Ngay từ đầu, chế độ nhà Nguyễn đã bộc lộ điểm yếu cơ bản về chính trị là: khác với các triều đại trước thường được thiết lập trên cơ sở thắng lợi của những cuộc chiến tranh giải phóng dâ
Trang 2Tài liệu giảng dạy “Lịch sử Việt Nam cận đại (1858 – 1945)”, do tác giả Nguyễn Bảo Kim, công tác tại khoa Sư phạm thực hiện Tác giả đã báo cáo nội dung
và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa thông qua ngày 23/4/2019 và được Hội đồng Khoa học và Đào tạo Trường Đại học An Giang thông qua
Tác giả biên soạn
ThS Nguyễn Bảo Kim
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Khoa Sư phạm và cán
bộ Thư viện Trường Đại học An Giang đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành Tài liệu giảng dạy này
Tôi xin cảm ơn quý Thầy, Cô Bộ môn Lịch sử, Khoa Sư phạm, Trường Đại học An Giang đã dành nhiều công sức góp ý, chỉnh sửa giúp tôi hoàn thành Tài Liệu
Trang 4LỜI CAM KẾT
Tôi xin cam đoan, đây là Tài liệu giảng dạy của riêng tôi, nội dung Tài liệu giảng dạy có xuất xứ rõ ràng
An Giang, ngày 04 tháng 7 năm 2019
Người biên soạn
Nguyễn Bảo Kim
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX (1858 – 1896)………… … 1
1.1 Việt Nam trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp (1802 -1858)…… … …….1
1.2 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884)……… 12
1.3 Phong trào Cần Vương (1885 – 1896)……… ……… 42
CHƯƠNG 2 VIỆT NAM TỪ 1897 ĐẾN CUỐI CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1918)……… 62
2.1 Chính sách cai trị của thực dân Pháp ở Việt Nam từ 1897 đến 1918………… 62
2.2 Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp ở Việt Nam (1897 – 1914)……….……… …… 74
2.3 Sự phân hóa giai cấp trong xã hội Việt Nam……… 80
2.4 Xã hội Việt Nam trong Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918)………… 85
2.5 Những điều kiện mới của phong trào dân tộc……… …94
2.6 Phong trào dân tộc đầu thế kỷ XX……….101
TỔNG KẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1918 ……… 163
CHƯƠNG 3 VIỆT NAM TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT (1919 – 1930)……… ……… 171
3.1 Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp…… 171
3.2 Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam (1919 – 1925)……….184
3.3 Phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm 1925 – 1929 ………….…195
3.4 Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời……… … 209
CHƯƠNG 4 VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1930 – 1939……… 219
4.1 Phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ 1930 – 1935……….….219
4.2 Cuộc vận động dân chủ (1936 – 1939)……… 235
CHƯƠNG 5 VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM 1939 – 1945………253
5.1 Những nét chính về tình hình thế giới và Việt Nam từ 1939 đến đầu 1941… 253
Trang 65.2 Những chính sách của phát xít Nhật – Pháp ở Đông Dương (9/1940 đến 9/3/1945) ……… … 259 5.3 Tình cảnh nhân dân Đông Dương trong những năm 1939 – 1945………….…260 5.4 Tình hình chính trị, tư tưởng Việt Nam từ 9/1940 đến 1945……….261 5.5 Mặt trận Việt Minh và công cuộc chuẩn bị khởi nghĩa……… …263 5.6 Cao trào kháng Nhật cứu nước……… …269 5.7 Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.272
TỔNG KẾT LỊCH SỬ VIỆT NAM 1919 – 1945 ……….282 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 285
Trang 7CHƯƠNG 1 VIỆT NAM NỬA SAU THẾ KỶ XIX (1858 – 1896)
1 Mục đích
a Về kiến thức
Nêu và khái quát được Việt Nam trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp; cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884) và phong trào Cần Vương (1885 – 1896)
- Bám sát Đề cương chi tiết và Tài liệu giảng dạy (giảng viên cung cấp)
- Đọc sách tham khảo và trả lời các câu hỏi học tập trong Tài liệu giảng dạy
và trong Đề cương chi tiết
- Làm bài tập ở nhà, thảo luận nhóm theo câu hỏi trong Đề cương chi tiết và Tài liệu giảng dạy
- Tập trung nghe giảng trên lớp
- Kiểm tra lấy điểm thường xuyên trên lớp theo yêu cầu của giảng viên
1.1 Việt Nam trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp (1802 – 1858)
1.1.1 Khái quát chế độ phong kiến triều Nguyễn trước khi thực dân Pháp xâm lược
Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX, là một quốc gia thống nhất với sự hoàn chỉnh cương vực quốc gia, thống nhất thị trường tiền tệ, có thể xây dựng, phát triển kinh tế
- xã hội mạnh mẽ, mở rộng quan hệ giao thương quốc tế, canh tân đất nước, vượt qua sự can thiệp, xâm lược của các thế lực thực dân phương Tây
Để đối phó với nạn bành trướng ngày một ráo riết của các nước thực dân phương Tây và để tự cứu mình, một số nước phương Đông đã chọn con đường duy tân đất nước Đó là trường hợp của Nhật Bản và phần nào đó là Xiêm Trong khi đó tại Việt Nam, triều đình nhà Nguyễn được tái lập từ đầu thế kỷ XIX nhưng lại tỏ ra lúng túng, không bắt kịp với xu thế của thời đại
Trang 8Ngay từ đầu, chế độ nhà Nguyễn đã bộc lộ điểm yếu cơ bản về chính trị là: khác với các triều đại trước thường được thiết lập trên cơ sở thắng lợi của những cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, hoặc sau khi hoàn thành những nhiệm vụ chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập, củng cố quốc gia…, còn triều Nguyễn được dựng lên bằng một cuộc nội chiến mà kẻ chiến thắng đã dựa một phần vào thế lực ngoại bang,
và như vậy về khách quan đã đi ngược lại nguyện vọng và quyền lợi dân tộc
Chính vì thế, nhìn toàn cục, bức tranh kinh tế, chính trị, xã hội thời nhà Nguyễn rất đa dạng, phức tạp, tự mâu thuẫn giữa cái tiến bộ và bảo thủ, lạc hậu, giữa cái mạnh và cái yếu, …
1.1.1.1 Về tình hình kinh tế
*Nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp lúa nước vẫn được coi là nền tảng Tuy nhiên, do sự thắng thế của giai cấp địa chủ cường hào, ruộng tư đã lấn át ruộng công, khiến cho số nông dân mất đất phải lưu tán ngày càng đông
Với việc phát canh thu tô, dẫn đến sản lượng thu hoạch từ đồng ruộng rất thấp, cùng với thiên tai lũ lụt, tô thuế, phu phen, tạp dịch nặng nề khiến cho đời sống nông dân cùng quẫn, nền kinh tế nông nghiệp lâm vào bế tắc
Mặc dù có những chính sách khuyến khích phát triển công thương nghiệp, nhưng xu hướng độc quyền công thương của nhà nước vẫn chế ngự, nhà nước phong kiến Nguyễn lại thực hiện “bế quan tỏa cảng” dẫn đến công thương nghiệp lớn không phát triển được Do đó, công thương nghiệp nước ta vẫn quẩn quanh trong nền kinh
tế tự cấp, tự túc, lạc hậu
Chế độ sở hữu ruộng đất công dưới thời Nguyễn đã suy yếu nhiều Ruộng tư ngày càng lấn át ruộng công Nạn chấp chiếm ruộng đất của địa chủ ngày càng trầm trọng Sách Minh Mạng chính yếu cho biết, vào năm 1840, tại tỉnh Gia Định “không
có ruộng công, các nhà giàu đã bao chiếm ruộng tư đến hàng trăm mẫu, dân nghèo không được nhờ cậy” Cũng theo Sử cũ, vào năm 1852, trong 31 tỉnh của toàn quốc thì chỉ có hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị có số ruộng công nhiều hơn ruộng tư Chỉ có 1 tỉnh Quảng Bình có ruộng công và ruộng tư bằng nhau, còn lại 28 tỉnh khác ruộng tư nhiều hơn ruộng công, trong đó phần ruộng tốt thì cường hào chiếm cả, thừa
ra thì hương lý bao chiếm Dân chỉ được phần ruộng xấu, cằn cỗi bạc màu (Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.15)
Vì không còn ruộng đất công để phong cấp cho quan lại và trực tiếp thu thuế như trước, trong khi lại cần nhiều tiền để chi dùng, nhà nước phong kiến Nguyễn không có cách nào khác là phải vơ vét, bóc lột nhân dân bằng nhiều thứ thuế: ngoài thuế ruộng, thuế thân, dưới thời Nguyễn, nông dân còn phải đóng nhiều khoản phụ thu như: tiền mân (tiền thu theo đầu người), tiền thập vật (chi vặt), tiền khoán khố (giấy tờ, giữ kho), tiền sai dư (sai phái), tiền trước bạ, tiền dầu đèn, …
Trang 9Nạn cường hào nhũng nhiễu đã nhiều lúc làm cho triều đình Huế lo ngại Song vì đây là bộ phận rường cột của chế độ, cho nên dù có biết, nhưng triều đình đành phải làm ngơ
Do bị áp bức, bóc lột đủ đường, nhất là bị cướp đoạt ruộng đất nên nhiều nông dân đã phải bỏ làng mà đi Thời Minh Mạng, có năm tại trấn Hải Dương, trong
số 13 huyện, dân phiêu tán mất 108 thôn xã, ruộng bỏ hoang hơn 1.270 mẫu Thời Tự Đức, nạn đê vỡ đã biến miền Khoái Châu thuộc Hưng Yên thành bãi cát hoang vu Năm Tự Đức thứ tám và thứ chín (1856, 1857), hàng chục vạn người chết đói ngay trên đồng ruộng phì nhiêu vùng đồng bằng Bắc Bộ Năm Tự Đức thứ mười hai (1860), số người chết vì nạn đói và ôn dịch ở trong Nam ngoài Bắc lên đến 60 vạn (Đinh Xuân Lâm, 1999, tr.12)
Để đối phó với tình trạng chết đói và phiêu tán của nông dân, nhà Nguyễn đã ban hành chính sách khẩn hoang, cho mở các đồn điền ở Nam Kỳ theo lối quân điền
và khai khẩn đất sa bồi ở vùng ven biển Bắc Kỳ Từ năm 1828, chế độ Doanh điền được ban hành Theo đó, Nhà nước đứng ra tổ chức quy hoạch và góp vốn ban đầu, còn nhân dân thì hợp nhau góp công, góp sức khai hoang lập làng, mở rộng ruộng đất cày cấy Một số huyện ven biển Bắc Kỳ đã ra đời theo phương thức này, trong đó có Kim Sơn (Ninh Bình) với 14.970 mẫu ruộng, 1.260 suất đinh và Tiền Hải (Thái Bình) với 18.970 mẫu ruộng với 2.300 suất đinh Hình thức doanh điền sau đó được
mở rộng ra nhiều tỉnh khác Ngoài ra, nhà Nguyễn cũng khuyến khích nhân dân tự động tổ chức khai hoang Tính đến năm 1847, tổng diện tích canh tác lên tới 4.273.013 mẫu (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.206)
Công tác trị thủy lúc đầu được chú ý Nhà nước hàng năm xuất tiền của thuê nhân công sửa đắp đê điều và kêu gọi quan lại đóng góp ý kiến về các vấn đề chống lụt, chống hạn, Nha Đê chính được thành lập (đến thời Tự Đức bị bãi bỏ), nhiều bản tường trình về thực trạng sông ngòi, đê đập được dâng lên, …
Mặc dù triều Nguyễn đưa ra nhiều biện pháp nhằm giải quyết tình trạng dân phiêu tán và sự sa sút của nông nghiệp, nhưng chỉ thu được những kết quả rất hạn chế Thiên tai, lụt lội, mất mùa vẫn diễn ra Số ruộng đất do chính tay người nông dân khai khẩn được cuối cùng lại bị coi là ruộng đất công, nếu ai sử dụng thì phải nộp thuế rất cao Rốt cục, người nông dân lại vẫn rơi vào con đường nghèo khổ vì không có ruộng cày
Thực trạng trên đã khiến lực lượng sản xuất bị hao mòn, kinh tế nông nghiệp càng trở nên tiêu điều nghiêm trọng Người nông dân không còn tha thiết với sản xuất, cải tiến canh tác Cơ sở kinh tế phong kiến tự cung tự cấp lại được phục hồi và củng cố Những yếu tố manh nha của nền kinh tế thị trường hình thành ở thế kỷ trước
bị chặn đứng
*Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trang 10Trong nửa đầu thế kỷ XIX, nước ta chưa hề có công nghiệp theo đúng nghĩa Hoạt động của công nghiệp chỉ bó hẹp trong khuôn khổ kinh doanh khai thác một số hầm mỏ vàng, bạc, đồng, chì, … cung cấp nguyên liệu cho các xưởng thủ công chế tác hầu hết các đồ dùng như tiền bạc, vũ khí, thuyền bè, xe cộ, quần áo, đồ trang sức
Triều Nguyễn nắm độc quyền các công xưởng đúc súng, đóng tàu, đúc tiền và các xưởng chuyên chế tạo đồ dùng riêng cho cung đình Các công trường xây dựng cung điện, thành quách, lăng tẩm đều do Bộ Công của triều đình quản lý
Chế độ làm việc trong các công xưởng là chế độ “công tượng” mang nặng tính chất cưỡng bức Những người thợ giỏi ở các địa phương bị trưng tập về kinh đô làm việc tập trung với tiền lương thấp, chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc
Triều Nguyễn giữ độc quyền ngành khai mỏ Số mỏ được khai thác từ năm
