TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN TRỌNG NHÂN THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH BẮC GI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN TRỌNG NHÂN
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH BẮC GIANG NĂM 2019
SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Nam Định – 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN TRỌNG NHÂN
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH BẮC GIANG NĂM 2019
SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Chuyên ngành: KHOA HỌC ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS VŨ VĂN THÀNH
Nam Định – 2019
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống
của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang năm 2019 (2) Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc
Giang sau can thiệp giáo dục sức khỏe Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe có so sánh trước sau trên một nhóm đối tượng bằng bộ câu hỏi chuẩn bị trước gồm 3 phần: Thông tin chung của đối tượng, kiến thức về chế độ ăn uống và thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019 lựa
chọn được 98 người bệnh đái tháo đường type 2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu Kết
quả nghiên cứu: Điểm trung bình kiến thức về chế độ ăn uống của người bệnh là
5,97 ± 1,92 điểm, trên tổng số 13 điểm; điểm trung bình thực hành về chế độ ăn uống là 13,08 ± 2,40 điểm, trên tổng số 26 điểm Can thiệp giáo dục đã cải thiện đáng kể kiến thức và thực hành về chế độ ăn của người bệnh: Ngay sau can thiệp điểm trung bình kiến thức đúng tăng lên 9,18 ± 1,66 điểm, sau can thiệp 01 tháng điểm trung bình kiến thức đúng là 7,86 ± 1,75 điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê với p<0,05 Ngay sau can thiệp điểm trung bình thực hành đạt tăng lên 17,62 ± 2,98 điểm, sau can thiệp 01 tháng điểm trung bình thực hành đạt là 16,53 ± 2,18
điểm, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Kết luận: Kiến thức và thực
hành về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 còn hạn chế trước can thiệp và đã được cải thiện đáng kể sau can thiệp giáo dục sức khỏe
Từ khóa: Kiến thức và thực hành, giáo dục sức khỏe, đái tháo đường type 2
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định của tôi trong hai năm theo học chương trình cao học, chuyên ngành Điều dưỡng
Với lòng thành kính và biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy trong Ban Giám hiệu, cô giáo chủ nhiệm, cùng các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã hết lòng nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS.Vũ Văn Thành - Người thầy đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo tôi trong toàn bộ quá trình viết đề cương, thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng biết ơn các thầy cô trong Hội đồng đã đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo bệnh viện, các y bác sỹ, điều dưỡng thuộc Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành việc thu thập số liệu tại bệnh viện
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn tới gia đình, bạn bè, cùng tập thể lớp Cao học Điều dưỡng khóa 4 đã động viên, giúp đỡ trong trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Nhân
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi là học viên lớp Cao học Điều dưỡng Khóa 4, chuyên ngành Điều dưỡng, Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:
Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn khoa học TS.Vũ Văn Thành
Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được công bố ở Việt Nam
Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được đồng ý thu thập và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu thập số liệu
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Bắc Giang, ngày 30 tháng 10 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Trọng Nhân
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU iii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iv
LỜI CẢM ƠN v
LỜI CAM ĐOAN vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Bệnh đái tháo đường 4
1.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 5
1.3 Tự chăm sóc về ăn uống ở người bệnh đái tháo đường type 2 8
1.4 Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường type 2 13
1.5 Giáo dục sức khỏe 15
1.6 Kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống ở người bệnh đái tháo đường 17
type 2 đã được nghiên cứu 17
1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 22
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Đối tượng nghiên cứu: 23
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 23
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 23
2.4 Cỡ mẫu 24
2.5 Phương pháp chọn mẫu: 24
2.6 Phương pháp thu thập số liệu: 24
2.7 Các biến số nghiên cứu 29
2.8 Công cụ thu thập số liệu và tiêu chuẩn đánh giá 30
2.9 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 33
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục 34
Trang 7Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 36
3.2 Thực trạng về kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu 38
3.3 Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp 43
Chương 4: BÀN LUẬN 54
4.1 Thông tin nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 54
4.2 Thực trạng về kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu 60
4.3 Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu 64
4.4 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 75
KẾT LUẬN 76
KHUYẾN NGHỊ 77 TÀI LIỆU THAM KHẢO
VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ĂN UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TỈNH BẮC GIANG NĂM 2019 SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE
Phụ lục 2: PHIẾU PHỎNG VẤN KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ CHẾ ĐỘ ĂN
UỐNG CỦA NGƯỜI BỆNH ĐTĐ TYPE 2
Phụ lục 4: NỘI DUNG TƯ VẤN GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO NGƯỜI BỆNH ĐÁI
THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
Phụ lục 5: TÀI LIỆU PHÁT TAY
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
BV Bệnh viện
ĐTNC Đối tượng nghiên cứu
ĐTĐ Đái tháo đường
ĐTV Điều tra viên
IDF International Diabetes Federation/Liên đoàn Đái tháo
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Thống kê của IDF về số người mắc đái tháo đường năm 2017 và dự đoán
đến năm 2045 tại các khu vực trên thế giới 6 Bảng 1.2 Bảng đánh giá BMI theo Chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và dành riêng
cho người châu Á 14 Bảng 2.1 Bảng đánh giá chỉ số Crobach’s alpha 31 Bảng 3.1: Đặc điểm về tuổi, nơi cư trú và trình độ học vấn của đối tượng nghiên
cứu 36 Bảng 3.2 Đặc điểm về nghề nghiệp và điều kiện sống của đối tượng nghiên cứu 37 Bảng 3.3 Đặc điểm về bệnh lý/biến chứng kèm theo của đối tượng nghiên cứu 38 Bảng 3.4 Đặc điểm về hoàn cảnh phát hiện bệnh, nguồn thông tin về chế độ ăn
uống của đối tượng nghiên cứu 39 Bảng 3.5 Đặc điểm về hút thuốc của đối tượng nghiên cứu 40 Bảng 3.6 Kết quả chung về kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của đối
tượng nghiên cứu trước can thiệp 40 Bảng 3.7 Thực trạng kiến thức về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứutrước
can thiệp 41 Bảng 3.8 Thực trạng thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứutrước
can thiệp 42 Bảng 3.9 Kết quả chung kiến thức về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu
trước và sau can thiệp 43 Bảng 3.10 Tỷ lệ trả lời đúng kiến thức về chế độ ăn uống của của đối tượng nghiên
cứu trước và sau can thiệp 44 Bảng 3.11 Kết quả chung điểm trung bình kiến thức thực hành vế chế độăn uống
