TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ĐẶNG THỊ MỸ DUYÊN THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2020 KHÓA
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
ĐẶNG THỊ MỸ DUYÊN
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2 NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2020
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Nam Định - 2020
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn : Th.S Nguyễn Hải Lâm
Nam Định - 2020
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của Quý thầy cô trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cùng các anh chị điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên
Em xin được gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu, phòng Đào tạo Đại học, và Khoa Điều dưỡng – Hộ sinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời gian làm khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn thầy – Th.S Nguyễn Hải Lâm( giảng viên Bộ môn
Quản lý và Nghiên cứu Điều Dưỡng), người đã hướng dẫn cho em trong suốt thời
gian làm khóa luận Mặc dù thầy bận nhiều công việc nhưng không ngần ngại chỉ dẫn, định hướng cho em để em hoàn thành tốt khóa luận này
Xin cảm ơn Ban Giám đốc, phòng Điều dưỡng và tất cả các anh chị nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên đã giúp đỡ em trong quá trình điều tra số liệu
Xin cảm ơn những NB đã nhiệt tình hợp tác, giúp em có những dữ liệu quý báu để hoàn thành khóa luận này
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh nghiệm thực tiễn nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô để khóa luận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
Điện Biên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Đặng Thị Mỹ Duyên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả trong nghiên cứu này là tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và chưa từng được công
bố trong bất kì nghiên cứu nào trước đây
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Điện Biên, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường 3
1.1.2 Chẩn đoán bệnh ĐTĐ 3
1.1.3 Phân loại đái tháo đường 4
1.1.4 Điều trị đái tháo đường type 2 4
1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.2.1 Trên thế giới: 6
1.2.2 Ở Việt Nam 9
Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 12
2.1 Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên 12
2.1.1 Thông tin về địa điểm nghiên cứu 12
2.1.2 Cách thức và phương pháp để tiến hành nghiên cứu ‘‘Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2020” 13
2.1.3 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 14
2.1.4 Kết quả nghiên cứu 19
2.1.5 Thực hành về tuân thủ điều trị của ĐTNC 22
2.2 Các ưu, nhược điểm của hoạt động đang nghiên cứu 27
2.2.1 Ưu điểm: 27
Trang 62.2.2 Nhược điểm: 27
2.3 Nguyên nhân của các việc đã thực hiện được và chưa thực hiện được 27
2.3.1 Nguyên nhân của các việc đã thực hiện được 27
2.3.2 Nguyên nhân của các việc chưa thực hiện được 27
Chương 3: KHUYẾN NGHỊ VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP KHẢ THI 29
3.1 Đối với cán bộ y tế tại phòng khám 29
3.2 Đối với các nhà hoạch định chính sách 29
3.3 Đối với các nhà khoa học 29
Chương 4: KẾT LUẬN 30
4.1 Thực trạng tuân thủ điều trị của ĐTNC 30
4.1.1 Thực trạng kiến thức về bệnh ĐTĐ 30
4.1.2 Thực trạng thực hành về tuân thủ điều trị của đối tượng nghiện cứu 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA TRẢ LỜI NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE 2
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐIỆN BIÊN NĂM 2020
Phụ lục 2: PHIẾU PHỎNG VẤN
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADA (American Diabetes Association) Hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ IDF (International Diabetes Federation) Hiệp hội ĐTĐ quốc tế WHO (World Health Organization) Tổ chức y tế thế giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng1.2: Các chỉ số cần kiểm soát của ĐTĐ type 2 5
