Sử học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 110 - 113)

Chương 8. Sử học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000

8.1. Sử học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1954

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, điều kiện cho sự phát triển của sử học mác- xít ở nước ta có nhiều thuận lợi bên cạnh những khó khăn thử thách. Sử học phải góp phần vào cuộc đấu tranh chống thù trong giặc ngoài phục vụ cho nhiệm vụ bảo vệ chính quyền cách mạng, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân trong tình thế đất nước như “ngàn cân treo sợi tóc”.

Việc đầu tiên, quan trọng nhất là đấu tranh xóa bỏ những quan điểm lạc hậu, sai lầm của việc nghiên cứu lịch sử thời Pháp thuộc và xây dựng nền sử học mới theo nguyên tắc Đảng đề ra “dân tộc, khoa học, đại chúng”. Do nhiều công việc khẩn trương trước mắt trong việc đấu tranh chống “giặc đói”, „giặc dốt”, “giặc ngoại xâm”, Đảng, Chính phủ chƣa thể tạo nhiều điều kiện cho việc nghiên cứu lịch sử. Hơn nữa, đội ngũ cán bộ làm công tác sử học còn quá ít, trình độ khoa học chƣa cao. Những chiến sĩ cách mạng đã nghiên cứu lịch sử trước kia (Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu…) một số học giả nổi tiếng thời Pháp thuộc (Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên…) đang còn tập trung sức lực vào nhiều công tác khác vừa được giao phó. Một số nhà nghiên cứu lịch sử yêu nước tiến bộ trong các nhóm Tri Tân, Thanh Nghị, ở Viện Viễn Đông Bác cổ trước kia, nhiều giáo viên dạy sử cũ trở thành lực lƣợng chủ yếu của công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử. Tuy nhiên việc tiếp thu quan điểm mác-xít về lịch sử cũng chƣa đƣợc thuần thục nên chƣa phát huy mạnh mẽ trong nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu và giáo viên mới chƣa hình thành.

Trong điều kiện của hơn một năm đầu sau Cách mạng tháng Tám (1945 – 1946), các nhà sử học nước ta tập trung vào hai công việc chính:

- Củng cố những tài liệu, văn kiện có giá trị đối với nghiên cứu sử học nhƣ tập Chặt xiềng, Bản án chế độ thực dân Pháp (in lần đầu tiên ở nước ta, bản tiếng Pháp).

- Tổ chức biên soạn các bài giảng lịch sử cho các trường phổ thông, nhất là phần lịch sử cách mạng chống Pháp.

Công việc nghiên cứu dự tính tổ chức đi vào nề nếp thì cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (12 – 1946) đã làm gián đoạn.

Từ ngày 15 đến ngày 17/01/1948, Hội nghị mở rộng Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng Cộng sản Đông Dương đã thông qua Nghị quyết về công tác Đảng, Nhà nước trong tình hình mới đã đề cập đến nhiệm vụ phải tổ chức “soạn lại Bộ Sử nước ta, bắt đầu viết ngay cuốn Sử cách mạng Việt Nam chống Pháp và cuốn Sử kháng chiến”. Đây là Nghị quyết quan trọng đối với việc phát triển sử học mác-xít của nước ta. Nó vạch phương hướng tạo điều kiện cho sử học trực tiếp phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp. Nó chứng tỏ Đảng ta rất quan tâm đến việc nghiên cứu lịch sử dân tộc và mở rộng đối tƣợng nghiên cứu sử học đến các chuyên ngành khác – Lịch sử Đảng, Lịch sử quân sự.

Trong điều kiện kháng chiến, do yêu cầu phục vụ tuyên truyền giáo dục nhân dân, một số tài liệu lịch sử hoặc có liên quan đến lịch sử đã ra đời. Đó là các cuốn sách của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Một giai đoạn lịch sử nước ta (1847 – 1947) với bút danh Lê QuyếtGiấc ngủ mười năm với bút danh Trần Lực.

“Một giai đoạn lịch sử nước ta (1847 – 1947)” trình bày tóm tắt về lịch sử Việt Nam trong 100 năm qua, kể từ khi thực dân Pháp lần đầu tiên bắn phá Đà Nẳng (1847) đến khi tấn công lên Việt Bắc (1947). Đóng góp của cuốn sách này là nêu rõ trách nhiệm của triều đình Huế trong việc làm mất nước ta, chính sách thống trị của thực dân Pháp nhằm tiêu diệt cuộc đấu tranh của nhân dân ta, sự tất thắng của kháng chiến chống Pháp đang diễn ra do truyền thống dân tộc, sự lãnh đạo của Đảng… Tác dụng của cuốn sách này gây đƣợc niềm tin cho nhân dân đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược nước ta.

