BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ Tên đề tài: THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ TƯ THẾ, VẬN ĐỘNG SAU PHẪU THUẬT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT S
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ
Tên đề tài:
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ TƯ THẾ, VẬN ĐỘNG SAU PHẪU THUẬT THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM CỘT SỐNG THẮT LƯNG CỦA NGƯỜI BỆNH TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I- TỔNG QUAN 3
1 Một số khái niệm, giải phẫu và sinh lý bệnh đĩa đệm cột sống 3
1.1 Cột sống 3
1.2 Khái niệm thoát vị đĩa đệm cột sống 3
1.3 Giải phẫu và sinh lý bệnh đĩa đệm cột sống 3
2 Các giai đoạn thoát vị đĩa đệm cột sống và hướng xử trí 5
2.1 Giai đoạn 1 (Giai đoạn bệnh lý): 5
2.2 Giai đoạn 2 (Giai đoạn tắc nghẽn cột sống): 5
2.3 Giai đoạn 3 (Giai đoạn thần kinh): 6
2.4 Giai đoạn 4 (Giai đoạn hư sụn khớp): 6
3 Tư thế, vận động và một số yếu tố ảnh hưởng đến thoát vị đĩa đệm cột sống 6
4 Chăm sóc tư thế, vận động sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống thắt lưng 10
5 Khung lý thuyết trong nghiên cứu 16
6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu 18
CHƯƠNG II PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu: 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau 19
2.4 Phương pháp lấy mẫu 20
2.5 Cỡ mẫu 21
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.7 Các biến số nghiên cứu 22
2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá 22
2.9 Thử nghiệm trước bộ công cụ nghiên cứu 24
2.11 Vấn đề đạo đức nghiên cứu 24
2.12 Sai số và cách khắc phục 24
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Kiến thức về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống 26
Trang 43.3 Thực hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm CSTL 28
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN 32
4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 32 4.2 Kiến thức về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống 32 4.3 Thực hành về tư thế, vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống 33 4.4 Thay đổi kiến thức, thực hành về tư thế vận động theo từng nội dung 34
KẾT LUẬN 38 KHUYẾN NGHỊ 39
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Đối tượng nghiên cứu phân bố theo nhóm tuổi 25
Bảng 2 Kiến thức về vận động và sử dụng nẹp sau PT thoát vị đĩa đệm 26
Bảng 3 Tư thế, vận động khi đứng sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm 27
Bảng 4 Thực hành tư thế, vận động giai đoạn nằm điều trị tại bệnh viện 28
Bảng 5 Thực hành tư thế vận động khi đứng, ngồi xổm và mang đồ vật sau PT 28
Bảng 6 Thay đổi kiến thức về tư thế ngồi trước và sau can thiệp 29
Bảng 7 Thay đổi kiến thức về tư thế đứng trước và sau can thiệp 29
Bảng 8 Thay đổi kiến thức về tư thế, vận động khi mang đồ vật 29
Bảng 9 Thay đổi thực hành về tư thế, vận động giai đoạn nằm viện điều trị 29
Bảng 10 Thay đổi thực hành tư thế đứng, ngồi xổm và mang đồ vật sau PT 29
Bảng 11 Thay đổi kiến thức về tư thế, vận động trước và sau can thiệp 30
Bảng 12 Thay đổi thực hành về tư thế, vận động trước và sau can thiệp 31
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Đối tượng nghiên cứu phân theo giới 25
Biểu đồ 2 Kiến thức về tư thế, vận động và vật dụng khi ngồi sau PT 26
Biểu đồ 3 Kiến thức về tư thế, vận động khi mang vác đồ vật 27
Biểu đồ 4 Xếp loại kiến thức, thực hành đúng trước và sau can thiệp 31
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Tư thế cột sống khi mang vác 7
Hình 2 Động tác đứng dậy 26
Hình 3 Động tác ngồi xổm 14
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀThoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) là hậu quả của bệnh thoái hoá xương sụn cột sống, có thể xảy ra ở cổ, ngực nhưng chủ yếu ở cột sống thắt lưng Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi nhưng chiếm tới 70% ở nhóm tổi 30-50, đây là căn bệnh phổ biến, chèn ép gây tê bì làm giảm vận động chi Về mặt lâm sàng, bệnh lý thoát vị đĩa đệm rất đa dạng và phức tạp, có nhiều thể thoát vị Các triệu chứng thay đổi tuỳ theo vị trí, thể loại, mức độ thoát vị và tỷ lệ mắc bệnh phụ thuộc vào nhóm tuổi, giới, có kèm theo các bệnh lý khác của cột sống Dấu hiệu lâm sàng thường tập trung ở các hội chứng: chèn ép rễ, chèn ép tủy, chèn ép rễ - tủy và tùy theo loại thoát vị khác nhau mà gây nên các cơn đau thắt lưng với các triệu chứng đau nhức, tê lan dọc từ thắt lưng xuống mông và chân, hay đau từ vùng cổ - gáy lan ra hai vai và xuống cánh tay, bàn tay… khiến người bệnh rất khó chịu và đau đớn [4], [5]
Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng (CSTL) có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng cho người bệnh, do đĩa đệm thoát vị chèn ép thần kinh vùng thắt lưng cùng gây chứng đại tiểu tiện không tự chủ do rối loạn cơ tròn Khi bị chèn ép rễ thần kinh người bệnh
bị teo cơ ở các chi làm cho sinh hoạt bị ảnh hưởng trầm trọng, thậm chí mất khả năng lao động, đôi khi để lại di chứng tàn phế suốt đời, đây là nguyên nhân chính suy giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh [4]