của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp 45 Bảng 3.12 Tỷ lệ trả lời đúng kiến thức thực hành về chế độ ăn uống củađối tượng
nghiên cứu trước và sau can thiệp 46 Bảng 3.14 Thay đổi kiến thức về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu theo
nhóm tuổi, nghề nghiệp trước và sau can thiệp 48
Trang 10Bảng 3.15 Thay đổi kiến thức về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu theo nơi
sống, hoàn cảnh sống, nguồn thông tin và tiền sử bệnh trước và saucan thiệp 49 Bảng 3.16 Thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu theo giới, trình
độ văn hóa trước và sau can thiệp 50 Bảng 3.17 Thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu theonhóm tuổi,
nghề nghiệp trước và sau can thiệp 51 Bảng 3.18 Thay đổi thực hành về chế độ ăn uống của đối tượng nghiên cứu theo
nơi sống, hoàn cảnh sống, nguồn thông tin và tiền sử bệnh trước và saucan thiệp 52 Bảng 3.19 Đánh giá hiệu quả can thiệp kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống
của đối tượng nghiên cứu 53
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo giới của đối tượng nghiên cứu 37 Biểu đồ 3.2 Đặc điểm về tiền sử gia đình của đối tượng nghiên cứu 38 Biểu đồ 3.3 Đặc điểm về thời gian mắc bệnh của đối tượng nghiên cứu 39
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) type 2 được công nhận là bệnh "đại dịch" của thế kỷ 21 ảnh hưởng đến hàng trăm triệu người trên toàn thế giới Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế(IDF) năm 2018 cho thấy: Trên thế giới có khoảng 425 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc bệnh đái tháo đường trong
đó có trên 90% mắc đái tháo đường type 2 [39] Theo ước tính đến năm 2045 trên thế giới có khoảng 629 triệu người sống chung với bệnh này, đáng chú ý, chi phí y
tế tiếp tục tăng 12% chi phí y tế toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh đái tháo đường trong đó chiếm đa số là ảnh hưởng tới điều trị các biến chứng [39]
Tại Việt Nam, theo thống kê trong 10 năm của Bệnh viện Nội tiết Trung ương: Số người bệnh mắc đái tháo đường ở nước ta tăng từ 2,7 % dân số năm 2002 lên 5,7 % dân số năm 2012, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng người bệnh đái tháo đường cao nhất thế giới [3] Theo ước tính của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2018, Việt Nam có khoảng 3,53 triệu người đang chung sống với bệnh đái tháo đường, theo dự đoán đến năm 2045, nước ta sẽ có tới 6,3 triệu người mắc căn bệnh này, tăng xấp xỉ 79% [39]
Đái tháo đường type 2 là bệnh mạn tính nên người bệnh phải điều trị hàng ngày trong suốt cuộc sống của họ Việc tuân thủ chế độ điều trị của người bệnh có ý nghĩa sống còn tới hiệu quả điều trị bệnh Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh không tuân thủ chế độ ăn uống ngày một tăng lên đáng kể, nếu họ không tuân thủ chế độ ăn uống thì sẽ gây những hậu quả không mong muốn chính là giảm kiểm soát đường huyết, dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng như tổn thương mắt, thận, thần kinh, loét chân dẫn đến cắt cụt chi, nhiễm trùng, vv chi phí dịch vụ y tế tăng lên, điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới người bệnh mà còn trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [38]
Trên thế giới những nghiên cứu về sự tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 không còn là vấn đề mới Theo nghiên cứu của Mandewo và cộng sự năm 2014 [50] chỉ ra rằng tỷ lệ không tuân thủ với chế độ ăn
là 43,3% Nghiên cứu của Asnakew Achaw Ayele và cộng sự năm 2017 [34] cho kết quả một tỷ lệ đáng kể với 74,3% những người tham gia nghiên cứu có sự tuân
Trang 13thủ kém với các khuyến nghị về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2
Tại Việt Nam, những năm gần đây cũng đã có một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 tuy nhiên số lượng nghiên cứu vẫn chưa nhiều: Đỗ Quang Tuyển và cộng sự năm 2012 [29] cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hiện chế độ ăn có kiến thức đúng về các loại thực phẩm cần tránh như dưa hấu
và quả dứa chỉ đạt lần lượt là 17,6% và 21,5 % Trong khi đó thực hành không đúng
về chế độ ăn với mức < 5 đơn vị chuẩn chiếm 44,8%, có tới 63% người bệnh không
có kiến thức là hạn chế ăn các chất tinh bột như cơm và miến dong
Theo nghiên cứu của Trần Thị Xuân Hòa và Trần Thị Nguyệt năm 2013[14] cho thấy tỷ lệ người bệnh thực hiện chế độ ăn kiêng là 83% Trong một nghiên cứu khác của Lưu Thị Hương Giang năm 2013[9] tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ ăn là 79% Các kết quả này cho thấy sự hiểu biết và sự tuân thủ về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 còn nhiều hạn chế và đang là vấn đề mang tính thời sự
Theo thống kê của Sở Y tế tỉnh Bắc Giang, trong 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh đang quản lý, điều trị ngoại trú cho 14,6 nghìn ca đái tháo đường[23] Riêng Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang đang khám và điều trị số lượng người bệnh đái tháo đường trong toàn tỉnh, đến khám và điều trị ngoại trú cho khoảng 600 người bệnh đái tháo đường, trong đó chủ yếu là người bệnh đái tháo đường type 2 Hiện nay, trong tỉnh đã có nghiên cứu về đái tháo đường nhưng đa số tập trung vào vấn
đề chẩn đoán, điều trị biến chứng, quản lý điều trị bệnh nhưng chưa có nghiên cứu nào quan tâm đến tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 Việc giáo dục sức khỏe (GDSK) nâng cao kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống cho người bệnh đái tháo đường type 2 đóng một giá trị nhất định giúp người bệnh
có kiến thức tự chăm sóc từ đó giúp phòng ngừa và hạn chế mắc phải các biến chứng nguy hiểm cho người bệnh Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài:“Thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo
đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang năm 2019 sau giáo dục sức khỏe”.
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang năm 2019
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang sau giáo dục sức khỏe
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipide, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [58]
1.1.2 Chẩn đoán xác định đái tháo đường
Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Bộ Y tế và Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2018 [39], dựa vào một trong các tiêu chí:
- Glucose huyết tương lúc đói (trước khi làm xét nghiệm ít nhất 08 giờ, bệnh nhân không ăn và không ăn đồ ngọt, không uống nước ngọt): ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L), hoặc:
+ Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g: ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L), hoặc:
+ Glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân): ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L), hoặc: HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol)
1.1.3 Phân loại đái tháo đường
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [57]:
- Bệnh đái tháo đường type 1: Chiếm 5-10% của tất cả các trường hợp
được chẩn đoán mắc bệnh đái tháo đường Nguyên nhân do tế bào bêta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể Đái tháo đường type 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi Người bệnh đái tháo đường type 1 sẽ có đời sống phụ thuộc insulin hoàn toàn
Trang 16- Bệnh đái tháo đường type 2: Chiếm khoảng 90% của tất cả các trường hợp