1802 đến năm 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại Phần lớn các mỏ đều nằm trong tay các quan lại triều đình đứng ra khai thác Phương thức khai thác mỏ theo lối thủ công cá thể theo lối xưa cũ nên năng suất rất thấp
Các nghề thủ công nghiệp trong nhân dân, do quy luật cung cầu chi phối vẫn giữ được sự phát triển trong chừng mực nhất định Ở khắp nơi vẫn xuất hiện nghề rèn, nghề thợ xây, làm gốm, làm đồ gỗ, tơ lụa, dệt vải, nấu đường, đan lát mây tre nan, làm nón, dệt chiếu, làm pháo, in tranh, … Tuy nhiên do hạn chế về nguồn tiêu thụ và các luật lệ cấm đoán và thiếu sự khuyến khích từ phía Nhà nước, cho nên các nghề thủ công đương thời không vươn mạnh lên được Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình ở nông thôn còn bị đình đốn bởi nông dân đói khổ, li tán
Các làng nghề thủ công cho dù nằm ở các trung tâm đô thị như Hà Nội vẫn không thể phát triển lên thành các phường hội, có quy chế hoạt động giống như phường hội Tây Âu thời trung đại, và cũng chưa có những thương nhân giàu có đứng
ra kinh doanh cố định một mặt hàng, làm cơ sở cho sự ra đời các công trường thủ công giống như ở châu Âu
*Thương nghiệp
Triều Nguyễn thực hiện chính sách “trọng nông ức thương” Về nội thương,
vì sợ nhân dân chế vũ khí chống lại triều đình, triều Nguyễn nắm độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp (đồng, thiếc, kẽm, chì, lưu huỳnh, diêm tiêu) Chính sách này giáng đòn nặng nề vào nền thủ công nghiệp Việt Nam, khiến nhân dân thiệt thòi về phương diện mưu sinh, đồng thời kìm hãm nghiêm trọng nền sản xuất nông nghiệp – xương sống của kinh tế nước ta Mặt khác, triều Nguyễn đặt ra nhiều luật lệ
để kiềm chế, như nắm độc quyền buôn bán đối với lâm sản quý (quế, nhung hươu, sáp ong, ngà voi, gỗ quý), đánh thuế nặng vào các mặt hàng quan trọng đối với đời sống nhân dân như lúa gạo để hạn chế việc chuyên chở trao đổi giữa các vùng trong nước, cấm nhân dân họp chợ Việc giao thương giữa các địa phương gặp rất nhiều khó khăn, thị trường trong nước không tập trung và thống nhất
Trang 11Đối với ngoại thương, triều Nguyễn thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”
và nắm độc quyền ngoại thương Chính sách “bế quan tỏa cảng”, khước từ quan hệ thông thương với bên ngoài, nhất là với phương Tây đã làm cho Việt Nam bị tách biệt với các nước Thời Gia Long đã có sự hạn chế thuyền bè ngoại quốc ra vào các cửa biển Việt Nam, trừ tàu buôn của Pháp thỉnh thoảng được phép qua lại Đến các triều vua sau này, đặc biệt dưới thời Tự Đức, việc buôn bán với các nước phương Tây hầu như ngừng hẳn Tàu thuyền của Anh, Pháp, Mỹ, … nhiều lần cập bến Đà Nẵng xin buôn bán đều bị khước từ Ngoại thương của Nhà nước chỉ được mở hạn chế với các nước trong khu vực Đông Á hoặc Đông Nam Á, như Trung Quốc, Philippines, Thái Lan, Singapore, Indonesia, … (Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.19)
Triều Nguyễn chỉ mở hạn chế một số cửa biển cho tàu thuyền nước ngoài buôn bán Tàu thuyền nước ngoài được phép nhập vào những hàng hóa triều đình cần như sắt, chì, gang, lưu huỳnh để làm súng đạn Cấm tàu thuyền nước ngoài mua tơ lụa, thóc gạo trong nhân dân khiến cho việc thương mại ngày càng suy sụp
Về thuế quan, trước có 60 Sở thu thuế, đến năm 1851 còn lại 21 Sở Điều đáng nói ở đây là việc hạn chế ngoại thương không xuất phát từ việc bảo vệ thị trường trong nước, mà xuất phát từ ý thức ngăn chặn sự du nhập của đạo Thiên Chúa (Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.20)
*Tài chính
Những chính sách của triều Nguyễn đã khiến cho các ngành nông, công, thương nghiệp và thủ công nghiệp đình đốn Các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các lĩnh vực kinh tế bị bóp nghẹt Nền kinh tế hàng hóa vì vậy đã bị co hẹp lại Trên cơ sở đó, nền tài chính quốc gia ngày một kiệt quệ
Để có tiền chi dùng, vua tôi nhà Nguyễn, nhất là thời Tự Đức đã dùng mọi cách để vá víu, như bán công điền làm tư điền, cho nộp tiền chuộc tội, quyên tiền lấy phẩm hàm, … Song vẫn không sao giải quyết được nạn khủng hoảng tài chính Hậu quả là nhân tài, vật lực nước ta bị kiệt quệ Năm Tự Đức lên ngôi (1847), đình thần là Trương Quốc Dụng tâu: “Tài lực của dân nay không bằng sáu phần mười năm trước” Tới năm 1859, khi quân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, chiến tranh mới chỉ diễn ra ở vài nơi (Đà Nẵng, Gia Định) mà Nguyễn Tri Phương đã kết luận “Quân
và dân của đã hết, sức đã yếu” (Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.21)
Thế kỷ XIX là thế kỷ bản lề với xã hội châu Á Lúc đó, trước áp lực của chủ nghĩa thực dân phương Tây, việc mở cửa, khai phóng những nhân tố kinh tế tư bản chủ nghĩa là con đường duy nhất đúng để tăng sức mạnh bảo vệ nền độc lập Nhưng trên bình diện kinh tế, nhà Nguyễn đã không làm được việc đó
1.1.1.2 Về tình hình chính trị Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, Việt Nam là một nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, cao nhất là Hoàng đế, nắm tất cả quyền bính, có
Cơ mật viện bàn chuyện quốc sự, nhưng ý kiến quyết định cuối cùng vẫn là ý kiến
Trang 12của nhà vua Hoàng đế tự xưng là Thiên tử (con Trời), thay Trời trị dân Vua có uy quyền tuyệt đối, cho ai sống thì được sống, bắt ai chết thì kẻ ấy phải chết Ý vua là phép nước và nước là của vua Trong thực tế, vua là địa chủ lớn nhất nước, có toàn quyền quyết định trong việc sử dụng ngân khố nhà nước, có quyền tước đoạt bất kỳ cái gì, của bất cứ ai nếu nhà vua muốn
Để thống nhất điều hành từ triều đình cho tới xã, thôn, các vua triều Nguyễn cho phân chia lại các khu vực hành chính, định lại bản đồ và tổ chức một hệ thống quan lại hoàn chỉnh ở các cấp Các hàng quan đầu tỉnh đều do Nhà nước bổ nhiệm, thông qua thi cử Ở vùng thượng du, triều đình không có khả năng cai trị thì thông qua các tù trưởng để nắm quyền Dưới các thôn xã, quyền bính nằm trong tay bộ phận phú hào, cả về kinh tế, cai trị, giáo dục Vận mạng của dân làng phụ thuộc vào các tổng lý, kỳ dịch Quần chúng nhân dân bị áp bức thậm tệ
Mô hình nhà nước triều Nguyễn với nguyên lý quyền hành quá mức, hệ thống chính quyền quân chủ tuyệt đối là đặc trưng của chế độ chính trị nhà Nguyễn Vua
Tự Đức cũng phải thú nhận: “quan lại khắc nghiệt lấy giấy tờ pháp luật làm gông cùm, lấy dân đen làm cá thịt…” (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.207) Thể chế ấy sinh ra sự lộng hành ghê gớm của bọn cường hào các địa phương
Về đối nội, triều Nguyễn đàn áp khủng bố các phong trào khởi nghĩa của quần chúng, huy động những lực lượng quân sự to lớn vào việc dập tắt các cuộc khởi nghĩa nông dân Các cuộc hành quân liên miên đã khiến lực lượng quân đội triều đình suy yếu dần, khả năng chiến đấu giảm sút Lòng dân oán thán, chia lìa, khối đoàn kết dân tộc bị rạn nứt Tình hình trên đã gián tiếp tạo điều kiện cho thực dân Pháp thôn tính nước ta
Bộ máy nhà nước và Bộ luật Gia Long thời Nguyễn phỏng theo bộ máy nhà nước và Bộ luật của nhà Thanh Bộ luật Gia Long được áp dụng triệt để nhằm duy trì chế độ phong kiến nhà Nguyễn Triều Nguyễn còn sử dụng văn học để tuyên truyền cho chế độ thống trị hà khắc, như Minh Mạng ra 10 điều Huấn dụ, Tự Đức diễn âm Thập điều diễn ca để truyền bá rộng rãi học thuyết Nho giáo, trên cơ sở đó củng cố ý thức hệ phong kiến đã bị rạn nứt
Việc trả thù thái quá với nhà Tây Sơn đến việc giết hại công thần như Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường, từ sự chia rẽ trong hoàng tộc vì việc phế lập khiến đại công thần như Lê Văn Duyệt cũng bị quật mồ mả vì tội “nâng đỡ dòng đích tôn”,
… các sự kiện đó chỉ làm cho tình hình đất nước thêm rối ren
Về đối ngoại, triều Nguyễn khá mạnh so với các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á, nên trong chính sách đối ngoại, bên cạnh việc xin nhà Thanh phong vương, chịu cống nạp, nhà Nguyễn không ngại đối đầu với nước Xiêm trong vấn đề “bảo hộ” Cao Miên và biến Cao Miên thành một tỉnh (1835), đổi tên Nam Vang thành trấn Tây Thành Năm 1827, nhà Nguyễn đã buộc Lào thần phục
Trang 13Từ năm 1827 đến năm 1847, trong vòng 20 năm, nhà Nguyễn đã gây chiến tranh với Cao Miên, Xiêm La và Lào, khiến cho nhân dân vô cùng khốn khổ “Đi đánh giặc Lạp, giặc Lào, giặc Xiêm” là ác mộng của nhân dân miền Trung và miền Nam trong thời gian đó Kết quả của 20 năm theo đuổi chính sách xâm lược tai hại đã khiến cho tài lực của nhân dân hao mòn, hiềm thù ngày càng khoét sâu giữa các nước láng giềng với nhau, trong lúc bọn thực dân đang nhòm ngó ngoài cửa ngõ
Đối với các nước phương Tây, nhà Nguyễn thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”, cấm đạo, sát đạo
Để đối phó với âm mưu của các cố đạo Pháp, các vua triều Nguyễn đã chọn con đường hạn chế ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo Ngay từ thời Gia Long đã có chủ trương hạn chế việc truyền đạo, không cho làm thêm nhà thờ, tu bổ nhà thờ hoặc giao thương với Pháp và các nước phương Tây Từ Minh Mạng trở đi, bế quan tỏa cảng và cấm đạo càng ngặt nghèo hơn Tàu chiến Pháp càng gây sự, các cố đạo càng can thiệp sâu vào công việc nội trị của Việt Nam bao nhiêu thì các hải cảng càng được đóng chặt và các cha cố càng bị truy nã, khủng bố thêm bấy nhiêu
Cho dù chính sách cấm đạo của nhà Nguyễn có những lý do của nó, mà một trong những lý do chính là những hoạt động gián điệp, khiêu khích trắng trợn của các cha cố, nhưng những chính sách cấm đạo, sát đạo của triều Nguyễn đã bất lợi cho nước ta trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp Hậu quả là việc truyền đạo Thiên Chúa không thể ngăn cản, mà còn làm cho thế nước ngày càng suy yếu, gián tiếp khuyến khích kẻ địch lấn tới và xâm lăng
Tóm lại, trong gần 60 năm đầu thế kỷ XIX (1802 – 1858), triều đình nhà Nguyễn ra sức củng cố quan hệ sản xuất phong kiến, bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã có manh nha từ thế kỷ XVIII, đối đầu với nước Xiêm, buộc Cao Miên, Lào thần phục, bế quan tỏa cảng, cấm đạo, sát đạo với Thiên Chúa giáo, đàn áp đẫm máu các phong trào khởi nghĩa nông dân, truyền bá và củng cố ý thức hệ Nho giáo
Mọi chính sách về chính trị, kinh tế, văn hóa, đối nội, đối ngoại, … triều Nguyễn đã thi hành đều nhằm vào mục đích bảo vệ đặc quyền, đặc lợi của giai cấp thống trị Vì thế, đã không tạo ra được sức mạnh của nhân dân, không phát huy được truyền thống yêu nước và tình hòa hiếu lâu đời vốn có của dân tộc, trong khi thực dân Pháp đang ráo riết tìm cớ xâm lược nước ta
1.1.1.3 Về mặt xã hội Ách áp bức nặng nề cùng với những chính sách đối nội, đối ngoại thiển cận của nhà nước phong kiến Nguyễn đã khiến cho mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên sâu sắc Hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra suốt từ thời Gia Long đến thời Tự Đức Trong phong trào khởi nghĩa đó, có những cuộc khởi nghĩa kéo dài nhiều năm, thu hút hàng ngàn người tham gia
Trong suốt 18 năm thời Gia Long (1802 – 1820) có 73 cuộc khởi nghĩa nông dân Từ thời Minh Mạng trở về sau cho đến năm 1858, các cuộc khởi nghĩa nổ ra
Trang 14ngày càng nhiều hơn, quy mô càng lớn hơn Tiêu biểu như cuộc khởi nghĩa của Phan
Bá Vành ở vùng Nam Định (1821 – 1827), khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854 – 1856) ở