Việc chăm sóc, điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nhằm mục đích phục hồi các chức năng thần kinh, làm cải thiện giảm và hết cơn đau, trả lại cho người bệnh cuộc sống đời thường có chất lượng Có nhiều phương pháp điều trị đã được áp dụng như xoa bóp bấm huyệt, châm cứu, vật lý trị liệu, liệu pháp phản xạ, kéo giãn cột sống,
sử dụng các thuốc giảm đau, kháng viêm, giãn cơ… nhằm đảm bảo an toàn và phục hồi rối loạn thần kinh, giảm nguy cơ tái phát [6] Khi các liệu trình nội khoa không còn hiệu quả, đòi hỏi cần phải can thiệp ngoại khoa nhằm giải phóng khối thoát vị chèn ép, cải thiện chức năng thần kinh Quá trình chăm sóc, điều trị và phục hồi sau phẫu thuật đòi hỏi người bệnh phải duy trì, thực hiện tư thế, vận động có lợi cho cột sống phù hợp với mỗi giai đoạn, nhằm cải thiện dấu hiệu đau, phục hồi vận động và giảm nguy
cơ tái phát Vận động sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống là việc làm quan trọng, bắt buộc nhằm cải thiện chức năng sinh lý cột sống, giảm đau và giảm nguy cơ thoát vị tái phát Tuy nhiên khi nào vận động, cường độ vận động phụ thuộc vào phương pháp
Trang 8phẫu thuật, mức độ can thiệp, thoát vị đơn tầng hay đa tầng, mà hướng dẫn cho người bệnh phù hợp Thời gian bất động trên giường sau mổ bao lâu và khi nào đứng dậy đi lại còn có nhiều quan điểm, đưa ra khuyến cáo phù hợp với mỗi người bệnh khác nhau [7], [8], [9]
Để nâng cao chất lượng chăm sóc, rút ngắn thời gian phục hồi sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống người bệnh, phù hợp với nhu cầu thực tiễn, biến quá trình chăm sóc thành quá trình tự chăm sóc giúp người bệnh chủ động sau khi xuất viện [2], [3] Người bệnh cần sự quan tâm gần gũi, động viên, tiếp cận hỗ trợ thông tin của điều dưỡng, đồng thời cần
sự khích lệ, chia sẻ từ phía người thân tạo động lực cho người bệnh cải thiện kiến thức
và duy trì tư thế vận động đúng ngay từ khi nhập viện và có chỉ định phẫu thuật Để đo lường hiệu quả can thiệp giáo dục sức khỏe, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với
Trang 91.2 Khái niệm thoát vị đĩa đệm cột sống
Thoát vị đĩa đệm cột sống (TVĐĐCS) là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi, chèn ép vào ống sống hay các
rễ thần kinh sống và có sự đứt rách vòng sợi gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình Thoát vị đĩa đệm xảy ra khi nhân nhầy của đĩa đệm thoát ra ngoài và chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống, hay nói cách khác nó là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi
vị trí bình thường, giữa các đốt sống Vị trí thường gặp đoạn cột sống cổ và đoạn cột sống thắt lưng
1.3 Giải phẫu và sinh lý bệnh đĩa đệm cột sống
Đĩa đệm gồm nhân đĩa đệm ở giữa và ống sụn ở ngoài, được giữ ở khoang giữa hai thân đốt sống bởi dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau Đĩa đệm bình thường
có tính đàn hồi rất cao, khi thoái hóa dễ có hiện tượng thoát vị Hệ thống dây chằng bao quanh đĩa đệm rất giầu nhánh thần kinh, khi có đĩa đệm chèn vào sẽ gây đau tại chỗ và co thắt cơ thắt lưng, đó là nguyên nhân gây đau lưng Đĩa đệm bắt đầu thoái hóa ở lứa tuổi sau 20 hoặc sau 30 tuổi Hiện tượng thoái hóa bao gồm sự thay đổi tính chất của vòng sụn xơ và mất nước của nhân đĩa đệm, làm mất tính đàn hồi và khả năng hấp thụ lực sang chấn của đĩa đệm Đồng thời, sự thay đổi về cấu trúc và tính chất sinh học sẽ làm vòng sụn của đĩa đệm mỏng đi và dễ rách, nhân đĩa bị xơ hóa, ranh giới giữa nhân đĩa và vòng sụn mất dần Dưới tác động của trọng lực cơ thể hoặc sang chấn, nhân đĩa sẽ xuyên qua chỗ rách của vòng sụn thoát vị vào ống tủy hoặc rễ thần kinh vào lỗ tiếp hợp [4], [9]
Nhân nhầy đĩa đệm có hình thấu kính hai mặt lồi, là một khối gelatin gồm các tế bào liên kết (collagen) được bện lại với nhau Nhân nhầy chứa chủ yếu là nước, khi mới sinh nhân nhầy chứa 90% là nước, ở người trẻ nước trong nhân nhầy giảm chỉ còn
Trang 1080% và ở tuổi 60-70 thì nước trong nhân nhầy chỉ còn 65-70% Do vậy, khi về già chiều cao đĩa đệm giảm đi và người ta thấp hơn so với thời trẻ từ 5-7cm
Ở trẻ em nhân nhầy màu trắng và dai, nhưng ở người lớn tuổi nhân nhầy thoái hoá chuyển màu vàng và mủn Chiều cao và vị trí nhân nhầy ở các đoạn cột sống cũng khác nhau: Ở đoạn cột sống cổ, nhân nhầy chỉ cao 3-5mm và nằm ở trung tâm giữa 2 đốt sống, ở đoạn cột sống ngực nhân nhầy cao 4-6mm và nằm dịch về phía trước thân đốt sống, còn đoạn cột sống thắt lưng nhân nhầy cao 8-10mm và nằm ở phần sau thân đốt sống Tổng chiều cao của các đĩa đệm ở trẻ em khi mới sinh bằng ½ chiều cao của cột sống, ở người lớn bằng ¼ chiều cao của cột sống Khi nằm thì người dài ra 2-3cm
so với khi đứng
Vòng sợi: Là những bó sợi collagen bao bọc quanh nhân nhầy, có khoảng 90 lớp vòng tròn đồng tâm là các sợi collagen rất chắc và có tính đàn hồi cao, chúng bện với nhâu và ôm chặt lấy nhân nhầy đĩa đệm Ở vùng ngoại vi của vòng sợi các bó collagen xếp khít nhau hơn, ở phân trung tâm các bó sợi mỏng, mềm mại hơn và dần chuyển thành nhân nhầy Vòng sợi có tính đàn hồi cao nên đĩa đệm không bị ảnh hưởng khi cúi, ưỡn hoặc nghiêng người sang 2 bên Do vậy, vòng sợi được ví như túi cao su chứa nước ở bên trong, khi ép ở bên này thì căng phồng phía bên đối diện Vòng sợi không chỉ giữ cho nhân nhầy luôn ở trung tâm cột sống không bị đẩy ra ngoài mà còn giữ cho
