1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thay đổi kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh sau giáo dục sức khỏe ở bà mẹ của trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại bệnh viện đông hưng, thái bình

108 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU Mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đôn

Trang 1

12

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

VŨ THỊ HẢI

THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG KHÁNG SINH SAU GIÁO DỤC SỨC KHỎE Ở BÀ MẸ CỦA TRẺ NHIỄM KHUẨN

HÔ HẤP CẤP TÍNH TẠI BỆNH VIỆN ĐÔNG HƯNG, THÁI BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS VŨ VĂN THÀNH

NAM ĐỊNH - 2020

Trang 3

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng kháng

sinh của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng - Thái Bình, năm 2020 (2) Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng - Thái Bình sau giáo dục sức khỏe

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Can thiệp giáo dục sức khỏe có

so sánh trước - sau trên một nhóm đối tượng về kiến thức sử dụng kháng sinh dựa trên hướng dẫn sử dụng kháng sinh của Bộ Y tế và khuyến cáo của WHO Sử dụng bộ câu hỏi chuẩn bị trước ở cả 2 thời điểm trước và sau can thiệp 01 tuần Nghiên cứu thực hiện trên 97 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020

Kết quả nghiên cứu: Trước can thiệp giáo dục sức khỏe, kiến thức và

thực hành sử dụng kháng sinh của các bà mẹ còn thấp Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức sử dụng kháng sinh đạt là 34%, điểm trung bình là 7,85 ± 4,05 trên tổng điểm 18 Tỉ lệ bà mẹ có thực hành sử dụng kháng sinh đạt là 43,3%, điểm trung bình là 6,3 ± 2,09 trên tổng điểm 12 Sau can thiệp, kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của các bà mẹ tăng đáng kể và đạt 100% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,01

Kết luận: Kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của các bà mẹ

trước can thiệp còn hạn chế nhưng đã cải thiện đáng kể sau can thiệp Điều này cho thấy hiệu quả của giáo dục sức khỏe trong việc nâng cao kiến thức cho các bà mẹ về sử dụng kháng sinh hợp lý, hạn chế hậu quả của kháng kháng sinh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học và các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam đã tạo đã hết lòng, nhiệt tình truyền thụ kiến thức và luôn hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu tại trường

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn TS.BS Vũ Văn Thành, người thầy tận tâm và nhiệt tình đã luôn hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình xây dựng

đề cương, thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện đa khoa huyện Đông Hưng đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp đỡ tôi trong toàn bộ thời gian theo học Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại khoa Tai - Mũi -Họng và khoa Nhi Bệnh viện đa khoa huyện Đông Hưng đã tạo điều kiện ủng hộ, giúp

đỡ tôi trong thời gian điều tra, nghiên cứu

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã luôn ở bên động viên, khích lệ chăm sóc và chia sẻ cùng tôi những áp lực, khó khăn, vướng mắc trong suốt thời gian học cao học, là động lực giúp tôi từng bước hoàn thành luận văn của mình

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Bình, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hải

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng dẫn của thầy hướng dẫn khoa học TS.BS Vũ Văn Thành

Số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và khách quan Đã được xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện đề tài

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!

Thái Bình, ngày tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Vũ Thị Hải

Trang 6

MỤC LỤC

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i

LỜI CẢM ƠN ii

LỜI CAM ĐOAN iii

MỤC LỤC i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC HÌNH vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Thuốc kháng sinh 4

1.2 Kháng thuốc kháng sinh 7

1.3 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh 11

1.4 Thực trạng kháng kháng sinh 15

1.5 Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân 19

1.6 Truyền thông – Giáo dục sức khỏe 23

1.7 Khung lý thuyết 25

1.8 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 25

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

2.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27

2.3 Thiết kế nghiên cứu: 27

2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 29

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 29

Trang 7

2.6 Biến số nghiên cứu 32

2.7 Khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 34

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 35

2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 35

2.10 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 36

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 37

3.2 Thực trạng kiến thức của bà mẹ về sử dụng kháng sinh 41

3.3 So sánh thay đổi kiến thức sử dụng kháng sinh của bà mẹ trước và sau giáo dục sức khỏe 48

Chương 4: BÀN LUẬN 58

4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 58

4.2 Nguồn thông tin về kháng sinh 59

4.3 Kiến thức sử dụng kháng sinh của bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 60

KẾT LUẬN 75

KHUYẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Bản đồng ý tham gia nghiên cứu