Hà Nội, khởi nghĩa của Lê Duy Lương ở miền núi Thanh Hóa (1833 – 1834), cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833 – 1836), khởi nghĩa của Nông Văn Vân (1833) ở vùng rừng núi Tuyên Quang, Cao Bằng, … (Đinh Xuân Lâm, 1999, tr.15)
Trong vòng 7 năm ở ngôi của Thiệu Trị, đã có tới 56 cuộc khởi nghĩa nông dân Thời Tự Đức, cao trào nông dân khởi nghĩa đã làm cho nền tảng chế độ phong kiến lung lay Từ năm 1848 đến năm 1862, đã có 40 cuộc khởi nghĩa Nếu tính đến năm 1883, khi nhà Nguyễn ký Điều ước Harmand, thừa nhận sự chiếm đóng của Pháp trên toàn cõi Việt Nam thì các cuộc khởi nghĩa chống triều đình đã lên tới con
số 103 cuộc (Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.23)
Các cuộc hành quân liên miên đã khiến lực lượng quân đội triều đình suy yếu dần, khả năng chiến đấu giảm sút Lòng dân oán thán, chia lìa, khối đoàn kết dân tộc
bị rạn nứt Tình hình trên đã gián tiếp tạo điều kiện cho thực dân Pháp thôn tính nước
ta
Phong trào khởi nghĩa nông dân trên đã khẳng định rằng, vào lúc thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta là lúc mâu thuẫn giữa nông dân với phong kiến đã trở nên sâu sắc Tuy nhiên, nông dân bao giờ cũng là một lực lượng yêu nước quan trọng Chính quần chúng nhân dân, trong đó chủ yếu là nông dân đã trở thành chỗ dựa của các sĩ phu yêu nước, thoát ly khỏi triều đình lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp ở giai đoạn sau
1.1.1.4 Về quân sự Nhà Nguyễn coi trọng việc binh bị Dưới thời Nguyễn, quân đội được củng
cố, gồm đủ các binh chủng như bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh, pháo binh Quân đội tuy đông, nhưng kém về luyện tập, vũ khí lạc hậu (Lạc hậu so với phương Tây, ở Đông Nam Á, quân đội nhà Nguyễn là một trong những quân đội mạnh nhất lúc bấy giờ)
Khi Gia Long đánh bại Tây Sơn, bộ binh của nhà Nguyễn có 113.000 quân,
200 thớt voi, 30 vệ pháo binh Thủy quân có 17.000 quân với 500 chiến thuyền nhỏ,
200 chiến thuyền lớn, mỗi chiến thuyền được trang bị từ 10 đến 22 khẩu đại bác Cả nước có 80 cơ hay vệ bộ binh, mỗi cơ hay vệ có khoảng 5.000 quân do Quản cơ hay
Vệ úy chỉ huy Mỗi viên Thống chế cai quản khoảng 10 cơ hay vệ, mỗi cơ hoặc vệ có
10 đội, mỗi đội có 50 quân (chia thành 5 thập hay 10 ngũ) Lính ở kinh đô gọi là vệ, lính các nơi gọi là cơ Lính chiêu mộ ở Nam Kỳ, Bình Định, Nghệ An thường đưa về kinh làm lính vệ Các tỉnh khác cung cấp lính cơ Lính cơ hay lính vệ đều phải phục
vụ trong quân ngũ 10 năm, riêng lính ở Trung Kỳ thì phục vụ 15 năm Quân số chia thành hai hoặc ba ban, lớp tại ngũ, lớp ở nhà luân phiên nhau (Nguyễn Ngọc Cơ,
2007, tr 21)
Trang 15Bộ binh gồm có Kinh binh và Cơ binh Kinh binh chia thành các doanh, vệ, đội có nhiệm vụ trấn giữ kinh thành hoặc chia đi đóng ở một số nơi hiểm yếu Doanh,
vệ, đội có các quan Thống chế, Chánh, Phó Quản vệ và Suất đội chỉ huy Mỗi doanh
có 5 vệ, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 quân So với các nước phương Tây lúc bấy giờ thì trang bị của quân đội nhà nguyễn rất lạc hậu: trong một đội 50 quân thì chỉ có
5 quân cầm súng điểu thương (súng châm ngòi), mỗi năm tập bắn 1 lần, mỗi lần bắn
6 phát đạn, số còn lại trang bị gươm giáo (Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.21)
Sự kém cỏi của binh lực thời Nguyễn có nhiều nguyên nhân Ngoài những nguyên nhân liên quan đến bản chất chế độ, còn phải kể đến sự suy sụp về tài chính, dẫn đến thiếu khả năng cải tổ lực lượng quân đội Kỹ thuật thời Gia Long thế nào thì thời Tự Đức vẫn vậy, vẫn tiếp tục học trận đồ bát quái, ngũ hành, long thao, hổ lược, tướng ra trận vẫn phải coi ngày giờ tốt xấu, bổn mạng may rủi, …
Đời sống của binh lính tồi tệ Lương ăn, áo mặc của họ đều thiếu thốn Quân pháp thiếu nghiêm minh Đánh trận dù có dũng cảm, nhưng bị thua hay tạm thua đều
bị giáng chức, cách chức Tinh thần chiến đấu của binh sĩ vì thế bị sa sút
Phạm Phú Thứ, một đại thần của triều đình nhận xét:
Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền Quân sĩ nhiều người không lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau, chớ không trông mong gì đến gạo trong kho Quan võ thì thường than thở rằng, mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ro chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng thì nào
có ai nghĩ đến cho
(Nguyễn Ngọc Cơ, 2007, tr.22)
Một điều đáng lưu ý là trong khi quân lực suy tàn, tài chính khô kiệt, lòng dân oán thán thì triều đình, vua quan, sĩ phu đều khư khư ôm lấy tư tưởng bảo thủ, cố chấp, không chịu duy tân Trong khi kỹ thuật tư bản chủ nghĩa đang phát triển mạnh
mẽ, lan tràn ở nhiều nước xung quanh, thế mà vua tôi nhà Nguyễn vùi đầu vào Tứ Thư, Ngũ Kinh, ai bàn đến canh tân thì cho là tà thuyết, xảo đoạt tạo hóa
Do tầm nhìn hạn hẹp, đến đời Tự Đức, các vua Nguyễn còn bỏ nhiều tiền sang châu Âu mua súng mà không hề biết rằng những thứ vũ khí mua được đều sản xuất trước năm 1848, thời điểm trước khi châu Âu làm cuộc cách mạng về vũ khí Đại bác ở các thành có nhiều nhưng tầm bắn gần, ít chính xác vì đạn đặc, khả năng sát thương kém
Sức lực vương triều tuy còn đủ để ra oai với các nước láng giềng hay đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân, song một triều đình như thế, khó có thể đương đầu nổi với quân đội xâm lược nhà nghề, được trang bị bằng vũ khí của nền công nghiệp
tư bản chủ nghĩa phương Tây
1.1.1.5 Về tình hình văn hóa tư tưởng
Trang 16Do nhiều lý do chủ quan và khách quan, trong sinh hoạt văn hóa, thời Nguyễn cũng có nhiều thành tựu độc đáo, phát huy truyền thống văn hiến Việt Nam Trong lĩnh vực tư tưởng, chủ yếu là Tống Nho vẫn được đề cao và coi là hệ tư tưởng chính thống, vua quan nhà Nguyễn nói chung đều coi nó là hệ quy chiếu duy nhất, “xưa hơn nay”, “nội Hạ ngoại Di”, …
Do sự xâm nhập ngày càng mạnh của đạo Thiên Chúa từ thế kỷ XVI, truyền thống “Tam giáo đồng quy” bị đe dọa nghiêm trọng Trong thời Nguyễn, đặc biệt khi cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp đã nổ ra, có 3 vấn đề tư tưởng chi phối
từ cung đình xuống dân chúng Đó là các vấn đề: Chính đạo hay Tà giáo? (Nho giáo hay Thiên Chúa giáo?), Chiến hay Hòa? (đánh Pháp hay đầu hàng?), Duy Tân hay Thủ cựu? (bảo thủ thay cải cách?) Tiếc rằng, nhiều sĩ phu yêu nước lại quay lưng với
xu hướng cải cách và ủng hộ việc “cấm đạo” của triều đình, được thi hành ngày càng gay gắt từ thời Minh Mạng, một chính sách tuy có hạt nhân hợp lý và có ý nghĩa bảo
vệ an ninh quốc gia, nhưng lợi bất cập hại trong thực tiễn
Tóm lại, qua xem xét các lĩnh vực cụ thể của Việt Nam dưới thời Nguyễn, trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược cho thấy chế độ phong kiến triều Nguyễn không thể giải quyết được xu thế khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ XVIII Chế độ phong kiến triều Nguyễn đã khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, ngoại giao Nhà nước phong kiến Nguyễn đang đứng trước thách thức to lớn: một là nó phải được cải tổ để đáp ứng yêu cầu lịch sử, tốt nhất là thay thế bằng một triều đại khác tiến bộ hơn, có khả năng duy tân đất nước
và bảo vệ nền độc lập dân tộc; hai là nước Việt Nam bị xâm lược và bị biến thành một nước thuộc địa của tư bản phương Tây Thực tế lịch sử cho thấy, khả năng thứ nhất đã không xảy ra, khả năng thứ hai đã liền kề Việc mất nước Việt Nam lúc đầu không tất yếu, nhưng do phong kiến triều Nguyễn tiếp tục lối mòn cũ, cự tuyệt mọi
đề nghị cải cách, duy tân, dẫm chân tại chỗ và tụt hậu, cuối cùng mất nước – khả năng thứ hai đã trở thành tất yếu
1.1.2 Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp
Thực dân Pháp đánh chiếm Việt Nam là vì vấn đề Công giáo, thực ra đó chỉ
là cái cớ trực tiếp Chính C Gosselin (Gốt-xơ-lanh), một võ quan Pháp trong một cuốn sách về lịch sử Việt Nam đã viết:
Đồng bào Pháp do ít hiểu lịch sử cho rằng, nước Pháp phải can thiệp vào An Nam chỉ là để bảo vệ nhà truyền giáo, để trả thù những hành động đối nghịch, ngược đãi với đạo Gia Tô Sự thật thì các nhà truyền giáo chỉ là lý do của những hành động của chúng ta chống lại An Nam mà thôi, … Nước An Nam đã cho chúng ta cơ hội ấy và chúng ta đã nắm ngay cơ hội ấy và giờ đây việc đánh chiếm đã hoàn thành…
(Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.209)
Trang 17Quá trình chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp là lâu dài liên tục, bắt đầu từ những thập niên đầu thế kỷ XVII, với mục đích nhất quán là bành trướng, xâm chiếm thị trường, hoàn toàn không phải vì mục đích tôn giáo hoặc
“sứ mệnh khai hóa văn minh” nào cả
Năm 1624, linh mục A de Rhodes (Đắc Lộ) đã có mặt tại Việt Nam Trải qua
21 năm hoạt động không biết mệt mỏi, A de Rhodes không chỉ là cha đẻ của chữ Quốc ngữ mà còn lập ra Hội truyền giáo nước ngoài của Paris (1658) và góp phần quan trọng trong việc lập ra Công ty Đông Ấn của Pháp (1664) Hai cơ quan, một thương mại, một truyền giáo này thực sự đã hướng sự chú ý của thực dân Pháp vào Đông Dương, đồng thời cũng gạt dần ảnh hưởng của các thế lực phương Tây khác ra khỏi nước ta
Liên minh Nguyễn Ánh – Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine) từ năm 1777 đã thúc đẩy thêm quá trình đó Hiệp ước Versailles ngày 28/11/1787 ký giữa Bá Đa Lộc, người đại diện cho Nguyễn Ánh và Montmorin (Mông-mô-ranh) đại diện cho vua Pháp Luis XVI, tuy không thực hiện được, nhưng đã cột chặt Gia Long vào ảnh hưởng của nước Pháp và Hội truyền giáo nước ngoài của Paris
Gia Long lên ngôi, vì những “ân tình” với nước Pháp nên đã sử dụng tới 40
cố vấn, chủ yếu là các giáo sĩ thuộc Hội truyền giáo nước ngoài của Paris, trong đó
có Chaigneau (Se-nhô) được cải họ Việt là Nguyễn Văn Thắng và P.Vanier (Va-ni-ê) tức Nguyễn Văn Chấn, ở kinh thành Huế hàng chục năm, dạy học cho các hoàng tử, công chúa, dịch sách và tài liệu cho triều đình, nắm mọi bí mật quốc gia
Năm 1822, bị Anh gạt khỏi Ấn Độ, thực dân Pháp càng tỏ ra quan tâm hơn đến Việt Nam Tiêu biểu là ý kiến của Thượng thư Guizot (Gi-dô) năm 1843 rằng, nước Pháp phải có hai cái đảm bảo ở Viễn Đông là vùng biển Trung Hoa và Việt Nam (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.210)
Năm 1852, Napoleon III lên ngôi, là người sùng đạo và kiên quyết đi theo chính sách thuộc địa của Luis Philippe, đặc biệt khi nổ ra chiến tranh giữa Anh với nhà Thanh thì quyết tâm đánh chiếm Việt Nam càng tăng thêm Ngày 16/9/1856, Pháp phái tàu chiến Catinat đến Đà Nẵng, có phái viên cầm quốc thư sang Việt Nam, nhưng triều đình Huế lo ngại không tiếp Ngày 26/9/1856, thực dân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi kéo lên khóa tất cả các đại bác trên bờ, sau đó nhổ neo bỏ đi Ngày 23/1/1857, phái viên của Napoleon III là Montigny cập bến Đà Nẵng yêu cầu được tự
do truyền đạo và buôn bán, nhưng vẫn bị triều đình Huế cự tuyệt
Ngày 22/4/1857, Napoleong III quyết định cử ra Hội đồng Nam Kỳ để xét lại Hiệp ước Versailles đã ký kết năm 1787 giữa Bá Đa Lộc đại diện cho Nguyễn Ánh
và Montmorin đại diện cho Luis XVI nhưng không thành Tháng 7/1857, Napoleon III quyết định vũ trang can thiệp vào Việt Nam với cớ trả thù việc triều đình Huế không tiếp nhận quốc thư của Pháp do tàu chiến Catinat đem đến tháng 9/1856, cho
là triều Nguyễn “làm nhục quốc kỳ Pháp” Mặt khác, chúng còn lấy cớ “bênh vực
Trang 18đạo”, “truyền bá văn minh Công giáo” để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của dư luận Công giáo Pháp và Việt Nam (Đinh Xuân Lâm, 1999, tr.10)