2 đốt sống dính chắc với nhau Vòng sợi ở phía trước nhân nhầy rộng và chắc khoẻ, vòng sợi ở phía sau nhỏ, mảnh mai và yếu hơn, do vậy đĩa đệm hay bị thoát vị ra sau Dây chằng dọc trước: Chạy dọc mặt trước thân đốt sống, dính chắc vào mép trước và mép bên của thân đốt sống với nhau Dây chằng dọc trước chắc và khoẻ hơn dây chằng dọc sau nên ít khi thoát vị đĩa đệm về phía trước cột sống
Dây chằng dọc sau: Nằm mặt sau thân đốt sống, dính chắc các mép sau của thân đốt sống trên và dưới với nhau, dây chằng dọc sau mảnh và yếu hơn dây chằng dọc trước, nên nhân nhầy đĩa đệm hay thúc về phía sau và làm cho dây chằng dọc sau suy yếu dần, gây nên thoát vị đĩa đệm ra sau [4], [9]
Chức năng của đĩa đệm: Do có tính đàn hồi và khả năng căng phồng làm giảm bớt lực chấn động Khi đĩa đệm bị đè ép ở tư thế thẳng, nhân nhầy sẽ bị hạ thấp chiều cao, bị bè ra các hướng Khi trọng tải đè ép mất đi thì nhân nhầy đĩa đệm lại căng phồng trở lại như hình dáng ban đầu, khi bị đè ép mạnh nhân nhầy không thay đổi về
Trang 11thể tích mà chỉ thay đổi về hình dáng Khi chạy nhảy, mang vác nặng, đĩa đệm sẽ bị ép lại, lực chấn thương sẽ phát tán và hấp thu làm giảm bớt lực tác động, nhờ vậy cột sống, tuỷ sống, não bộ được bảo vệ
Thoát vị đĩa đệm thường xảy ra khi mang vác vật nặng đột ngột hoặc những động tác gắng sức quá mức, thường xảy ra ở người béo bệu, ít vận động, không quen với công việc nặng, nên khi cột sống chịu tải không lớn lắm cũng gây ảnh hưởng đến đĩa đệm Thoát vị cũng xảy ra khi vận động cột sống sai tư thế như kiễng chân cao xa tầm với hoặc cố kéo vật nặng hoặc xoay người đột ngột dẫn đến đau chói cột sống Phần lớn các tác giả cho rằng thoát vị đĩa đệm xảy ra khi đã thoát hoá cột sống trước đó, là hậu quả của thoái hoá cột sống có thể do chấn thương hoặc bệnh lý, nhân nhầy đĩa đệm bị thoái hoá, mất nước dần dần bị khô kiệt, vòng sợi đĩa đệm lão hoá, mất tính đàn hồi, mất khả năng căng phồng, mất khả năng giảm sóc Dây chằng sau suy yếu, dễ
bị rách Khi áp lực nội đĩa đệm tăng cao do nâng vật nặng hoặc sai tư thế làm cho nhân nhầy đĩa đệm tổn thương
2 Các giai đoạn thoát vị đĩa đệm cột sống và hướng xử trí
2.1 Giai đoạn 1 (Giai đoạn bệnh lý): Thường xuất hiện ở nhóm tuổi 21 - 25,
nhân nhầy đĩa đệm bắt đầu thoái hoá, người bệnh có đau mỏi khu trú ở cột sống, đau ê
ẩm thường xuất hiện sau lao động Giai đoạn này lượng nước trong nhân nhầy giảm đi, bắt đầu xuất hiện rạn nứt ở nhân nhầy và vòng sợi Hướng điều trị là cho người bệnh nghỉ ngơi, vật lý trị liệu, tập thể dục cột sống, kết hợp với thuốc giảm đau chống viêm loại non-steroid
2.2 Giai đoạn 2 (Giai đoạn tắc nghẽn cột sống): Xuất hiện đau cột sống tái phát
nhiều lần, cột sống đau buốt, lan xuống mông và chân gọi là đau buốt thần kinh Đau
có thể xuất hiện sau vận động cột sống bất thường như gấp, ưỡn quá mức, bê vật nặng hoặc làm việc trong tư thế cố kiễng chân để với vật trên cao hoặc cố choài người lấy vật ở xa tầm với, khi đó cảm thấy “tiếng khục” và đau chói cột sống, đó chính là kết quả sự chèn ép cấp tính do đĩa đệm thúc ép mạnh vào dây chằng dọc sau cột sống Sau
“tiếng khục” ở cột sống, người bệnh không tự đi lại, phải nằm bất động trên giường vài ngày hoặc phải điều trị một thời gian, đau tái đi tái lại nhiều lần với tính chất giống nhau, nhưng có người bệnh khỏi đau vài năm, sau đó mới đau lại Dấu hiệu đau buốt cột sống lan xuống mông và theo dọc thần kinh hông to xuống bắp chân hoặc xuống
Trang 12gót, do vậy thường gọi là đau thần kinh toạ hay “hội chứng thắt lưng-hông” Nhân nhầy xuất hiện những khe rạn nứt rõ, mảnh đĩa đệm làm rách vòng sợi và dịch chuyển
ra sau thúc ép và màng cứng và rễ thần kinh Ở giai đoạn này chủ yếu cho người bệnh nằm nghỉ ngơi, bất động, hạn chế đi lại trong thời kỳ đau cấp, vật lý trị liệu như chiếu đèn hồng ngoại, sóng ngắn, điện xung, điện phân, đắp paraphin nóng, dùng thuốc chống viêm, giảm đau non-steroid, chống cơ cứng cơ [4], [9]
2.3 Giai đoạn 3 (Giai đoạn thần kinh): Đa số người bệnh đau như giai đoạn 2 và
kéo dài vài tháng hoặc hàng năm, nhưng triệu chứng đau ngày một tăng lên, đau cố định và thường xuyên hơn Đau tăng khi ho, hắt hơi lan xuống mông và chân theo rễ thần kinh (gặp 80 - 85%), đây là dấu hiệu chủ quan nhưng đặc trưng của thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, kèm theo co cứng cơ lệch vẹo cột sống, bắt đầu có dấu hiệu teo chân hoặc bại yếu sức cơ bàn chân và các ngón chân Ở giai đoạn này có thể điều trị bảo tồn, điều trị phẫu thuật khi người bệnh có đau thường xuyên, liên tục, điều trị không hết đau, cột sống lệch vẹo, teo cơ, nặng hơn có biểu hiện liệt một vài nhóm cơ
2.4 Giai đoạn 4 (Giai đoạn hư sụn khớp): Bệnh tiến triển có tính chất mạn tính,