chẩn đoán của bệnh Nó thường gắn liền với tình trạng thừa cân và kháng insulin Đối với người bệnh đái tháo đường type 2, chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, là nền tảng của việc điều trị Tuy nhiên, chức năng của tế bào beta tuyến tụy giảm tiến triển trên nền tảng đề kháng insulin, rất nhiều người bệnh cuối cùng phải điều trị bằng thuốc uống hoặc insulin ngoại sinh Đặc điểm lớn nhất trong cơ chế bệnh sinh của đái tháo đường type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường
- Đái tháo đường thai kỳ: Đái tháo đường được phát hiện khi mang thai và
được chẩn đoán trong 3 tháng giữa hoặc 3 tháng cuối của thai kỳ và không có bằng chứng về đái tháo đường type 1, type 2 trước đó
Do bệnh đái tháo đường type 2 chiếm tỷ lệ lớn trong số người bệnh bị đái tháo đường (80-90%) và bệnh đái tháo đường type 2 cũng là bệnh có thể phòng hoặc làm chậm lại sự tiến triển thành bệnh ở những người có nguy cơ cao bị bệnh
Vì vậy, trong nội dung nghiên cứu của luận văn này chỉ nghiên cứu về đái tháo đường type 2
- Đái tháo đường khác do nhiều nguyên nhân khác nhau (hiếm gặp):
+ Khiếm khuyết gen của tế bào beta
+ Rối loạn quá trình chuyển hóa glucose (thể MODY)
+ Đột biến gen ảnh hưởng đến hoạt động của insulin
+ Bệnh lý tụy ngoại tiết
+ Thuốc, hóa chất…
+ Nguyên nhân do nhiễm trùng
+ Các thể ít gặp của đái tháo đường qua trung gian miễn dịch
+ Các hội chứng về gen khác
1.2 Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình đái tháo đường trên thế giới
Theo khuyến cáo của WHO, năm 2013 trên thế giới có 382 triệu người mắc đái tháo đường, trong đó có tới 46% chưa được chẩn đoán, số người mắc dự đoán tăng lên 592 triệu người vào năm 2035 tương đương số người mắc tăng lên 55%
Trang 17Cũng theo thống kê này, cứ mỗi 6 giây lại có một người tử vong do bệnh đái tháo đường, trong năm 2013 đã có 5,1 triệu người tử vong vì bệnh đái tháo đường [39]
Theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2018: Trên thế giới hiện nay có sấp xỉ 425 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc đái tháo đường, trong đó có 193 triệu người chưa được chẩn đoán Hơn 352 triệu người trưởng thành ước tính có dung nạp glucose, đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao phát triển dịch bệnh [39] Theo WHO năm 2013 số người tử vong do bệnh HIV/AIDS, lao và sốt rét lần lượt là: 1,5 triệu người; 1,5 triệu người và 0,6 triệu người, trong khi đó cuối năm 2015, bệnh đái tháo đường đã gây ra trên 5,0 triệu người tử vong và có chi phí khoảng 673 tỷ USD và đến năm 2017 khoảng 727 tỷ USD Nếu mức tăng này không dừng lại dự đoán tới năm 2045 có gần 629 triệu người sống chung với bệnh tật [59] Đáng chú ý, chi phí y tế tiếp tục tăng 12% chi phí y tế toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh đái tháo đường trong đó chiếm đa số
là ảnh hưởng tới điều trị các biến chứng [39]
Cũng theo thống kê của Liên đoàn Đái tháo đường Quốc tế (IDF), về số người mắc đái tháo đường năm 2017 và dự đoán số người mắc đái tháo đường đến năm 2045 của các châu lục và một số khu vực trên thế giới như sau [39]:
Bảng 1.1: Thống kê của IDF về số người mắc đái tháo đường năm 2017 và dự đoán
đến năm 2045 tại các khu vực trên thế giới
(triệu người)
Năm 2045 (triệu người)
Trang 18Về mức độ phổ biến của bệnh đái tháo đường: Năm 2017 cứ 11 người trưởng thành (20-79 tuổi) thì có 1 người mắc đái tháo đường và tới năm 2045 tỉ lệ này giảm
xuống trong 10 người có 1 người mắc đái tháo đường
Bệnh đái tháo đường phân chia theo giới tính: Năm 2017 có 221,0 triệu đàn ông mắc đái tháo đường và ở nữ năm là 203,9 và con số này đến năm 2045 sẽ tăng thêm lần lượt là 9,7% ở phụ nữ và 10,0% ở nam giới
Bệnh đái tháo đường phân bố tại môi trường đô thị và nông thôn: Tại vùng
đô thị năm 2017 có 279,2 triệu và vùng nông thôn là 145,7 triệu người mắc, tới năm
2045 thành thị so với nông thôn lần lượt là 10,2% so với 6,9% [39]
Chi phí tài chính cho đái tháo đường: Ngoài việc gây ra gánh nặng tài chính lớn cho các cá nhân và gia đình của họ do sự chi phí của insulin và thuốc thiết yếu khác, bệnh đái tháo đường cũng có một tác động đáng kể tới kinh tế đất nước và hệ thống y tế tại các quốc gia
Điều này là do việc sử dụng gia tăng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm năng suất lao động và thời hạn dài hỗ trợ cần thiết để vượt qua bệnh đái tháo đường
và các biến chứng ảnh hưởng, chẳng hạn như suy thận, mù hoặc các vấn đề tim mạch Đa số các nước dành từ 5% đến 20% tổng chi tiêu y tế của họ cho bệnh đái tháo đường Với chi phí ngày một cao bệnh này là một thách thức đáng kể cho hệ thống y tế và cản trở phát triển kinh tế bền vững của quốc gia [38]
1.2.2 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam
Việt Nam nằm trong 10 quốc gia có tỷ lệ gia tăng bệnh nhân đái tháo đường cao nhất thế giới với tỷ lệ bệnh nhân tăng 5,5% mỗi năm [3] Căn bệnh này đã và đang ảnh hưởng tới mọi người và mọi lứa tuổi trong xã hội Trong khi đó Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia thu nhập trung bình và thấp phải chịu nhiều tác động lớn của căn bệnh đái tháo đường, đặc biệt là tại các thành phố lớn và khu công nghiệp Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này
Theo thống kê trong 10 năm của Bệnh viện Nội tiết Trung ương: Số người bệnh mắc đái tháo đường ở nước ta tăng từ 2,7 % dân số năm 2002 lên 5,7 % dân số
Trang 19năm 2012, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng người bệnh đái tháo đường cao nhất trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới Nghiên cứu tại các địa phương cho thấy, toàn quốc có khoảng 5 triệu người bệnh đái tháo đường, điều đáng nói là cứ 10 ca đái tháo đường thì có 6 ca được chẩn đoán là có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong Ở Việt Nam, mỗi ngày có khoảng 150 người tử vong do các nguyên nhân ảnh hưởng đến bệnh đái tháo đường, tương đương với 54.943 trường hợp tử vong của người trưởng thành mỗi năm [3]
Bệnh đái tháo đường không được điều trị hoặc điều trị kém làm tăng nguy
cơ gặp các biến chứng nghiêm trọng tại hầu hết các cơ quan như tim, gan, não, mắt, thận các bệnh lý tại vi mạch máu cũng như ở các mạch máu lớn…và có thể dẫn tới
tử vong sớm Người bị bệnh đái tháo đường có nguy cơ tử vong sớm cao hơn gần gấp 2 lần so với những người không bị bệnh đái tháo đường [57]
Theo các chuyên gia y tế, chính thói quen sinh hoạt không khoa học như: Thói quen dùng thức ăn nhanh, thức ăn giàu năng lượng, ăn nhiều chất béo, ăn ít rau, uống nhiều nước ngọt, bia rượu, người sống tĩnh tại, … đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh đái tháo đường ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu [26] Vì vậy vấn đề tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường nhất là tuân thủ về chế độ ăn uống người bệnh đái tháo đường type 2 cần được quan tâm hơn bao giờ hết [22], [35]
1.3 Tự chăm sóc về ăn uống ở người bệnh đái tháo đường type 2
Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có định nghĩa khác nhau Trong số các định nghĩa, định nghĩa của Orem là nhất quán hơn Orem lập luận rằng, tự chăm sóc là một hoạt động cá nhân để chăm sóc, duy trì sức khỏe của chính họ và phòng ngừa biến chứng bệnh liên quan đến bệnh Điều này có thể được thực hiện thông qua việc quản lý và duy trì thực hiện lối sống lành mạnh trong các lĩnh vực của dinh dưỡng, hoạt động thể lực, sử dụng thuốc và kiểm soát Cùng với điều này, Orem mô
tả tự chăm sóc là khả năng của mình để tự đánh giá, giám sát và đưa ra quyết định cho các tình huống trong cuộc sống của bản thân họ Tự chăm sóc là một quá trình liên tục [55]