Bảng 1.1: Thống kê của IDF về số người mắc ĐTĐ năm 2015 và dự đoán đến năm 2040 tại các khu vực trên thế giới 6
Bảng 2.1 Thông tin chung về ĐTNC 19
Bảng 2.2 Đặc điểm về tiền sử mắc bệnh của ĐTNC 20
Bảng 2.3: Kiến thức của ĐTNC về bệnh ĐTĐ type 2 21
Bảng 2.4: Tuân thủ dinh dưỡng của đối tuợng nghiên cứu 22
Bảng 2.5: Tuân thủ hoạt động thể lực của ĐTNC 23
Bảng 2.6 Tuân thủ dùng thuốc của ĐTNC 23
Bảng 2.7 Tuân thủ kiểm tra đường huyết tại nhà tại nhà và tái khám định kì của ĐTNC 24
Bảng 2.8 Lý do NB không tuân thủ điều trị 25
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH ẢNH
Biểu đồ 1: Tuân thủ dùng thuốc của ĐTNC 24
Biểu đồ 2: Đánh giá mức độ tuân thủ từng biện pháp của ĐTNC 26
Biểu đồ 3: Mức độ tuân thủ điều trị của ĐTNC 26
Hình 1: Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên 12
Hình 2: Bác sĩ đang khám cho NB tiểu đường type 2 đến khám định kì 12
Trang 10Theo Liên đoàn ĐTĐ Thế giới (IDF), trong năm 2017 cứ 11 người trưởng thành (20-79 tuổi) lại có 1 người bị ĐTĐ (tiểu đường) tương đương 425 triệu người Tăng khoảng 10 triệu người trong năm 2015 Đến năm 2019 IDF công bố 463 triệu người trưởng thành hiện đang sống chung với bệnh tiểu đường, 1/5 người mắc ĐTĐ trên 65 tuổi(136 triệu người) Ước tính đến năm 2045 sẽ có gần 700 triệu người mắc bệnh tiểu đường.[18]
Tại Việt Nam theo thống kê trong 10 năm của Bệnh viện Nội tiết Trung ương : số người bệnh (NB) mắc ĐTĐ ở nước ta tăng 211% từ 2,7 % dân số năm 2002 lên 5,7 % dân số năm 2012, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng NB ĐTĐ cao nhất thế giới [1]
ĐTĐ type 2 là bệnh mạn tính nên NB phải điều trị hàng ngày trong suốt cuộc sống của họ Việc tuân thủ chế độ điều trị của NB có ý nghĩa sống còn tới hiệu quả điều trị Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NB không tuân thủ điều trị của bác sĩ ngày một tăng lên đáng kể Nếu họ không thể tiếp tục tuân thủ điều trị, hậu quả chính giảm kiểm soát đường huyết, dẫn đến các biến chứng của bệnh ĐTĐ, bao gồm cả vi mạch máu và bệnh mạch máu lớn và thay đổi chuyển hóa lipid, các biến chứng nghiêm trọng như tổn thương mắt, thận, thần kinh, loét chân dẫn đến cắt cụt chi, nhiễm trùng, vv chi phí dịch vụ y tế tăng lên điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp tới NB mà còn trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội[17]
Trên thế giới nghiên cứu về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 không còn là vấn đề mới Nghiên cứu của Sontakke và cộng sự năm 2015 [22] cho thấy 70% NB
Trang 11không tuân thủ lịch trình dùng thuốc Không dùng đủ tất cả các loại thuốc (58,66%), không dùng đúng liều lượng quy định của thuốc (34%), tự ý dùng thêm thuốc khi không có chỉ định của bác sĩ (30%) và không dùng thuốc đúng thời gian yêu cầu (25,33%) Không nhận biết được tác dụng của từng loại thuốc (55,66%), không nhớ dùng thuốc (50.66%)
Tại Việt Nam những năm gần đây cũng đã có một số nghiên cứu về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 như nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Thoa năm 2015 cho thấy có 20% đối tượng nghiên cứu ( ĐTNC) tuân thủ điều trị chung Tỷ lệ NB tuân thủ đúng theo khuyến cáo các chế độ: dinh dưỡng là 24,2%, hoạt động thể lực là 54,7%, dùng thuốc là 58,9%, kiểm soát đường huyết là 16,8% và tái khám định kỳ là 97,4%[10] Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Tiễu Thảo cho thấy việc tuân thủ: dùng thuốc có 88%, kiểm tra đường huyết có 78%, khám sức khỏe định kỳ
có 92%.[9]
Các kết quả này cho thấy việc tuân thủ điều trị của NB đang là vấn đề mang tính thời sự Cần thiết phải thực hiện thêm các nghiên cứu khác nghiên cứu toàn diện về tuân thủ điều trị của NB để cung cấp bằng chứng cho các can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và chất lượng cuộc sống cho NB ĐTĐ type 2
Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên đang điều trị một số lượng lớn bệnh nhân ĐTĐ type 2 và ngày càng gia tăng Vậy thực trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên hiện nay như
thế nào? Để tìm câu trả lời cho câu hỏi trên, tôi thực hiện khóa luận: “Thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2020” với mục tiêu :
MỤC TIÊU
Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2020
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1 Định nghĩa bệnh đái tháo đường
Đái tháo đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng lượng glucose máu do khiếm khuyết tiết insuline, khiếm khuyết hoạt động insuline, hoặc cả hai Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường gây tổn thương, rối loạn chức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim và mạch máu [25]
1.1.2 Chẩn đoán bệnh ĐTĐ
Dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh đái tháo đường của WHO và IDF năm
2012[19], dựa vào một trong các tiêu chí:
- Mức glucose huyết tương lúc đói ≥7,0mmol/l (≥126mg/dl)
- Mức glucose huyết tương ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl) ở thời điểm 2 giờ sau nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống
- HbA1c ≥ 6,5% (48 mmol/mol theo Liên đoàn Sinh hóa Lâm sàng Quốc IFCC) Hoặc:
tế Có các triệu chứng của đái tháo đường (lâm sàng); mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l (200mg/dl)
Khái niệm về HbA1c:
Hemoglobin (Hb) là một trong những thành phần cấu tạo nên tế bào hồng cầu của máu, có vai trò vận chuyển oxy trong máu Bình thường luôn luôn có sự gắn kết của đường trong máu với Hb của hồng cầu
HbA1c chiếm phần lớn ở người lớn, nó đại diện cho tình trạng gắn kết của đường trên Hb hồng cầu Sự hình thành HbA1c xảy ra chậm 0,05% trong ngày, và tồn tại suốt trong đời sống hồng cầu 120 ngày, thay đổi sớm nhất trong vòng 4 tuần
lễ Do đó xét nghiệm HbA1c cho biết tình trạng kiểm soát glucose máu trong 12 tuần gần nhất NB chỉ cần thay đổi chế độ ăn trong một vài ngày đã có thể giảm
Trang 13glucose máu, nhưng HbA1c chỉ giảm khi họ tuân thủ chế độ điều trị trong cả quá trình 12 tuần[12] HbA1c thường diễn đạt bằng tỷ lệ % Nồng độ HbA1c khoảng 5-7% trên NB đái tháo đường cho biết NB đã được ổn định glucose máu tốt trong 12 tuần trước Nếu HbA1c>7.5% glucose máu NB không được kiểm soát tốt [15]
1.1.3 Phân loại đái tháo đường
Theo khuyến cáo của WHO năm 2003[24]
Bệnh ĐTĐ type 1 chiếm 5-10% của tất cả các trường hợp được chẩn đoán
mắc bệnh ĐTĐ Nhiễm ceton acid là một nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở người bị bệnh ĐTĐ loại này NB nhiễm ceton acid thường phải nằm viện điều trị,
và trong hầu hết các trường hợp nguyên nhân là do không tuân thủ điều trị insulin
Bệnh ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 90% của tất cả các trường hợp chẩn đoán
của bệnh Nó thường gắn liền với tình trạng thừa cân và kháng insulin Đối với NB ĐTĐ type 2, kiểm soát trọng lượng, chế độ ăn uống và hoạt động thể chất, là nền tảng của việc điều trị Tuy nhiên, chức năng của tế bào beta tuyến tụy giảm theo thời gian, rất nhiều NB cuối cùng phải điều trị bằng thuốc uống hoặc insulin ngoại sinh
ĐTĐ thời kỳ thai nghén phát triển chiếm 2-5% của tất cả các lần mang thai,
nhưng biến mất sau khi sinh Yếu tố nguy cơ bao gồm chủng tộc / dân tộc và tiền sử gia đình của bệnh ĐTĐ và béo phì
Một số dạng khác là kết quả của hội chứng di truyền cụ thể, phẫu thuật, thuốc, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng và bệnh tật khác, và chiếm 1-2% của tất cả các
trường hợp được chẩn đoán mắc bệnh ĐTĐ
Trong nghiên cứu này chúng tôi tập trung nghiên cứu vào đối tượng NB mắc ĐTĐ type 2
1.1.4 Điều trị đái tháo đường type 2
* Mục đích: [4]
– Duy trì được lượng glucose máu khi đói, glucose máu sau ăn gần như mức độ sinh lý, đạt được mức HbA1c lý tưởng, nhằm giảm các biến chứng có ảnh hưởng, giảm tỷ lệ tử vong do ĐTĐ