đau tái đi tái lại nhiều lần, đi đau và có dấu hiệu đi cách hồi, teo cơ, có thể liệt một vài nhóm cơ, nặng hơn liệt tứ chi hoặc liệt 2 chân với hội chứng đuôi ngựa trong TVĐĐ đoạn cột sống thắt lưng Nhân nhầy mất nước khô keo lại, rách vòng sợi, rách dây chằng dọc sau và đĩa đệm nằm tự do trong ống sống, dây chằng vàng phì đại, gai xương thân đốt sống, cốt hoá sụn, hẹp lỗ ghép và hẹp ống sống Giai đoạn này xử trí bằng phẫu thuật đạt hiệu quả cao
3 Tư thế, vận động và một số yếu tố ảnh hưởng đến thoát vị đĩa đệm cột sống Thoát vị đĩa đệm là bệnh phổ biến hay gặp ở người trung niên và cao tuổi, người làm việc văn phòng, người làm nghề khuân vác TVĐĐ thường gặp ở những người làm việc nặng nhọc, tư thế làm việc buộc cột sống vận động quá giới hạn như quá ưỡn, quá khom người, vẹo cột sống Khi bị thoát vị người bệnh có dấu hiệu đau lưng, xu hướng ngày một tăng Do đau quá nên người bệnh tự tìm tư thế giảm đau như đi nghiêng người về một bên, nằm cong vẹo người Giai đoạn đầu khi bệnh còn nhẹ thường không chú tâm đến việc hỗ trợ điều trị mà tiếp tục làm việc, lao động nặng nhọc, hoặc làm việc sai tư thế như việc cúi, khom lưng, khuân vác, đứng ngồi sai tư thế khiến các các đĩa đệm càng bị tổn thương và bệnh thoát vị đĩa đệm phát triển ngày
Trang 13càng nặng Thực tế cho thấy nếu người bệnh biết phòng ngừa bệnh thoát vị đĩa đệm ngay từ đầu bằng cách làm việc, đi đứng đúng tư thế sẽ hạn chế được căn bệnh khó chữa nhờ điều chỉnh tư thế trong sinh hoạt, lao động Ngay từ nhỏ, khi hệ xương khớp vẫn còn đang phát triển phải tập cho cho mình thói quen đi, đứng, ngồi đúng tư thế Đó
là điều kiện tiên quyết giúp người bệnh phòng tránh được thoát vị đĩa đệm từ đầu, những tư thế đúng nên duy trì trong sinh hoạt, lao động, chế độ rèn luyện phù hợp giúp tránh thoát vị đĩa đệm Khi bị thoát vị đĩa đệm cột sống, người bệnh cần thực hiện các
tư thế, vận động phù hợp [4],[9]
Hình 1: Tư thế cột sống khi mang vác (Tư thế sai (S) và tư thế đúng (Đ))
(Nguồn: Bùi Quang Tuyển, 2010)
Trong tư thế đứng, khom lưng lâu sẽ tác động xấu tới đĩa đệm, do vậy khi làm các công việc như cày cuốc ruộng vườn cần dùng dụng cụ có cán dài Không nên đứng nghiêng làm biến dạng cột sống, làm các đĩa đệm chịu một lực không đều và bị tổn thương Đồng thời không đứng lâu một vị trí tư thế, mà nên đi lại, đánh tay, nhún người…làm dao động áp lực đĩa đệm, thúc đẩy trao đổi dịch thể trong khoang giúp
Trang 14phòng ngừa thoái hóa đĩa đệm Phụ nữ nên tránh tư thế ưỡn quá mức khi đứng (thường gặp ở những chị em thường xuyên đi guốc, giày cao gót, làm việc với cao hơn tầm đầu, đi xuống dốc…) Tư thế đứng đúng là chân thẳng, đầu và thân thẳng, hai vai hơi
mở ra sau, ngực ưỡn căng ra trước [4]
Khi ngồi sai tư thế là một trong những nguyên nhân gây nên các bệnh về xương
khớp trong đó có thoát vị đĩa đệm, người bệnh thoát vị đĩa đệm ngồi đúng để tránh những cơn đau hành hạ Nhiều người cho rằng ngồi không ảnh hưởng nhiều đến bệnh
thoát vị đĩa đệm, nhưng trên thực tế thì ngược lại, nếu bạn ngồi sai tư thế, ngồi nhiều, lười vận động sẽ gây tình trạng co cứng cơ, thoái hóa cột sống, lệch cột sống, đĩa đệm
cột sống thắt lưng bị nén nhiều hơn khi đứng gấp 3 lần Mặt khác, khi ngồi trong một
thời gian dài, bạn sẽ có xu hướng thõng vai, kéo căng dây chằng cột sống và nó sẽ ảnh hưởng đến đĩa đệm Để giảm sự căng cứng của đĩa đệm thì khi ngồi trong xe hay tại bàn làm việc, bạn cần tìm hiểu các tư thế ngồi điều chỉnh ghế có tựa lưng thẳng, chế
độ xoay, được điều chỉnh chính xác về chiều cao, độ êm, độ nghiêng…sẽ giúp hạn chế xoắn vặn cột sống, giảm thiểu sức ép cột sống của bạn Để chân thoải mái, đặt 1 chiếc ghế thấp hoặc 1 vật gì đó kê chân để đầu gối của bạn cao hơn hông, từ đó giảm thiểu
áp lực lên cột sống thắt lưng Khi làm việc với máy tính, khoảng cách từ ghế ngồi đến màn hình máy tính phải phù hợp, tránh tình trạng màn hình quá cao, quá xa hay quá thấp khiến bạn phải uốn cong người, nâng cao cổ, hành động này sẽ gây ảnh hưởng đến phần cột sống cổ và lưng Ngoài ra nên lưu ý tới một số vấn đề sau: Không ngồi làm việc quá lâu với một tư thế, nên vận động, nghỉ giải lao sau khoảng 1 tiếng làm việc Đi lại nhẹ nhàng quanh nơi làm việc, vận động giúp cơ thể thoải mái hơn Giữ khuỷu tay vuông góc với cánh tay khi ngồi đánh máy Duy trì khoảng cách vừa đủ từ mắt đến màn hình máy tính Giữ ánh sáng, nhiệt độ hợp lý trong phòng làm việc Để phòng tránh bệnh thoát vị, ngoài việc chú ý đến tư thế ngồi cần tránh những hoạt động sau đây: Không vặn mình khi đang ngồi, nhiều người thường có thói quen vặn mình để
đỡ mỏi, tuy nhiên, khi vặn mình áp lực tác động lên sụn và đĩa đệm sẽ tăng lên Người
có thói quen vặn mình để đỡ mỏi nên cẩn thận Động tác này không những không thích hợp cho người bị thoát vị mà còn gây hại cho vùng xương khớp tổn thương Xoay vặn mình mạnh sẽ làm tăng áp lực lên sụn và đĩa đệm khiến bệnh trở nên nặng hơn Một số tư thế ngồi nên tránh, như khi ngồi không nên khoanh chân, bắt chéo chân
Trang 15bởi những tư thế này không tốt cho cột sống của bạn, nhất là phần thắt lưng, hông Người bị thoát vị đĩa đệm cũng nên tránh ngồi xổm, vì đây là tư thế dễ gây chèn ép lên vùng hông, đốt sống thắt lưng Ngoài ra, nếu vặn mình nhanh, đột ngột còn có thể gây
ra những thương tổn không mong muốn đối với dây chằng của bạn [3], [4], [9].