Phụ lục 2: Bộ câu hỏi phỏng vấn

Phụ lục 3: Nội dung tư vấn giáo dục sức khỏe

Phụ lục 4: Bảng điểm kiến thức sử dụng kháng sinH

Phụ lục 5: Bảng điểm thực hành sử dụng kháng sinh

Phụ lục 6: Danh sách đối tượng nghiên cứu………

Trang 8

TT - GDSK Truyền thông - Giáo dục sức khỏe

VĐHHT Viêm đường hô hấp trên

WHO World Health Organization/Tổ chức Y tế thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi, số con và nơi ở của đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.2 Nguồn thông tin của đối tượng nghiên cứu 40

Bảng 3.3 Kiến thức của bà mẹ về thuốc kháng sinh 41

Bảng 3.4 Kiến thức của bà mẹ về chỉ định sử dụng kháng sinh 42

Bảng 3.5 Kiến thức về của bà mẹ liều lượng, khoảng cách và thời gian sử dụng kháng sinh 43

Bảng 3.6 Kiến thức của bà mẹ về đường dùng, phối hợp thuốc kháng sinh 43

Bảng 3.7 Kiến thức của bà mẹ về tác dụng không mong muốn và sử dụng kháng sinh theo đơn 44

Bảng 3.8 Kiến thức của bà mẹ về kháng kháng sinh 45

Bảng 3.9 Điểm trung bình kiến thức sử dụng kháng sinh theo nhóm kiến thức 45

Bảng 3.10 Thực hành của bà mẹ về sử dụng kháng sinh 46

Bảng 3.11 Điểm trung bình kiến thức và thực hành của bà mẹ 47

Bảng 3.12 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về thuốc kháng sinh 48

Bảng 3.13 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về chỉ định sử dụng kháng sinh 49

Bảng 3.14 Thay đổi kiến thức về liều lượng, khoảng cách và thời gian sử dụng kháng sinh của bà mẹ 50

Bảng 3.15 Thay đổi kiến thức về đường dùng, phối hợp thuốc kháng sinh 50

Bảng 3.16 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về tác dụng không mong muốn và sử dụng kháng sinh theo đơn 51

Bảng 3.17 Thay đổi kiến thức của bà mẹ về kháng kháng sinh 52

Bảng 3.18 Thay đổi điểm trung bình kiến thức của bà mẹ theo nhóm kiến thức 53

Bảng 3.19 Thay đổi thực hành sử dụng kháng sinh của bà mẹ 55

Bảng 3.20 Thay đổi điểm trung bình chung kiến thức và thực hành của bà mẹ 56

Trang 10

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu 38

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu 39

Biểu đồ 3.3 Thay đổi kiến thức của bà mẹ theo nhóm kiến thức 54

Biểu đồ 3.4 Thay đổi mức độ kiến thức của bà mẹ 57

DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu 25

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 28

Trang 11

Tuy nhiên, việc lạm dụng kháng sinh trong các ngành chăm sóc sức khỏe, chăn nuôi và nông nghiệp đã tạo điều kiện cho các vi sinh vật thích nghi với thuốc, khiến nhiều loại vi khuẩn trở thành kháng thuốc [4],[71] Sự gia tăng

đề kháng đối với nhiều loại kháng sinh thậm chí một số trường hợp kháng với tất cả các kháng sinh hiện có của vi khuẩn đã gây nên mối đe dọa tính mạng người bệnh [37] Nhiều trường hợp vi khuẩn kháng kháng sinh có thể dễ dàng lây lan từ khu vực này sang khu vực khác và trở thành mối đe dọa toàn cầu [6] Gánh nặng do kháng thuốc ngày càng tăng do chi phí điều trị tăng lên, ngày điều trị kéo dài, ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh, cộng đồng và sự phát triển chung của xã hội [4],[74] Kháng kháng sinh đã gây ra cái chết cho hơn 25000 người ở Liên minh châu Âu mỗi năm và khoảng 0,9 tỷ euro được chi cho các chăm sóc sức khỏe liên quan đến vi khuẩn kháng thuốc [70] Ở Hoa Kỳ, kháng kháng sinh gây ra sự sụt giảm trong tổng sản phẩm quốc nội

từ 0,4% đến 1,6% [69] với hơn 2,8 triệu ca nhiễm trùng kháng kháng sinh xảy

ra mỗi năm và ít nhất 12.800 người đã chết trong năm 2017 [43]