Trang 14– Giảm cân nặng (với người thừa cân, béo phì) hoặc duy trì cân nặng hợp lý
* Nguyên tắc:
– Thuốc phải kết hợp với chế độ ăn và luyện tập Đây là bộ ba phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường
– Phải phối hợp điều trị hạ glucose máu, điều chỉnh các rối loạn lipid, duy trì số
đo huyết áp hợp lý, phòng, chống các rối loạn đông máu
– Khi cần phải dùng insulin (như trong các đợt cấp của bệnh mạn tính, bệnh nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, ung thư, phẫu thuật)
* Người có biến chứng thận, có microalbumin niệu: HA≤125/75 mmHg
** Người có tổn thương tim mạch: LDL-c nên dưới 1,7 mmol/l (dưới
70mg/dl)
Trang 15Theo thống kê của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế (IDF) năm 2015[18] : trên thế giới hiện nay có sấp xỉ 415 triệu người trong độ tuổi 20-79 mắc ĐTĐ trên toàn thế giới, trong đó có 193 triệu người chưa được chẩn đoán Hơn 318 triệu người trưởng thành ước tính có dung nạp glucose, đây là nhóm đối tượng có nguy cơ cao phát triển dịch bệnh Nếu mức tăng này không dừng lại dự đoán tới năm 2040 có gần
642 triệu người sống chung với bệnh tật Đáng chú ý, chi phí y tế tiếp tục tăng 12% chi phí y tế toàn cầu dành riêng cho điều trị bệnh ĐTĐ trong đó chiếm đa số là ảnh hưởng tới điều trị các biến chứng[18]
Cũng theo thống kê của IDF [18] về số người mắc ĐTĐ năm 2015 và dự đoán số người mắc đái tháo đường đến năm 2040 của các châu lục và một số khu vực trên thế giới như sau:
Bảng 1.1: Thống kê của IDF về số người mắc ĐTĐ năm 2015 và dự đoán đến
năm 2040 tại các khu vực trên thế giới
Châu lục/Khu vực (triệu người) Năm 2015 (triệu người) Năm 2040
Trang 16Về mức độ phổ biến của bệnh ĐTĐ : năm 2015 cứ 11 người trưởng thành thì
có 1 người mắc ĐTĐ và tới năm 2040 tỉ lệ này giảm xuống trong 10 người có một
người mắc ĐTĐ [18]
Bệnh ĐTĐ phân chia theo giới tính : năm 2015 có 215,2 triệu đàn ông mắc ĐTĐ và tăng lên 328,4 triệu năm 2040 Trong khi đó con số này ở nữ năm 2015 là 199,5 triệu người tới năm 2040 là 313,3 triệu người [18]
Bệnh ĐTĐ phân bố tại môi trường đô thị và nông thôn : tại vùng đô thị năm
2015 có 269,7 triệu người mắc tới 2040 là 477,9 triệu người Vùng nông thôn năm
2015 có 145,1 triệu người mắc tới 2040 có 163,9 triệu người mắc [18]
Chi phí tài chính cho ĐTĐ: Ngoài việc gây ra gánh nặng tài chính lớn cho các cá nhân và gia đình của họ do sự chi phí của insulin và thuốc thiết yếu khác, bệnh ĐTĐ cũng có một tác động đáng kể tới kinh tế đất nước và hệ thống y tế tại các quốc gia
Điều này là do việc sử dụng gia tăng của dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm năng suất lao động và thời hạn dài hỗ trợ cần thiết để vượt qua bệnh ĐTĐ và các biến chứng ảnh hưởng, chẳng hạn như suy thận, mù hoặc các vấn đề tim mạch Đa
số các nước dành từ 5% đến 20% tổng chi tiêu y tế của họ cho bệnh ĐTĐ Với chi phí ngày một cao bệnh này là một thách thức đáng kể cho hệ thống y tế và cản trở phát triển kinh tế bền vững của quốc gia [17]
1.2.1.2 Một số nghiên cứu trên thế giới
Nghiên cứu của Albuquerque và cộng sự năm 2015 [16] về việc tuân thủ chế
độ điều trị ở NB ĐTĐ type 2 với mục đích xác định sự tuân thủ phác đồ điều trị theo quy định; xác định sự khủng hoảng và các biến tâm lý xã hội có ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị Được tiến hành bởi một nghiên cứu định lượng, cắt ngang, mô
tả trên 102 người ĐTĐ type 2 tại khoa Nội tiết, Bệnh viện Tondela-Viseu, Bồ Đào Nha Ngiên cứu chỉ ra chỉ có 42,2 % tuân thủ tự kiểm soát đường huyết, 53,9% thậm chí không nhận ra bài tập thể dục như là một phần của điều trị, 41,2 % có đủ kiến thức về ĐTĐ, 78,4% coi thuốc là thành phần quan trọng nhất khi điều trị Nghiên cứu đề nghị tăng cường chương trình giáo dục ở những người bị bệnh ĐTĐ type 2, nhằm tăng cường sự tuân thủ lớn hơn để tự chăm sóc Nghiên cứu chỉ ra nhiều vấn đề bất cập trong tuân thủ chế độ điều trị tuy nhiên đây mới chỉ là ngiên