Tư thế nằm khi bị thoát vị đĩa đệm, nếu nằm nghiêng, đầu gối nên co nhẹ và đưa
về trước Giữa hai chân có thể kẹp lên gối ôm Giữ lưng thẳng, có thể hơi nghiêng người về phía trước hoặc phía sau, chân hơi đưa lên phía trước và gác lên gối ôm, tay
để trước mặt, nếu nằm ngửa, nên giữ thẳng trục đầu - cổ - thân - chân, có thể kê gối dưới chân và phần thắt lưng Những tư thế nằm nên tránh, nằm sấp vì ảnh hưởng xấu đến đĩa đệm, nằm nệm mềm làm cột sống bị biến dạng nên dễ bị tổn thương đĩa đệm Không nên nằm sấp vì sẽ làm cho áp lực dồn vào lưng, gây ra những cơn đau lưng nhiều hơn Ngoài ra nằm sấp cũng có thể khiến cho cơ vùng chân duỗi thẳng, làm mất
đi sự đàn hồi Không nằm trên những bề mặt không bằng phẳng như sofa, võng Những bề mặt này sẽ khiến cho cột sống lưng không được thẳng, dễ dẫn đến đau lưng
và ảnh hưởng đến đĩa đệm cột sống Không nằm gối quá cao vì sẽ khiến cho đốt sống
cổ của bạn bị cong Nằm gối quá cao không chỉ khiến bạn dễ bị đau cổ vai gáy khi ngủ dậy mà còn ảnh hưởng đến đĩa đệm cột sống cổ về lâu dài [4], [13]
Duy trì tập luyện thể dục thể thao, khi bị thoát vị đĩa đệm nên tập luyện thể dục thể thao theo hướng dẫn của huấn luyện viên và theo chỉ dẫn của bác sỹ, vì thể thao thường xuyên sẽ làm chắc các cơ và dây chằng, ổn định các đốt sống và đĩa đệm, hạn chế bệnh lệch đĩa đệm Tùy theo cơ thể, năng khiếu, sở thích và các bệnh khác mà tập những môn thể thao khác nhau cho phù hợp
Có nhiều nguyên nhân gây nên thoát vị đĩa đệm cột sống, tuy nhiên phổ biến là tư thế sai trong lao động, vận động và những hoạt động trong đời sống sinh hoạt Tư thế lao động, tư thế ngồi, mang vác nặng sai cách đặc biệt hay gặp nhất là việc bê vác vật nặng Thay vì ngồi xuống bê vật rồi từ từ đứng lên, nhiều người có thói quen đứng rồi cúi xuống, nhấc vật nặng lên Việc mang vác nặng sai tư thế dễ gây chấn thương cột sống lưng, thoát vị đĩa đệm Không chỉ mang vác nặng, mà nhiều thói quen sinh hoạt hàng ngày cũng ảnh hưởng xấu tới xương khớp như tư thế ngồi cong vẹo cột sống, tập thể dục không đúng cách gây thoái hoá khớp, trật khớp…Ngoài ra, còn do thoái hoá tự nhiên, tuổi tác và các bệnh lý cột sống bẩm sinh hay mắc phải như gai đôi
Trang 16cột sống, gù vẹo, thoái hóa cột sống cũng là các yếu tố thuận lợi để gây bệnh Những người ở độ tuổi từ 30 đến 50 là có nguy cơ bị thoát vị cao nhất do những thành phần nước và đàn hồi bên trong nhân tủy sẽ giảm đi theo tuổi Những người trên 30 tuổi, đĩa đệm thường không còn mềm mại, nhân nhày có thể bị khô, vòng sụn bên ngoài xơ hóa, rạn nứt và có thể rách Trên cơ sở đó nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống (chấn thương, gắng sức ), nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát vị ra ngoài chui vào ống sống, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống Ngoài ra có thể do bị tai nạn hay các chấn thương cột sống, tổn thương đĩa đệm do di truyền, bố mẹ có đĩa đệm yếu do bất thường về cấu trúc thì con cái cũng dễ bị thoát vị đĩa đệm [3], [4], [9].
4 Chăm sóc tư thế, vận động sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống thắt lưng
Sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống thắt lưng phải nằm bất động bao lâu là tuỳ thuộc vào phẫu thuật 1, 2 hay 3 đĩa đệm, nếu phẫu thuật 2 hoặc 3 đĩa đệm thì thời gian bất động phải lâu hơn là phẫu thuật 1 đĩa đệm Phụ thuộc vào phương pháp phẫu thuật, kỹ thuật mở xương, nếu cắt cung sau đốt sống để lấy đĩa đệm thì thời gian bất động phải lâu hơn là mở cửa sổ xương để lấy đĩa đệm Sau phẫu thuật người bệnh được nằm ngửa trên giường ván cứng có đệm mềm, nằm bất động 3 - 4 giờ, rồi sau đó có thể trở mình sang bên, trước khi trở mình người bệnh phải đeo đai hỗ trợ cột sống, có người trợ giúp và phải đảm bảo cột sống luôn thẳng, không được xoắn vặn khi trở mình Điều dưỡng cần hướng dẫn cụ thể cho người bệnh và thân nhân cùng phối hợp thực hiện
4.1 Tư thế, vận động với phẫu thuật nội soi thoát vị đĩa đệm cột sống
Phẫu thuật nội soi lấy đĩa đệm qua lỗ liên hợp là loại phẫu thuật ít xâm lấn nhưng đường vào nằm ở ngoài ống sống và đã khắc phục được các nhược điểm của các phương pháp can thiệp từ phía sau như: không cắt bỏ dây chằng vàng, không làm ảnh hưởng đến các thành phần phía sau của cột sống như cung sau, mỏm khớp dưới và dây chằng dọc sau, bao xơ đĩa đệm phía sau và hầu như không có xơ dính tổ chức thần kinh Theo hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
và hướng dẫn qui trình chăm sóc của Bộ Y tế (2011) người bệnh sau phẫu thuật TVĐĐ CSTL được chăm sóc thực hiện và duy trì tư thế, vận động sau phẫu thuật rút ngắn thời gian phục hồi và cải thiện chất lượng chăm sóc sau phẫu thuật Theo quyết định số 198/QĐ-BYT ngày 16/01/2014 của Bộ Y tế ban hành hướng dẫn quy trình kỹ
