Chương 8. Sử học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000
8.3. Sử học Việt Nam giai đoạn 1975 – 2000
Năm 1975, Miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đất nước thống nhất mở đầu thời kỳ cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Trong tình hình mới, sử học Việt Nam có nhiều nhiệm vụ cấp bách. Trước tiên, những nhà nghiên cứu lịch sử tiến hành cuộc đấu tranh chống những quan điểm sử học phản động của miền Nam trước năm 1975 và bồi dưỡng quan điểm mác-xít, đường lối của Đảng ta cho những người nghiên cứu cũ ở miền Nam. Nhiều bài viết của Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Phan Quang… đã phê phán những sai lầm của Nguyễn Thế Anh, Tạ Chí Đại Trường trong nghiên cứu lịch sử dân tộc được công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Nhiệm vụ trọng tâm của sử học Việt Nam trong giai đoạn mới là tập trung nghiên cứu công cuộc dựng nước, mặc dù vẫn phải tiếp tục nghiên cứu những vấn đề giữ nước, chống xâm lược. Nhiệm vụ của khoa học xã hội và sử học lúc này đƣợc xác định qua Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV (1976): nhiệm vụ hàng đầu của các ngành khoa học xã hội là tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lớn trong đường lối, chính sách của cách mạng Việt Nam dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê- nin và trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm cách mạng đã tích lũy đƣợc.
Mở rộng và nâng cao chất lƣợng nghiên cứu trên các lĩnh vực sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn học, nghệ thuật v.v…
Trải qua 25 năm, sử học Việt Nam phát triển trong nhiều điều kiện thuận lợi song có những phức tạp, khó khăn. Đường lối của Đảng rõ ràng, cụ thể. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu đông đảo, trình độ được nâng cao, các phương tiện khoa học kỹ thuật đưa vào dạy và nghiên cứu lịch sử. Việc giao lưu quốc tế được mở rộng, nhiều thành tựu mới trong nghiên cứu lịch sử đƣợc sử dụng có hiệu quả trong công tác sử học ở Việt Nam. Tuy nhiên những biến động ngày càng xấu trong cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở nhiều nước, đặc biệt là Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, sự phản kích ngày càng
126
mạnh mẽ của chủ nghĩa tƣ bản vào chủ nghĩa xã hội trên tất cả các mặt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, khoa học xã hội, những khó khăn dồn dập trong nước, do sai lầm về đường lối, về quản lý xã hội, do thiên tai, do những cuộc xung đột vũ trang, chiến tranh biên giới ảnh hưởng không nhỏ đến việc nghiên cứu lịch sử. Song đội ngũ cán bộ đã được tôi luyện trong thực tiễn đấu tranh, đường lối quan điểm của Đảng đúng đắn nên tuy còn không ít khuyết điểm trong nhận thức và vận dụng phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu, công tác tƣ liệu nhƣng về cơ bản đã góp phần làm cho sử học Việt Nam thu đƣợc những thành tựu đáng kể.
Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), tư tưởng đổi mới soi sáng cho các nhà nghiên cứu “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, nói đúng sự thật” nhằm khôi phục đúng bức tranh quá khứ, rút bài học kinh nghiệm cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Một tổ chức quần chúng của các nhà nghiên cứu lịch sử là Hội khoa học Lịch sử Việt Nam tiến hành đại hội lần thứ II (1988) đƣợc củng cố về tổ chức, có cơ sở hoạt động trong cả nước, tạo điều kiện cho sử học phát triển mạnh hơn. Hội đã tập trung được đông đảo những nhà nghiên cứu và yêu thích lịch sử trong các chi hội ở địa phương (như các Hội sử học Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh…) các hội chuyên ngành nhƣ Hội giáo dục Lịch sử, Tạp chí xƣa và nay của Trung ƣơng Hội, tờ báo Huế - xƣa và nay ra đời không chỉ góp phần truyền bá kiến thức mà quan trọng hơn là nó sẽ trở thành diễn đàn để giới sử học có thể đóng góp nhiều hơn vào sự đổi mới và phát triển đất nước, cũng là sự đổi mới và phát triển của chính mình. Cùng với tạp chí, trung tâm UNESCO Thông tin tƣ liệu Lịch sử - Văn hóa Việt Nam thuộc Hội cũng có nhiều ấn phẩm tốt. Một công việc có ý nghĩa của Hội là tham gia thẩm định các công trình nghiên cứu lịch sử, bảo vệ di tích lịch sử, tổ chức giải thưởng hàng năm mang tên Phạm Thận Duật tại Văn Miếu, Hà Nội cho các nghiên cứu sinh Lịch sử bảo vệ tốt luận án tiến sĩ.