“Giấc ngủ mười năm”, không phải là sách về lịch sử, song thông qua câu chuyện một chiến sĩ bị thương, ngất đi trong mười năm mới tỉnh dậy, tác giả trình bày một dự đoán tương lai về sự phát triển của lịch sử đất nước. Ở đây, Hồ Chí Minh đã nêu một nguyên tắc phương pháp luận quan trọng cho công tác nghiên cứu lịch sử là kết hợp nghiên cứu quá khứ với đoán định tương lai để phục vụ hiện tại.

Ngoài ra chúng ta có thể kể đến một số tác phẩm sử học hoặc có liên quan đến sử học ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp nhƣ cuốn “Cách mạng tháng Tám của Võ Nguyên Giáp. Trên cơ sở trình bày diễn biến lịch sử rút ra những bài học kinh nghiệm, khái quát tính chất, ý nghĩa cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đầu tiên không chỉ ở Việt Nam mà cả Đông Nam Á. Cuốn sách “Bàn về cách mạng Việt Nam” báo cáo của Tổng Bí thư Trường Chinh đọc tại Đại hội Đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (2/1951). Báo cáo phân tích tính chất xã hội Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, những mâu thuẫn trong xã hội và nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam.

Đồng chí Lê Duẫn với các cuốn “Một vài đặc điểm của cách mạng Việt Nam”,

„Phong trào cách mạng dân tộc và mặt trận dân tộc thống nhất trong khoảng 1921 – 1924, 1930 – 1931” viết ở chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp (1950 –

112

1952), đã có những nhận định sâu sắc về lịch sử và từ đó làm cơ sở cho việc định ra những chủ trương đúng với hoàn cảnh kháng chiến ở miền Nam.

Các nhà sử học nhƣ Đào Duy Anh, Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn dần dần tập trung thời giờ vào công việc nghiên cứu lịch sử và bước đầu xây dựng những cơ sở cho việc lập Ban nghiên cứu Lịch sử - Địa lý – Văn học phục vụ cho việc giảng dạy lịch sử chương trình cải cách giáo dục.

Ngày 2 tháng 12 năm 1953, Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng quyết định thành lập

“Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học” trực thuộc Ban Chấp hành Trung ƣơng Đảng, gọi tắt là “Ban nghiên cứu Sử, Địa, Văn” nhằm nghiên cứu lịch sử, địa lý, văn học nước ta và biên soạn những sách về lịch sử, địa lý, văn học theo quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã đẩy mạnh việc giáo dục tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế cho nhân dân và thanh niên.

Ban nghiên cứu Sử, Địa, Văn do Trần Huy Liệu làm Trưởng ban. Cùng với sự thành lập của Ban, “Tập san Sử, Địa Văn” cũng ra đời.

Việc thành lập Ban nghiên cứu Sử, Địa, Văn là bước phát triển lớn nhất của khoa học xã hội nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám. Đây là tổ chức đầu tiên lớn nhất của ba ngành khoa học xã hội Việt Nam. Nó kế thừa những tổ chức và thành tựu trước đó của hoạt động văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng và đặt cơ sở cho việc thành lập các tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội sau này ở nước ta.

Nhằm đáp ứng những nhiệm vụ cấp bách của sự nghiệp kháng chiến cứu nước, Ban nghiên cứu Sử, Địa, Văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ đƣợc giao mà chủ yếu là tập trung bồi dưỡng có hệ thống lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, đường lối quan điểm của Đảng cho cán bộ khoa học để vận dụng vào việc nghiên cứu của mình. Đồng thời đem những thành tựu đạt đƣợc góp phần vào việc giáo dục quần chúng nhân dân, trong việc nâng cao tinh thần yêu nước, đoàn kết quốc tế.

Từ cuối năm 1953 đến giữa năm 1954, Ban nghiên cứu Sử, Địa ,Văn đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học về lịch sử. Cuộc hội thảo “Vấn đề ruộng đất và vai trò nông dân trong lịch sử” đƣợc tổ chức ở Tân Trào (Tuyên Quang). Một phần kết quả của hội thảo đƣợc công bố trên Tập san Sử, Địa, Văn số 2 – 1954.