Trang 17cứu định lượng, cắt ngang với số lượng mẫu nghiên cứu không quá lớn vì vậy cần tiến hành với cỡ mẫu lớn hơn trong thời gian dài hơn
Nghiên cứu của Sontakke và cộng sự năm 2015 [22]: Đánh giá tuân thủ điều trị ở những NB ĐTĐ type 2 với mục tiêu để đánh giá sự tuân thủ điều trị và nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng không tuân thủ ở những NB ĐTĐ type 2 tại phòng khám trường Cao đẳng Dược tại Ấn Độ Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang với mẫu là 150 NB, bộ câu hỏi được thiết kế để để có được thông tin về sự tuân thủ dùng thuốc, chế độ ăn uống, kế hoạch tập thể dục và tự giám sát đường huyết Kết quả nghiên cứu cho thấy 70% NB báo cáo không tuân thủ lịch trình dùng thuốc Không mua tất cả các loại thuốc (58,66%), không dùng liều lượng quy định của thuốc (34%), lấy thêm thuốc không theo quy định (30%) và không dùng thuốc cho thời gian yêu cầu (25,33%) Không nhận biết về nhu cầu của từng loại thuốc (55,66%), hay quên (50.66%) và chi phí cao (43,33%) là nguyên nhân phổ biến của không tuân thủ Đánh giá theo Morisky scale thì tuân thủ thuốc mức độ cao, trung bình và tuân thủ thấp lần lượt là 0%, 26% và 74% số NB Bên cạnh đó thường xuyên theo dõi đường huyết và tuân thủ chế độ ăn uống là 46% và 68% số NB Đây là một nghiên cứu khá chi tiết về mức độ tuân thủ điều trị Nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân chính ảnh hưởng tới tuân thủ của NB đó là thiếu kiến thứ về bệnh, khả năng chi trả kém, hay quên Việc tuân thủ điều trị trong ĐTĐ cần một cách tiếp cận đa chiều mà ngoài việc dùng thuốc bao gồm tuân thủ các quy định chế độ ăn uống và lịch trình tập thể dục và tự kiểm soát đường huyết Nhân viên y tế có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện sự tuân thủ điều trị bằng cách tăng tương tác với NB
Trong nghiên cứu của Senay Uzun và cộng sự năm 2009[21] tại trường Đại học Điều dưỡng Thổ Nhỹ Kỳ đã tìm hiểu về tuân thủ điều trị ĐTĐ và những khuyến cáo thay đổi lối sống Đây là nghiên cứu đầy đủ, toàn diện nhất khi đề cập đến 5 nội dung của tuân thủ cần thiết khi điều trị ĐTĐ là: tuân thủ dùng thuốc; chế
độ dinh dưỡng; hoạt động thể lực; tự kiểm soát đường huyết và tái khám sức khỏe định kỳ; không hút thuốc lá Nghiên cứu mô tả cắt ngang với mẫu gồm 150 NB ĐTĐ đang được theo dõi điều trị ngoại trú Kết quả cho thấy: tỷ lệ tuân thủ dùng thuốc 72%, dinh dưỡng 65%, hoạt động thể lực 31%, kiểm soát đường huyết và khám định kỳ lần lượt là 63% Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có 11% NB tuân
Trang 18thủ 1 khuyến cáo, 23% NB tuân thủ 2 khuyến cáo, 29 % NB tuân thủ 3 khuyến cáo, 24% NB tuân thủ 4 khuyến cáo, 13 % NB tuân thủ 5 khuyến cáo Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đã tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng đến sự không tuân thủ điều trị như mức thu nhập của NB và tình trạng mắc kèm theo các bệnh mạn tính khác Để nghiên cứu được đầy đủ hơn nhà nghiên cứu có thể nghiên cứu thêm nội dung tuân thủ điều trị nữa là : hạn chế đồ uống có cồn
1.2.2 Ở Việt Nam
1.2.2.1 Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ gia tăng đái tháo đường cao nhất thế giới [1] Căn bệnh này đã và đang ảnh hưởng tới mọi người và mọi lứa tuổi trong xã hội Trong khi đó Việt Nam nằm trong nhóm những quốc gia thu nhập trung bình và thấp phải chịu nhiều tác động lớn của căn bệnh ĐTĐ, đặc biệt là tại các thành phố lớn và khu công nghiệp Tỷ lệ người mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng nhanh chóng ở khắp mọi miền cả nước và tạo ra gánh nặng kinh tế cho gia đình, xã hội trong quá trình điều trị căn bệnh này