Trang 17thuật chuyên ngành Ngoại khoa, người bệnh sau phẫu thuật cần phải hạn chế vận động trong 24 giờ đầu, ngày thứ 2 tập ngồi dậy sau đó có thể tập đứng dậy và đi lại nhẹ nhàng với nẹp hỗ trợ cột sống và được nẹp cột sống sau 3 tuần [1], [2], [4] Đối với phẫu thuật đĩa đệm vi phẫu, tác giả McCulloch JA và Young PH (Mỹ, 1998) cho biết, người bệnh có thể đứng dậy sau phẫu thuật vài giờ, nhưng tác giả không khuyến khích người trên 50 tuổi, vì thường có vấn đề về tim mạch, biến chứng tiểu đường hoặc có viêm tĩnh mạch sâu hoặc bệnh phổi Theo Mick J.Perez-Cruet và Kevin T.Foley (2002) với phẫu thuật đĩa đệm vi phẫu nội soi được đứng dậy sau 2 giờ, lưu lại bệnh viện trung bình 7,7 giờ, người bệnh trở lại công việc hàng ngày trung bình
17 ngày sau phẫu thuật [12], [13]
Có nhiều phương pháp phẫu thuật điều trị thoát vị đĩa đệm Ngày nay, xu thế mổ ít xâm lấn, để giảm số ngày điều trị nội trú, hậu phẫu nhẹ nhàng, ít biến chứng Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng có dấu hiệu chèn ép thần kinh cần chỉ định
mổ cấp cứu với những trường hợp có hội chứng đuôi ngựa, liệt thần kinh tiến triển Có các nguyên nhân gây chèn ép tủy hoặc rễ không do thoát vị đĩa đệm như: cốt hóa dây chằng dọc sau, phì đại mấu khớp, dày dây chằng vàng, các bệnh lý tủy không do chèn
ép tủy do thoát vị đĩa đệm Sau mổ ngày thứ nhất bắt đầu cho tập ngồi, có sử dụng áo nẹp Nếu người bệnh có liệt cổ bàn chân, cần tập cho đạp chân để tăng sức cơ của chân, ngày thứ hai sau phẫu thuật cho người bệnh tập đứng, đi lại có người đỡ hoặc
nạng chống, ngày thứ ba có thể ra viện
Thoát vị đĩa đệm hai tầng là tổn thương ít gặp hơn, do khối thoát vị chèn ép ở hai tầng cột sống nên triệu chứng nhiều khi là của hai tầng tổn thương hay của một tầng thoát vị chính Việc phẫu thuật cả hai tầng thoát vị sẽ giúp giảm đau cho người bệnh,
đề phòng các thoát vị tiếp theo gây triệu chứng đau trên lâm sàng Thời gian bất động trên giường sau mổ bao lâu và khi nào đứng dậy đi lại còn nhiều ý kiến, đưa ra khuyến cáo cho mỗi đối tượng người bệnh Theo Poth.H (German, 1981) sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống thắt lưng người bệnh được phép đứng dậy đi lại ở ngày thứ 2 sau phẫu thuật (nếu cắt nửa cung đốt sống) và đứng dậy ở ngày thứ 3 - 5 sau phẫu thuật (nếu cắt toàn bộ cung sau) Theo Goel.A và Pandya SK (India, 1996) nếu cắt nửa cung sau hay
mở cửa sổ xương nhỏ để lấy đĩa đệm, người bệnh được phép đứng dậy 24 - 48 giờ sau
Trang 18phẫu thuật và bắt đầu cho tập luyện cột sống Theo Carlos Acosta (Mỹ, 2006) sau phẫu thuật 24 - 48 giờ cho phép người bệnh ngồi dậy ở mép giường hoặc ngồi ghế tựa và có thể đi vệ sinh, ngày tiếp theo tập đi lại 5 - 10 phút và tăng dần thời gian đi lại nếu không có gì đặc biệt Nhiều nhà ngoại khoa ủng hộ việc tập vận động sớm, một số lại
đề nghị nằm bất động trên giường từ 1 - 2 tuần sau phẫu thuật [9], [10], [12]
Ở nước ta người bệnh được bất động trong vòng 24 - 48h đầu, mang nẹp cột sống khi thay đổi tư thế, tập đứng và đi lại nhẹ nhàng sau khi rút dẫn lưu, nhưng nếu chưa
đỡ đau nhiều thì có thể bất động thêm một vài ngày Một số người bệnh hết đau và đứng dậy sau phẫu thuật 3 - 5 ngày, tuy nhiên không khuyến khích đứng dậy sớm quá
vì có thể đau trở lại Việc đeo nẹp đỡ lưng sau phẫu thuật cũng có nhiều quan điểm khác nhau Ở một số bệnh viện sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm không cho người bệnh đeo nẹp đỡ lưng, tuy nhiên nên đeo nẹp đỡ lưng khi thay đổi tư thế, ngồi dậy, đi lại và trong lúc làm việc, khi nằm ngủ hoặc nghỉ ngơi có thể tháo nẹp Việc đeo nẹp nhắc nhở người bệnh luôn nhớ vừa được phẫu thuật cột sống, để họ giữ gìn không chủ quan
và tự hạn chế làm các công việc quá sớm Nẹp nên đeo phía ngoài áo, để những người xung quanh biết và tránh không va chạm, xô đẩy khi đi lại ở chỗ đông người hoặc đi ngoài đường phố Về mặt tâm lý, khi mang nẹp đỡ lưng, người bệnh cảm thấy an toàn
và yên tâm hơn Thời gian đeo nẹp bao lâu còn có nhiều quan điểm, thông thường người bệnh sau phẫu thuật đĩa đệm cột sống thắt lưng nên mang nẹp từ 6 - 8 tuần Tuy nhiên còn phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể, nếu cắt cung sau để lấy 1 hoặc 2 đĩa đệm thì sau phẫu thuật nên đeo nẹp đỡ lưng từ 8 - 12 tuần Đeo nẹp đỡ lưng lâu quá cũng không tốt, vì cơ và dây chằng cột sống có thể bị xơ hoá, mất sự đàn hồi nên cột sống sẽ cứng đơ, không còn sự mềm mại khi nghiêng hoặc cúi [9], [10], [12]
Việc tập luyện cột sống có thể ngay khi người bệnh đứng dậy và đi lại Một số trung tâm phẫu thuật thần kinh, sau phẫu thuật 7 - 8 ngày cho cắt chỉ và chuyển khoa phục hồi chức năng để điều trị, được tập luyện cột sống như tắm nước nóng, thả lỏng người trong bể bơi Các hoạt động sau phẫu thuật, người bệnh phải duy trì đeo nẹp đỡ lưng tập xoay trở, tập ngồi, đứng dậy và đi lại theo đúng chỉ dẫn Ngay trong tuần đầu