1.2 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884)
1.2.1 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Đà Nẵng
Rạng sáng ngày 1/9/1858, liên quân Pháp, Tây Ban Nha nổ súng xâm lược nước ta tại Đà Nẵng Thực dân Pháp chọn Đà Nẵng làm địa điểm tấn công đầu tiên vì
Đà Nẵng có một vị trí quân sự quan trọng, hải cảng sâu rộng, thuận tiện cho tàu chiến triển khai
Hơn nữa theo cách nhìn của giới quân sự Pháp, Đà Nẵng là cổ họng của Huế, chỉ cách Huế 100km về phía Nam, nếu chiếm được Đà Nẵng, Pháp có khả năng chiếm ngay kinh thành Huế, sớm kết thúc chiến tranh
Giới quân sự Pháp cũng được lời hứa hẹn rằng, Giám mục Pellerin ranh) đã hoạch định kế hoạch lôi kéo giáo dân vùng ven biển Đà Nẵng nổi dậy phối hợp với hải quân Pháp khi vào trận Nhưng thực tế, điều này không xảy ra
(Pe-lơ-Kế hoạch xâm lược Việt Nam đã được thông qua từ tháng 7/1857 và đến khi cuộc can thiệp của Pháp ở vùng biển Trung Hoa tạm ngưng bởi Hiệp ước Thiên Tân lần thứ nhất ngày 27/6/1858, hạm đội Pháp lập tức quay mũi về phía Đà Nẵng
Người chỉ huy hạm đội Pháp là Phó Đô đốc R de Genouilly (Giơ-nui-y), đã từng chinh chiến nhiều năm trên chiến trường Nga và Trung Quốc R de Genouilly
có trong tay 14 tàu chiến và 3.000 quân Ngoài ra trên mặt trận Đà Nẵng còn có 500 quân Tây Ban Nha do đại tá Lanzarotte (Lan-da-rốt) chỉ huy Quân Tây Ban Nha có mặt trong cuộc chiến tranh xâm lược vì họ cũng bị kích động “trả thù” cho các giáo
sĩ dòng Đa Minh của họ bị Tự Đức sát hại Tuy vậy, người Pháp cũng đã nhanh chóng gạt ngay bạn “đồng minh” này khi họ chiếm được Gia Định ít lâu sau
Việc Đà Nẵng bị tấn công không hề bất ngờ với triều đình Sách Dương sự thủy mạt đã ghi rằng, từ năm 1857, nhiều bản điều trần đã dâng lên Tự Đức đề nghị triều đình cho tăng cường phòng thủ cho hải cảng này Theo kế hoạch đó, trên sông
Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà được đắp thêm 2 đồn lũy kiên cố Đèo Hải Vân cũng được xây thêm các đồn phòng thủ, có sẵn đá hộc chặn giặc Quân số trên các đồn chính ở Đà Nẵng có lúc lên đến gần 5.000, trang bị thêm đại bác mới, … (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.211)
Rạng sáng ngày 1/9/1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư, quân Pháp đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà Quân triều đình bắn trả, nhưng do vũ khí lạc hậu và không được tập luyện thường xuyên nên kém hiệu quả, không thể ngăn được quân Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà
Vũ khí hiện đại đã tạo cho liên quân Pháp, Tây Ban Nha lợi thế ngay từ đầu, các đồn An Hải và Điện Hải (Trà Sơn) bị vỡ, quân triều đình phải lui về Hòa Vang
Trang 19Được tin mất bán đảo Sơn Trà, Tự Đức xuống chiếu cách chức Tổng đốc Trần Hoàng và Hồ Đức Tú, cử danh tướng Nguyễn Tri Phương làm Tổng đốc Quảng Nam cùng Chu Phúc Minh ra Đà Nẵng chặn giặc (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.211)
Nguyễn Tri Phương chủ trương bao vây quân giặc bằng cách xây dựng một tuyến phòng thủ từ Hải Châu (chân đèo Hải Vân) tới Thạch Giản dài hơn 4km, nhằm vây chặt quân Pháp ngoài mé biển, không cho chúng đi sâu vào nội địa Đối với nhân dân trong vùng, ông ra lệnh thực hiện vườn không nhà trống tản cư vào bên trong để khỏi bị giặc bắt đi lính, nộp lương thực hay cung cấp tin tức
Chiến thuật đó tuy không độc đáo nhưng cũng làm cho quân Pháp bị giam chân trong 5 tháng liền, bị tiêu hao, bị dịch bệnh hoành hành (200 tên chết trong vòng một tháng), khả năng được tiếp ứng từ đất liền hoàn toàn không có Trong tình trạng khó xử ấy, R de Genouilly quyết định chuyển hướng, chỉ để lại một lực lượng nhỏ ở bán đảo Sơn Trà, còn đại quân chuyển vào Nam Kỳ, trước tiên là hướng Gia Định Pháp chuyển đại quân vào đánh Gia Định với những lý do sau:
Thứ nhất, Nam Kỳ là vùng kinh tế giàu có, nhiều lúa gạo, có khả năng xuất khẩu
Thứ hai, lực lượng quân chính quy của triều đình ở đây mỏng hơn
Thứ ba, từ Nam Kỳ có thể chiếm Cao Miên, ngược sông Mekong lên Vân Nam Trung Quốc
Thứ tư, đánh Nam Kỳ sẽ ít gặp sự phản ứng của nhà Thanh, lại vừa có thể đề phòng quân Anh khi họ đã chiếm được Hương Cảng, Singapore
Thứ năm, Nam Kỳ thuộc địa bàn sông nước, kênh rạch chằng chịt, thuận lợi cho tàu chiến của giặc cơ động khi tác chiến
1.2.2 Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân dân triều Nguyễn ở Đà Nẵng và Nam Kỳ (2/1859 – 1885)
1.2.2.1 Thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, đại đồn Chí Hòa
và bốn tỉnh Nam Bộ (2/1859 – 3/1862) Sự phân hóa trong nội bộ triều Nguyễn
Ngày 9/2/1859, quân giặc đã tới Vũng Tàu Từ ngày 10 tháng 2 chúng bắt đầu tấn công dọc sông Cần Giờ vào Gia Định Tàu Pháp tiến rất chậm, từ cửa Cần Giờ vào đến gần thành Gia Định mất hết 6 ngày, vì vấp phải sức kháng cự quyết liệt của quan quân triều đình đóng hai bên bờ sông và vật cản giữa dòng sông
Sáng ngày 16/2/1859, Pháp đổ bộ chiếm được hai pháo đài bảo vệ trực tiếp thành Gia Định và cho tàu ngược sông Bến Nghé vào đậu ngay trước mặt thành Sáng ngày 17/2, tàu chiến địch tập trung hỏa lực bắn vào thành, đến trưa thì cho quân
đổ bộ đánh thành và chiếm được thành Gia Định
Trang 20Như vậy, chỉ trong 2 ngày, ngày 16 và 17/2, quân Pháp đã chiếm được thành Gia Định, một thành lớn được Nguyễn Ánh cho xây dựng từ lâu theo kiểu Vauban (Vô-băng), mỗi chiều dài ngót 500m, sức chứa đến 1 vạn quân, nhưng lúc đó chỉ có 1.000 quân canh giữ Quân Pháp chiếm thành, thu tới 200 khẩu pháo, 2 vạn vũ khí các loại và rất nhiều lương thực của quân triều đình bỏ lại Thành mất, Trấn thủ Vũ Duy Ninh, Án sát Lê Từ đều tự tử, một số tướng bỏ chạy về Vĩnh Long (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.212)
Mặc dù chiếm được thành Gia Định, nhưng với lực lượng có hạn, R de Genouilly không thể đánh rộng ra ngay được Tự Đức một mặt hô hào lập các đội nghĩa dũng tại chỗ, mặt khác lại cử tướng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp vào Gia Định làm Thống chế mặt trận Gia Định
Những đội nghĩa dũng của Trần Thiện Chính (một tri huyện bị cách chức), Lê Huy (một võ quan bị thải hồi) với gần 6.000 nghĩa binh, chiến đấu rất hiệu quả, tiêu hao, quấy rối quân Pháp trong thành Gia Định
Bị vây hãm, R de Genouilly quyết định dùng thuốc nổ phá thành Gia Định, đốt trụi mọi kho tàng, đưa quân xuống đóng dưới tàu chiến đậu trên sông để tránh bị quân ta đột kích Sau đó, R de Genouilly chỉ để lại một số ít quân ở Gia Định, còn lại cấp tốc kéo tiếp viện cho số quân Pháp đóng ở mặt trận Đà Nẵng đang có nguy cơ
bị quân ta tiêu diệt
Ra đến Đà Nẵng, ngày 8/5/1859, R de Genouilly quyết định mở cuộc tấn công lớn tiến sâu vào nội địa, buộc quân triều đình phải lui về cố thủ phía sau Nhưng quân Pháp cũng bị tổn thất nặng, sau đó phải rút về vị trí cũ, không dám tiến sâu vào nội địa nữa Lúc bấy giờ nước Pháp đang dồn lực lượng vào chiến trường châu Âu, nên không thể tiếp viện cho đội quân xâm lược Việt Nam, khiến cho quân Pháp đang
sa lầy ở Đà Nẵng
Cuối năm 1859, Đô đốc Page (Pa-giơ) được cử thay R de Genouilly Sang tới nơi, Page lại dốc lực lượng đánh mạnh vào phía Bắc vịnh Đà Nẵng để làm chủ con đường đèo Hải Vân, rồi đánh thẳng vào Huế Nhưng một lần nữa, Pháp lại thất bại, số quân lính chết và bị thương đến 300 người
Từ ngày 1/9/1858 đến ngày 23/3/1860, cuộc kháng chiến của nhân dân Đà Nẵng đặt dưới sự lãnh đạo của triều đình nhà Nguyễn Trên mặt trận Đà Nẵng cũng như Gia Định, vua Tự Đức còn có những quyết định tích cực cho cục diện chiến trường như luôn phái những tướng giỏi tới Đà Nẵng (Nguyễn Tri Phương, Lê Đình Lý), bắt giam, giáng chức những tướng vô dụng như Chu Đức Minh, Trần Hoàng, …
Tự Đức cũng quyết định, sau trận đánh ngày 8/5/1859, tăng cường hệ thống đồn lũy
từ chân đèo Hải Vân đến Đà Nẵng, tăng viện thêm 31 khẩu đại bác, cung cấp thêm súng phun lửa và đại bác mới mới mua được (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.215)
Trong những ngày đầu kháng chiến, nổi bật là sự đóng góp của các đội dân binh Những lũy cát trồng tre kéo dài từ Sơn Trà đến An Hải, ra Mỹ Thịnh, Hóa Khê,
Trang 21một tuyến khác dài từ Hải Vân đến Điện Hải, Vũng Thùng qua các đồn lũy kiên cố như Nại Hiên, Liên Trì, Phương Trì, … đã chặn đứng từng bước tiến của quân giặc
Thất bại trong âm mưu đánh vào Huế, Page quyết định rút dần quân vào Gia Định và đến ngày 23/3/1860, toàn bộ quân Pháp sau hơn 19 tháng chiếm đóng Đà Nẵng đã rút hết về Gia Định
Tại Gia Định, từ tháng 5/1859 đến cuối năm 1860, phần lớn đại quân của Pháp ở Gia Định bị điều ra Đà Nẵng và sau đó lại điều sang mặt trận Hoa Bắc (Trung Quốc) Chúng chỉ để lại 1.000 tên, rải trên một chiến tuyến 10km, đối diện với đại quân của Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp Trong khi đó, nước Pháp đang vướng vào cuộc chiến ở châu Âu và Syria, không thể tăng viện cho quân Pháp ở Việt Nam Đây là cơ hội rất tốt để quân triều đình hất quân Pháp ra khỏi Gia Định Tuy nhiên, quân ta vẫn nằm im trong phòng tuyến Chí Hòa mới xây dựng, trong tư thế “thủ hiểm”
Sang năm 1861, sau khi đã liên minh cùng với các nước tư bản Âu – Mỹ dùng
vũ lực buộc phong kiến triều đình Mãn Thanh phải ký điều ước Bắc Kinh (25/10/1860), thực dân Pháp đem toàn bộ hải quân ở Viễn Đông về Gia Định để xâm chiếm Nam Kỳ Tháng 2/1861, Đô đốc Charner (Sác-ne) được Chính phủ Pháp giao toàn quyền tuyên chiến và ký hòa ước với Việt Nam đã đến Nam Kỳ với 4.000 quân
và 70 tàu chiến tăng viện Như vậy, sang đầu năm 1861, quân Pháp có những điều kiện thuận lợi hơn trước rất nhiều
Bốn giờ sáng ngày 24/2/1861, Charner cho quân đánh thẳng vào Đại Đồn (phòng tuyến Chí Hòa) Cuộc chiến diễn ra ác liệt Sau 2 ngày chiến đấu, quân địch
bị diệt 300 tên (có 1 đại tá), nhưng quân đội triều đình cũng chịu tổn thất lớn: Đại đồn bị san phẳng, trên 1.000 binh sĩ tử trận trong đó có Nguyễn Tri Phương cũng bị mảnh pháo vào bụng, ngoài ra quân ta bị mất 150 đại bác, 2.000 súng tay Mất Đại đồn, Nguyễn Tri Phương cho quân chạy về đồn Thuận Kiều để cố thủ Thừa thắng, ngày 28/2, Pháp tấn công chiếm luôn đồn Thuận Kiều, quan quân phải lui về Biên Hòa Quân Pháp lấn tới, mở cuộc hành binh đẫm máu dọc sông Bảo Định, lần lượt chiếm được Định Tường (12/4/1861), Biên Hòa (16/12/1861) và đến ngày 23/3/1862, chiếm được Vĩnh Long (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr 213)
Trước sức tấn công ồ ạt của thực dân Pháp, nội bộ triều đình nhà Nguyễn phân hóa thành hai phái: phái chủ chiến và phái chủ hòa Phái chủ chiến muốn dựa vào phong kiến Trung Quốc để đánh đuổi bọn cướp nước mà họ gọi là bạch quỷ hay dương quỷ (quỷ biển) Tiêu biểu cho phái này có phái “công thủ” gồm Tô Linh, Phan Hữu Nghi, Trần Văn Vi, Lê Hiến Hữu, Nguyễn Đăng Điều, Hồ Sĩ Tuấn chủ trương
“phải giữ và đánh, thủ để công và công để thủ, rồi quét sạch địch Phái chủ hòa với các lập luận khác thường như “chiến không bằng hòa”, “thủ để hòa”, “chống giặc duy thủ là hơn” Trong lúc giặc Pháp đang tấn công ồ ạt thì trong triều đình Nguyễn còn đang bàn cãi, nghị luận kẻ hòa, người đánh, trên dưới không nhất trí, đánh hòa không dứt khoát Tập trung lại, ý kiến được nhiều người tán thành là chủ hòa
Trang 221.2.2.2 Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) Giữa năm 1862, Đô đốc Bonard (Bô-na) mới sang thay Charner, thay mặt chính phủ Pháp, tuyên bố lập ra chế độ Soái phủ ở Nam Kỳ, đánh dấu bước mở đầu chế độ thuộc địa ở đây