Việc sản xuất ra các kháng sinh mới hiện nay không theo kịp mức độ kháng kháng sinh của vi khuẩn Kháng kháng sinh đã trở cấp bách, đòi hỏi phải có sự nỗ lực tổng hợp nhằm giúp nhân loại tránh khỏi nguy cơ quay trở lại thời kỳ chưa có kháng sinh [63]

Trang 12

Có nhiều nguyên nhân gây kháng thuốc; trong đó, việc sử dụng thuốc kháng khuẩn không thích hợp là yếu tố quan trọng nhất, xuất phát từ nhận thức của cộng đồng về sử dụng kháng sinh còn hạn chế [4],[70]

Tự điều trị là tình trạng khá phổ biến ở Việt nam cũng như nhiều nước trên thế giới [17]; trong khi đó, xác suất tự dùng thuốc kháng sinh cao hơn thường gặp ở những người có kiến thức kém hơn về sử dụng kháng sinh [52], [55] Vì vậy, nâng cao nhận thức, giúp thay đổi hành vi sử dụng kháng sinh cho cộng đồng là điều vô cùng cần thiết để làm giảm tình trạng kháng kháng sinh Trẻ em là nhóm đối tượng mà việc sử dụng thuốc phụ thuộc hoàn toàn vào người thân; trong đó, phần lớn là bà mẹ của trẻ Tuy nhiên, các bà mẹ lại thường tự dùng thuốc khi trẻ bị bệnh [17] Vì vậy, việc có kiến thức tốt về kháng sinh và sử dụng kháng sinh hợp lý của bà mẹ sẽ giúp trẻ được sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả, góp phần làm hạn chế tình trạng kháng thuốc

Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, mỗi năm khám và điều trị cho khoảng

2364 trẻ dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính Trong 6 tháng đầu năm 2020, 405 trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính có chỉ định thử nghiệm kháng sinh đồ 294 trẻ được phát hiện vi khuẩn kháng kháng sinh Để cùng chung tay vào kế hoạch hành động quốc gia về chống kháng thuốc, thực hiện khẩu hiệu “Không hành động ngày hôm nay, ngày mai không còn thuốc chữa” của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2011, để nâng cao chất lượng khám và

điều trị, chúng tôi thực hiện đề tài “ Thay đổi kiến thức, thực hành sử dụng

kháng sinh sau giáo dục sức khỏe ở bà mẹ của trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại bệnh viện Đông Hưng, Thái Bình”

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của bà mẹ

có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng - Thái Bình, năm 2020

2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành sử dụng kháng sinh của

bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng - Thái Bình sau giáo dục sức khỏe

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Thuốc kháng sinh

1.1.1 Định nghĩa kháng sinh

Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn (antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác

dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác

Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn

có nguồn gốc tổng hợp như các sulfonamid và quinolon [4]

1.1.2 Các nguyên tắc sử dụng kháng sinh

1.1.2.1 Lựa chọn kháng sinh và liều lượng

- Lựa chọn thuốc kháng sinh phụ thuộc hai yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh Yếu tố liên quan đến người bệnh cần xem xét bao gồm: lứa tuổi, tiền sử dị ứng thuốc, chức năng gan - thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc kèm, cơ địa dị ứng… Nếu là phụ nữ: cần lưu ý đối tượng phụ nữ có thai, đang cho con bú để cân nhắc lợi ích/nguy

cơ Về vi khuẩn: loại vi khuẩn, độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn Cần cập nhật tình hình kháng kháng sinh để có lựa chọn phù hợp [4]

- Chính sách kê đơn kháng sinh nhằm giảm tỷ lệ phát sinh vi khuẩn kháng thuốc và đạt được tính kinh tế hợp lý trong điều trị Với những kháng sinh mới, phổ rộng, chỉ định sẽ phải hạn chế cho những trường hợp có bằng chứng là các kháng sinh đang dùng đã bị kháng