Trang 20Hiệp hội Đái tháo đường của Mỹ năm 2013 [59]: Báo cáo rằng, các thay đổi lối sống ở người bệnh đái tháo đường có thể là một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu kiểm soát đường máu và ngăn ngừa biến chứng bệnh đái tháo đường Giáo dục bệnh tiểu đường rất quan trọng nhưng nó phải được chuyển sang các hoạt động hành động hoặc tự chăm sóc để mang lại lợi ích đầy đủ cho bệnh nhân Các hoạt động
tự chăm sóc đề cập đến các hành vi như tuân theo kế hoạch ăn kiêng, tránh thực phẩm nhiều chất béo, tăng cường tập thể dục, theo dõi glucose và chăm sóc chân:
* Chế độ ăn: Kiểm soát chế độ ăn uống là một phần quan trọng trong việc
chăm sóc bệnh đái tháo đường Đó là điều chỉnh các thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe: Cải thiện chế độ ăn, kiểm soát glucose huyết, lipid, ổn định huyết áp,
và giảm cân hoặc duy trì cân nặng Khẩu phần ăn của bệnh đái tháo đường nên điều chỉnh carbohydrate, protein và chất béo [4]
Chế độ ăn trong bệnh đái tháo đường là một biện pháp điều trị Một chế độ
ăn thích hợp phải đáp ứng được các yêu cầu sau [5]:
- Đủ calo cho các hoạt động sống bình thường
- Tỷ lệ thành phần các chất đạm, mỡ, đường cân đối
- Đủ Vitamin và các khoáng chất
- Chia bữa ăn phù hợp với thay đổi sinh lý
- Phối hợp với các thuốc điều trị nếu có
Việc ăn theo một chế độ ăn thích hợp đối với người bệnh đái tháo đường là rất quan trọng vì [5]:
- Không tạo ra sự dư thừa năng lượng Thừa năng lượng là nguyên nhân gây béo phì cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh như các rối loạn chuyển hóa lipid làm bệnh đái tháo đường càng nặng thêm
- Giúp duy trì đường máu phù hợp, không gây thừa đường, không gây nhiễm độc đường hoặc không gây hạ đường máu
Theo tác giả Tạ Văn Bình, có một chế độ ăn chung cho người bệnh đái tháo đường đó là:
- Lượng carbohydrate (đường) chiếm 60%-65% tổng calo
- Mỡ chiếm 20% tổng calo
Trang 21- Protein 10% (0,8 kg/ngày)
Carbohydrate: Carbohydrate là bất kỳ một nhóm lớn các hợp chất hữu cơ xảy
ra trong thực phẩm và các mô sống và bao gồm các loại đường, tinh bột và cellulose (là thành phần chính của tế bào thực vật) Người có bệnh đái tháo đường type 2 nên giảm 40-60% carbohydrate/ tổng số năng lượng, với > 40 g chất xơ mỗi ngày (hoặc
20 g /1000 kcal/ngày) [51]
Đường: Đường gồm monosacarit (glucose, fructose, galactose), disaccharides (sucrose, lactose, maltose), và đường (sorbitol, mannitol, lactitol, xylitol, erythritol, isomalt, maltitol) Đường có mặt tại nhiều trong thực phẩm tự nhiên như: Trái cây, sữa, mật ong và mật mía… Nó cũng được tìm thấy trong ngũ cốc, sữa chua, kẹo và món tráng miệng Glucose trong máu sẽ tăng nếu đường tăng
sự hấp thu Vì vậy, người bệnh đái tháo đường nên hạn chế các loại đường hàng ngày
Tinh bột: Tinh bột trong gạo, ngô, khoai tây, lúa mì, bánh mì, ngũ cốc, mì ống, đậu khô, tức là tinh bột làm tăng glucoze trong máu nhiều hơn các loại đường,
do đó bệnh nhân cũng cần phải giảm lượng tinh bột
Protein: Người bệnh đái tháo đường nên gảm 10-20% protein trong lượng calo tiêu thụ (0,8/kg/ngày) [51] Các loại thực phẩm protein như thịt nạc, thịt gà, gà tây, cá, cũng như ít béo hoặc không béo sản phẩm nên ăn mỗi ngày [54]
Chất béo: Đó là bất kỳ của một nhóm các este của glycerol tự nhiên và các axit béo khác nhau, nó tồn tại thể rắn ở nhiệt độ phòng và là thành phần chính của động vật và chất béo thực vật
Những người bệnh đái tháo đường nên ăn kiêng các chất béo và điều chỉnh 20-35% tổng năng lượng nạp vào Người bệnh đái tháo đường nên ăn ít hơn 7% lượng calo từ chất béo bão hòa (khoảng 15 gam chất béo bão hòa trong một ngày), bão hòa cộng với acid béo trans-unsaturated: <10% tổng số năng lượng, <8% nếu mật độ thấp lipoprotein cholesterol tăng lên Và các axit béo không bão hòa khoảng 6-10% tổng năng lượng, 10-20% tổng năng lượng của các axit béo không bão hòa đơn Cholesterol từ thức ăn có thể làm tăng cholesterol trong máu; do đó, nó là một
ý tưởng tốt để ăn ít hơn 200 mg mỗi ngày [51]
Trang 22+ Chế độ uống: Theo Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ (ADA) năm 2016 [33],
sử dụng thức uống không calo giúp ngăn ngừa tăng mức đường trong máu cho người bệnh đái tháo đường, các thức uống không calo gồm:
Cà phê: Uống một lượng vừa phải có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 ở phụ nữ trẻ và trung niên Cà phê có chứa một hợp chất gọi là axit chlorogenic, giúp làm chậm sự hấp thụ glucose vào máu Ngoài ra, thức uống này không có carbohydrate và calo, làm cho nó là một trong những thức uống tốt nhất cho bệnh nhân đái tháo đường
Sữa được coi là thức uống lành mạnh và nó cũng tốt cho bệnh đái tháo đường Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng các sản phẩm sữa ít chất béo làm giảm
tỉ lệ tử vong ở người bệnh đái tháo đường và làm giảm huyết áp Ngoài ra, sữa còn thúc đẩy việc giảm cân ở những người bệnh đái tháo đường type 2 và giúp duy trì các chức năng thiết yếu của cơ thể
Trà xanh: Một trong những thức uống lành mạnh nhất cho bệnh đái tháo đường là trà xanh, trong lá trà xanh có ít carbohydrate và calo Một nghiên cứu nói rằng trà xanh có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường đường type 2 và hạ huyết áp Loại nước giải khát này chứa nhiều chất chống oxy hóa để giúp trung hòa các phản ứng viêm sẽ bảo vệ bạn khỏi bệnh mạch vành và giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2
Nước ép mướp đắng: Là thức uống lành mạnh cho bệnh đái tháo đường Nó
là thức uống tuyệt vời để điều trị bệnh đái tháo đường type 2 bởi vì nó ảnh hưởng đến các kênh vận chuyển glucose Nước mướp đắng có lợi và có ảnh hưởng đến dung nạp glucose cũng như lipid Ngoài ra, nó làm giảm lượng đường trong nước tiểu và lượng đường trong máu
Nước ép dưa leo: Dưa leo chứa nhiều canxi, phốt pho, sắt, vitamin A, axit amin, vitamin B1, vitamin C và vitamin B2 Uống nước dưa leo có thể giúp giảm lượng đường trong máu
Trà hoa cúc: Trà hoa cúc có hàm lượng chất chống oxy hóa cao và chứa ít calo, nên nó là một trong những thức uống tốt nhất cho bệnh đái tháo đường Trà hoa cúc có tác động có lợi để kiểm soát đường huyết ở người bệnh đái tháo đường
Trang 23type 2
Giấm táo: Giúp cải thiện sự nhạy cảm với insulin và ngăn chặn các hoạt động chuyển hóa đường phức tạp sau bữa ăn Nó cũng giúp giảm cân và tăng cường trao đổi chất Theo một nghiên cứu, giấm táo có thể làm giảm lượng đường trong máu sau bữa ăn
Nước dừa: Nước dừa giàu với nhiều vitamin thiết yếu, khoáng chất, axit amin, Mỗi cốc nước dừa có chứa 0,1 mg riboflavin, 5,8 mg vitamin C, 57,6 mg canxi, magiê 60 mg, 600 mg kali, 252 mg natri, và 0,3 mg mangan Nước dừa có khả năng giữ mức đường huyết ổn định, do đó làm cho nó trở thành một thức uống lành mạnh cho người bệnh đái tháo đường
Nước rau quả và một số loại nước trái cây không chứa đường: Cố gắng thử các loại nước ép rau khác nhau như hỗn hợp các loại rau lá xanh, nước ép cần tây, nước ép cà rốt, nước ép cà chua, nước ép củ cải… Những thức uống này rất tốt cho người bệnh đái tháo đường
Nước: Nước là lựa chọn tốt nhất cho người bệnh đái tháo đường Đó là vì nước sẽ không làm tăng lượng đường trong máu và lượng đường trong máu cao có thể gây mất nước Người bệnh đái tháo đường nên uống nhiều nước, vì nó giúp cơ thể loại bỏ lượng glucose dư thừa qua nước tiểu Phụ nữ nên uống khoảng 8 ly (khoảng 2.5 lít) nước mỗi ngày, trong khi đàn ông nên uống khoảng 10 ly nước Hãy uống những loại đồ uống càng đơn giản càng tốt, tránh các loại nước trái cây có đường hoặc nước chứa cồn
Uống rượu điều độ: Một lon bia 330 ml/ngày, rượu vang đỏ khoảng 200ml/ngày
150-Một phân tích tổng hợp gần đây của Pietraszek và cộng sự (2010), đã kết luận: "Tiêu thụ rượu từ nhẹ đến trung bình dường như làm giảm 30% nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2, trong khi những người nghiện rượu nặng có nguy cơ tương đương hoặc cao hơn so với những người kiêng rượu"[53]
