Sử học Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 113 - 125)

Chương 8. Sử học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2000

8.2. Sử học Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) đã đƣa cách mạng nước ta sang giai đoạn mới: miền Bắc hoàn toàn giải phóng, hoàn thành cơ bản cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và bước đầu chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa. Miền Nam còn bị đế quốc Mỹ và tay sai thống trị, nhân dân ta phải tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.

Cách mạng ở mỗi miền trong lúc thực hiện mục tiêu của mình cũng đồng thời thực hiện mục tiêu của cách mạng cả nước là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất đất nước. Do đó nhiệm vụ cách mạng ở hai miền có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, tác động thúc đẩy cùng nhau phát triển.

Đại hội toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) chủ trương tăng cường nhằm

“chống lại mọi biểu hiện của tư tưởng tư sản, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, tiếp tục phá bỏ mọi tàn tích của tư tưởng phong kiến và tư tưởng sai lầm khác…”. Để hoàn thành những nhiệm vụ của cuộc cách mạng văn hóa – tư tưởng, Đại hội Đảng lần thứ III nêu rõ phải “Xây dựng thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng, dành cho tư tưởng Mác – Lê-nin địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của nhân dân”, Nghị quyết Đại hội đƣợc cụ thể ở các nhiệm vụ trên các lĩnh vực khoa học xã hội, văn hóa, nghệ thuật. “Cuộc cách mạng ấy động viên và tổ chức mọi lực lƣợng văn hóa, nghệ thuật, khoa học để thực

114

hiện một mặt trận tư tưởng đánh bại mọi cuộc tiến công của văn hóa nô dịch và cao bồi của Mỹ - Diệm, quét sạch ảnh hưởng của tư tưởng đế quốc và phong kiến ở miền Bắc, phê phán tư tưởng tư sản và khắc phục ảnh hưởng của tư tưởng ấy trong quần chúng nhân dân, khắc phục tư tưởng tiểu tư sản, chỗ dựa của tư tưởng tư sản… Cuộc cách mạng ấy giải phóng nhân dân khỏi những xiềng xích của sự ngu dốt và mê muội, di sản của xã hội thuộc địa và phong kiến” (Trường Chinh, 1957).

Trong tình hình và cách mạng chung của cả nước như vậy, nhiệm vụ của sử học Việt Nam cũng rất đa dạng và phức tạp. Cuộc đấu tranh trên lĩnh vực quân sự, chính trị nhất là văn hóa tư tưởng được phản ánh vào hoạt động của công tác sử học. Điều này đƣợc thể hiện ở việc tiếp tục phát triển sử học mác-xít ở miền Bắc và góp phần đấu tranh với nhân dân miền Nam.

8.2.1. Sử học mác-xít miền Bắc (1954 – 1975)

Hòa bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Tình hình ấy cũng đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ mới với sử học.

Chủ nghĩa Mác – Lê-nin càng được củng cố và là hệ tư tưởng chính thống của sử học miền Bắc. Sự phát triển của nó rất toàn diện, đƣợc mở rộng trong việc nghiên cứu mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tăng cường nghiên cứu những vai trò, phương pháp luận sử học, mở rộng nghiên cứu lịch sử địa phương, lịch sử các chuyên ngành và đẩy mạnh công tác giáo dục lịch sử ở trường sư phạm và phổ thông cũng như công tác đào tạo lịch sử ở các trường đại học, viện nghiên cứu.

Vấn đề tổ chức nghiên cứu đƣợc đặt ra làm sao cho phù hợp với tình hình mới.