- Liều dùng của kháng sinh phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi người bệnh, cân nặng, chức năng gan – thận, mức độ nặng của bệnh Do đặc điểm khác biệt về dược động học, liều lượng cho trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và nhũ nhi có hướng dẫn riêng theo từng chuyên luận [4]

Trang 15

- Kháng sinh có phổ tác dụng phù hợp với các chủng vi khuẩn

- Kháng sinh ít hoặc không gây tác dụng phụ hay các phản ứng có hại, độc tính của thuốc càng ít càng tốt

- Kháng sinh không tương tác với các thuốc dùng để gây mê

- Kháng sinh ít có khả năng chọn lọc vi khuẩn đề kháng kháng sinh và thay đổi hệ vi khuẩn thường trú

- Khả năng khuếch tán của kháng sinh trong mô tế bào phải cho phép đạt nồng độ thuốc cao hơn nồng kháng khuẩn tối thiểu của vi khuẩn gây nhiễm

- Liệu pháp kháng sinh dự phòng có chi phí hợp lý, thấp hơn chi phí kháng sinh trị liệu lâm sàng [4]

c) Lưu ý khi sử dụng KSDP:

- Không dùng kháng sinh để dự phòng cho các nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sau mổ và những nhiễm khuẩn xảy ra trong lúc mổ [4]

1.1.2.3 Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm

- Phác đồ sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm là lựa chọn kháng sinh

có phổ hẹp nhất gần với hầu hết các tác nhân gây bệnh hoặc với các vi khuẩn nguy hiểm có thể gặp trong từng loại nhiễm khuẩn

- Kháng sinh phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng

độ hiệu quả nhưng không gây độc

- Trước khi bắt đầu điều trị, cố gắng lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập vi

Trang 16

khuẩn trong những trường hợp có thể để điều chỉnh lại kháng sinh phù hợp hơn

- Nên áp dụng mọi biện pháp phát hiện nhanh vi khuẩn khi có thể

- Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng trước khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh

- Cần thường xuyên cập nhật tình hình dịch tễ và độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa phương để lựa chọn được kháng sinh phù hợp [4]

1.1.2.4 Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng vi khuẩn học

- Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của kháng sinh đồ, kháng sinh được lựa chọn là kháng sinh có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác dụng hẹp nhất gần với các tác nhân gây bệnh được phát hiện

- Ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc

- Phối hợp kháng sinh chỉ cần thiết nếu:

+ Chứng minh có nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn nên cần phối hợp mới đủ phổ tác dụng (đặc biệt những trường hợp nghi ngờ có vi khuẩn kỵ khí hoặc vi khuẩn nội bào)

+ Hoặc khi gặp vi khuẩn kháng thuốc mạnh

+ Hoặc khi điều trị kéo dài [4]

1.1.2.5 Lựa chọn đường đưa thuốc

- Đường uống được ưu tiên vì tính tiện dụng, an toàn và giá thành rẻ

- Đường tiêm chỉ được dùng trong những trường hợp:

+ Khi khả năng hấp thu qua đuờng tiêu hoá bị ảnh hưởng (do bệnh lý đường tiêu hoá, khó nuốt, nôn nhiều…)

+ Khi cần nồng độ kháng sinh trong máu cao, khó đạt được bằng đường uống [4]

1.1.2.6 Độ dài đợt điều trị

- Độ dài điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và

Trang 17

trung bình thường đạt kết quả sau 7 - 10 ngày

- Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ kệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị [4]

1.1.2.7 Lưu ý tác dụng không mong muốn và độc tính khi sử dụng kháng sinh

- Tất cả các kháng sinh đều có thể gây ra tác dụng không mong muốn (ADR), do đó cần cân nhắc nguy cơ/lợi ích trước khi quyết định kê đơn

- Phải thận trọng khi kê đơn kháng sinh cho người cao tuổi, người suy giảm chức năng gan - thận vì tỷ lệ gặp ADR và độc tính cao hơn người bình thường

- Hiệu chỉnh lại liều lượng và/hoặc khoảng cách đưa thuốc theo chức năng gan - thận [4]