Chiếm được 3 tỉnh quan trọng của miền Đông Nam Kỳ, tướng Bonard có ý tạm dừng lại để củng cố vị trí Bởi lẽ, sức kháng cự của dân chúng ngày một dữ dội
Về mặt chính trị, nước Pháp cũng đang sa lầy thêm ở Mexico, chính giới cũng chưa thực sự thống nhất về thái độ với Nam Kỳ Trong điều kiện cụ thể như vậy, Bonard mong sớm ký kết được với triều Nguyễn để vừa giữ được các vùng đất đã chiếm đóng, vừa có thời gian chuẩn bị mở rộng phạm vi chiếm đóng khi có điều kiện
Về phía triều Nguyễn, nguyên nhân chính khiến triều đình Tự Đức phải ký kết hiệp ước là vì lúc đó ở Bắc Kỳ có các cuộc nổi dậy đang đánh phá dữ dội (đáng
kể nhất là của Tạ Văn Phụng và Cai Tổng Vàng, Nông Hùng Thạc), trong Nam
Kỳ thì thực dân Pháp đã đánh chiếm được bốn tỉnh là Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và Vĩnh Long
Sau khi so sánh hai mối nguy (thực dân Pháp xâm lược và các cuộc nổi dậy ở Bắc Kỳ), triều đình Tự Đức bèn sai Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Sài Gòn giảng hòa với thực dân, để có thể đưa đại quân ra tiêu diệt các cuộc nổi dậy ở đất Bắc đang uy hiếp ngai vàng của dòng họ Nguyễn
Lợi dụng triều Nguyễn đang muốn “nghị hòa”, Bonard khôn ngoan chớp lấy
cơ hội “nghị hòa” Các bên ký kết gồm: đại diện của Pháp là thiếu tướng Bonard và đại diện của Tây Ban Nha là đại tá Don Carlos Palanca Guttierecùng với các đại diện của triều đình là Phan Thanh Giản (Chánh sứ) và Lâm Duy Hiệp (Phó sứ) ký Hiệp ước Nhâm Tuất ngày 5/6/1862 Hiệp ước Nhâm Tuất có 12 khoản, trừ các điều khoản
có tính cách ngoại giao, thì 9 khoản sau đây được coi là quan trọng hơn cả:
Khoản 1: Từ nay về sau, hòa bình sẽ mãi mãi được thiết lập giữa một bên là Hoàng đế Pháp và Nữ hoàng Tây Ban Nha và một bên là Hoàng đế Đại Nam Tình hữu nghị toàn diện và lâu bền cũng sẽ được thiết lập giữa thần dân ba nước dù họ ở bất cứ nơi đâu
Khoản 2: Thần dân hai nước Pháp và Tây Ban Nha được hành đạo Gia Tô ở nước Đại Nam, và bất luận người nước Đại Nam ai muốn theo đạo Gia Tô, đều sẽ được tự do theo, nhưng những người không muốn theo đạo Gia Tô thì không được ép
họ theo
Khoản 3: Chủ quyền trọn ba tỉnh là Biên Hòa, tỉnh Gia Định và tỉnh Định Tường, cũng như đảo Côn Lôn, do Hiệp ước này, được hoàn toàn nhượng cho Hoàng
đế nước Pháp Ngoài ra, các thương gia Pháp được tự do buôn bán và đi lại bằng bất
cứ tàu bè nào trên sông lớn của xứ Cambodia và trên tất cả các chi lưu của con sông này (sông Mekong); các tàu binh Pháp được phép đi xem xét trên con sông này hay
Trang 23Khoản 4: Sau khi đã nghị hòa, nếu có nước ngoài nào muốn, bằng cách gây
sự hoặc bằng một hiệp ước giành lấy một phần lãnh thổ của nước Đại Nam, thì Hoàng đế nước Đại Nam sẽ báo cho Hoàng đế nước Pháp biết bằng một sứ thần, để Hoàng đế nước Pháp được hoàn toàn tự do đến tiếp cứu nước Đại Nam hay không Nhưng, nếu trong hiệp ước với nước ngoài nói trên, có vấn đề nhượng địa, thì sự nhượng địa này có thể được thừa nhận nếu có sự ưng thuận của Hoàng đế nước Pháp
Khoản 5: Người các nước Pháp và Tây Ban Nha được tự do buôn bán tại ba hải cảng là Tourane (Đà Nẵng), Ba La (Ba Lạt) và Quảng Yên Người nước Đại Nam cũng được tự do buôn bán tại các hải cảng của nước Pháp và Tây Ban Nha như vậy, nhưng phải theo thể thức luật định
Khoản 8: Hoàng đế nước Đại Nam sẽ phải bồi thường một số tiền là bốn triệu piastre (đơn vị tiền tệ Ai Cập), trả trong 10 năm Vì nước Đại Nam không có tiền piastre sẽ được tính bằng 72% lạng bạc
Khoản 9: Nếu có cướp bóc, giặc biển hoặc kẻ gây rối người nước Nam nào, phạm tội cướp bóc hoặc gây rối trên các đất thuộc Pháp, hoặc nếu có người Âu châu phạm tội nào đó, lẩn trốn trên đất thuộc nước Nam thì ngay khi nhà nước Pháp thông tri cho nhà chức trách Đại Nam, giới chức này phải cố gắng bắt giữ thủ phạm để giao nộp cho nhà chức trách Pháp Vấn đề cướp bóc, giặc biển hay quân phiến động nước Nam sau khi phạm tội, lẩn trốn trên đất thuộc Pháp, cũng sẽ được xử như vậy
Khoản 10: Dân chúng ba tỉnh là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên sẽ được tự
do buôn bán trong ba tỉnh thuộc Pháp miễn tuân theo luật lệ hiện hành, nhưng những đoàn tàu chở binh lính, vũ khí, đạn dược hay lương thực giữa ba tỉnh nói trên và Nam
Kỳ chỉ được thực hiện bằng đường biển Tuy nhiên, Hoàng đế nước Pháp thuận cho các đoàn tàu chở các thứ trên vào Cambodia được có cửa khẩu là lạch Mỹ Tho (Định Tường), gọi là Cửa Tiền, song với điều kiện là các giới chức Đại Nam phải báo trước cho đại diện của Hoàng đế nước Pháp, vị đại diện này sẽ trao cho họ một giấy thông hành Nếu thể thức này không được tuân theo, và một đoàn vận tải như vậy nhập nội
mà không có giấy phép thì đoàn đó và những gì hợp thành đoàn đó sẽ bị bắt giữ và các đồ vật sẽ bị phá hủy
Khoản 11: Thành Vĩnh Long sẽ được binh lính (Pháp) canh gác cho đến khi
có lệnh mới mà không ngăn cản bằng bất cứ cách nào hoạt động của các quan Đại Nam Thành này sẽ được trao trả cho Hoàng đế nước Đại Nam ngay khi Ngài đình chỉ cuộc chiến loạn do lệnh Ngài tại các tỉnh Gia Định và Định Tường, và khi những người cầm đầu cuộc phiến loạn này ra đi và xứ sở được yên tĩnh và quy phục như trong một xứ bình yên
(Nguyễn Duy Oanh, 1995, tr.281-285)
Trong 9 khoản trên của Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862), có những điểm cần lưu ý như sau:
Trang 24Vua Việt Nam phải bỏ lệnh cấm đạo trên toàn lãnh thổ Ai muốn theo đạo cũng cho, ai không muốn theo cũng không bắt buộc (khoản 2) Ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn giao nước Pháp quản hạt Thuyền buôn của Pháp chạy trên biển, trên sông, lên Cao Miên buôn bán đều được tự do (khoản 3) Triều đình Huế phải mở 3 cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt (giữa Thái Bình và Nam Định), Quảng Yên (Quảng Ninh) cho tàu Pháp và Tây Ban Nha sang buôn bán (khoản 5)
Triều đình phải bồi thường chiến phí cho Pháp và Tây Ban Nha 4 triệu piastre (đơn vị tiền tệ Ai Cập) trả trong 10 năm, mỗi năm 40 vạn, nộp cho Pháp tại Sài Gòn
Vì Việt Nam không dùng piastre nên quy định 1 piastre là bằng 0,72 lạng bạc (khoản 8) Nước Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế, một khi triều đình Huế chấm dứt được các cuộc khởi nghĩa và gọi các quan chức chống Pháp đang hoạt động trong hai tỉnh Định Tường và Gia Định về (khoản 11) (Nguyễn Đình Tư, 2016, tr 70-71)
Việc ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất của triều Nguyễn với thực dân Pháp thể hiện sự đớn hèn và sợ giặc của triều Nguyễn Thực sự đây là sự đầu hàng bước đầu của triều đình Nguyễn trước thực dân Pháp xâm lược
1.2.2.3 Chính sách của triều Nguyễn sau Hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) đến năm 1867
Sau khi ký Hiệp ước Nhâm Tuất, tháng 12/1862, triều đình đã y hẹn trả năm đầu chiến phí Đồng thời, lại gửi thư vào Sài Gòn đề nghị Pháp cho chuộc lại ba tỉnh mới mất, nhưng thực dân Pháp ở Sài Gòn cự tuyệt
Tháng 6/1863, triều Nguyễn cử phái bộ do Phan Thanh Giản dẫn đầu sang Pháp với nhiệm vụ xin sửa lại Hòa ước 1862 và chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam
Kỳ Cuộc điều đình thất bại, Hòa ước Nhâm Tuất vẫn phải thi hành và việc xin chuộc lại ba tỉnh không thành
Thất bại thảm hại trong đường lối ngoại giao, triều Nguyễn vẫn chưa tỉnh thức Triều Nguyễn tuyệt nhiên không thấy biện pháp tích cực nhất và duy nhất lúc bấy giờ để thu hồi đất đai đã mất là phải lo chỉnh đốn nội trị, bồi dưỡng sức dân, phát động chiến tranh yêu nước Trái lại, triều Nguyễn chỉ lo dồn mọi lực lượng vào việc đàn áp phong trào nông dân khởi nghĩa ở miền Bắc, miền Trung và tìm cách ngăn trở phong trào chống Pháp của nhân dân miền Nam và loay hoay chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ đã mất Trong khi đó thực dân Pháp đang ráo riết chuẩn bị thôn tính luôn ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ
1.2.2.4 Thực dân Pháp thôn tính 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (1867)
Để dọn đường cho việc đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, năm 1863, thực dân Pháp chiếm đóng kinh thành Nam Vang (Cambodia), sau đó buộc vua Norodom nhận quyền bảo hộ của chúng Như vậy, ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và nước Cao Miên đã lọt vào tay thực dân Pháp, số phận ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ có thể xem là
Trang 25Năm 1866, trong khi Đoàn Trưng, Đoàn Trực nổi dậy ở kinh thành Huế và vụ
Tạ Văn Phụng ở Bắc Kỳ, thì Bộ trưởng Hải quân Pháp Chasseloup Laubat (Lô-ba) đã nhận thêm sự ủng hộ của chính giới Pháp với vấn đề Nam Kỳ
Sau khi chuẩn bị xong về mọi mặt, sáng ngày 20/6/1867, quân Pháp kéo tới thành Vĩnh Long Kinh lược sứ miền Tây, Phan Thanh Giản và Trấn thủ Vĩnh Long, Trương Văn Uyển xuống tàu địch để thương lượng Nhưng Pháp buộc hai ông phải nộp thành không điều kiện Theo ý Pháp, Phan Thanh Giản còn viết thư cho quan quân hai tỉnh An Giang, Hà Tiên phải nộp thành cho Pháp Do đó, sau khi lấy xong thành Vĩnh Long, Pháp chia quân chiếm tỉnh lị An Giang là Châu Đốc (21/6), rồi chiếm luôn Hà Tiên (24/6/ 1867) không tốn một viên đạn
Sau khi ba tỉnh miền Tây mất vào tay Pháp, Phan Thanh Giản, năm đó 74 tuổi, đã trải qua 3 triều vua, ngay sau sự biến, gom hết tiền, thóc của 3 tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (khoảng 100 vạn đồng) trao lại cho người Pháp, rồi bắt đầu tuyệt thực và sau đó uống thuốc độc tự tử
Tự Đức cũng thẳng tay cách chức Phan Thanh Giản, đục tên ông trong bia tiến sĩ, ghi tội “trảm giam hậu” vĩnh viễn
Ngày 15/10/1867, triều Nguyễn cử Trần Tiễn Thành và Nguyễn Văn Tường vào Nam Kỳ để ký với Pháp một bản dự thảo gồm 14 điều khoản Hiệp ước này chứa đựng thêm những điều khoản nặng nề tai hại cho vận mệnh đất nước: triều đình phải chấp nhận việc nhượng 6 tỉnh cho Pháp cùng với chủ quyền các đảo Côn Lôn và Phú Quốc Người Pháp sống ở 6 tỉnh đó được quyền tự do đi lại buôn bán ở các hải cảng Việt Nam Người Pháp được tự do truyền đạo, … Pháp và Việt Nam sẽ trao đổi đoàn ngoại giao, … Tuy vậy, bản hiệp ước này chưa chính thức vì thiếu sự ủy quyền của Chính phủ Pháp (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.213, 215)
1.2.2.5 Phong trào chống Pháp của văn thân, sĩ phu yêu nước và nhân dân Nam Kỳ từ năm 1859 đến năm 1885
*Phong trào chống Pháp từ năm 1859 đến năm 1867
Trên mặt trận Gia Định đầu năm 1859, các đội nghĩa binh của Trần Thiện Chính, Lê Huy cùng với đội quân 2.000 người của Dương Bình Tâm đã thắng lớn trong trận đánh ngày 4/7/1860 ở Chợ Rẫy, giết chết tên quan ba Bác-bê, đốt cháy tàu chiến địch trên sông Đồng Nai vào đầu năm 1861, …
Sau khi chiếm được Gia Định (2/1861), thực dân Pháp càng đi sâu vào nội địa, chúng càng phải trả giá đắt Dưới sự lãnh đạo của các văn thân, sĩ phu yêu nước
và nhân dân Nam Kỳ Tiêu biểu có những cuộc nổi dậy sau đây:
Các cuộc nổi dậy của Trương Định, Đỗ Trình Thoại, Nguyễn Thông, Phan Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, Trà Quý Bình, Trịnh Quang Nghị, Lưu Tấn Thiện, Lê Cao Dõng, Nguyễn Thành Ý ở Gò Công, Gia Định, Chợ Lớn, Tân An từ năm 1859 đến năm 1864
Trang 26Các cuộc nổi dậy của Võ Duy Dương ở Đồng Tháp Mười từ năm 1865 –
1866, của Nguyễn Trung Trực ở Tân An và Rạch Giá từ năm 1861 – 1868