ra viện, người bệnh đi lại trong nhà, ra ngoài đường, lên xuống cầu thang số lần và đoạn đường đi tăng dần theo thời gian, nếu thấy đau hoặc mỏi cột sống thì lên nghỉ và tạm dừng đi lại một vài ngày Khi ăn cơm nên ngồi ghế cứng có tựa lưng ở phía sau,
Trang 19ghế có giá đỡ tay thì càng tốt Không được ngồi xếp chân bằng tròn ở trên giường để
ăn cơm hoặc chơi bài [10]
Hình 2: Động tác đứng dậy (Nguồn: Bùi Quang Tuyển, 2010)
Ngồi xổm chỉ nên tiến hành sau phẫu thuật 6-8 tuần, thứ tự các động tác này như sau: Người bệnh đang tư thế đứng thẳng, đưa một chân lên trước một bước chân rồi từ
từ chùng hai gối và ngồi xuống, sao cho gót của chân sau tỳ lên mông, đầu gối thì chạm xuống đất, còn chân trước thì cẳng chân tạo với đùi một góc khoảng 700 Động tác này gọi là tư thế nửa quỳ, tư thế này người bệnh có thể tự buộc dây giày Khi ở tư thế nửa quỳ đã vững chắc rồi, từ từ kéo gót chân trước lại phía sau để cho hai gót chân
tỳ lên mông, đầu gối hai chân chạm đất và cơ thể ngồi lên hai mũi bàn chân, động tác này gọi là tư thế quỳ Khi trong tư thế quỳ, thì từ từ ngửa người ra sau để cho hai gót chân chạm đất và tư thế ngồi xổm được thực hiện Khi đang tư thế ngồi xổm mà muốn đứng dậy cũng phải đảm bảo nguyên tắc, cột sống luôn luôn thẳng và các bước tiến hành đứng dậy như sau: Đang ngồi xổm chuyển thành quỳ, đưa một chân lên trước thành tư thế nửa quỳ, đặt một tay lên đầu gối của chân trước để làm điểm tựa rồi chống tay để cho người đứng thẳng lên Trong 4 tuần đầu sau khi xuất viện người bệnh không được ngồi xổm, do vậy khi đi vệ sinh nên sử dụng hố xí bệt, không có hố xí bệt
có thể dùng ghế nhựa cứng cao khoảng 45 - 50cm, khoét một lỗ thủng ở giữa, sao cho đặt vừa khít bô nhựa để đi vệ sinh [9], [10], [14]
Trang 20Hình 3: Động tác ngồi xổm (Nguồn: Bùi Quang Tuyển, 2010)
Khi đi ngủ có thể nằm tư thế ngửa thẳng hoặc nghiêng thoải mái nhất có thể Trong 6 tuần đầu từ khi xuất viện, tránh tất cả các động tác cúi gập người ra trước, không vặn vẹo mạnh đột ngột cột sống sang 2 bên, không nâng vật nặng lên cao Sau 6 tuần từ khi xuất viện, đeo nẹp đỡ lưng tập nghiêng, xoay cột sống một cách nhẹ nhàng sang 2 bên, không làm mạnh, đột ngột Mỗi ngày tập nghiêng sâu hơn nếu không có gì bất thường, nhưng thấy đau thì chưa nên nghiêng sâu, ngày tập 2 lần sáng-tối, mỗi lần tập 5 - 10 phút và có thể tăng thời gian tập nếu không thấy gì đặc biệt Sau 8 tuần được phép tập cúi người ra phía trước một cách nhẹ nhàng, từ từ, không được nóng vội vì có thể gây đau
Khi phẫu thuật ổn định, di chuyển cần phải lái xe, không khuyến khích lái xe quá sớm, thường sau 2 - 3 tháng có thể lái xe, nhưng không nên lái quá xa 100 km (đối với
ô tô) Đối với hoạt động tình dục, theo McCullock JA và Carlos Acosta (2006) tiếp tục trở lại sớm sau khi xuất viện, nếu không có gì miễn cưỡng, người bệnh cảm thấy ham muốn thực hiện Tuy nhiên không nên sớm quá và không nên thái quá, nếu thấy sức khoẻ của mình chưa cho phép như còn đau, cảm giác khó chịu tại vùng mổ, chưa có khả năng tự trở mình sang bên, thì chưa nên vội vàng vì có thể gây đau Tập vận động trong khoảng thời gian 6 - 12 tuần, sau 6 - 8 tuần với mở cửa sổ xương hoặc 8 - 12 tuần nếu cắt cung sau, người bệnh có thể bỏ nẹp đỡ lưng, tăng thời gian đi bộ và có thể quay trở về với công việc lao động nhẹ nhàng [12]
Trang 21Các môn thể thao được phép chơi trở lại tuỳ thuộc vào sức khoẻ người bệnh như đánh golf sau 3 tháng, tennis chơi lại sau 3 - 4 tháng, các môn bơi, thể dục nhịp điệu dưới nước, đi bộ nhanh, đạp xe tại chỗ, chạy bộ nhẹ nhàng sau từ 2 - 3 tháng nên chạy nhẹ nhàng không nhấc cao gối Người bệnh có thể tập nâng tạ lên cao sau 8 - 12 tuần, nhưng trọng lượng không nặng quá 9 kg Cầu lông có thể chơi lại sau 2 tháng, bóng chuyền chơi lại sau 3 - 4 tháng nhưng không được nhảy đập bóng và tránh ngã Sau 3 tháng có thể kéo tay trên xà đơn hoặc chống tay trên xà kép, nhưng động tác xuống xà thật nhẹ nhàng, không được chống mạnh như vận động viên chuyên nghiệp Không nên chơi các môn thể thao vận động mạnh, tốn nhiều sức lực như chạy nhanh, chạy tốc
độ, bóng đá, trèo tường, leo núi [5], [10]
Dự phòng thoái hoá cột sống và đĩa đệm là biện pháp có hiệu quả tốt nhất với người đã phẫu thuật và những người chưa phẫu thuật đĩa đệm cột sống Cần duy trì tập thể thao thường xuyên để trở thành thói quen và nhu cầu hàng ngày Đối với những người khoẻ mạnh, người còn trẻ thì nên chơi môn thể thao nào thích hợp và ưa thích, nên tập luyện thường xuyên có điều độ, không nên chơi quá sức
Đối với những người đã phẫu thuật đĩa đệm cột sống, tuổi còn trẻ thì nên chơi các môn thể thao nhẹ nhàng, thích hợp với với sức khoẻ của mình như đã hướng dẫn, không nên chơi các môn thể thao có tính đối kháng, phải cần nhiều sức mạnh Đối với người có tuổi thì nên duy trì thể dục theo những động tác hướng dẫn trên truyền hình, tập đều đặn thường xuyên, ngày ít nhất 2 lần sáng - tối, nên tập nhẹ nhàng, động tác không mạnh quá Nên đi bộ thường xuyên, mỗi lần đi vài km, cuối thời gian đi bộ nên dành 10 - 15 phút, đứng tại chỗ tập cho cột sống thắt lưng được mềm mại như nghiêng