1.2 Kháng thuốc kháng sinh

1.2.1 Định nghĩa kháng thuốc kháng sinh

Kháng thuốc là tình trạng các vi sinh vật (như vi khuẩn, vi rút, nấm và

ký sinh trùng) kháng lại các thuốc kháng sinh đã nhạy cảm với các vi sinh vật này trước đây Sinh vật đề kháng (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) có thể chịu được sự tấn công của các thuốc chống vi khuẩn (như thuốc kháng sinh, thuốc kháng vi rút, thuốc chống sốt rét) dẫn đến việc áp dụng các phương pháp, thuốc điều trị đặc hiệu sẽ trở nên không hiệu quả, nhiễm khuẩn kéo dài (thậm

chí gây tử vong) [3] Vi trùng kháng thuốc là một vấn đề về sức khỏe, chúng

có thể lây lan giữa người, động vật và môi trường [43]

Kháng kháng sinh đề cập đến các tình huống mà kháng sinh thường ức

chế một số loại vi khuẩn không còn có tác dụng mong muốn Sự đề kháng với một loại kháng sinh thường phát triển từ việc sử dụng kháng sinh đó [43]

1.2.2 Nguyên nhân kháng thuốc kháng sinh

Kháng kháng sinh là một hiện tượng tự nhiên, sự gia tăng kháng kháng sinh được thúc đẩy bởi sự kết hợp của vi khuẩn tiếp xúc với kháng sinh, và sự

Trang 18

lây lan của những vi khuẩn và cơ chế kháng thuốc của chúng Quá trình này được đẩy nhanh khi kháng sinh liên tục xuất hiện trong môi trường hoặc trong vật chủ của vi khuẩn [43]

* Có nhiều nguyên nhân gây kháng thuốc kháng sinh

- Sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý: Việc sử dụng quá liều, dưới liều hoặc lạm dụng thuốc kháng khuẩn đều gây ra tình trạng kháng thuốc, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật kháng thuốc xuất hiện, biến đổi và lây lan Thực tế nhiều người bệnh mua kháng sinh tự điều trị khi không có đơn của thầy thuốc, sử dụng kháng sinh để điều trị đối với trường hợp không do bệnh lý nhiễm khuẩn gây ra, sử dụng kháng sinh, thuốc không phù hợp với loại, chủng vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng gây ra, sử dụng không đúng liều lượng, hàm lượng, thời gian sử dụng [4],[71]

- Kê đơn không phù hợp: việc kê đơn thuốc không phù hợp cũng góp phần làm tăng tình trạng kháng kháng sinh [67], [71]

- Sử dụng thuốc kháng khuẩn trong chăn nuôi còn chưa được kiểm soát hợp lý Việc sử dụng thuốc kháng sinh như những chất bổ sung tăng trưởng, phòng bệnh trong chăn nuôi, trồng trọt góp phần đáng kể vào quá trình kháng kháng sinh [4],[67]

- Phòng và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm chưa hiệu quả: Việc phòng

và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm không hiệu quả làm tăng sự lan truyền của

vi khuẩn kháng thuốc Người bệnh được điều trị trong bệnh viện là một nguồn lan truyền chính các vi sinh vật đề kháng từ người này tới những người khác [4]

- Thiếu hành lang pháp lý quản lý, sử dụng thuốc kháng sinh khiến kháng sinh được mua, bán dễ dàng [67]

- Nhận thức của cộng đồng về kháng thuốc còn hạn chế Thói quen tự chữa trị và “bắt chước” đơn thuốc của người dân dẫn đến tình trạng sử dụng kháng sinh tùy tiện, góp phần làm gia tăng sự kháng thuốc [4]

Trang 19

1.2.3 Hậu quả và gánh nặng do kháng thuốc

- Nhiễm trùng do vi sinh vật kháng thuốc thường không đáp ứng với điều trị tiêu chuẩn, dẫn đến bệnh kéo dài và nguy cơ tử vong cao hơn

- Làm giảm hiệu quả điều trị vì bệnh nhân vẫn còn truyền nhiễm lâu hơn, do đó có khả năng lây lan kháng vi sinh vật cho người khác