Theo thống kê trong 10 năm của Bệnh viện Nội tiết Trung Ương: số NB mắc ĐTĐ ở nước ta tăng 211% từ 2,7 % dân số năm 2002 lên 5,7 % dân số năm 2012, Việt Nam nằm trong số quốc gia có tốc độ tăng NB đái tháo đường cao nhất trong khu vực Đông Nam Á cũng như trên thế giới Nghiên cứu tại các địa phương cho thấy, toàn quốc có khoảng 5 triệu NB đái tháo đường, điều đáng nói là cứ 10 ca đái tháo đường thì có 6 ca được chẩn đoán là có biến chứng cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn tới mù lòa, tàn phế, thậm chí là tử vong Ở Việt Nam, mỗi ngày có khoảng 150 người tử vong do các nguyên nhân ảnh hưởng đến bệnh đái tháo đường, tương đương với 54.943 trường hợp tử vong của người trưởng thành mỗi năm [1]
Theo các chuyên gia y tế, chính thói quen sinh hoạt không khoa học đã và đang làm tăng số lượng người thừa cân, béo phì, kéo theo gánh nặng bệnh đái tháo đường ở Việt Nam cũng như trên phạm vi toàn cầu 24] Vì vậy vấn đề tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ cần được quan tâm hơn bao giờ hết
1.2.2.2 Một số ngiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam hiện nay sự gia tăng của người mắc các bệnh chuyển hóa trong
đó có ĐTĐ type 2 đang là vấn đề mang tính thời sự, để quyết định hiệu quả điều trị thì tuân thủ điều trị của NB phải đặt lên hàng đầu Những năm gần đây đã có những
Trang 19nghiên cứu tại một số Bệnh viện nhằm đánh giá mức độ tuân thủ cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng tới tuân thủ của NB Tuy nhiên số lượng nghiên cứu chưa nhiều, trong đó một số nghiên cứu chưa đánh giá đầy đủ các yếu tố tuân thủ Trong quá trình tổng quan nhóm nghiên cứu đã tìm và phân tích những nghiên cứu điển hình sau:
Theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Tiễu Thảo cho thấy việc tuân thủ: dùng thuốc có 88%, kiểm tra đường huyết có 78%, khám sức khỏe định kỳ có 92% Kiến thức phòng biến chứng: bệnh nhân biết biến chứng ĐTĐ là bệnh lý bàn chân chiếm 72%, bệnh ở tim chiếm 68%, bệnh lý mạch máu chiếm 52%, bệnh ở mắt chiếm 36%, bệnh ở thận chiếm 24%; 100% bệnh nhân có kiến thức về chọn lựa thực phẩm thích hợp; cần hoạt động thể lực là 100%, trong đó có 66% bệnh nhân hoạt động thể lực hàng ngày, 20% bệnh nhân biết hoạt động thể lực 30-60 phút mỗi ngày; biết tái khám tại Bệnh viện là 44%, 20% biết tự kiểm tra đường huyết tại nhà, 36% biết có thể vừa đến cơ sở y tế vừa kiểm tra tại nhà.[9] Theo nghiên cứu của Trần Thị Xuân Hòa và cộng sự năm 2012 tìm hiểu sự tuân thủ điều trị ngoại trú của NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Gia Lai với mục tiêu đánh giá sự tuân thủ của NB đây là một nghiên cứu điều tra cắt ngang qua phỏng vấn trực tiếp 112 NB tuổi từ 19 đến 97 điều trị ngoại trú Kết quả chỉ ra tỷ lệ sử dụng thuốc thường xuyên 82%, tái khám định kỳ 89%, tập thể dục thường xuyên 70%, thực hiện chế độ ăn kiêng 83%
Tỷ lệ NB có đường huyết ổn định là 23% đặc biệt có sự chênh lệch đáng kể giữa sự tuân thủ điều trị của NB người đồng bào dân tộc thiểu số và người Kinh Nghiên cứu này cho thấy lệ tuân thủ điều trị ở mức khá cao [6]
Nghiên cứu của Bùi Thị Khánh Thuận 2009: với mục tiêu xác định mức độ kiến thức, thái độ, hành vi về chế độ ăn và luyện tập ở NB ĐTĐ type 2 tại Bệnh viện Nhân Dân 115 với cỡ mẫu là 100 người Kết quả cho thấy : 62% NB trả lời đúng trên 52% câu hỏi về kiến thức Có hơn 90% NB đã đồng ý rằng chế độ ăn và hoạt động thể lực là quan trọng nhưng chỉ có 72% NB có hoạt động thể lực và một
số ít NB không tuân thủ chế độ ăn Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có mối ảnh hưởng giữa thái độ và kiến thức, giữa kiến thức và hành vi , không có mối ảnh hưởng giữa thái độ và hành vi Qua đó thấy rằng kiến thức của NB ĐTĐ về chế độ ăn và luyện tập còn chưa đầy đủ chính vì thế cần tăng cường giáo dục sức khỏe cho NB về hai vấn đề này nhằm nâng cao hiệu quả điều trị [11] Kiểm soát đường huyết đóng vai
Trang 20trò quyết định tới hiệu quả điều trị của NB ĐTĐ type 2 Tuy nhiên tình trạng kiểm soát đường huyết kém đã dẫn tới nhiều biến chứng khiến NB phải nhập viện điều trị Một trong các nghiên cứu đầy đủ 4 yếu tố của tuân thủ điều trị là nghiên cứu của