Cuối năm 1954, “Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học” đổi thành “Ban nghiên cứu Văn học, Lịch sử, Địa lý”, gọi tắt là “Ban Văn, Sử, Địa”. Từ số 3, tập san của Ban cũng đổi thành “Tập san Văn, Sử, Địa”. Việc nghiên cứu lịch sử cũng đƣợc tiến hành ở các khoa của các trường đại học. Tập san “Đại học sư phạm” đã ấn hành được mấy số, chủ yếu nghiên cứu về các vấn đề văn học, lịch sử Việt Nam. Về lịch sử, tập san “Đại học Sƣ phạm” đã đề xuất thảo luận vấn đề “Việt Nam mất nước về tay Pháp có phải là tất yếu hay không?”, đặt vấn đề nghiên cứu về sử liệu học: “Tên chồng bà Trưng Trắc là Thi hay Thi Sách” v.v…

Năm 1959, Ủy ban khoa học Nhà nước ra đời chỉ đạo quản lý mọi hoạt động của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Ngày 6/2/1960, Viện Sử học trực thuộc Ủy ban khoa học Nhà nước được thành lập. Viện có nhiệm vụ “Căn cứ vào đường lối của Đảng và Chính phủ nghiên cứu lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, góp phần vào cuộc đấu tranh cho hòa bình và chủ nghĩa xã hội thế giới. Là cơ quan Nhà nước, Viện Sử học ngoài nhiệm vụ nghiên cứu của mình, còn là trung tâm tập hợp các lực lƣợng khoa học lịch sử trong cả nước: “Việc thành lập Viện Sử học trong Ủy ban khoa học Nhà nước là một sự kiện quan trọng đối với các ngành khoa học xã hội nói chung, đối với ngành Sử học nói riêng. Sự quan trọng đó là ở chỗ: nó tạo nên cơ sở đầu tiên cho chúng ta đi vào việc xây dựng ngành sử học Việt Nam theo tinh thần khoa học”.

Cùng với Viện Sử học, “Tạp chí nghiên cứu lịch sử” kế tục công việc nghiên cứu lịch sử của tập san Văn, Sử, Địa, đoàn kết tập hợp các nhà sử học, công bố những công trình sử học có giá trị. Tạp chí đã tổ chức nhiều cuộc trao đổi, tranh luận những vấn đề quan trọng, lý thú về lịch sử dân tộc cần làm sáng tỏ nhƣ vấn đề “Thời đại Hùng Vương trong lịch sử”, vấn đề “Hình thành dân tộc Việt Nam”, vấn đề “Việt Nam có chế độ chiếm hữu nô lệ không?”. Các vấn đề về phương pháp luận sử học, đánh giá các nhân vật lịch sử, nhiều vấn đề lịch sử thế giới, thông tin khoa học… cũng đƣợc đề cập trong nhiều

bài viết có giá trị khoa học. Tính chiến đấu của Tạp chí thể hiện rõ trong việc tranh luận, sự phê phán, đấu tranh chống các quan điểm sử học sai trái, phản động của sử học phong kiến, thực dân, đế quốc, chủ yếu là sử học thực dân mới ở miền Nam Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu lịch sử từ khi ra đời đến nay là diễn đàn chung của các nhà sử học Việt Nam, đóng góp nhiều cho sự phát triển sử học Việt Nam, cho đào tạo những thế hệ các nhà nghiên cứu lịch sử nước ta.

Năm 1965, Ủy ban khoa học xã hội thành lập càng tạo điều kiện cho khoa học lịch sử phát triển. Cùng với cơ quan nghiên cứu sử học, từ năm 1960 nhiều cơ quan nghiên cứu khác lần lƣợt ra đời: Viện Khảo cổ học, Viện Dân tộc học, Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương, Ban nghiên cứu lịch sử dân tộc và Ban nghiên cứu Lịch sử Đảng các tỉnh. Khoa Sử các trường Đại học Sư phạm Vinh, Việt Bắc… Gia đình khoa học lịch sử ngày một đông đảo, vững mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước và xây dựng đất nước bằng kết quả nghiên cứu, đào tạo của mình.

Thành tựu nghiên cứu của sử học Việt Nam trong giai đoạn 1954 – 1975 có nhiều.

Viện Sử học đã tổ chức tổng kết thành những vấn đề chủ yếu sau:

Thứ nhất, việc nghiên cứu vấn đề nguồn gốc dân tộc Việt Nam đƣợc đặt ra từ xa xƣa và đƣợc trình bày trong các truyện cổ tích, truyền thuyết của nhân dân ta, đƣợc các học giả Pháp thời đô hộ tìm cách lý giải. Dĩ nhiên những cách giải quyết ấy mang màu sắc thần bí, không có cơ sở khoa học, hoặc bị xuyên tạc để phục vụ cho chính sách, ý đồ của bọn thực dân.