- Nhiều bệnh truyền nhiễm có nguy cơ trở nên không thể kiểm soát đe dọa trở lại thời kỳ tiền kháng sinh

- Làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe do khi bị nhiễm trùng vi sinh vật kháng thuốc, phải sử dụng phương pháp điều trị đắt tiền hơn Thời gian bị bệnh lâu hơn và điều trị thường ở bệnh viện, làm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe và gánh nặng tài chính cho gia đình và xã hội

- Gây nguy hiểm cho lợi ích chăm sóc sức khỏe: Các phương pháp điều trị như ghép tạng, hóa trị và phẫu thuật như mổ lấy thai… trở nên nguy hiểm hơn nhiều nếu không có kháng sinh hiệu quả để phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng

- Làm tổn hại an ninh y tế, thiệt hại thương mại và các nền kinh tế do:

Sự tăng trưởng của thương mại và du lịch toàn cầu cho phép vi sinh vật kháng thuốc được lan truyền nhanh chóng ra các nước và khu vực [73]

Ngoài ra, kháng thuốc gây ra sự khan hiếm, thiếu hụt các thuốc kháng khuẩn mới, đặc biệt ở người bệnh bị nhiễm khuẩn do sinh vật đa kháng [3]

1.2.4 Phòng ngừa và kiểm soát kháng kháng sinh

* Đối với người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe:

- Chỉ sử dụng kháng sinh khi thật sự bị bệnh nhiễm khuẩn Không điều trị kháng sinh khi không có bệnh nhiễm khuẩn, ngay cả khi người bệnh yêu cầu

- Phải lựa chọn đúng kháng sinh và đường cho thuốc thích hợp Phải hiểu được xu hướng đề kháng kháng sinh tại địa phương

Trang 20

- Phải sử dụng kháng sinh đúng liều lượng, đúng khoảng cách liều và đúng thời gian qui định

- Phải có sự hiểu biết về thể trạng người bệnh, đặc biệt đối với các phụ

nữ có thai, người già, người bị suy gan, suy thận…

- Phải biết các nguyên tắc chủ yếu về phối hợp kháng sinh Kết hợp bừa bãi hoặc kết hợp quá nhiều kháng sinh có thể gia tăng độc tính, đối kháng dược lý và gia tăng đề kháng

- Sử dụng kháng sinh dự phòng theo đúng nguyên tắc

- Có chiến lược quay vòng kháng sinh hợp lý

- Thực hiện tốt công tác kiểm soát nhiễm khuẩn: Ngăn ngừa lây truyền

vi khuẩn đề kháng mạnh giữa người bệnh với người bệnh, giữa người bệnh với nhân viên y tế hoặc ngăn ngừa lây lan từ môi trường trong các cơ sở chăm sóc y tế bằng rửa tay và phòng ngừa bằng cách ly đối với người bệnh và nhân viên y tế mang các vi khuẩn đề kháng mạnh [4]

* Đối với người dân:

- Chỉ sử dụng kháng sinh khi được chỉ định bởi một chuyên gia y tế được chứng nhận

- Không bao giờ yêu cầu thuốc kháng sinh nếu nhân viên y tế của bạn nói rằng bạn không cần chúng

- Luôn làm theo lời khuyên của nhân viên y tế khi sử dụng kháng sinh

- Không bao giờ chia sẻ hoặc sử dụng kháng sinh còn sót lại

- Thường xuyên rửa tay, chuẩn bị thực phẩm hợp vệ sinh, tránh tiếp xúc gần gũi với người bệnh, thực hành tình dục an toàn hơn và thực hiện tiêm chủng đầy đủ

- Chuẩn bị thực phẩm hợp vệ sinh và chọn thực phẩm được sản xuất mà không sử dụng kháng sinh [43]

Trang 21

1.3 Thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh

1.3.1 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh trên thế giới

Ở các quốc gia, việc sử dụng kháng sinh là phổ biến Việc tiêu thụ kháng sinh toàn cầu ở người đã tăng lên trong hai thập kỷ qua Trong đó, sử dụng kháng sinh ở các nước thu nhập thấp và trung bình cao hơn so với các nước thu nhập cao hơn, việc tiêu thụ kháng sinh toàn cầu ở người đã tăng lên trong hai thập kỷ qua [69],[70] Theo báo cáo giám sát tiêu thụ kháng sinh của