Đỗ Quang Tuyển năm 2012 Mô tả kiến thức, thực hành và các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ở NB ĐTĐ type 2 điều trị ngoại trú tại phòng khám, Bệnh viện Lão khoa Trung ƯơngTrung Ương Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp cắt ngang mô tả, kết hợp nghiên cứu định tính với nghiên cứu định lượng trên cỡ mẫu 330 NB ngoại trú Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NB tuân thủ chế độ dinh dưỡng là 78,8%; rèn luyện thể lực 62,1%; thuốc 71,2%; tự theo dõi glucose máu tại nhà và tái khám định kỳ 26,4%; tỷ lệ tuân thủ được 1 biện pháp điều trị 15,2%; 2 biện pháp là 32,7%; 3 biện pháp 33,6%; 4 biện pháp là 14,2% ; không thực hiện được bất kỳ một biện pháp nào là 4,3% [13]
Trong một nghiên cứu tương tự, nghiên cứu của Lê Thị Hương Giang năm
2013 ngoài nghiên cứu về thực hành tuân thủ điều trị ở 4 nhóm yếu tố đã bổ sung thêm một yếu tố nữa là tuân thủ hạn chế bia/ rượu, không hút thuốc, đông thời tách riêng nội dung tuân thủ tự theo dõi đường huyết và tái khám định kỳ Đây là điểm mới so với các nghiên cứu khác giúp cho việc đánh giá được toàn diện hơn Kết quả: có 79% tỷ lệ NB tuân thủ chế độ ăn; 63,3% tuân thủ rèn luyện thể lực; 78,1% tuân thủ dùng thuốc, 63% tuân thủ hạn chế bia/ rượu, không hút thuốc; 48,6% tuân thủ tự theo dõi glucose máu tại nhà; 81% tái khám đúng lịch hẹn Tuân thủ điều trị đầy đủ 6 tiêu chí là 10% [5]
Như vậy cần tiến hành nhiều nghiên cứu phân tích sâu hơn nữa nhằm cung cấp các giải pháp tăng tỉ lệ tuân thủ và năng cao hiệu quả điều trị cũng như chất lượng cuộc sống cho NB
Trang 21Chương 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN
2.1 Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Điện Biên
2.1.1 Thông tin về địa điểm nghiên cứu
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên là Bệnh viện Đa khoa hạng II, với quy mô
450 giường bệnh và 29 Khoa phòng.Phòng khám Nội tại khoa Khám bệnh hiện tại quản lý gần 1000 NB ĐTĐ type2 Hàng tháng NB đến khám thông qua sổ khám bệnh, hồ sơ bệnh án ngoại trú để kiểm tra và theo dõi kết quả điều trị Mặc dù Bệnh viện đã triển khai nối mạng nội bộ, đầu tư các trang thiết bị máy móc hiện đại phục
vụ cho công tác khám chữa bệnh được thuận lợi, được bố trí 01 phòng khám ĐTĐ được đảm nhận bởi 01 bác sỹ và 01 điều dưỡng trong khi đó phải khám trung bình cho từ 50 – 70 NB /ngày là những người đã có giấy hẹn và thêm một số BN mới Chủ yếu khám tập trung vào buổi sáng nên có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng khám và tư vấn cho NB Các nhân viên y tế không có nhiều thời gian để tư vấn giáo dục sức khỏe, do vậy NB hầu hết đến lấy thuốc định kỳ rồi về Hiện tại Bệnh viện chưa có nghiên cứu toàn diện nào đánh giá sự tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu : “Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2020”
đường type 2 đến khám định kì
Trang 222.1.2 Cách thức và phương pháp để tiến hành nghiên cứu ‘‘Thực trạng tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên năm 2020”
Nghiên cứu này tiến hành lấy mẫu toàn bộ NB ĐTĐ type 2 đến khám định
kỳ với điều kiện:
- NB được chẩn đoán ĐTĐ type 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội
- Khoa Khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên và ít nhất từ 6 tháng trở lên
- Phiếu phỏng vấn: Nội dung của phiếu phỏng vấn gồm 34 câu hỏi tập trung vào:
+ Những câu hỏi về các thông tin chung: tên, tuổi, giới, trình độ học vấn, nghề nghiệp, người chung sống, của đối tượng phỏng vấn từ câu A1→ A13
+ Kiến thức về tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 từ câu B1→ B4
+ Thực hành tuân thủ dùng thuốc của NB ĐTĐ type 2 từ câu C1→ C7
+ Thực hành tuân thủ dinh dưỡng của NB ĐTĐ type 2 câu D1
+ Thực hành tuân thủ hoạt động thể lực của NB ĐTĐ type 2 từ câu E1→ E3 + Thực hành tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà và khám sức khỏe định