Ngoài ra, rất nhiều văn thân khác cũng tự động mộ quân chống Pháp như Đỗ Quang, Âu Dương Lân, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Hữu Huân, Phan Văn Trị phối hợp tác chiến với nghĩa quân Trương Định
Trong các trung tâm kháng chiến chống Pháp ở Nam Kỳ từ khi Pháp xâm lược đến năm 1864, thì trung tâm kháng chiến của Trương Định là tiêu biểu nhất Người anh hùng này với trí dũng song toàn, từ đất Gò Công đã thu hút được nhiều anh tài như Đỗ Quang, Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Nguyễn Thông, Thủ khoa Huân, Phan Văn Đạt với lực lượng hơn 1 vạn nghĩa binh, trải rộng khắp vùng Với căn cứ chống giặc từ Tân An, Mỹ Tho, Gò Công xuống Đồng Tháp Mười, … suốt những năm 1861 đến tháng 8/1864, Trương Định đã làm cho quân Pháp khiếp sợ với nhiều chiến thắng ở Gò Công, Rạch Giá, Quý Sơn, Tân An, …
Trương Định còn nổi tiếng với khẩu hiệu “Phan – Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” thêu trên lá cờ “Bình Tây đại nguyên soái” Do sự phản bội của Huỳnh Công Tấn đã chỉ điểm cho giặc Pháp, ngày 20/8/1864, giặc Pháp đánh úp căn cứ, Trương Định bị thương và đã tự sát (Đinh Xuân Lâm, 1999, tr.24-25)
Hòa ước Nhâm Tuất (5/6/1862) ký kết xong, thực dân Pháp cho thuyền máy
đi truyền tin khắp nơi, nhất là những nơi đang bị nghĩa quân uy hiếp Chúng tưởng rằng nghĩa quân và văn thân, sĩ phu yêu nước sẽ ngoan ngoãn thi hành lệnh của triều đình hạ khí giới, giải tán về làng làm ăn và hợp tác với chúng Tuy nhiên, sau Hòa ước, các toán nghĩa quân đã không chịu công nhận chính quyền mới của thực dân Pháp, họ tiếp tục chiến đấu
Đối với các văn thân sĩ phu đã bừng tỉnh sau trận bút chiến nảy lửa của Phan Văn Trị, vạch mặt Tôn Thọ Tường đầu hàng thực dân Pháp, đã ủng hộ Nguyễn Thông và Nguyễn Đình Chiểu trong việc khởi xướng phong trào Tị địa: các văn thân
sĩ phu ba tỉnh miền Đông kiên quyết bất hợp tác với giặc, bỏ “đất bạch quỷ” mới bị Pháp chiếm, dời mồ mả, gia đình sang ba tỉnh miền Tây và Bình Thuận còn là đất tự
Âu Dương Lân, …
Vùng Rạch Giá, Cà Mau, Cần Thơ: Nguyễn Trung Trực, Đỗ Thừa Long, Đỗ Thừa Tự, …
Trang 27Vùng Thất Sơn, Châu Đốc, Long Xuyên: Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Bửu, Trần Văn Thành, …
Vùng Hóc Môn, Bà Điểm, Tân An: Nguyễn Hữu Huân, Quản Hớn, Quản Bường (Nguyễn Văn Bường)
Năm 1882, tại Long An đã nhóm lên kế hoạch khởi nghĩa của các ông Nguyễn Văn Quá, Nguyễn Văn Xe, Huỳnh Văn Trinh ở làng Mỹ Hạnh (Đức Hòa), nhưng chưa hành động đã bị thực dân Pháp đàn áp Tiếp đó là Nguyễn Văn Bường, Phan Văn Hớn trong năm 1885 với hành động có tiếng vang là trừng trị Đốc phủ Ca (Trầm Tử Ca) (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.216)
Nguyễn Trung Trực, tên thật là Nguyễn Văn Lịch, làm nghề chài lưới Năm
1861, phối hợp với Trương Định, ông đã chỉ huy đánh thắng một trận lớn trên sông Nhật Tảo (Bến Lức), đốt cháy tàu Espérance (Ét-pê-răng) khiến Bonard vô cùng hoảng sợ
Từ năm 1867, ông về Hà Tiên lập căn cứ riêng ở Hòn Chông Chiến thắng oanh liệt tiếp theo của ông là trận tập kích vào Rạch Giá năm 1868, giết chết tên tỉnh trưởng và hầu hết quân Pháp trong trại Đây là một trong những trận đánh làm rung chuyển Soái phủ Nam Kỳ Nhưng cũng năm đó, ông bị Pháp vây bắt ở Phú Quốc
Nguyễn Trung Trực nhận án tử hình một cách lẫm liệt ở Rạch Giá ngày 27/10/1868, bất chấp sự mua chuộc của Thống đốc Nam Kỳ Ohier (Ô-hi-ê) và để lại hậu thế câu nói bất hủ: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”
Phong trào chống Pháp của nhân dân Nam Bộ từ năm 1859 kéo dài hơn 20 năm đã chứng minh hùng hồn tinh thần chiến đấu oanh liệt, bền bỉ của nhân dân Nam
Bộ Phong trào dấy lên ở miền Đông, sau đó lan rộng khắp Nam Bộ và đã nhanh chóng biến thành cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, sôi nổi và mạnh mẽ, buộc chính kẻ thù phải khâm phục
Đây là một phong trào bắt nguồn từ lòng yêu nước, căm thù giặc vô hạn của quần chúng nhân dân Lực lượng tham gia chủ yếu trong phong trào chống Pháp là nông dân, đó là những người “dân ấp, dân lân” Các sĩ phu văn thân thời đó đã sống cùng với nhân dân nên có tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm mạnh mẽ
Vì bị triều đình bỏ rơi hay tìm cách ngăn trở, các cuộc khởi nghĩa đều lần lượt thất bại Tuy nhiên, phong trào đấu tranh vũ trang chống thực dân Pháp xâm lược không bao giờ bị dập tắt, bất chấp muôn vàn thủ đoạn đàn áp dã man của quân thù
1.2.3 Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ và Trung Kỳ, phong trào kháng chiến lan rộng ra cả nước
1.2.3.1 Tình hình Việt Nam trước khi Bắc Kỳ và Trung Kỳ bị chiếm (1867 – 1873)
Trang 28*Chính sách của thực dân Pháp ở Nam Kỳ và âm mưu mở rộng chiến tranh ra Bắc Kỳ và Trung Kỳ (1867 – 1873)
Sau khi chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp gấp rút củng cố bộ máy cai trị đàn áp từ trên xuống dưới, một bộ máy cai trị trực tiếp mang nặng tính chất độc tài quân sự nằm gọn trong tay bọn sĩ quan hiếu chiến và tham bạo Với bộ máy cai trị này, thực dân Pháp đã thẳng tay thực hiện mọi thủ đoạn giết người, bắt sưu, đánh thuế, bắt lính trong nhân dân Tới năm 1868, số lính tập, mã tà người Việt đã lên đến 4.000 người
Thực dân Pháp bắt đầu thi hành một số biện pháp kinh tế thực dân gấp rút như vơ vét lúa gạo trong nhân dân để xuất khẩu kiếm lời, cướp đoạt ruộng đất các nơi để bán đấu giá hay cho thuê dài hạn, bắt đầu xây dựng thành phố Sài Gòn – Chợ Lớn với bến tàu, ụ sửa chữa tàu, xưởng Ba Son, … Thực dân Pháp đã thu được những mối lợi kinh tế đầu tiên: từ năm 1867 đến năm 1877, mỗi năm thực dân Pháp
đã vơ vét xuất khẩu từ 20 đến 50 vạn tấn gạo, chưa kể nhiều thứ lâm, hải sản khác (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.218)
Để phục vụ đắc lực cho các chính sách chính trị và kinh tế nêu trên, thực dân Pháp mở trường Dòng, trường Thông ngôn, trường Nho sĩ và trường Pháp – Việt đào tạo cấp tốc bọn tay sai các loại, ra báo chữ Quốc ngữ và chữ Pháp tuyên truyền ráo riết cho việc đánh chiếm Bắc Kỳ sắp tới
Từ năm 1867 đến trước năm 1873, thực dân Pháp vẫn chưa dám mở rộng chiến tranh ở Việt Nam Vì tình hình nước Pháp còn có nhiều điều lo ngại, bị đánh bại trong cuộc chiến tranh Pháp – Phổ năm 1870, một phần lãnh thổ nước pháp bị quân Phổ chiếm đóng
Năm 1873, tuy quân Phổ rút khỏi nước Pháp, chỉ giữ lại hai miền Alsace và Lorraine, nhưng sự uy hiếp của Phổ với Pháp vẫn rất mạnh, buộc Chính phủ Pháp phải đề phòng đường biên giới phía Đông Tình hình kinh tế và chính trị nước Pháp chưa ổn định cũng không cho phép giai cấp tư sản Pháp nghĩ tới chuyện đánh chiếm thuộc địa nơi xa, vừa tốn kém vừa nguy hiểm
Thực dân Pháp ở Nam Kỳ rất nôn nóng muốn đánh chiếm Bắc Kỳ gấp, nhất
là từ khi Nam Kỳ được củng cố vững chắc Để dọn đường cho đội quân xâm lược sau này, chúng tung ra Bắc Kỳ bọn gián điệp đội lốt thầy tu để do thám tình hình và tổ chức một số giáo dân lầm đường làm nội ứng Chúng còn bí mật xúi giục những tập đoàn phiến loạn mượn danh nghĩa phù Lê chống Nguyễn làm áp lực buộc phong kiến Nguyễn phải nhờ chúng đem quân ra giúp
Tháng 11/1872, khi những đoàn thám hiểm của người Pháp kết luận rằng, sông Hồng là con đường thủy duy nhất để người Pháp có thể đi ngược tới Vân Nam (Trung Quốc), Soái phủ Nam Kỳ đã khuyến khích tên lái buôn phiêu lưu J.Dupuis (G Đuy-puy) bất chấp lệnh của quan quân nhà Nguyễn, đi ngược sông Hồng, qua Hà
Trang 29Nội, gây sự với các đội quân đồn trú triều đình thì dấu hiệu cuộc chiến tranh xâm lược Bắc và Trung Kỳ đã tới
Trong lúc quan hệ giữa tên lái buôn J.Dupuis với quan quân triều Nguyễn ở Bắc Kỳ đang căng thẳng, thì bọn thực dân pháp ở Nam Kỳ phái Đại úy Francis Garnier (Gác-ni-ê) mang quân ra Bắc, với danh nghĩa giải quyết tại chỗ vụ Dupuis, nhưng thực chất là để kiếm cớ can thiệp sâu vào Bắc Kỳ
*Chính sách đối nội, đối ngoại của triều Nguyễn từ năm 1867 đến năm
Triều Nguyễn vẫn tiếp tục vơ vét bóc lột nhân dân cả nước vừa để thỏa mãn nhu cầu của giai cấp thống trị vừa để có tiền bồi thường chiến phí cho Pháp Triều Nguyễn vẫn duy trì chính sách ức chế thương nghiệp, “bế quan tỏa cảng” trong thương nghiệp và chế độ “công tượng” trong công nghiệp, kìm hãm ngặt nghèo sự phát triển của hai ngành đó
Trong thời gian này, triều Nguyễn chỉ loay hoay xin sửa lại Hòa ước 1862, liên tiếp cử các phái đoàn ngoại giao qua Pháp xin thương lượng, trong khi kẻ thù ráo riết chuẩn bị chiến tranh
Trong khi phong trào kháng chiến chống Pháp đang diễn ra ở Nam Kỳ thì cuộc đấu tranh về tư tưởng, lại nổ ra rất sôi nổi giữa hai phái chủ hòa và chủ chiến
Phái chủ hòa có hai khuynh hướng: chủ hòa buông trôi và chủ hòa sách lược, nghi binh
- Những người theo khuynh hướng hòa buông trôi gồm những nhân vật chính yếu như Trần Tiễn Thành, Nguyễn Bá Nghi, Trương Quốc Dụng, Lâm Duy Hiệp Tự Đức và nhiều đại thần ngày càng ngả về khuynh hướng hòa buông trôi
- Khuynh hướng chủ hòa sách lược gồm những nhân vật không có vị trí cao trong triều như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, …
- Nguy hiểm hơn, ngày càng hình thành nhóm “hòa vô điều kiện” thậm chí làm tay sai cho Pháp như Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương, …
Phái chủ chiến lúc này khá đông và còn có vị trí quan trọng trong triều như Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Ông Ích Khiêm, … Họ tuy chủ chiến nhưng vẫn trung thành với triều đình về chính trị
Trang 30Những năm trước khi Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ nhất, trong cung đình đã rộ lên một phong trào cải cách Những quan chức, một số sĩ phu có học vấn cao, đặc biệt số sĩ phu Công giáo, do có dịp đi công cán nước ngoài, tầm mắt rộng mở, đã tạo nên tiếng nói đó Họ là những người như Nguyễn Hiệp, Lê Đỉnh, Phạm Phú Thứ, Đặng Đức Tuấn, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Lộ Trạch và tiêu biểu là Nguyễn Trường
Tộ Những người này thấy rõ sự trì trệ của đất nước, sự bảo thủ của giới “hủ Nho” và Nho giáo, sự tai hại của chính sách đóng cửa và đặc biệt là sự quay lưng với những tiến bộ kỹ thuật của văn minh phương Tây Phần lớn họ vẫn chấp nhận chế độ phong kiến, nhưng đều muốn nước ta đi theo con đường Minh Trị Duy Tân của Nhật Bản
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1874) với 58 bản điều trần đã đề cập đến hàng loạt biện pháp cải cách đất nước từ kinh tế, kỹ thuật, quân sự, ngoại giao, … đến lề lối sinh hoạt Các tác phẩm nổi tiếng của ông: “Thiên hạ đại thế luận”, “Tế cấp luận”,
“Giáo môn luận” (1863), “Khai hoang từ”, “Lục lợi từ” (1866), “Tế cấp bát điều” (1867)
Nhận xét về những ý kiến của Nguyễn Trường Tộ, vua Tự Đức phán rằng:
“Những lời tên Tộ thật đã khám phá sự tình Nhưng y vốn không phải tộc loại với ta, tình ý chưa tin nhau, vội vàng thi hành e chưa tiện” “Không phải tộc loại” vì Nguyễn Trường Tộ là người Công giáo (Nguyễn Quang Ngọc, 2012, tr.218-219)
Cũng trong thời điểm từ năm 1858 đến năm 1873, một vấn đề khác làm xói mòn sức chiến đấu của nhân dân ta là vấn đề Công giáo Từ năm 1858, thực dân Pháp ráo riết lợi dụng vấn đề tôn giáo để chia rẽ, hủy hoại từ bên trong sức lực của triều đình, của dân chúng như: từ việc kích động dân Công giáo nổi dậy (Tạ Văn Phụng), âm mưu đảo chính (vụ Hồng Bảo), đến việc sử dụng các giáo sĩ phương Tây thu thập tin tức, bí mật quân sự, rồi lại gây thêm sự chia rẽ lương-giáo, thù hằn lẫn nhau, lôi kéo một bộ phận người Công giáo vào cuộc chiến, …