Hoạt động sử học của các cơ quan nghiên cứu, đào tạo vào những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI rất sôi động, có kết quả đƣợc thể hiện ở nhiều công trình xuất bản, các hội thảo khoa học trong nước (Hội thảo khoa học quốc tế về “Việt Nam học” năm 1998, 2001) tham gia nhiều Hội thảo khoa học ngoài nước.
Một cách khái quát có thể nhìn thấy bức tranh chung về sử học Việt Nam trong một số điểm chủ yếu từ sau năm 1975 đến năm 2000 nhƣ sau:
1. Cuộc đấu tranh để xác định quan điểm mác-xít, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác sử học
Đất nước hòa bình, thống nhất là điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng nghiên cứu những vấn đề lý luận, trao đổi văn hóa, khoa học trong nước và trên thế giới. Đó là điều kiện để chúng ta tiếp thu những cái mới, tốt đẹp các di sản văn hóa, khoa học của dân tộc và nhân loại. Tuy nhiên những luồng tư tưởng phản động từ bên ngoài vẫn tìm cách len lỏi vào trong nước hòng tiến hành một cuộc chiến tranh trên lĩnh vực tư tưởng mà chúng không thể thu được thắng lợi bằng một cuộc chiến tranh vũ lực. Trước tình hình ấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những người nghiên cứu lịch sử Việt Nam tiến hành một cuộc chiến đấu trên lĩnh vực sử học để khẳng định quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tƣ tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cuộc đấu tranh chống lại quan điểm sai trái của những người nghiên cứu lịch sử ở miền Nam trước năm 1975 diễn ra sôi nổi vào những năm đầu sau giải phóng miền Nam. về cơ bản, cuộc đấu tranh đã loại trừ những quan điểm sai trái ra khỏi việc nghiên cứu và giảng dạy phổ biến ở trong nước.
Song song với việc đấu tranh là bồi dƣỡng những quan điểm dân tộc, giai cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, những nguyên tắc, phương pháp luận sử học mác-xít cho trí thức,
cán bộ giảng dạy đại học và đông đảo giáo viên lịch sử ở miền Nam. Trong thực tiễn những vấn đề phương pháp luận sử học truyền thống đã đề ra và giải quyết trong những năm cuối thập kỷ 60 về cơ bản vẫn còn đúng, song cũng có nhiều vấn đề cần xem xét lại theo tinh thần đổi mới; một số vấn đề đƣợc đặt ra và cần phải đi sâu nghiên cứu. Tuy không có hội nghị lớn về phương pháp luận sử học, song những cuộc hội thảo nhỏ, nhiều luận văn, sách về phương pháp luận được công bố và đề cập đến các lĩnh vực nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Đảng, Lịch sử Quân sự. Trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử từ năm 1975 đến năm 1990 đã có 85 bài phương pháp luận và lý luận chung. Viện thông tin Khoa học xã hội thuộc Viện Khoa học xã hội cũng đã cung cấp kịp thời nhiều tài liệu, tổng thuật, lược thuật về phương pháp sử học. Một số giáo trình về phương pháp luận giảng dạy ở các khoa Sử, đại học Sƣ phạm Hà Nội 1 và đại học Tổng hợp Hà Nội cũng đƣợc biên soạn và sử dụng rộng rãi. Do yêu cầu phát triển của khoa học lịch sử nên những năm qua vấn đề phương pháp luận sử học được thảo luận nhiều nhất là xác định đối tượng lịch sử của các ngành khoa học lịch sử, mối liên hệ giữa chúng, vấn đề mối quan hệ giữa tính đảng và tính khoa học, những vấn đề phương pháp luận trong tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc vận dụng các phương tiện hiện đại trong nghiên cứu lịch sử… Tình hình đổi mới của đất nước cũng đặt ra nhiều vấn đề đổi mới trong sử học, cần giải quyết, xem lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử đã đƣợc đánh giá, mở rộng đối tƣợng trong nghiên cứu lịch sử.
2. Tiếp tục các đề tài đã được tiến hành trong giai đoạn trước
Việc biên soạn Lịch sử Việt Nam đƣợc xúc tiến mạnh mẽ đã hoàn thành và xuất bản tập 2 từ năm 1858 đến năm 1945 và chuẩn bị cho tập cuối các chuyên khảo về lịch sử Việt Nam, các giáo trình đại học cũng đƣợc biên soạn:
Lịch sử Việt Nam 1954 – 1965, Lịch sử Việt Nam 1965 - 1975 của Viện Sử học do NXB Khoa học xã hội ấn hành năm 1995 và năm 2000.
Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn. Đại cương lịch sử Việt Nam.