kỳ từ câu F1→ F7
• Quy trình thu thập số liệu như sau :
- Xin giấy giới thiệu từ phía Nhà trường để liên hệ với Bệnh viện Đa khoa Tỉnh Điện Biên
Trang 23- Gặp mặt đối tượng phỏng vấn, xin ý kiến về sự đồng ý tham gia của ĐTNC, giải thích về mục tiêu, nội dung và ý nghĩa của nghiên cứu
- Tiến hành phỏng vấn ĐTNC, điều tra viên trực tại phòng khám và phỏng vấn NB sau khi bác sỹ khám và kê đơn thuốc hoặc phỏng vấn trong thời gian chờ kết quả xét nghiệm, sau khi phỏng vấn điều tra viên cảm ơn đối tượng
- Sau mỗi buổi điều tra, điều tra viên có trách nhiệm thu thập, kiểm tra một cách kỹ lưỡng phiếu phỏng vấn về số lượng, chất lượng nội dung câu hỏi Những phiếu nào điền chưa đủ, đúng yêu cầu thì loại phiếu và phỏng vấn bù người khác
• Quy trình xử lý số liệu : Số liệu được làm sạch sau đó được nhập và phân tích trên phần mềm thống kê y học SPSS 20.0 Sử dụng tần số và tỷ lệ % để
mô tả các biến
2.1.3 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.1.3.1 Các khái niệm
- Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ type 2 của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên áp
dụng giống như tiêu chuẩn WHO/IDF 2012 [19]: là chẩn đoán xác định NB mắc
ĐTĐ type 2 nếu có 1 trong 3 tiêu chuẩn dưới đây
• Glucose máu lúc đói ≥ 1,26 g/l (≥7mmol/l), làm ít nhất 2 lần
• Glucose máu ở thời điểm bất kỳ ≥ 2g/l (≥ 11,1 mmol/l ) có kèm theo triệu chứng lâm sàng
• Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường huyết ≥ 11,1mmol/l
- Tuân thủ điều trị của NB ĐTĐ type 2 là sự kết hợp đủ 4 biện pháp: chế độ dinh dưỡng hợp lý, hoạt động thể lực thường xuyên, chế độ dùng thuốc đúng, chế
độ kiểm soát đường huyết tại nhà & khám sức khỏe định kỳ thường xuyên [4]
Trang 24+ Các thực phẩm nên hạn chế như: Cơm, miến dong, bánh mỳ (chỉ nên ăn tối
đa 1 lần/1 loại/1 ngày), các món ăn rán, quay, xào
+ Các thực phẩm cần tránh không nên ăn: Cần tránh các thực phẩm có chỉ số đường cao trên 55% và hấp thu nhanh như: nước uống có đường, bánh kẹo, đồ ngọt, dưa hấu, dứa, các loại khoai bỏ lò (khoai tây nướng, khoai lang nướng…) Chỉ sử dụng trong các trường hợp đặc biệt khi có triệu chứng hạ glucose máu Ngoài ra cũng không dùng óc, phủ tạng, lòng, gan và đồ hộp…
- Chế độ hoạt động thể lực [24], [20], [23]:
Các loại hình hoạt động thể lực:
• Loại hình hoạt động thể lực với cường độ cao: ít nhất 2-3 lần/tuần ví dụ: chạy, chơi thể thao (cầu lông, bóng chuyền, bóng bàn, chơi tenis, bơi lội, khiêu vũ)…
• Loại hình hoạt động thể lực với cường độ trung bình: tối thiểu 30 phút mỗi ngày bằng cách đi bộ nhanh, đạp xe đạp hoặc các bài tập thể dục tương tự phù hợp với tình trạng sức khỏe và lối sống của NB
• Loại hình hoạt động thể lực với cường độ thấp: tập dưỡng sinh, Yoga, làm các công việc nhẹ ở nhà như nội trợ Theo khuyến cáo của WHO NB ĐTĐ nên hoạt động thể lực với cường độ từ mức trung bình trở lên [23]
- Chế độ kiểm soát đường huyết tại nhà & khám định kỳ [3]:
Với bệnh những NB đang dùng thuốc uống hạ đường huyết nên thử đường huyết tối thiểu 2 lần/tuần Những NB kết hợp cả dùng thuốc viên và thuốc tiêm insulin nên thử đường huyết tối thiểu 1 lần/ngày Vì vậy NB được coi là tuân thủ kiểm soát đường huyết tại nhà khi NB đo được đường huyết trên 2 lần/tuần
Trang 25NB đã được chẩn đoán ĐTĐ tốt nhất là đi khám sức khỏe định kỳ 1 tháng/1 lần
- Thừa cân, béo phì:
Theo chỉ số BMI (theo phân loại của WHO Khu vực Tây Thái bình dương) [14]
+ Thừa cân: BMI ≥ 23
+ Tiền béo phì: 23 ≤ BMI < 25
+ Béo phì : BMI ≥ 25
2.1.3.2 Thang điểm đánh giá tuân thủ chế độ điều trị của NB ĐTĐ type 2 ngoại trú
Đánh giá kiến thức về tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ type 2
Đánh giá thực hành về tuân thủ điều trị bệnh ĐTĐ type 2
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những NB đã được điều trị ĐTĐ type 2
từ 6 tháng trở lên nên NB đã được nhân viên y tế tư vấn cũng như được cung cấp kỹ