Để giải quyết vấn đề này, các nhà sử học Việt Nam đã phối hợp với các nhà khảo cổ học, ngôn ngữ học, dân tộc học, nhân chủng học, văn học dân gian tiến hành xác minh và nêu nhiều luận cứ khoa học quan trọng. Khảo cổ học bằng các di vật khai quật đã chứng minh nhiều nền văn hóa có nguồn gốc bản địa.

Dân tộc học phát hiện hệ thống phong tục cổ từ trước Công nguyên còn tồn tại đến nay ở người Việt (Kinh). Nhân chủng học ghi nhận người bản địa có mặt rất sớm ở Việt Nam.

Cuối thập niên 50 và đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, các nhà sử học Việt Nam đã phê phán những luận điểm sai trái của các học giả phương Tây trước đây về văn hóa Đông Sơn, về nguồn gốc dân tộc Việt Nam và chứng minh rằng nguồn gốc các dân tộc Việt Nam chủ yếu là cƣ dân bản địa lâu đời. Tiếp đó từ cuối những năm 60, “Thời đại Hùng Vương” trở thành một đề tài khoa học hấp dẫn các nhà khoa học lịch sử. Trong những năm 1968 đến 1971, kết quả nghiên cứu thời đại Hùng Vương được trình bày ở bốn hội nghị khoa học (1968, 1969, 1970, 1971) và công bố trong bốn tập kỷ yếu có tên chung là “Hùng Vương dựng nước” và trên các Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, Khảo cổ học, Dân tộc học, Ngôn ngữ học…

Các thành tựu nghiên cứu khẳng định thời đại Hùng Vương là có thật trong lịch sử dân tộc. Đó là thời kỳ chuyển biến sâu sắc về nhiều mặt kinh tế, xã hội dẫn tới sự xuất hiện của Nhà nước đầu tiên và nền văn minh đầu tiên của dân tộc Việt Nam mà nền văn hóa Đông Sơn là tiêu biểu.

Những kết quả nghiên cứu quan trọng nhƣ vậy đặt cơ sở cho việc tiếp tục đi sâu tìm hiểu nhiều vấn đề khoa học khác có liên quan nhƣ nguồn gốc của các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, những mối quan hệ về nguồn gốc và giao lưu giữa các dân tộc Việt Nam và các dân tộc ở Đông Nam Á, ở Trung Quốc và các nước khác trong khu vực.

116

Thứ hai, cuộc thảo luận vấn đề “Hình thành dân tộc Việt Nam”. Từ năm 1955, giới sử học nước ta đã tham gia nghiên cứu và thảo luận sôi nổi về vấn đề này. Cuộc thảo luận sôi nổi nhất diễn ra vào những năm 1955 – 1957 trên các Tập san Văn, Sử, Địa; Đại học Sƣ phạm và Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Tham gia cuộc thảo luận không chỉ có những nhà sử học tên tuổi trong nước như Trần Huy Liệu, Đào Duy Anh, Minh Tranh, Nguyễn Lương Bích, Hoàng Xuân Nhị… mà còn có một số nhà sử học nước ngoài như Viện sĩ Gu-be (Liên Xô), nhà sử học Sê-nô (Chesneuux, Pháp). Có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam. Có người cho rằng, dân tộc Việt Nam bắt đầu hình thành từ thế kỷ X, sau khi thoát khỏi ách đô hộ 1.000 năm của phong kiến phương Bắc, xác lập được quyền độc lập và trưởng thành vào đầu thế kỷ XV. Một số người khác lại cho rằng dân tộc Việt Nam hình thành vào khoảng thế kỷ XVIII với sự thắng lợi của phong trào Tây Sơn, thống nhất đất nước. Có nhà nghiên cứu lại cho rằng quá trình hình thành dân tộc Việt Nam bắt đầu từ thế kỷ XVIII hay thế kỷ XIX, khi đó hàng hóa phát triển, các mầm mống tư bản chủ nghĩa nảy sinh. Quá trình này kéo dài đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 mà nó vẫn chƣa kết thúc việc hình thành một dân tộc đúng nghĩa của nó… Cuộc thảo luận chƣa thể đi đến một quan điểm nhất trí.