Hiệp ước năm 1862, đã buộc Tự Đức phải thừa nhận chấm dứt chính sách
“Cấm Đạo” của triều đình, các giáo sĩ nước ngoài tự do truyền đạo Trên thực tế, trước sự nguy hại của việc truyền đạo gắn với mục đích xâm lược, triều đình vẫn duy trì chính sách Cấm Đạo Từ năm 1865 đến năm 1871, khởi nghĩa Giáp Tuất bùng nổ
ở Nghệ - Tĩnh với khẩu hiệu “Bình Tây sát Tả”, ít nhiều đã ảnh hưởng đến phong trào kháng chiến
1.2.3.2 Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất (1873 – 1874)
*Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất và tinh thần chiến đấu chống thực dân Pháp của quân dân Bắc Kỳ (1873)
Cuối năm 1873, mặc dù chưa có sự chuẩn y của Chính phủ Pháp, Soái phủ Nam Kỳ đứng đầu là Đô đốc Dupré (Đuy-p-rê) quyết định đánh Bắc Kỳ với mục đích: Bắc Kỳ là miếng mồi ngon mà Anh, Đức đang dòm ngó Đánh Bắc Kỳ ít nhất
Trang 31cũng buộc triều đình Huế phải thừa nhận sự thực về pháp lý chủ quyền của nước Pháp ở 3 tỉnh miền Tây
Thực hiện mưu đồ ấy, Dupré đã cử Đại úy F Garnier (Gác-ni-ê) mang quân
ra Bắc, ngày 5/11/1873 hội quân với J Dupuis (Đuy-puy) ở Hà Nội Sáng sớm ngày 20/11/1873, quân Pháp bất ngờ tấn công và nã đại bác từ các hạm thuyền trên sông Hồng Sau một giờ chiến đấu, thành Hà Nội thất thủ, Nguyễn Tri Phương bị thương
và bị bắt Ông tuyệt thực cho đến chết
Khả năng và khí thế chiến đấu của quân đội triều đình tại Hà Nội đã suy giảm rất nhiều so với mặt trận Đà Nẵng Garnier thừa thắng kéo quân đánh chiếm Phủ Lý (26/11/1873), Hải Dương (3/12/1873), Ninh Bình (5/12/1873) và Nam Định (12/12/1873)
Trước việc Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất và một số tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ, Tự Đức vội vã phong cho Hoàng Tá Viêm làm Tiết chế quân vụ Bắc
Kỳ, cử Tôn Thất Thuyết đem 1.000 quân ra Bắc, nhưng mọi hành động quân sự ấy đều chậm chạp, dè dặt
Trong khi đó, cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Bắc Kỳ thực sự bắt đầu Phối hợp với quân Cờ Đen của tướng Lưu Vĩnh Phúc đang ém quân ở phủ Hoài Đức, ngày 21/12/1873, quân ta khiêu khích và bố trí mai phục trên tuyến Cầu Giấy, cách thành Hà Nội hơn 2km Garnier cùng một trung úy và một số lính Pháp đã sa vào ổ phục kích và bị tiêu diệt tại đây Chiến thắng Cầu Giấy có ý nghĩa quân sự và tâm lý quan trọng Tôn Thất Thuyết và Hoàng Tá Viêm đệ trình kế hoạch tấn công giải phóng Hà Nội, nhưng Trần Đình Túc lại khuyên Tự Đức thương lượng
Ở nhiều địa phương, phong trào chống Pháp đang lên, khiến quân Pháp bị sa lầy Đội quân của Phạm Văn Nghị và Trần Chí Thiên với phòng tuyến trên sông Vị Hoàng, Độc Bộ (Nam Định); ở Phủ Lý, quân ta chiếm lại thành, buộc quân Pháp phải rút chạy; 1.000 quân của Nguyễn Cao ở Bắc Ninh cũng tiến công địch rất hiệu quả (Đinh Xuân Lâm, 1999, tr 36-38)
*Thái độ của triều Nguyễn và Hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874)
Quân Pháp đang bị khốn đốn, có khả năng bị tiêu diệt trước sự tấn công mạnh
mẽ của quân dân Bắc Kỳ Nhưng làm ngơ trước thực tế đó, Tự Đức đã chuẩn y kế hoạch thương lượng của Nguyễn Văn Tường, Trần Đình Túc với Philastre (Phi-lát)
và giao cho đại diện của triều Nguyễn là Lê Tuấn (Chánh sứ Toàn quyền đại thần), Nguyễn Văn Tường (Phó sứ Toàn quyền đại thần) cùng với đại diện của Pháp
là Paul-Louis-Félix Philastre (Toàn quyền đại thần, Thống đốc Nam Kỳ) ký Hiệp ước Giáp Tuất ngày 15/3/1874 Hiệp ước gồm có 22 điều khoản với nội dung như sau:
Điều 1: Sẽ có hòa bình, hữu nghị và bền vững giữa nước Pháp và Vương quốc An Nam
Trang 32Điều 2: Tổng thống nước Cộng hòa Pháp thừa nhận quyền lực của Vua nước
An Nam và quyền độc lập hoàn toàn đối với bất kỳ một thế lực ngoại bang nào, tuyên hứa viện trợ, giúp đỡ và là chỗ nương tựa cần thiết của nhà Vua nếu được yêu cầu mà không phải chịu một phí tổn nào, để duy trì nền hòa bình trên khắp các vùng đất nước, để chống trả bất cứ một sự tấn công nào và để dẹp bỏ tình trạng cướp bóc đang quấy phá một phần vùng biển của Vương quốc
Điều 3: Để đáp lại sự bảo hộ này đức Hoàng thượng - Vua nước An Nam thỏa thuận phù hợp chính sách ngoại giao của mình với chính sách ngoại giao của nước Pháp và không có gì thay đổi với những mối liên hệ ngoại giao hiện có của đức Vua Sự giao ước chính trị này không áp dụng vào bản Thương ước Tuy nhiên, trong bất cứ trường hợp nào, đức Hoàng thượng Vua nước An Nam có thể ký kết Thương ước với bất cứ một nước nào khác không phù hợp với Thương ước đã được ký kết giữa nước Pháp và Vương quốc An Nam, mà không báo trước với Chính phủ của nước Pháp
Điều 4: Tổng thống nước Cộng hòa Pháp cam kết tặng Hoàng thượng Vua nước An Nam:
Năm chiếc tàu chạy máy hơi nước tổng cộng là 500 mã lực, trong tình trạng toàn hảo về mặt máy móc và bồn đun nước sôi, cùng với súng ống đạn dược và đồ phụ tùng đúng như chế độ quân sự quy định;
Một trăm khẩu trọng pháo loại 70mm và 160mm, với 200 viên đạn cho mỗi khẩu súng, một ngàn khẩu súng và 500 ngàn viên đạn Tàu và súng ống đạn dược sẽ được chở tới Nam Kỳ và chuyển giao trong thời hạn tối đa là 1 năm kể từ ngày trao đổi hòa ước đã được hai phía chuẩn phê;
Ngài Tổng thống nước Cộng hòa Pháp cũng cam kết rằng: đặt dưới quyền sử dụng của đức Vua
1 Những huấn luyện viên quân sự và hải quân đủ số cần thiết để tái lập quân đội và hạm đội của Hoàng thượng;
2 Những kỹ sư và trưởng xưởng để điều hành những công trình do đức Hoàng thượng đề xướng;
3 Những chuyên viên tài chánh để tổ chức các cơ cấu thuế khóa và hải quan trong Vương quốc;
4 Những giáo sư để thành lập một trường đại học ở Huế Ngài Tổng thống cũng cam kết cung ứng cho đức Vua những tàu chiến, súng ống đạn dược cần thiết
Tiền lương trả công cho các dịch vụ như vậy sẽ được ấn định bởi sự thỏa thuận của hai phái đoàn cao cấp ký giao ước
Trang 33Điều 5: Đức Hoàng thượng Vua nước An Nam công nhận chủ quyền toàn vẹn của nước Pháp trên các vùng lãnh thổ do nước Pháp hiện đang chiếm giữ và bao gồm trong các ranh giới như sau:
Về phía Đông; vùng biển Trung Quốc và Vương Quốc An Nam (tỉnh Bình Thuận); Về phía Tây; vịnh Xiêm La; Về phía Nam; vùng biển Trung Quốc; Về phía Bắc; Vương quốc Cambodia và Vương quốc An Nam (tỉnh Bình Thuận); Mười một ngôi mộ của họ Phạm ở trong lãnh vực làng Tân Niên Đông và Tân Quan Đông (tỉnh Sài Gòn) và ba ngôi mộ của họ Hồ ở trong lãnh vực làng Linh Chung Tây và Tân Mai (tỉnh Biên Hòa), không được bóc mộ, đào xới, xâm phạm hay đập phá Sẽ cấp một lô đất rộng 100 mẫu cho các ngôi mộ nhà họ Phạm và một lô tương đương như thế cho nhà họ Hồ Hoa lợi thu được trên các lô đất nầy được dùng để gìn giữ và bảo toàn các ngôi mộ và chu cấp các gia đình lo việc trông nôm các phần mộ Các lô đất được miễn các thứ thuế và những người trong dòng họ Phạm, Hồ cũng sẽ được miễn thuế thân, khỏi thi hành quân dịch hay đi dân công
Điều 6: Nước Pháp miễn cho đức Vua không phải trả những phần tiền chiến phí cũ còn thiếu
Điều 7: Đức Hoàng thượng cam kết một cách chính thức, qua trung gian chuyển giao của chính phủ Pháp, trả nợ số tiền chiến phí còn thiếu nước Tây Ban Nha là một triệu đô la - hối xuất 0.72 lượng (bạc) cho mỗi đô la- và hoàn trả số nợ nầy bằng cách lấy phân nửa số thu nhập các thuế quan đánh trên bất cứ mặt hàng hóa nào trên các bến cảng được mở ra cho Đức Hoàng thượng cam kết một cách chính thức, qua trung gian chuyển giao của chính phủ Pháp, trả nợ số tiền chiến phí còn thiếu nước Tây Ban Nha là một triệu đô la - hối xuất 0.72 lượng (bạc) cho mỗi đô la
và hoàn trả số nợ nầy bằng cách lấy phân nửa số thu nhập các thuế quan đánh trên bất
cứ mặt hàng hóa nào trên các bến cảng được mở ra cho những người Âu, Mỹ Số tiền thâu được mỗi năm nộp vào Kho bạc ở Sài Gòn để trả cho chính phủ Tây Ban Nha, lập biên nhận gửi cho chính phủ An Nam
Điều 8: Tổng thống Cộng hòa Pháp và Hoàng thượng đức Vua ban bố đại xá trọn vẹn và giải trừ tất cả mọi sai áp cầm giữ trên các tài sản của những công dân nước mình từ trước cho đến khi hai bên ký kết hòa ước vì họ có dính líu hợp tác với phía bên này hay phía bên kia
Điều 9: Nhận biết rằng đạo Gia tô truyền dạy con người theo đàng lành, Hoàng thượng đức Vua từ bỏ và chống lại mọi sự ngăn cấm nhằm mục đích chống đạo này và cho phép thần dân của Hoàng thượng theo đạo và truyền đạo một cách tự do
Vì vậy, những tín đồ Gia tô giáo của Vương quốc An Nam sẽ có thể tụ hội tại các nhà thờ với một số lượng có giới hạn để hành lễ đọc kinh Các tín đồ sẽ không bị
ép buộc dưới bất cứ một lý do nào để phải thi hành những điều trái với đạo giáo của
họ, hoặc là phải chịu một sự kiểm tra đặc biệt nào Họ sẽ được tham dự các kỳ thi
Trang 34tuyển và làm việc nơi các công sở mà không vì thế phải thi hành bất cứ một điều gì
mà đạo cấm đoán
Hoàng thượng thỏa thuận bãi bỏ việc đăng ký tình trạng phân bổ số tín hữu Gia tô đã được thi hành từ 15 năm trước đây và sẽ được đối xử giống như những thần dân khác trong vấn đề kiểm kê dân số và thuế má Hoàng thượng cũng thỏa thuận xét lại vấn đề quốc phòng một cách khôn khéo trong cách dùng văn tự hay ngôn ngữ, những lời lẽ va chạm tôn giáo và sửa đổi các điều khoản nào trong bản Thập Điều có dùng những lời lẽ va chạm như thế
Những giáo sĩ giám mục và các người thừa sai có thể nhập cảnh tự do vào Vương quốc và lui tới các địa phận truyền giáo của họ với một giấy thông hành do Thống đốc Nam Kỳ ban cấp được chiếu khán bởi Thượng thư Bộ Lễ hay của Tổng đốc tỉnh thành Họ có thể thuyết giảng mọi nơi các giáo điều của đạo Gia tô Họ không phải bị đặt dưới một sự giám sát đặc biệt nào và các làng mạc cũng không còn phải bắt buộc báo trình lên chức quan của triều đình về việc tới lui và sự hiện diện của họ
Các hàng giáo sĩ người An Nam sẽ được hành đạo một cách tự do giống như những người thừa sai bề trên của họ Nếu hạnh kiểm của họ đáng quở trách và nếu theo luật pháp hiện hành mà tội phạm của họ được xếp vào hàng khinh tội bị phạt bằng trượng hay bằng roi thì hình phạt trượng hay roi sẽ được cải giảm bằng một hình phạt tương đương
Các hàng giáo sĩ giám mục, các người của hội thừa sai, các linh mục người
An Nam sẽ được quyền mua, thuê đất cát và nhà cửa, xây cất nhà thờ, bệnh xá, trường học, nhà mồ côi và tất cả những tiện nghi khác để dùng trong việc phụng vụ tôn giáo của họ
Tài sản do họ tạo dựng để phụng vụ tôn giáo hiện đang bị sái áp sẽ được trao trả lại cho họ
Tất cả những điều kê khai ở trên nếu không có ngoại lệ thì cũng áp dụng cho những người thuộc Hội Thừa sai Tây Ban Nha
Sau khi hòa ước được hai bên chuẩn phê, đức Vua sẽ ban một dụ chỉ truyền rao khắp công chúng rằng quyền tự do đã được Hoàng thượng ban cho các tín đồ Gia
tô của Vương quốc
Điều 10: Triều đình An Nam có thể mở một trường cao đẳng ở Sài Gòn đặt dưới quyền giám thị của Giám đốc Nha Nội vụ và chương trình dạy học ở trường ấy không có điều gì đi ngược với đạo lý và sự thi hành quyền lực của người Pháp được mang ra giảng dạy Tự do tín ngưỡng được áp dụng nơi trường học đó
Trong trường hợp có sự vi phạm, người thầy dạy học vi phạm những điều quy định sẽ bị tống khứ về nơi xứ sớ của đương sự và hơn nữa nếu trường hợp trầm trọng, trường cao đẳng có thể bị đóng cửa
Trang 35Điều 11: Triều đình An Nam thỏa thuận mở các thương cảng ở Thị Nại, trong tỉnh Bình Định, ở Ninh Hải trong tỉnh Hải Dương, tỉnh thành Hà Nội, và đường thủy vận sông Nhỉ Hà từ ngoài biển lên tới tỉnh Vân Nam.