Một bài báo gần đây của tác giả Joosten và cộng sự năm 2011 [46], cho thấy uống rượu vừa phải làm giảm đáng kể nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường type 2 ngay cả ở những đối tượng có lối sống lành mạnh (không béo phì, không hút thuốc,
Trang 24hoạt động thể chất, ăn kiêng lành mạnh) Các tác giả cho rằng uống rượu vừa phải nên được coi là một bổ sung, và không phải là một thay thế, cho các thói quen lối sống lành mạnh khác làm giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính như bệnh đái tháo đường và bệnh tim mạch vành
Một số lời khuyên về chế độ ăn dành cho người bệnh đái tháo đường:
- Giữ lịch bữa ăn đúng giờ, chỉ ăn thịt tối đa trong khuôn khổ cho phép trong
2 bữa, các bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc
- Loại bỏ thức ăn nhiều mỡ
- Trong bữa ăn nên ăn nhiều thức ăn ít năng lượng Ví dụ; rau, nấm khô, dưa chuột…
- Không được bỏ bữa ngay cả khi không muốn ăn
- Làm mọi việc để gây cảm giác ngon miệng khi ăn
1.4 Chế độ dinh dưỡng cho người bệnh đái tháo đường type 2
- Theo khuyến cáo của các chuyên gia dinh dưỡng [5],[16], chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 nên tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
+ Các thực phẩm nên sử dụng: Nên sử dụng các loại thực phẩm có chỉ số đường thấp dưới 55% trong bữa ăn như các loại rau, các loại đậu (đậu phụ, đậu xanh ), các loại trái cây (ổi, củ đậu…) Chọn các thực phẩm giàu đạm nguồn gốc động vật ít chất béo và/hoặc nhiều acid béo chưa no có lợi cho sức khỏe như thịt nạc (thịt da cầm nên bỏ da), nên ăn cá ít nhất 3 lần trong mỗi tuần
+ Các thực phẩm nên hạn chế như: Cơm, miến dong, bánh mỳ (chỉ nên ăn tối
đa 1 lần/1 loại/1 ngày), các món ăn rán, quay
+ Các thực phẩm cần tránh không nên ăn: Cần tránh các thực phẩm có chỉ số đường cao trên 55% và hấp thu nhanh như: Nước uống có đường, bánh kẹo, đồ
Trang 25ngọt, dưa hấu, dứa, các loại khoai bỏ lò (khoai tây nướng, khoai lang nướng…) Chỉ
sử dụng trong các trường hợp đặc biệt khi có triệu chứng hạ glucose máu Ngoài ra cũng không dùng óc, phủ tạng, lòng, gan… và đồ hộp đã chế biến sẵn từ thịt như: Xúc xích, Pate… Không nên ăn cùng lúc các loại quả ngọt như xoài, na, nho , nên chia 2-3 lần/ngày [22]
- Béo phì là tình trạng tăng trọng lượng cơ thể mạn tính do tăng khối lượng
mỡ quá mức và không bình thường, liên quan đến dinh dưỡng và chuyển hóa Sự phát triển kinh tế - xã hội đã làm thay đổi chế độ dinh dưỡng, cung nhiều hơn cầu, kết hợp phong cách sống tĩnh tại nhiều hơn vận động, dẫn đến tình hình béo phì tǎng lên với tốc độ báo động, không những ở các quốc gia phát triển, mà còn ở các quốc gia đang phát triển Béo phì là nguy cơ của nhiều bệnh không lây nhiễm như đái tháo đường, rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp, thoái hóa khớp, ung thư…Mức độ béo phì được đánh giá theo nhiều phương pháp, trong đó công thức BMI (Body Mass Index: chỉ số khối cơ thể) đơn giản, dễ sử dụng [39]:
Chỉ số BMI = Trọng lượng (kg)/[Chiều cao (m)]2
Bảng 1.2 Bảng đánh giá BMI theo Chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và dành riêng
cho người châu Á
Bảng đánh giá BMI
theo Chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới và dành riêng cho người châu Á
Phân loại WHO BMI (kg/m2) IDI & WPRO BMI
Trang 261.5 Giáo dục sức khỏe
1.5.1 Khái niệm
Giáo dục sức khỏe (GDSK) là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh theo ý muốn, mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người Giáo dục sức khỏe cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe
Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là: Kiến thức của con người về sức khỏe; thái độ của con người về sức khỏe và thực hành của con người về sức khỏe
Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục sức khỏe với đối tượng được giáo dục sức khỏe Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự nổ lực của người học (đối tượng được giáo dục sức khỏe) với
sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi của người dạy Người làm công tác giáo dục sức khỏe không chỉ dạy cho học viên của mình mà còn học từ học viên của mình Thu nhận thông tin phản hồi là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáo dục sức khỏe cần phải hết sức coi trọng, để kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiếu sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng
Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến thực hành sức khỏe con người như: Nguồn lực hiện có, môi trường sống, ảnh hưởng môi trường lao động việc làm, yếu tố hổ trợ xã hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Vì thế giáo dục sức khỏe sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động bảo vệ, tăng cường sức khỏe phù hợp Cũng từ định nghĩa trên cho thấy, giáo dục sức khỏe là một quá trình
Trang 27nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong Vì vậy, để thực hiện công tác giáo dục sức khỏe, chúng ta phải có sự đầu tư tài lực, vật lực, nhân lực thích đáng, hết sức kiên trì thì mới đem lại hiệu quả cao
1.5.2 Mục tiêu giáo dục sức khỏe
Giáo dục sức khỏe góp phần thực hiện một trong những quyền của con người
là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Mục tiêu cơ bản của giáo dục sức khỏe
là giúp cho mọi người: Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của họ; hiểu rõ những điều họ có thể làm được để giải quyết những vấn đề sức khỏe, bảo vệ và tăng cường sức khỏe bằng khả năng của chính họ cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài; quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuộc sống khỏe mạnh
1.5.3 Tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe
Là một bộ phận công tác y tế quan trọng nhằm làm thay đổi thực hành sức khỏe Góp phần tạo ra, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho con người Nếu giáo dục sức khỏe đạt kết quả tốt nó sẽ giúp làm giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tàn phế và tỷ vong nhất là ở các nước đang phát triển, tăng cường hiệu quả các dịch vụ y tế
1.5.4 Lợi ích của công tác giáo dục sức khỏe
Giáo dục sức khỏe dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn
đề sức khỏe một cách mau chóng
Giáo dục sức khỏe có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu Giáo dục sức khỏe có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe, thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt
Giáo dục sức khỏe có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phượng tiện liên lạc
Giáo dục sức khỏe có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe
Giúp cải thiện sợ gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc
Trang 281.6 Kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống ở người bệnh đái tháo đường type 2 đã được nghiên cứu
1.6.1 Một số nghiên cứu trên thế giới
Bệnh đái tháo đường type 2 gây nên các biến chứng nghiêm trọng nếu không tuân thủ đúng một chế độ ăn uống một cách nghiêm ngặt theo đúng chỉ dẫn của thầy thuốc và các chuyên gia dinh dưỡng Nếu không tuân thủ chế độ ăn uống thì bệnh đái tháo đường type 2 sẽ là một trong những nguyên nhân hàng đầu có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như: Bệnh tim mạch, bệnh võng mạc (mù), bệnh thận (suy thận), bệnh thần kinh (rối loạn thần kinh), và cắt cụt chi do vấn đề lưu thông cũng như các bệnh mãn tính khác… [46] Những biến chứng có thể dẫn chi phí tài chính lớn cho cá nhân, gia đình và xã hội [22], [40]