Từ sau năm 1965, do yêu cầu biên soạn bộ Lịch sử Việt Nam (tập 1) cuộc thảo luận về vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam lại trở nên sôi nổi. Số người tham gia đông đảo gồm những nhà sử học trong và ngoài nước. Nhiều nhà nghiên cứu thay đổi quan điểm cũ. Phần lớn các nhà sử học trong và ngoài nước đều chứng minh dân tộc Việt Nam hình thành trước chủ nghĩa tư bản.

Vấn đề hình thành dân tộc Việt Nam là một vấn đề lớn của nghiên cứu lịch sử, những thành tựu nghiên cứu đạt đƣợc trong những năm 1954 đến 1975 làm cơ sở cho việc tiếp tục nghiên cứu sau khi nước nhà thống nhất.

Thứ ba, việc nghiên cứu các hình thái kinh tế - xã hội Việt Nam đƣợc tiến hành do yêu cầu của việc biên soạn thông sử, trước hết là phân kỳ lịch sử dân tộc.

Cuộc hội thảo “Việt Nam có chế độ chiếm hữu nô lệ hay không?” diễn ra sôi nổi trong những năm 1957 – 1960 trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, trong nhiều cuộc hội thảo khoa học (đặc biệt cuộc hội thảo năm 1960). Nó làm rõ hai quan điểm trái ngƣợc nhau giữa những người chủ trương có hoặc không có chế độ chiếm hữu nô lệ ở Việt Nam. Tuy các nhà nghiên cứu lịch sử đều xuất phát trên cơ sở những quan điểm lý thuyết mác-xít về hình thái kinh tế - xã hội, nhƣng khi thảo luận nhìn chung họ đều không có đủ tài liệu khoa học và luận cứ để chứng minh chủ trương của mình. Dù vậy, các nhà nghiên cứu lịch sử đều gặp gỡ ở chỗ cho rằng Việt Nam không trải qua chế độ nô lệ kiểu châu Âu (Hy Lạp, La Mã), nhƣng có một hình thức đặc biệt cần tìm hiểu là chế độ nô tỳ. Từ đó nhiều nhà sử học đi sâu nghiên cứu những vấn đề nguồn gốc, việc bóc lột, mua bán, vai trò nô tỳ trong xã hội và cải cách của Hồ Quý Ly.

Cuộc thảo luận về chế độ phong kiến ở Việt Nam sôi nổi nhất ở việc xác định thời điểm khởi đầu. Ý kiến phổ biến lúc bấy giờ cho rằng xã hội Việt Nam từ thời Ngô – Đinh – Tiền Lê cho đến thế kỷ XIX là chế độ phong kiến trải qua hai giai đoạn. Giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XV là giai đoạn phong kiến đi lên, giai đoạn từ thế kỷ XVI là giai đoạn đi xuống. Vấn đề khủng hoảng của chế độ phong kiến thời Nguyễn cũng là một đề tài đƣợc nhiều nhà sử học lúc bấy giờ quan tâm.

Vấn đề phương thức sản xuất Châu Á trong thời gian này cũng đƣợc đặt ra nhằm làm sáng tỏ hơn việc nghiên cứu chế độ phong kiến ở Việt Nam. Nhiều vấn đề về phân kỳ các giai đoạn cận, hiện đại, về kinh tế thuộc địa nửa phong kiến trong lịch sử Việt Nam cũng đƣợc đặt ra để giải quyết. Ý kiến có nhiều, nhƣng chƣa có ý kiến nào đủ sức thuyết

phục. Hơn nữa, việc nghiên cứu về mặt kinh tế - xã hội của thời kỳ thuộc Pháp không nhiều lắm. Năm 1982, việc nghiên cứu hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử Việt Nam là

“nhiệm vụ cấp thiết của chúng ta” và cuộc thảo luận lại sôi nổi.