và xoay người 2 bên, tập cúi, tập ưỡn và xoay tròn theo trục của cột sống thắt lưng Nên tập thể dục cột sống những lúc nghỉ giải lao giữa giờ làm việc vừa có tác dụng chống mệt mỏi vừa tác dụng phòng ngừa thoái hoá cột sống [5]
Một số điều cần chú ý, khi làm bất cứ công việc gì luôn đảm bảo cho cột sống luôn ở tư thế thẳng và lực tác động cân đối lên cột sống, tránh xách mang vật nặng lệch về một bên, không lệch vẹo Cần tránh những tư thế sai của cột sống khi mang vác, xách hoặc bê vật nặng Không cố kiễng chân để lấy vật ở trên cao trong tư thế không thoải mái, có thể dẫn đến co cứng cơ và đau cột sống đột ngột Không lấy vật ở
xa tầm tay với tư thế cột sống vặn vẹo, có thể ngã hoặc đau cột sống cấp Không được
Trang 22cúi xuống để bê hoặc năng vật quá nặng dễ gây thoát vị đĩa đệm cấp Khi làm việc gì cần đến sức mạnh, cần phải vận động cột sống trước như nghiêng cột sống 2 bên, cúi ưỡn nhẹ nhàng để cho cột sống mềm mại thích nghi dần, để không gây co cứng cơ đột ngột dẫn đến đau cột sống cấp Đối với những người đã phẫu thuật đĩa đệm cột sống khi thay đổi thời tiết, chuyển mùa hoặc cơ thể mệt mỏi cũng làm cho cột sống đau mỏi hơn, khi đó nên nghỉ ngơi làm việc nhẹ nhàng có thể phải dùng thuốc giảm đau hỗ trợ
và lại tập luyện cột sống Cần duy trì tập luyện thường xuyên, làm việc điều độ và phù hợp với sức khoẻ, nghỉ ngơi đúng lúc và dùng thuốc hỗ trợ hợp lý là biện pháp phòng thoái hoá cột sống hiệu quả nhất [5], [10]
5 Khung lý thuyết trong nghiên cứu
Trên cơ sở ”Khung lý thuyết can thiệp giáo dục sức khỏe nhằm chuyển đổi hành vi”, thông qua truyền thông để thay đổi hành vi, các nhà tâm lý học đã giúp con người hiểu được quá trình thay đổi hành vi, từ đó đưa ra phương pháp hiệu quả nhằm thay đổi hành vi của con người Quá trình thay đổi hành vi được biểu thị qua mô hình “Các giai đoạn thay đổi”, giới thiệu lần đầu vào cuối những năm 1970 bởi 2 nhà tâm lý học của James Prochaska và Carlo DiClemente Mô hình các giai đoạn thay đổi được coi là công cụ hỗ trợ hiệu quả, giúp con người hiểu được quá trình và cách vượt qua để thay đổi và duy trì hành vi Can thiệp truyền thông giáo dục sức khoẻ (GDSK) là cung cấp kiến thức đúng, phù hợp làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe liên quan, từ đó họ nhận ra các vấn đề sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, từ đó họ thấy được sự cần thiết phải thay đổi để giải quyết các vấn đề sức khỏe liên quan GDSK không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục với đối tượng được giáo dục Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự nỗ lực của người học với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi của người dạy [10]
Vận dụng cơ sở khoa học truyền thông giáo dục sức khỏe, nhằm thay đổi hành vi những thói quen không có lợi ở người bệnh thoát vị đĩa đệm cột sống, làm thay đổi nhận thức giúp họ có hành vi sức khỏe đúng sau khi được phẫu thuật Ngay từ khi người bệnh nhập viện, có chỉ định phẫu thuật do thoát vị đĩa đệm cột sống, điều dưỡng tiếp cận, giới thiệu mục đích, yêu cầu, giải thích những băn khoăn thắc mắc và động
Trang 23viên thuyết phục người bệnh tham gia, thực hiện nhằm thay đổi và duy trì hành vi đúng
- Bước 1 Tiếp cận người bệnh mới nhập viện, từ chỗ người bệnh chưa biết, chưa có ý
thức về vấn đề đến có ý thức về vấn đề Đánh giá nhận thức của người bệnh lần 1
(Hình thành ý thức vấn đề)
- Bước 2 Khi người bệnh có ý thức về vấn đề tìm hiểu, chấp nhận vấn đề và học các
kỹ năng Lúc này tìm hiểu người bệnh đã biết gì rồi và làm gì, giải thích ích lợi, cung
cấp thông tin cơ bản, bổ sung kiến thức về tư thế vận động sau mổ ở người bệnh thoát
vị đĩa đệm (Tìm hiểu và chấp nhận vấn đề)
- Bước 3 Người bệnh tìm hiểu, chấp nhận vấn đề đến có ý thức giải quyết vấn đề
Tiến hành bổ xung kiến thức mới, khuyến khích, động viên, nêu gương người thực hiện và duy trì tốt Phát hình ảnh về tư thế đúng, tư thế sai đồng thời hướng dẫn yêu cầu người bệnh thực hiện (Mong muốn giải quyết vấn đề)
- Bước 4 Người bệnh có ý định muốn thay đổi đến thử thực hiện hành vi mới Tiến
hành trao đổi cách thực hiện và đánh giá, giúp giải quyết các khó khăn, cung cấp các nguồn lực hỗ trợ (Hành động thay đổi)
- Bước 5 Người bệnh thực hiện hành vi mới đến thực hiện thành công và duy trì hành
vi mới Trao đổi kinh nghiệm về tư thế, vận động, hỗ trợ người bệnh để duy trì Tiến hành đánh giá nhận thức của người bệnh lần 2 (Trước khi ra viện, duy trì hành vi mới) Can thiệp này giúp người bệnh sau phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống nhận thức được về tình trạng sức khoẻ cần cải thiện, từ đó người bệnh có nhận thức đúng về kiến thức, thực hành trong quá trình phục hồi nhằm duy trì thực hành động tác tư thế, vận