn toàn ngẫu nhiên

Y Y

C Sch

nghĩa thống kê với mức α

không có ý nghĩa thống kê với mức α

Ví dụ:

Một thí nghiệm khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức và 3 khối như mục 3.1 Giá trị trung bình lượng thức ăn tiêu thụ/con/ngày (gDM) của nghiệm thức như sau

Trang 37

Nghiệm thức 1: Cỏ (Co) 405 gDM

Bảng phân tích phương sai

4,10923

2,546

*22

C Sch LS

Bước 2: So sánh các trung bình

* So sánh nghiệm thức Co với CC và Co với CTa (1)

thống kê với CC (1)

nghĩa thống kê với CC

* So sánh nghiệm thức CC với Co và CC với CTa (2)

thống kê với Co

thống kê với CC

Trang 38

Bước 3: Thể hiện sự khác biệt giữa các trung bình

biệt có ý nghĩa thống kê với mức α

5.3.3 Phương pháp Tukey của Minitab

Tukey là một công cụ trên phần mềm Minitab trong lớp Comparisons của lệnh phân tích phương sai, độ tin cậy 95% được cài sẳn trong phần mềm Trường hợp khác biệt không có ý nghĩa

Level N Mean StDev -+ -+ -+ -+

Trang 39

Chương 6

MÔ HÌNH KHẢO SÁT

Thực hiện một nghiên cứu khoa học với mô hình khảo sát hiện trạng trên một khoảng thời gian nhất định nào đó Số liệu tho thu thập được xử lý với các tham số thống kê cơ bản là trung bình và độ lệch chuẩn cho mỗi giá trị Phương pháp tính có thể thực hiện trên những công cụ khác nhau tùy người sử dụng

6.1 MÔ HÌNH THỐNG KÊ

Phương trình tuyến tính cho mô hình thống kê này là

Yij =  + ti + eij

Trong đó : µ: số trung bình của chỉ tiêu theo dõi

6.2 THAM SỐ THỐNG KÊ CỦA MẪU VÀ TỔNG THỂ

6.2.1 Cỡ mẫu (Size)

Cỡ mẫu là số lượng các phần tử có trong tổng thể hay có trong mẫu

Cở mẫu với ký hiệu của mẫu là n và tổng thể là N

Ví dụ: Sinh viên Khoa Nông Nghiệp – TNTN, Trường Đại học An Giang có 1.000 sinh viên, chọn ra 80 sinh viên tham gia đồng diễn thể dục thể thao Vậy N là 1.000 và n là 80 sinh viên

6.2.2 Giá trị trung bình cộng (Mean)

Trung bình là giá trị đặc trưng đại diện cho dãy số liệu

6.2.3 Phương sai mẫu (Variance)

Phương sai được sử dụng để đánh giá sự phân tán của các giá trị mẫu quanh giá trị trung bình Với dung lượng mẫu đủ lớn, có nghĩa là n>30 đơn vị thì mẫu đó được xem là mẫu đại diện cho tổng thể, sử dụng theo công thức

n

x x

x x n

x x

x x

x n

x x S

n i i x

2 2

3 2 2 2 1 2 1

2  (  )  (  ) (  ) (  )  (  )

Trang 40

  1 

n

SD SE

100

x

SD CV

Trong trường hợp số mẫu theo dõi n<30 thì sử dụng công thức tính cho phương sai hiệu chỉnh như sau

: là độ lệch của giá trị x thứ i so với gí trị trung bình : tổng bình phương của các độ lệch

Vì trong thực thế chúng ta chỉ xử lý số liệu dựa trên các giá trị của mẫu thu thập được sẽ có trường hợp mẫu lớn và nhỏ hơn 30 xuất hiện cùng lúc Do đó chúng

ta phải xác định rõ là số mẫu nghiên cứu của thí nghiệm hay số mẫu nghên cứu của chỉ tiêu theo dõi

6.2.4 Độ lệch chuẩn (Standard Deviation - SD)

Độ lệch chuẩn được tình từ căn bậc hai của phương sai Độ lệch chuẩn của mẫu ký hiệu là s và tổng thể ký hiệu là σ như thời gian gần đây thường sử dụng từ viết tắt là SD – standard deviation Độ lệch chuẩn được sử dụng đánh giá sự phân tán của các số liệu quanh giá trị trung bình và sử dụng trong các cuộc nghiên cứu với hình thức ước lượng hay khảo sát và so sánh 3 giá trị trung bình với nhau

6.2.5 Sai số chuẩn (Standard Error - SE)

Sai số chuẩn thường được sử dụng để suy diễn từ nghiên cứu ra tổng thể Thông thường giá trị SE được sử dụng khi so sánh từ 3 giá trị trung bình với nhau

6.2.6 Hệ số biến động (Coefficient of Variation - CV)

Dùng để đo lường độ phân tán của tổng thể

Đó là phần trăm của tỉ số giữa độ lệch chuẩn và trung bình

Vì  và  không biết, nên hệ số này được ước lượng bằng hệ số biến động của mẫu:

6.2.7 Biên độ mẫu (Range)

Biên độ mẫu là vùng dữ liệu đi từ số nhỏ nhất đến số lớn nhất cũa chuỗi dữ liệu Khảo sát trình độ học vấn của 100 người chăn nuôi bò, kết quả cho tấy người

có trình độ thấp nhất là lớp 3 và cao nhất là lớp 12

1

) (

) (

) (

) (

2 1

2 1

x x

x x

x n

x x S

n

i i x

2

S V

)

(xix

Ngày đăng: 15/04/2021, 19:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w