Toàn tập, NXB Giáo dục, 2000…
Trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước, giới sử học Việt Nam cũng đặt lên hàng đầu nhiệm vụ nghiên cứu về những vấn đề đấu tranh dựng nước. Nhiều công trình về khai hoang, lấn biển, lập ấp, mở rộng sản xuất được hoàn thành dưới hình thức các chuyên khảo, luận văn hay luận án phó tiến sĩ sử học. Việc nghiên cứu những vấn đề về khoa học kỹ thuật phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước cũng được chú ý nhằm tìm hiểu khoa học kỹ thuật trong lịch sử Việt Nam để lý giải dân tộc ta có truyền thống trong lĩnh vực này hay không. Từ đó tìm hiểu thêm những mặt mạnh, mặt yếu của nhân dân ta trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục và sáng tạo những thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại. Kết quả nghiên cứu đề tài là sự ra đời công trình “Tìm hiểu khoa học, kỹ thuật trong lịch sử Việt Nam” của Viện Sử học và việc công bố nhiều luận văn về vấn đề này trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử.
3. Triển khai sâu rộng hơn việc nghiên cứu lịch sử đấu tranh giữ nước của nhân dân ta
Nghiên cứu lịch sử đấu tranh giữ nước của nhân dân ta thu được kết quả lớn: từ việc nghiên cứu những cuộc kháng chiến từ đầu Công nguyên đến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đặc biệt việc nghiên cứu lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp rồi đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam có sự đóng góp to lớn của Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh – trực thuộc Bộ Chính trị với các cuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp – Thắng lợi và bài học”, cuốn “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
128
nước – Thắng lợi và bài học” và nhiều tác phẩm có giá trị của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những tướng lĩnh khác của quân đội nhân dân Việt Nam.
Các nhà nghiên cứu lịch sử đã có nhiều luận văn nghiên cứu về các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, chiến thắng Bạch Đằng (kỷ niệm 700 năm, 1288 – 1988), cuộc khởi nghĩa Lê Lợi – Nguyễn Trãi (nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh Nguyễn Trãi và Lê Lợi), Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa (nhân kỷ niệm 200 năm Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh), Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng) và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (nhân kỷ niệm 10 năm thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến). Các công trình này đi sâu vào nhiều mặt của sự kiện: địa danh lịch sử, chiến lƣợc, sách lược, quan hệ hậu phương và tiền tuyến, ý nghĩa lịch sử. Có thể nói thành tựu nghiên cứu lịch sử các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc và kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là công trình của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam và đã xuất bản 2 tập đầu. Đây là bộ sách “dựng lại toàn bộ hoạt động quân sự của dân tộc trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, kể cả những cố gắng mở nước của cha ông và các cuộc nội chiến từ thời Hùng Vương – An Dương Vương cho đến ngày nay…
4. Việc nghiên cứu về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Phong trào cách mạng Việt Nam thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nhiều cơ quan tham gia đông đảo, đặc biệt việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng. Trong thời kỳ này, Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh có vai trò tích cực trong việc tổ chức nghiên cứu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, và tổ chức nhiều hội nghị khoa học “Chủ tịch Hồ Chí Minh với Cách mạng tháng Mười”,
“Đạo đức Hồ Chí Minh”. Từ khi Viện Hồ Chí Minh, thuộc Viện Mác – Lê-nin được thành lập (1982), việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh đƣợc tổ chức tập trung, có trọng tâm. Viện đã hoàn thành nghiên cứu hai tập đầu Bộ biên niên tiểu sử Hồ Chí Minh và chủ trì chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước “Tư tưởng Hồ Chí Minh” (1991 – 1995), sinh hoạt sôi nổi nhất là cuộc Hội thảo khoa học quốc tế nhằm kỷ niệm 90 năm và 100 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Các báo cáo khoa học tại Hội nghị tổ chức ở Việt Nam đƣợc công bố các quyển sách nhƣ: Kỷ yếu hội nghị khoa học 90 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1980, Hồ Chí Minh anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa công bố năm 1990 của UBKHXH Việt Nam. Ngoài ra nhân dịp này trên nhiều lĩnh vực khoa học khác cũng có những Hội nghị khoa học và công trình đƣợc công bố nhƣ: Hồ Chí Minh với giáo dục, Hồ Chí Minh với văn hóa, Tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh…
Trong nghiên cứu cứu về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, về Hồ Chí Minh, về tƣ tưởng Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đóng vai trò chủ đạo.
Gần bốn mươi năm qua (1962 – 2000), ngành Lịch sử Đảng trải qua nhiều lần thay đổi tổ chức và ngày nay là Viện Lịch sử Đảng, thuộc Học viện Chính trị Hồ Chí Minh đã không ngừng lớn mạnh cả về chất lƣợng và số lƣợng ngày càng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình để đạt tới những thành tựu rất đáng khích lệ. Cán bộ nghiên cứu Lịch sử Đảng đã biên soạn và xuất bản nhiều lần các tập Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam làm cơ sở cho việc hoàn thành Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), từ các tập văn kiện Đảng của Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ƣơng đến năm 2000 đã xuất bản Văn kiện Đảng (toàn tập). Nhiều công trình khác về Lịch sử Đảng, tiểu sử Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã đƣợc hoàn thành và xuất bản.