Trong nghiên cứu của Senay Uzun và cộng sự năm 2009 [56], tại trường Đại học Điều dưỡng Thổ Nhỹ Kỳ đã tìm hiểu về tuân thủ điều trị đái tháo đường và những khuyến cáo thay đổi lối sống Đây là nghiên cứu đầy đủ, toàn diện nhất khi
đề cập đến 5 nội dung của tuân thủ cần thiết khi điều trị đái tháo đường là: Tuân thủ dùng thuốc; chế độ dinh dưỡng; hoạt động thể lực; tự kiểm soát đường huyết và tái khám sức khỏe định kỳ; không hút thuốc lá Nghiên cứu mô tả cắt ngang với mẫu gồm 150 người bệnh ĐTĐ đang được theo dõi điều trị ngoại trú Kết quả cho thấy:
Tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc 72%, dinh dưỡng 65%, hoạt động thể lực 31%, kiểm soát đường huyết và khám định kỳ là 63%
Theo nghiên cứu của Adewale và cộng sự năm 2013 [36], về không tuân thủ khuyến nghị chế độ ăn uống và tập thể dục của NB đái tháo đường type 2 tại bệnh viện Extension II, Botswana Đây là một nghiên cứu mô tả cắt ngang với mẫu bao gồm 105 người tham gia nhằm mục tiêu xác định: lý do kém tuân thủ các yêu cầu
về chế độ ăn uống, tập thể dục và sự hiểu biết của họ về vai trò của chế độ ăn uống
và tập thể dục, các yêu cầu trong việc quản lý tình trạng của họ Kết quả cho thấy tỷ
lệ không tuân thủ chế độ ăn uống là 37% Những lý do chính cho không tuân thủ chế độ ăn uống là: Thiếu kỉ luật là 63,4%; thiếu thông tin là 33,3% và xu hướng ăn ngoài là 31,7% Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ không tuân thủ chế độ ăn uống khá cao
Trang 29và cũng phân tích rất kỹ lý do dẫn tới tình trạng đó Tuy nhiên đây mới là nghiên cứu mô tả cắt ngang trong thời gian ngắn, vậy nên cần tiến hành thêm nghiên cứu với quy mô lớn hơn xem xét toàn diện hơn tới tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2
Nghiên cứu của Mandewo và cộng sự năm 2014 [50], với mục đích xác định các yếu tố ảnh hưởng không tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 tại phòng khám đái tháo đường bệnh viện thuộc tỉnh Mutare, Zimbabwe, kết quả từ nghiên cứu này chỉ ra rằng tỷ lệ không tuân thủ với chế độ ăn uống là 43,3% Các yếu tố đó đã được tìm thấy có ảnh hưởng đáng kể với những người không tuân thủ điều trị sau khi phân tích đa biến là: Hạn chế tài chính, đi du lịch xa khi bị bệnh nặng, ăn uống, thời gian điều trị lâu hơn bệnh đái tháo đường type 2 (hơn 10 năm), thiếu thông tin chi tiết về làm thế nào để ăn uống tốt và hợp lý, khoảng cách tới cơ
sở y tế và khả năng chi trả của các loại thuốc, bên cạnh đó những yếu tố làm tăng sự tuân thủ là: Nhận được sự hỗ trợ từ gia đình (tài chính, vật chất, tinh thần), là một thành viên của câu lạc bộ đái tháo đường type 2 và đã tham dự nhiều hơn hai buổi giáo dục sức khỏe trong 6 tháng, niềm tin vào bản thân,
Theo nghiên cứu của Kanauchi M và cộng sự năm 2015 [47] về sự tuân thủ chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2, kết quả thu được chỉ có 6,6% đối tượng thể hiện sự tuân thủ tốt, trong khi 52,0% thể hiện sự tuân thủ trung bình
và 41,4% cho thấy tuân thủ thấp với chế độ ăn uống
Nghiên cứu của Sontakke và cộng sự năm 2015 [55]: Đánh giá tuân thủ điều trị ở những người bệnh đái tháo đường type 2 với mục tiêu để đánh giá sự tuân thủ điều trị và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng không tuân thủ ở những người bệnh đái tháo đường type 2 tại phòng khám trường Cao đẳng Dược tại Ấn Độ Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang với mẫu là 150 người bệnh, bộ câu hỏi được thiết kế để có được thông tin về sự tuân thủ dùng thuốc, chế độ ăn uống, kế hoạch tập thể dục và tự giám sát đường huyết Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ chế độ ăn uống là 68% Nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng tới tuân thủ của người bệnh đó là thiếu kiến thứ về bệnh, khả năng chi trả
Trang 30kém, hay quên Việc tuân thủ điều trị trong đái tháo đường cần một cách tiếp cận đa chiều mà ngoài việc dùng thuốc bao gồm tuân thủ các quy định chế độ ăn uống và lịch trình tập thể dục và tự kiểm soát đường huyết cần đặc biệt trú trọng Nhân viên
y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự tuân thủ điều trị bằng cách tăng tương tác với người bệnh
Tuy nhiên đây mới là đề tài tuân thủ điều trị bao quát chung, mang tính chất khảo sát, để giúp cho người bệnh đái tháo đường type 2 hiểu rõ và kỹ hơn nữa về kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống của mình hơn nữa thì cần phải có giải pháp nhằm can thiệp giáo dục sức khỏe cho người bệnh nhiều và cụ thể hơn nữa
1.6.2 Một số nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay, sự gia tăng của người mắc các bệnh chuyển hóa trong đó có đái tháo đường type 2 đang là vấn đề mang tính thời sự, để quyết định hiệu quả điều trị thì tuân thủ điều trị của người bệnh phải đặt lên hàng đầu Những năm gần đây đã có những nghiên cứu tại một số bệnh viện nhằm thay đổi kiến thức
và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2, tuy nhiên số lượng nghiên cứu chưa nhiều và chưa khai thác cụ thể, trọng tâm vào chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 Trong quá trình tổng quan nhóm nghiên cứu đã tìm và phân tích những nghiên cứu điển hình sau:
Nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Khánh Thuận năm 2009 [24]: Với mục tiêu xác định mức độ kiến thức, thái độ và hành vi về chế độ ăn và luyện tập ở người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Nhân Dân 115 với cỡ mẫu là 100 người Kết quả cho thấy: Có 53% người bệnh trả lời đúng trên 50% câu hỏi kiến thức về chế độ ăn của người bệnh đái tháo đường type 2, có 90% người bệnh đã đồng ý rằng chế độ ăn là quan trọng và tới 96% người bệnh không chia nhỏ bữa ăn thành nhiều bữa ăn trong ngày, có tới 10% NB thường ăn ít rau hoặc không ăn rau trong các bữa
ăn hàng ngày Trong khi đó tỷ lệ người bệnh thực hành không đúng về chế độ ăn rau, củ, quả với mức < 5 đơn vị chuẩn (tương đương 400g rau) chiếm 44,8% Nghiên cứu đã chỉ ra rằng kiến thức và thực hành của người bệnh đái tháo đường type 2 về chế độ ăn còn chưa đầy đủ và chưa chính xác, chính vì thế cần tăng cường
Trang 31hơn nữa việc tư vấn chế độ ăn uống và giáo dục sức khỏe cho người bệnh đái tháo đường type 2 nhằm nâng cao hiệu kiến thức và thực hành cho người bệnh
Cũng nghiên cứu về tuân thủ chế độ ăn uống và luyện tập thể dục của Nguyễn Mạnh Dũng năm 2007 [8]: Ở 150 người bệnh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định đã chỉ ra một tỷ lệ khá cao NB có kiến thức về việc phải ăn nhiều rau thay cơm, không nên uống rượu bia và duy trì thời gian ăn trong ngày Tuy vậy vẫn còn 54% cho rằng có thể ăn nhiều thức ăn chế biến có nhiều mỡ, 20% cho rằng khi đường huyết về bình thường thì có thể ăn thoải mái Bên cạnh việc xác định kiến thức của người bệnh về chế độ ăn và luyện tập thể lực nghiên cứu này cũng chỉ ra mối ảnh hưởng giữa hiểu biết về tuân thủ điều trị với giới tính, không có mối ảnh hưởng giữa hiểu biết với trình độ học vấn, nơi ở và gia đình có người mắc bệnh
Tìm hiểu về mối ảnh hưởng của yếu tố kiến thức của người bệnh đái tháo đường tới việc tuân thủ điều trị nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Kiên và cộng
sự năm 2010 [18], bằng phương pháp cắt ngang mô tả trên 130 đối tượng đã cho thấy người bệnh có kiến thức tốt về dinh dưỡng, dùng thuốc và dự phòng biến chứng thì có tỷ lệ thực hành tốt về các lĩnh vực này cao hơn các NB khác cụ thể chế
độ dinh dưỡng 16,15% và tỷ lệ người bệnh có thực hành tốt về chế độ dinh dưỡng 11,54% Từ nghiên cứu này cho chúng ta thấy tỷ lệ người bệnh có thực hành tốt về chế độ dinh dưỡng là rất thấp, như vậy có thể thấy vai trò không nhỏ việc hiểu biết