Một thỏa ước bổ túc cho bản Hòa ước cùng có hiệu lực chấp hành như bản Hòa ước sẽ ấn định các điều kiện chấp hành cho việc thông thương
Thương cảng Ninh Hải, Hà Nội và đường thủy vận chuyển tiếp sẽ được thông thương liền ngay sau khi hai bên ký chuẩn phê hoặc sớm hơn nếu có thể được; thương cảng Thị Nại sẽ được thông thương trong vòng một năm sau
Các thương cảng hoặc những đường thủy vận khác có thể được thông thương sớm hơn tùy số lượng và mức quan trọng của tình hình giao thương hiện hữu đòi hỏi cần phải như thế
Điều 12: Người Pháp hay người Pháp gốc An Nam và những người ngoại quốc nói chung nếu tuân hành luật pháp của xứ sở thì có thể gây dựng, sở hữu và tự quyết định một cách tự do đối với tất cả những công cuộc làm ăn buôn bán và kỹ nghệ nơi các tỉnh thành đã được đề cập ở trên Chính phủ của Hoàng thượng sẽ tùy theo trường hợp mà cắt đặt đất đai cần thiết cho công cuộc thiết đặt cơ sở của họ
Họ cũng sẽ có thể vận hành và buôn bán trên lưu vực sông Nhỉ Hà từ ngoài biển qua đến tỉnh Vân Nam bằng cách chịu nộp thuế theo luật pháp ấn định và với điều kiện là họ không được thực hiện những dịch vụ buôn bán dọc trên lưu vực sông nầy khoảng từ biển vào tới Hà Nội và từ Hà Nội đến biên giới Trung Quốc
Họ có thể tự do tuyển chọn và thuê mướn những người mại bản, thông ngôn, nhà văn, thợ thuyền, thủy thủ và người làm mướn việc nhà
Điều 13: Tại mỗi cửa thương khẩu đã được mở, nước Pháp sẽ cử nhiệm một Tòa Lãnh sự hoặc một Cơ quan Trợ tá có thẩm quyền đầy đủ với thành phần nhân sự không quá 100 người, để gìn giữ an ninh và bảo vệ uy quyền của Toà Lãnh sự, để thi hành nhiệm vụ cảnh sát đối với những người ngoại quốc cho đến khi nào tất cả mọi
lo âu về mặt nầy không còn nữa nhờ ở việc thiết đặt các mối liên hệ tốt đẹp qua sự thi hành Hòa ước một cách trung chính
Điều 14: Về phía thần dân của Hoàng thượng, họ có thể tự do lưu thông, cư trú, sở hữu và buôn bán ở nước Pháp và tại những lãnh thổ thuộc địa của Pháp đúng theo luật lệ Để bảo đảm cho họ được che chở bảo vệ, Hoàng thượng có thể tùy ý cắt
cử những nhân viên tới cư trú ở các thương cảng hay tỉnh thành do Hoàng thượng chọn lựa
Điều 15: Công dân Pháp, Âu châu, Nam Kỳ Hạ hay những công dân ngoại quốc khác muốn sinh sống ở tại các vùng chọn lựa vừa kể ở trên thì các đương sự phải đăng ký tại cơ quan Trú sứ Pháp để nơi đây thông báo chính quyền sở tại
Trang 36Thần dân của An Nam muốn sinh sống trên lãnh thổ của Pháp cũng phải tuân theo cùng một quy định như vậy
Những công dân nước Pháp hay của những nước ngoài muốn du lịch trong nước sẽ được chấp nhận nếu các đương sự được cấp phát một sổ thông hành từ một
cơ quan đại diện của Pháp và có sự đồng ý cùng sự kiểm thự các chức quyền An Nam Các đương sự không được buôn bán, nếu vi phạm hàng hóa sẽ bị tịch thu
Cách đi lại du lịch như thế gặp nhiều nguy hiểm vì tình trạng của đất nước hiện nay, những khách ngoại quốc chỉ có thể đi thưởng ngoạn khi mà chính quyền
An Nam, với sự đồng ý của với cơ quan Trú sứ Pháp ở Huế, nhận định rằng tình hình đất nước đã khá ổn định
Những chuyến du hành trong nước của các công dân người Pháp mang tính chất tìm tòi nghiên cứu thì cũng phải khai trình, du hành dưới danh nghĩa nầy, các đương sự sẽ được chính quyền che chở và cung cấp thông hành cần thiết, được giúp
đỡ để chu toàn công tác và chương trình nghiên cứu của họ
Điều 16: Tất cả những việc tranh tụng giữa những công dân Pháp với nhau hoặc giữa người Pháp với người ngoại quốc khác sẽ được phân xử bởi Trú sứ Pháp
Khi người Pháp hoặc người ngoại quốc khác có việc tranh tụng với người An Nam thì hoặc có điều gì khiếu nại hoặc đòi hỏi thì các nguyên đơn trước hết phải làm đơn trình lên Trú sứ để cố gắng dàn xếp một cách ổn thỏa
Nếu việc dàn xếp ổn thỏa không thể thực hiện được thì Trú sứ sẽ nhờ đến sự trợ tá của một quan Án sát An Nam để giải quyết vụ tranh tụng, viên Trú sứ và quan
án cả hai cùng nhau cứu xét sự vụ tranh tụng theo luật lệ mà phán xử thỏa đáng
Thủ tục cũng áp dụng cho trường hợp tranh tụng giữa một người An Nam với một người Pháp hay với một người ngoại quốc: nguyên đơn người An Nam sẽ gửi đơn lên quan án và nếu quan án nầy không thể dàn xếp thỏa đáng thì sẽ cùng viên quan Trú sứ giải quyết việc tranh tụng
Tuy nhiên, mọi tranh tụng giữa những người Pháp với nhau hay giữa người Pháp với một người ngoại quốc thì chỉ có viên Trú sứ Pháp có thẩm quyền xét xử
Điều 17: Những vụ phạm pháp đại hình hay tiểu hình của những người Pháp hay của người ngoại quốc xảy ra trên lãnh thổ nước An Nam phải được trình báo và phán xử bởi các tòa án có thẩm quyền ở Sài Gòn Khi có sự yêu cầu của viên Trú sứ Pháp, các chức quyền địa phương phải dùng mọi nỗ lực để truy bắt tên hoặc bọn tội phạm và giải giao đến viên Trú sứ
Khi một vụ phạm pháp đại hình hay tiểu hình của một thần dân người An Nam xảy ra trên lãnh thổ của Pháp, quan Lãnh sự hoặc quan Ủy viên của Hoàng thượng phải được thông báo một cách chính thức các thủ tục truy tố áp dụng với
Trang 37phạm nhân và trong khả năng bảo đảm rằng mọi hình thức luật định đã được tôn trọng đúng mức
Điều 18: Khi có kẻ bất lương phá rối hoặc cướp giật trên phần lãnh thổ của Pháp rồi chạy trốn sang sang lãnh thổ của nước An Nam thì chức quyền địa phương khi được thông báo phải gắng sức truy lùng bắt kẻ phạm pháp để giải giao cho chức quyền Pháp
Cùng một thể thức, nếu những kẻ trộm, cướp hay phạm tội hình sự nào là thần dân của đức Vua mà lại chạy sang ẩn náu trên phần lãnh thổ của Pháp; những kẻ
đó phải được truy bắt ngay sau khi được thông báo và phải được giải giao về cho chức quyền bản xứ của đương phạm
Điều 19: Trong trường hợp một người dân của nước Pháp hay của ngoại quốc qua đời trên lãnh thổ của nước An Nam hoặc là một người dân của nước An Nam qua đời trên lãnh thổ của Pháp thì tài sản của người quá cố sẽ được giao trả cho những người thừa kế của họ; nếu những người thừa kế vắng mặt thì viên Trú sứ sẽ có nhiệm vụ gọi những người thừa kế luật định để chuyển giao
Điều 20: Để bảo đảm và tạo điều kiện dễ dàng cho việc thi hành các điều khoản và những quy định trên bản Hiệp ước nầy, một năm sau kể từ ngày ký chuẩn phê, ngài Tổng thống nước Cộng hòa Pháp sẽ bổ nhiệm một viên Trú sứ ngang hàng với một quan Thượng thư bên cạnh Hoàng Thượng đức Vua An Nam Viên Trú sứ có nhiệm vụ bảo toàn mối liên lạc hữu nghị, giữa các thành viên cao cấp của hai bên đối ước và giám sát việc thi hành theo lương tâm các điều khoản của bản Hiệp ước
Đẳng trật của viên Trú sứ nầy, những danh dự và quyền lợi mà đương sự được hưởng, sẽ được ấn định sau nầy theo một thỏa thuận chung, và trên một nền tảng hỗ tương hoàn toàn giữa hai bên đối ước
Hoàng Thượng đức Vua An Nam có quyền bổ nhiệm các Trú sứ ở Paris và ở Sài Gòn
Tất cả những loại chi phí dùng cho nhiệm kỳ phục vụ của những Trú sứ nầy bên cạnh Chính phủ đồng minh của mình sẽ do Chính phủ của mỗi đương sự đài thọ
Điều 21: Hòa ước nầy thay thế Hòa ước năm 1862, và Chính phủ Pháp có trách nhiệm tìm kiếm sự đồng thuận của Chính phủ Tây Ban Nha Trong trường hợp Chính phủ Tây Ban Nha không chấp nhận những sự thay đổi để thay thế Hòa ước
1862 thì Hòa ước nầy chỉ có hiệu lực giữa nước Pháp và nước An Nam mà thôi, và những điều ước cũ có liên hệ tới Tây Ban Nha vẫn còn hiệu lực chấp hành Trong trường hợp nầy, nước Pháp sẽ đảm nhận việc trả tiền bồi thường chiến phí và sẽ thay thế vai trò chủ nợ của Tây Ban Nha đối với con nợ là nước An Nam để được hoàn trả đúng theo những quy định nơi điều thứ 7 của Hoà ước hiện tại
Điều 22: Hoà ước nầy được thực hiện một cách vĩnh viễn, sẽ được chuẩn phê
và nghi thức chuẩn phê sẽ được tổ chức và trao đổi tại Huế, trong vòng thời hạn một
Trang 38năm hoặc sớm hơn nếu có thể được Hòa ước sẽ được phát hành và có hiệu lực kể từ ngay sau khi trao đổi Bởi các lẽ ấy, các quan khâm sai đã lần lược ấn ký vào bản Hòa ước này
Kỳ, “trao tặng” triều đình một số vũ khí, …
Căn cứ vào nội dung Hiệp ước năm 1874, trong thực tế, Việt Nam đã trở thành đất bảo hộ của Pháp, mặc dù trong Hiệp ước không ghi những chữ này Ký được Hiệp ước này trong những điều kiện khó khăn bấy giờ của Pháp (1873 – 1874)
Hiệp ước Giáp Tuất là một bước mới trên con đường đầu hàng của giai cấp phong kiến Việt Nam
Việc triều đình Nguyễn ký bản Hiệp ước mới năm 1874, cắt thêm đất dâng cho thực dân Pháp và công nhận thêm nhiều đặc quyền đặc lợi của chúng ở Việt Nam
đã vấp phải sức phản ứng mạnh mẽ của nhân dân cả nước
Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, liền sau khi Hiệp ước được ký kết, nhiều cuộc khởi nghĩa đã bùng nổ để vừa chống thực dân Pháp xâm lược, vừa chống triều đình phong kiến đầu hàng Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất (1874) ở Nghệ An và Hà Tĩnh
do một số sĩ phu văn thân yêu nước như Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Huy Điển lãnh đạo
Từ thực tiễn của phong trào khởi nghĩa này, nhân dân đã đi tới một nhận thức mới mẻ: Chống Pháp phải đi đôi với việc chống triều đình đầu hàng Tư tưởng này được thể hiện rõ trong lời hịch của cuộc khởi nghĩa Giáp Tuất: “Dập dìu trống đánh
cờ siêu, phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”
1.2.3.3 Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ hai (1882) Sự sụp
đổ của Nhà nước phong kiến Việt Nam (1884)
Trang 39*Hoàn cảnh lịch sử và âm mưu đánh Bắc Kỳ lần hai của thực dân Pháp (1875 – 1882)
Từ sau năm 1874, nước Pháp bước vào giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, nhu cầu
về mở rộng thị trường, nguyên liệu, nhân công càng trở nên bức thiết Do đó, nước Pháp chạy đua tranh giành thuộc địa với các nước đế quốc khác trong những năm cuối thế kỷ XIX
Từ sau năm 1880, nước Pháp ngày càng xúc tiến mạnh mẽ âm mưu xâm lược Việt Nam Do đó, việc đánh chiếm Bắc Kỳ nói riêng và Việt Nam nói chung không còn là hành động phiêu lưu, đơn độc của bọn thực dân Nam Kỳ nữa mà đã trở thành chủ trương chung của bọn tư bản tài phiệt nắm chính quyền ở nước Pháp
Để chuẩn bị cho việc đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai, từ năm 1875, thực dân Pháp lợi dụng các điều khoản rộng rãi của Hiệp ước 1874, đã phái người đi lại nhiều nơi ở Bắc Kỳ để điều tra các tài nguyên, thăm dò các đường sông, đường biển, đặt đường điện thoại, vẽ bản đồ gửi về Pháp Thực dân Pháp triệt để lợi dụng việc triều đình nhờ đàn áp những cuộc nổi loạn ngoài Bắc, chúng đưa quân vào mỗi ngày một đông hơn
Thực dân Pháp ở Nam Kỳ cũng sẵn sàng chuẩn bị cho việc đánh chiếm Bắc
Kỳ lần hai Le Myre de Vilers (Lơ-mia- đờ vi-lơ) sang làm Thống đốc Nam Kỳ từ năm 1879, chấm dứt thời kỳ độc tài quân sự kéo dài suốt 20 năm (1859 – 1879) của chế độ đô đốc Vilers đã chú ý củng cố thuộc địa Nam Kỳ về mọi mặt để làm bàn đạp trong cuộc đánh chiếm Bắc Kỳ sắp tới
Về quân sự, thực dân Pháp ở Nam Kỳ đẩy mạnh bắt lính ngụy Các đội lính
mã tà và lính tập được thành lập, vừa để trấn áp phong trào nhân dân miền Nam, vừa
để chuẩn bị lực lượng xâm lược miền Bắc
Để chi phí cho các hoạt động nêu trên, thực dân Pháp ở Nam Kỳ ra sức bóc lột vơ vét nhân dân ta, mọi loại thuế đều đánh rất nặng, nhất là thuế gián thu như thuế thuốc phiện, rượu, muối Do nhu cầu bóc lột và thống trị thuộc địa và nhu cầu chiếm đóng Bắc Kỳ sắp tới, thực dân Pháp tìm mọi cách tăng cường nạn sưu dịch nặng nề
Do quyền lợi kinh tế của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ ngày càng tăng, nên chúng muốn đánh chiếm Bắc Kỳ gấp Từ năm 1878 trở đi, các nước Anh, Đức, Tây Ban Nha muốn thương thuyết với triều Nguyễn nên càng thôi thúc thực dân Pháp cần phải hành động
Để có cớ vũ trang xâm lược Bắc Kỳ, thực dân Pháp vu cáo triều Nguyễn vi phạm Hiệp ước năm 1874, như cho quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc ngăn trở việc tàu thuyền đi lại buôn bán trên sông Hồng; tiếp tục chính sách tàn sát đạo; đàn áp những người cộng tác với Pháp; giao thiệp với nhà Thanh Trung Quốc, … Chuẩn bị chứng cớ xong, Chính phủ Pháp bắt đầu gửi thêm quân tăng viện cho quân đồn trú ở Bắc Kỳ (Đinh Xuân Lâm, 1999, tr.45-47)
Trang 40*Sự đối phó của triều Nguyễn
Về phía triều đình, năm 1880, Tự Đức bổ nhiệm Hoàng Diệu (1829 – 1882)
là Tổng đốc Hà – Ninh (Hà Nội, Ninh Bình) Cùng với Hoàng Tá Viêm, Tổng đốc Hoàng Diệu đã cho xây đắp lại thành Hà Nội, tôn cao thêm 1,5m, đắp dày thêm 60cm, khoét thêm các lỗ châu mai và đặt thêm đại bác Rút kinh nghiệm thất bại 9 năm về trước (1873), Hoàng Diệu tuy vẫn để phần lớn quan quân đóng giữ thành, nhưng cũng bố trí một số quân bên ngoài để hỗ trợ tác chiến khi thành bị tấn công
Ý thức của Hoàng Diệu về vị thế thành Hà Nội rất rõ khi ông tâu lên Tự Đức:
“Tôi trộm nghĩ Hà thành là cuống họng của Bắc Kỳ, lại là khu yếu hại của bản quốc, nếu một ngày tan tành như đất lở, thì các tỉnh lần lượt mất như ngói bung Tôi lấy làm lo, …” Còn bản thân Tự Đức lại than rằng: “Tiến, thoái đều khó, không dự phòng thì trúng kế của họ mà dự phòng cũng chẳng ích gì” (Nguyễn Quang Ngọc,
2012, tr.222)
*Diễn biến Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần hai (1882)
Ngày 26/3/1882, Đại tá Henri Riviére (H Ri-vi-e) kéo quân tới Hà Nội bằng đường sông Hồng, giống như Garnier lần trước Đầu tháng 4, quân số của địch đã lên đến 600 tên với 3 pháo hạm 5 giờ sáng ngày 25/4/1882, Riviére gửi tối hậu thư cho Hoàng Diệu trong 3 giờ phải triệt thoái quân đội, buộc quan quân phải tới dinh của hắn để trình diện
Hạn trả lời chưa hết, quân Pháp đã nổ súng tấn công thành Hà Nội Hoàng Diệu đã dẫn đầu tướng sĩ xông lên mặt thành chỉ huy cuộc chiến Trận đánh đang diễn ra ác liệt thì kho thuốc súng trong thành bốc cháy, khiến cho tinh thần quân sĩ hoang mang Chớp thời cơ, quân Pháp dốc toàn lực phá vỡ cửa Tây và cửa Bắc ồ ạt tràn vào thành
Khi thấy cửa thành bị phá và quân sĩ rối loạn không thể duy trì cuộc chiến đấu được nữa, Hoàng Diệu đã tuẫn tiết trong vườn Võ Miếu Các quan lại dưới quyền ông, người thì bỏ chạy, người thì bị giặc bắt Cuộc chiến ở thành Hà Nội kéo dài được nửa ngày và bị rơi vào tay quân Pháp
Chủ trương của thực dân Pháp sau khi chiếm được thành Hà Nội là trong ba ngày phải làm sao buộc vua Tự Đức ký điều ước mới, nhận cho chúng quyền đóng
600 quân tại Hà Nội, cho tàu chiến Pháp tự do đi lại khắp nơi và cho chúng giữ độc quyền thương chính Được như vậy, theo chúng là “đã đủ để đặt sự bảo hộ của Pháp hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam, ít nhất là trên đất Bắc Kỳ” (Đinh Xuân Lâm,
1999, tr.48-49)
Nghe tin Riviéri chiếm được thành Hà Nội, bọn thực dân Pháp ở Sài Gòn và ở Pháp rất lo ngại tình hình có thể bất lợi cho chúng, như trong trường hợp toàn thể nhân dân Việt Nam nổi dậy kháng chiến, hay quân Thanh kéo sang can thiệp Do đó,
Le Myre de Vilers khuyên Riviére phải thận trọng Trong thời gian chờ viện binh,