Thứ tư, vấn đề ruộng đất và phong trào nông dân trong lịch sử Việt Nam đã đƣợc đặt thành trọng tâm nghiên cứu ngay khi Ban nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học đƣợc thành lập. Vấn đề thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu tham gia. Điều này không chỉ là vấn đề trọng tâm của nghiên cứu lịch sử mà còn là yêu cầu cấp bách phục vụ công cuộc đấu tranh thống nhất Tổ quốc và xây dựng đất nước.

Trong những năm 1954 đến 1958, việc nghiên cứu đƣợc mở đầu bằng bài “Vấn đề ruộng đất trong cách mạng Việt Nam” của Trần Huy Liệu đăng trên Tập san Văn, Sử, Địa số 3, 10/1954. Cũng trong số tập san này, Minh Tranh giới thiệu “Phong trào nông dân trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam”. Song vấn đề đƣợc trình bày có hệ thống trong các bộ thông sử của Đào Duy Anh và Minh Tranh các chuyên khảo về phong trào nông dân. Những công trình lúc bấy giờ là bước đầu của việc nghiên cứu vị trí, vai trò của vấn đề ruộng đất và nông dân trong lịch sử, phê phán các quan điểm tƣ sản, phong kiến, đặc điểm phong trào nông dân… số lƣợng công trình và kết quả nghiên cứu chƣa nhiều. Từ sau năm 1958, vấn đề nghiên cứu trở nên sôi nổi và đạt đƣợc những thành tựu đáng kể. Hoàng Xuân Phong với “Xã thôn Việt Nam” (1958) đã trình bày có hệ thống vấn đề nông dân trước Cách mạng tháng Tám. Phan Huy Lê trong “Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ” (1959) đã sử dụng các nguồn sử liệu chính thống để trình bày vấn đề một cách khoa học. Sôi nổi nhất là việc nghiên cứu và công bố trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử các luận văn đề cập một cách toàn diện về đặc điểm, tính chất khởi nghĩa nông dân và yêu cầu nghiên cứu về nhiều cuộc khởi nghĩa, đặc biệt là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn. Do đi sâu tìm hiểu lịch sử địa phương, các tác giả có nhiều tư liệu phong phú, có giá trị cho việc nghiên cứu vấn đề khởi nghĩa nông dân.

Trong hơn 20 bài nghiên cứu vấn đề ruộng đất và phong trào nông dân, các nhà sử học miền Bắc đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề quan trọng nhƣ chế độ sở hữu ruộng đất, công cuộc khẩn hoang trong lịch sử, về phong trào nông dân trong thời phong kiến, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc thời cận đại.

Thứ năm, việc nghiên cứu về “Truyền thống chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam trong lịch sử” đã đạt đƣợc nhiều kết quả trên lĩnh vực tài liệu – sự kiện, về những khái quát – kết luận khoa học. Điều này phản ánh một nhu cầu cấp thiết lúc bấy giờ là nghiên cứu những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm để rút ra những bài học cho hiện tại, để bồi dưỡng tinh thần yêu nước, đấu tranh bất khuất cho nhân dân. Những kết quả nghiên cứu ấy thể hiện trong một khối lƣợng lớn các luận văn khoa học trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, thông báo khoa học của khoa Sử, đại học Tổng hợp, đại học Sƣ phạm Hà Nội, trong một số tác phẩm chuyên khảo về từng cuộc kháng chiến, từng cuộc khởi nghĩa hay trong nhiều chương sách giáo trình đại học. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này góp phần làm sáng tỏ rằng:

- Trong lịch sử dân tộc, đấu tranh chống ngoại xâm giải phóng dân tộc là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng gắn liền với công cuộc xây dựng đất nước.

- Nhân dân ta đã hình thành nhiều truyền thống tốt đẹp trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, như lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần quyết chiến quyết thắng, đoàn kết đánh giặc…

- Cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, giải phóng dân tộc của nước ta từ ngày có Đảng lãnh đạo thu được nhiều thắng lợi rực rỡ, xác định con đường phát triển tất yếu của lịch sử, thể hiện tinh thần đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa nhân đạo…

Một phần của tài liệu Tài liệu giảng dạy lịch sử sử học (Trang 113 - 125)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(153 trang)