về bệnh đái tháo đường type 2 với việc tuân thủ điều trị nói chung về kiến thức thực hành chế độ dinh dưỡng nói riêng Để tăng cường kiến thức cho người bệnh nhằm tăng tỷ lệ tuân thủ về chế độ dinh dưỡng và nâng cao hiệu quả điều trị thì việc giáo dục sức khỏe cho người bênh là vấn đề cần chú trọng và không thể thiếu
Nghiên cứu này một lần nữa khẳng định tầm quan trọng của giáo dục sức khỏe cho người bệnh đối với việc tuân thủ chế độ dinh dưỡng trong việc phòng ngừa các biến chứng của người bệnh đái tháo đường type 2 là yếu tố then chốt
Theo nghiên cứu của tác giả Trần Thị Xuân Hòa và cộng sự năm 2013[14], tìm hiểu sự tuân thủ điều trị ngoại trú của người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai với mục tiêu đánh giá sự tuân thủ của người bệnh
Trang 32đây là một nghiên cứu điều tra cắt ngang qua phỏng vấn trực tiếp 112 người bệnh
độ tuổi từ 19 đến 97 điều trị ngoại trú, và cho kết quả chỉ ra tỷ lệ thực hiện chế độ
ăn kiêng 83% Nghiên cứu cho thấy lệ tuân thủ điều trị ở mức khá cao tuy nhiên mới dừng ở mức khảo sát đơn thuần về tỷ lệ mà chưa đi sâu vào nghiên cứu can thiệp và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc không tuân thủ kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống ở những đối tượng còn lại
Một trong các nghiên cứu đầy đủ 4 yếu tố của tuân thủ điều trị là nghiên cứu của tác giả Đỗ Quang Tuyển năm 2012 [29]: Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu
tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Phòng khám - Bệnh viện Lão khoa Trung ương Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang mô tả, kết hợp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng trên cỡ mẫu 330 người bệnh ngoại trú Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 78,8%, bên cạnh đó nghiên cứu cũng chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hành tuân thủ dinh dưỡng với tuổi, thời gian mắc bệnh, mức độ thường xuyên nhận thông tin từ nhân viên y tế và nghiên cứu này cũng chỉ ra mối ảnh hưởng giữa kiến thức về tuân thủ điều trị với việc thực hành tuân thủ chế độ dinh dưỡng Như vậy nghiên cứu này cho thấy cần đẩy mạnh hơn nữa việc giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong đó nhân viên y tế đóng vai trò nòng cốt
Trong một nghiên cứu tương tự, nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Hương Giang năm 2013 [9], ngoài nghiên cứu về thực hành tuân thủ điều trị ở 4 nhóm yếu
tố đã bổ sung thêm một yếu tố nữa là tuân thủ hạn chế bia/rượu, không hút thuốc, đây là điểm mới so với các nghiên cứu khác giúp cho việc đánh giá được toàn diện hơn Kết quả: Có 79% tỷ lệ người bệnh tuân thủ chế độ ăn, 63% tuân thủ hạn chế bia/ rượu, không hút thuốc Nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê đến tuân thủ chế độ ăn là: Giới tính; trình độ học vấn; được hướng dẫn chế độ điều trị, hài lòng về thái độ trình độ của NVYT
Nghiên cứu của tác giả Hồ Phương Thúy năm 2018 [25]: Thay đổi kiến thức
và thực hành tự chăm sóc bàn chân của người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2018, kết quả cho thấy sau
Trang 33can thiệp 1 tháng người bệnh tham gia nghiên cứu thực hiện khá tốt về thực hiện chế độ ăn - tập thể dục - dùng thuốc Trước can thiệp giáo dục, chỉ có 62% người bệnh có tập thể dục hàng ngày nhưng sau can thiệp 1 tháng đã tăng lên đạt 87% (tăng 25% so với trước can thiệp), trước can thiệp có 92% người bệnh hiểu về chế
độ ăn, sau can thiệp tăng lên 97% từ đó cho thấy hiệu quả rất tốt nhận được kiến thức về tuân thủ điều trị nhất của bác sĩ là chế độ ăn uống của người bệnh sau can thiêp giáo dục sức khỏe Tuy nhiên, tác giả chỉ dừng lại ở việc hỏi người bệnh đã biết về chế độ ăn bệnh lý hay chưa
Như vậy cần tiến hành nhiều nghiên cứu can thiệp về chế độ ăn uống hơn nữa nhằm làm tăng tỉ lệ tuân thủ về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2
1.7 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang, chuyên khám ngoại trú người bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp Hiện tại, Khoa quản lý khoảng gần 1.000 người bệnh đái tháo đường, chủ yếu là đái tháo đường type 2
Hàng tháng, người bệnh ngoại trú đái tháo đường đến khám và lĩnh thuốc định kỳ tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang chủ yếu tập trung vào buổi các buổi sáng từ thứ 2 đến thứ 6 hàng tuần
Hiện tại, bệnh viện chưa có nhiều đề tài nghiên cứu về đái tháo đường; một
số đề tài dược thực hiện chủ yếu là do bác sỹ và tập trung vào các vấn đề điều trị, quản lý đái tháo đường; chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về kiến thức và thực hành
về chế độ ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 Vì vậy, chúng tôi chọn địa điểm nghiên cứu là Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang; với mong muốn có thể đánh giá một cách tổng quát nhất kiến thức và thực hành về chế
độ ăn uống cho người bệnh đái tháo đường type 2; từ đó, tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống cho người bệnh đái tháo đường type 2; giúp người bệnh đái tháo đường có kiến thức tốt nhất trong việc tuân thủ chế độ ăn uống; nhằm phòng và hạn chế mắc phải các biến chứng nguy hiểm do bệnh đái tháo đường gây ra
Trang 34Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu:
*Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh được chẩn đoán xác định đái tháo
đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang năm 2019
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người bệnh được chẩn đoán xác định đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang trong thời gian từ tháng 03 đến tháng 05 năm 2019
- Sức khỏe tâm thần bình thường, có khả năng giao tiếp và trả lời các câu hỏi của điều tra viên
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh trong quá trình điều trị ngoại trú, có diễn biến bệnh nặng lên phải vào điều trị nội trú
- Người bệnh người bệnh không tham gia đầy đủ các lần đánh giá
- Người bệnh trước đó đã tham gia chương trình giáo dục sức khỏe có nội dung về chế độ ăn của bệnh đái tháo đường
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
- Thời gian: Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 09 năm 2019
- Thời gian thu thập số liệu: Từ 01/03/2019 đến 30/05/2019
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe có so sánh trước và sau trên cùng nhóm đối tượng nghiên cứu
Trang 35Can thiệp (Giáo dục sức khỏe về chế độ ăn uống cho NB đái tháo đường type 2)
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu
2.4 Cỡ mẫu
Sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ: Tất cả người bệnh được chẩn đoán đái tháo đường type 2 đang điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019 Trong khoảng thời gian trên nhóm nghiên cứu lựa chọn được 98 người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu tham gia nghiên cứu
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu thuận tiện: Lựa chọn toàn bộ những người bệnh đái tháo đường type
2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu ngoại trú tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết
Đánh giá sau can thiệp
01 tháng (T3)
Đánh giá ngay sau can thiệp (T2)
So sánh, bàn luận, kết luận
Trang 36tỉnh Bắc Giang, trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019
2.6 Phương pháp thu thập số liệu:
2.6.1 Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ
- Xây dựng bộ công cụ: Bộ công cụ được thiết kế dựa trên việc ban hành tài liệu chuyên môn hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh đái tháo đường type 2 của