Cùng với việc nghiên cứu lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc nhất là thời kỳ cách mạng do Đảng lãnh đạo, việc nghiên cứu vấn đề vai trò của nông dân và vấn đề ruộng đất trong lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với việc đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và tiến hành cải cách ruộng đất ở vùng tự do. Nhiều vấn đề khác của lịch sử dân tộc cũng đƣợc Ban đề ra làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu sau này nhƣ vấn đề công nhân.

Một công việc có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động khoa học của Ban là bắt đầu biên tập các bộ tài liệu tham khảo về lịch sử đấu tranh chống Pháp từ năm 1858 đến năm 1945.

Vào thời kỳ này, một vài công trình sử học có giá trị đƣợc tổ chức biên soạn nhƣ quyển “Vài nhận xét về thời kỳ cuối nhà Lê đến nhà Nguyễn Gia Long” của Nguyễn Khánh Toàn. Tác giả đã vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và đề xuất một số cơ sở lý luận về những vấn đề lịch sử nhƣ những nguyên nhân dẫn đến sự hình thành dân tộc Việt Nam.

Cũng trong thời gian từ năm 1947 đến năm 1954, ở các vùng bị thực dân Pháp tạm chiếm, chủ yếu ở Hà Nội, Sài Gòn việc nghiên cứu lịch sử cũng dần đƣợc khôi phục. Cơ

quan Viễn Đông Bác cổ của Pháp tiếp tục hoạt động. Nhiều vấn đề về khảo cổ học, lịch sử dân tộc Việt Nam, nhất là thời kỳ phong kiến đƣợc nghiên cứu kỹ. Tuy mục đích nghiên cứu là phục vụ cho việc xâm lƣợc và thống trị trở lại của thực dân Pháp, nhƣng các tài liệu này khách quan mà nói cũng có ý nghĩa khoa học nhất định.

Hoạt động sử học chủ yếu ở các vùng bị tạm chiếm là in lại những quyển “Việt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim. Một số “trí thức trùm chăn” không cộng tác với Pháp do không có điều kiện tham gia kháng chiến chống Pháp nên đã tích cực hoạt động trên mặt trận văn hóa, giáo dục để góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước, qua tìm hiểu lịch sử, văn học Việt Nam trước đây. Trên lĩnh vực sử học đã xuất hiện một số công trình có giá trị khoa học, nhất là mặt tư liệu và phương pháp nghiên cứu. Trong số đó có Hoàng Xuân Hãn với “Lý Thường Kiệt” (Hà Nội, 1949), “La Sơn phu tử” in lại ở Pháp, Minh Tân, Pa-ri, 1952), Hoa Bằng với “Quang Trung, anh hùng dân tộc (Hà Nội, 1951), Phan Khoan với “Việt Nam bang giao sử lược” (Huế, 1950)… Những trí thức, những nhà nghiên cứu lịch sử ở vùng tạm chiếm có điều kiện đi sâu tìm hiểu những chiến công, những anh hùng dân tộc cũng đã góp phần nhất định vào làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử có ý nghĩa giáo dục tinh thần dân tộc cho nhân dân vùng tạm chiếm và làm phong phú thêm kho tàng sử học Việt Nam. Tuy nhiên chúng ta cũng nhấn mạnh rằng một số quyển nghiên cứu, sách giáo khoa Lịch sử cho trường phổ thông còn mang tính chất xuyên tạc lịch sử, cần phân tích phê phán.

Tóm lại, trong giai đoạn 1945 – 1954, nền sử học mác-xít có điều kiện phát triển.

Một số thành tựu nghiên cứu lịch sử đã kịp thời phục vụ nhiệm vụ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống Pháp lúc bấy giờ. Tuy bị hạn chế về điều kiện chiến tranh, vì lực lƣợng còn ít, trình độ khoa học chƣa cao, song thành tựu ấy rất đáng trân trọng, vì nó làm cơ sở cho sự phát triển của sử học sau này. Ghi nhận sự đóng góp của các nhà khoa học, các giáo sƣ Trần Huy Liệu, Nguyễn Khánh Toàn, Trần Văn Giàu, Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo… và các cán bộ khác ở Ban nghiên cứu Văn, Sử, Địa, trường Dự bị đại học, các trường phổ thông cấp II, III, các trường sư phạm và khu học xá Trung ương ở Nam Ninh (Trung Quốc) đã vƣợt nhiều khó khăn để thực hiện tốt công tác nghiên cứu, đào tạo, dạy học lịch sử.

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 110 - 113)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)