Hệ thống tổ chức nghiên cứu lịch sử của Đảng và các địa phương đã được hình thành và hoạt động trong nhiều năm qua đã thu đƣợc nhiều thành tựu trong biên soạn lịch
sử Đảng bộ của các thành phố, tỉnh trong cả nước, của các đơn vị, ngành. Việc đào tạo thạc sĩ, nghiên cứu sinh về Lịch sử Đảng ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và khoa Lịch sử trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã đưa công tác đào tạo sau đại học lên một bước, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu giảng dạy ở Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng các địa phương, trường Đảng các tỉnh, các trường đại học và cao đẳng. Tạp chí Lịch sử Đảng là diễn đàn khoa học của những nhà nghiên cứu Lịch sử Đảng mà thành tựu của nó đƣợc phản ánh trong quyển tập hợp một số luận văn đăng trên Tạp chí nhƣ: Đảng Cộng sản Việt Nam – những trang sử vẻ vang 1930 – 2002; Tư tưởng Hồ chí Minh về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của NXB Chính trị Quốc gia năm 2003.
Viện “Tư tưởng Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng” tuy mới thành lập song cũng góp phần không nhỏ vào việc nghiên cứu tư tưởng Hồ chí Minh và tiểu sử các đồng chí lãnh đạo Đảng: Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng…
5. Nghiên cứu các vấn đề về ruộng đất, về phong trào nông dân, giai cấp công nhân và phong trào công nhân
Những vấn đề về ruộng đất, về phong trào nông dân đƣợc các nhà sử học nhƣ Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, Nguyễn Phan Quang, Phan Huy Lê, Vũ Huy Phúc, Nguyễn Hồng Phong tập trung nghiên cứu. Những vấn đề về giai cấp công nhân và phong trào công nhân do Văn Tạo, Cao Lượng, Dương Kinh Quốc... tập trung nghiên cứu. Đã xuất hiện nhiều chuyên khảo có giá trị nhƣ: Phong trào nông dân Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX (1986) của Nguyễn Phan Quang. Giai cấp công nhân Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1975) của Cao Văn Lượng…
6. Việc nghiên cứu Lịch sử thế giới cũng được đẩy mạnh
Chủ điểm nổi bật của việc nghiên cứu là những sự kiện lớn của lịch sử thế giới: Bốn lăm năm chiến thắng phát xít Đức, Bảy mươi năm Cách mạng tháng Mười, Hai trăm năm cách mạng Pháp. Viện Đông Nam Á đóng góp một số công trình để tìm hiểu toàn diện lịch sử các nước Đông Nam Á và mối quan hệ trong khu vực và quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á ra đời từ năm 1990 đánh dấu sự phát triển trong việc nghiên cứu khu vực này. Khoa Sử các trường đại học cũng biên soạn một hệ thống giáo trình, giáo khoa về lịch sử thế giới có chất lƣợng cao hơn.
Việc nghiên cứu lịch sử thế giới một mặt tìm hiểu, làm sáng tỏ những sự kiện lớn của loài người, mặt khác góp phần tìm hiểu lịch sử dân tộc, xác định vai trò, đóng góp của lịch sử nhân loại và rút ra những bài học cho cuộc đấu tranh của chúng ta.
Tuy nhiên việc nghiên cứu lịch sử thế giới vẫn chƣa có vị trí xứng đáng trong nền sử học Việt Nam (trong tổng số 1.187 luận văn khoa học trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử trong những năm 1975 – 1990 chỉ có 90 bài về lịch sử thế giới), chuyên khảo về lịch sử thế giới của các nhà xuất bản còn ít.
Trong hội nhập vào khu vực và thế giới, việc nghiên cứu, sử dụng lịch sử thế giới đòi hỏi chúng ta phải cố gắng nhiều hơn trong tìm hiểu lịch sử thế giới, mối quan hệ giữa lịch sử Việt Nam và thế giới.
7. Nghiên cứu lịch sử địa phương và chuyên ngành sôi nổi hơn từ sau ngày miền Nam giải phóng
Hội nghị lịch sử địa phương và chuyên ngành toàn quốc tháng 8 năm 1979 có hơn 300 đại biểu cả nước tham dự, mở ra một bước phát triển mới của công tác này. Việc nghiên cứu lịch sử địa phương bao gồm nghiên cứu đảng bộ và các đơn vị hành chính