Bộ Y tế năm 2015 [6] và bộ công cụ của tác giả Đỗ Quang Tuyển nghiên cứu về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Lão khoa Trung ương năm 2012 [29] Sau khi được tác giả đồng ý, nhóm nghiên cứu đã xây dựng bộ công cụ và xin
ý kiến 02 chuyên gia trong lĩnh vực đái tháo đường Từ các góp ý nhận đươc, nhóm nghiên cứu chỉnh sửa bộ công cụ và tiến hành
- Thử nghiệm và hoàn thiện: Bộ công cụ xây dựng xong được sử dụng điều tra thử trên 20 người bệnh đái tháo đường type 2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu (những người này không được chọn lại vào mẫu nghiên cứu) để xác định độ tin cậy và tính phù hợp của bộ công cụ với đối tượng nghiên cứu
- Hoàn thiện công cụ: Các câu hỏi được chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu; sau đó, in ấn phục vụ cho điều tra thu thập số liệu Tiến hành thu thập số liệu theo các bước:
* Bước 1: Tập huấn cho điều tra viên:
- Lựa chọn 3 điều tra viên là giáo viên - Trường Trung cấp Y tế Bắc Giang
- Nội dung tập huấn: Mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi, kỹ
năng tiếp xúc với người bệnh, kỹ năng khai thác hồ sơ bệnh án, kỹ năng phỏng vấn
- Thời gian, địa điểm: 01 ngày tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang
- Người tập huấn: Nghiên cứu viên
Ba điều tra viên sẽ phối hợp với nghiên cứu viên trong việc lựa chọn người bệnh đái tháo đường type 2 đáp ứng tiêu chuẩn chọn mẫu để phỏng vấn thu thập số
liệu và thực hiện can thiệp giáo dục sức khỏe
* Bước 2: Tiến hành thu thập số liệu trước can thiệp (đánh giá lần 1: T1)
Trang 37- Người bệnh đủ tiêu chuẩn được lựa chọn đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào bản đồng thuận
- Tiến hành phỏng vấn người bệnh trực tiếp: Điều tra viên phát phiếu điều tra, tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng người bệnh và điền phiếu điều tra: Công việc này được tiến hành sau khi người bệnh khám và xét nghiệm xong đang chờ kết quả
xét nghiệm để bác sỹ kê đơn lĩnh thuốc thì tiến hành phỏng vấn trực tiếp
+ Nghiên cứu viên và 03 cộng tác viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp từng người bệnh và điền phiếu trong khoảng thời gian 30 phút/người bệnh
+ Trước khi tiến hành phỏng vấn, nghiên cứu viên giải thích rõ cho người bệnh về quá trình nghiên cứu, nếu người bệnh đồng ý thì mới tiến hành thu thập số liệu (tránh tình trạng sau 01 tháng người bệnh về nhà và không tham gia nghiên cứu nữa) Ngoài ra, nghiên cứu viên còn lấy thông tin về địa chỉ và số điện thoại liên lạc của người bệnh và bảo mật thông tin này
* Bước 3: Tiến hành can thiệp giáo dục sức khỏe và đánh giá ngay sau khi can thiệp bằng bộ công cụ giống lần 1 (đánh giá lần 2: T2)
Nghiên cứu viên và cộng tác viên phỏng vấn trực tiếp người bệnh tham gia nghiên cứu để đánh giá lại kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống (Đánh giá thực hành dựa trên việc phỏng vấn lại những trải nghiệm của người bệnh về chế độ
ăn uống và không quan sát trực tiếp thực hành của người bệnh tại nhà)
* Bước 4: Đánh giá lại sau khi can thiệp giáo dục sức khỏe 01 tháng bằng bộ công cụ giống lần 1 (đánh giá lần 3: T3)
Căn cứ vào lịch hẹn của bác sỹ trước đó 1-2 ngày gọi điện cho từng người bệnh để nhắc nhở lịch khám (sau khi người bệnh khám và xét nghiệm xong trong khi chờ kết quả xét nghiệm để kê đơn lĩnh thuốc thì tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng bộ công cụ giống lần 1)
2.6.2 Can thiệp giáo dục sức khỏe
- Đối tượng: Người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Khoa
Trang 38khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang tham gia nghiên cứu
- Người thực hiện can thiệp: Nghiên cứu viên là người giáo dục sức khỏe
- Thời điểm thực hiện can thiệp: Sau khi thu thập số liệu trước can thiệp (T1) người bệnh được mời sang tư vấn tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang
- Thời lượng trung bình của mỗi buổi can thiệp: 45 phút
Cụ thể: Người bệnh đọc tài liệu phát tay 10 phút; Nghiên cứu viên tư vấn, hướng dẫn cụ thể về các nội dung và trả lời thắc các thắc mắc 35 phút
- Nội dung giáo dục sức khỏe: Nghiên cứu viên ngoài việc tư vấn trọng tâm vào các nội dung về kiến thức và thực hành về chế độ ăn uống, ngoài ra còn hướng dẫn chung cho người bệnh về bệnh đái tháo đường về tuân thủ điều trị như: Sử dụng thuốc, tập luyện, theo dõi đường huyết và khám sức khỏe định kỳ
- Phương pháp tư vấn giáo dục sức khỏe: Nghiên cứu viên tư vấn, giáo dục
riêng từng người bệnh hoặc tư vấn chia thành các nhóm nhỏ (mỗi nhóm khoảng 5- 6 người bệnh) và cho người bệnh trình bày lại kiến thức sau khi nghe nghiên cứu viên
tư vấn Nghiên cứu viên nhận xét, chỉnh sửa lại giúp cho người bệnh hiểu và tuân thủ tốt hơn
- Tài liệu và phương tiện:
+ Nội dung của tài liệu tờ rơi phát tay, được xây dựng sẵn dựa theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế Thế giới [59], [26], Hiệp hội Đái tháo đường Quốc tế năm
2017 [39], Bộ Y tế Việt Nam [6], Bệnh viện Nội tiết Trung ương [3], Viện Dinh
dưỡng Quốc gia [16], Bộ môn Dinh dưỡng – Học viện Quân y [7] Sau khi xin ý
kiến và được sự đóng góp bởi các bác sỹ chuyên khoa, thầy hướng dẫn và áp dụng thử ở 20 người bệnh khi tiến hành điều tra thử, chúng tôi tiến hành in thống nhất
trên khổ A5 để phát cho người bệnh tham gia nghiên cứu
+ Vật liệu khác như poster khổ A1 in các nội dung cần can thiệp, giấy, bút,
bản in các bộ câu hỏi, máy tính, máy chiếu, phấn,
- Quy trình can thiệp:
Trang 39+ Sau khi thu thập số liệu trước can thiệp (T1) người bệnh được mời sang phòng tư vấn tại Khoa khám bệnh - Bệnh viện Nội tiết tỉnh Bắc Giang để được
tư vấn
+ Nghiên cứu viên đánh giá nhanh kết quả của các phiếu điều tra để biết được những phần kiến thức và sự hiểu biết chưa đúng về chế độ ăn uống của từng người bệnh Cộng tác viên đọc cho người bệnh trả lời trực tiếp
+ Tiến hành giáo dục sức khỏe cho người bệnh trong thời gian khoảng 35 phút với nội dung xây dựng sẵn
Nghiên cứu viên tư vấn trực tiếp, giải thích cụ thể từng nội dung về chế độ
ăn uống của người bệnh đái tháo đường type 2 trên từng slide trình chiếu với hình ảnh minh họa cụ thể Những phần kiến thức và thực hành chưa đúng về chế độ ăn uống của từng người bệnh, nghiên cứu viên sẽ giải thích, tư vấn cụ thể hơn để người bệnh hiểu rõ Trong quá trình tư vấn, khuyến khích những người bệnh có kiến thức
và kiến thức thực hành đúng chia sẻ cho những người bệnh còn lại và những trở ngại trong việc thực hiện về chế độ ăn uống tại nhà Nếu người bệnh có thắc mắc người nghiên cứu sẽ giải thích ngay và kỹ hơn giúp cho người bệnh hiểu và tiếp thu nhanh nhất các kiến thức nhà nghiên cứu tư vấn và giáo dục sức khỏe
Mời lần lượt từng người bệnh lên trình bày lại kiến thức vừa được nghiên cứu viên vừa tư vấn; người bệnh còn lại quan sát, lắng nghe và nhận xét những phần
còn thiếu và chưa đúng để chỉnh sửa cho mình
Nghiên cứu viên nhận xét, chỉnh sửa lại những phần kiến thức chưa đúng về kiến thức của chế độ ăn uống cho người bệnh Giải thích đầy đủ và củng cố lại một lần nữa từng nội dung của buổi giáo dục để đi đến thống nhất và yêu cầu người
bệnh phải thực hiện đúng việc tuân thủ chế độ ăn uống và duy trì hàng ngày tại nhà
Tại các thời điểm đánh giá ngay sau can thiệp (T2) và sau can thiệp 1 tháng (T3), những nội dung kiến thức và kiến thức thực hành nào mà người bệnh nhận thức và thực hiện chưa đúng sẽ được nghiên cứu viên nhắc lại
Trang 402.7 Các biến số nghiên cứu
Tên biến Định nghĩa biến Phân loại Phương pháp
thu thập
năm sinh dương lịch đến thời điểm hiện tại Được tính bằng công thức sau:
Tuổi = 2019 - năm sinh
Nơi cư trú Là nơi đối tượng nghiên cứu đang sinh
Trình độ học
vấn
Là mức độ bằng cấp cao nhất mà đối tượng có được hiện tại