Tổ chức Y tế Thế giới, lượng tiêu thụ thuốc kháng sinh ở mỗi quốc gia trên thế giới là không giống nhau nhưng số lượng kháng sinh tiêu thụ mỗi năm của mỗi nước đều được tính bằng tấn (dao động từ 1 tấn đến 2225 tấn) và mức tiêu thụ kháng sinh tổng thể dao động từ 4,4 đến 64,4 DDD trên 1000 người dân mỗi ngày Brazil là nước có tổng trọng lượng tiêu thụ nhiều nhất với 2225,47 tấn; tiếp theo là Thổ Nhĩ Kỳ với 1195,69 tấn (cao nhất khu vực Châu Âu) Ở khu vực Tây Thái Bình Dương, Hàn Quốc là nước có tổng trọng lượng tiêu thụ cao nhất với 546,37 tấn, tiếp theo là Nhật Bản với 524,9 tấn Mông Cổ

là nước có tổng trọng lượng tiêu thụ không cao với 113,24 tấn nhưng lại có tổng mức tiêu thụ kháng sinh cao nhất với 64,41 DDD trên 1000 dân mỗi ngày, trong khi đó mức tiêu thụ kháng sinh ở Brazil là 22,75 DDD trên 1000 dân mỗi ngày và Thổ Nhĩ Kỳ là 38,18 DDD trên 1000 dân mỗi ngày [69]

Lượng tiêu thụ kháng sinh cao đáng kể một phần do việc lạm dụng trong quá trình sử dụng thuốc Mặc dù kháng sinh là thuốc được chỉ định theo đơn ở hầu hết các quốc gia, tuy nhiên việc cung cấp kháng sinh mà không cần đơn vẫn phổ biến ở nhiều nơi trên thế giới đặc biệt là các nước thu nhập thấp

và trung bình với ước tính tổng thể là 38,8% một phần xuất phát từ những nhận thức sai lầm trong sử dụng kháng sinh của người dân Các nghiên cứu được thực hiện ở Nam Mỹ có tỷ lệ tự dùng thuốc cao với 44,1% trong khi ở Trung Đông thấp hơn với 34,1% với nguồn thông tin để tự dùng kháng sinh

Trang 22

được lấy từ nhiều nguồn khác nhau mà phần lớn từ người bán thuốc và người thân hoặc bạn bè [57]

Kết quả trong nghiên cứu cắt ngang của Tatyana Belkina và cộng sự (2014) trên toàn quốc ở các thành phố lớn của Yemen, Ả Rập Xê - Út và Uzbekistan, tỉ lệ tự dùng kháng sinh mà không cần đơn dao động từ 48% ở Ả Rập Xê - Út đến 78% ở Yemen và Uzbekistan Trong đó 40% lý do cho ho và 34% cho cúm [39]

Một nghiên cứu ở Ả Rập năm 2017 của Sultan Alghadeer cho biết khoảng 34% số người được hỏi đã sử dụng kháng sinh mà không cần đơn với

lý do viêm amidan là 76,7% và kinh nghiệm trước đây là 52,1% [33] Trong nghiên cứu của Yonatan Ateshim ở Asmara, Eritrea tỷ lệ tự điều trị bằng kháng sinh được tìm thấy là 45,1% với 34,4% lý do là kinh nghiệm thành công trước đó [38] Tỉ lệ này ghi nhận ở thanh niên Kosovo trong nghiên cứu của Zana Shabani và cộng sự là 58,65% với 44,47% lý do là đau họng [62] Nghiên cứu của Jamaica S Bulario và cộng sự cho biết 40,05% cha mẹ

đã tự dùng thuốc kháng sinh cho con của họ, trong đó việc sử dụng kháng sinh để điều trị ho là 33,54% Nguồn thông tin về kháng sinh các bà mẹ nhận được từ các trung tâm y tế, đơn thuốc cũ và người thân lần lượt là 42,68%; 28,66% và 23,17% [41]

Tự sử dụng kháng sinh của cộng đồng còn được thúc đẩy bởi việc sẵn sàng cung cấp kháng sinh không đơn từ người bán thuốc Nghiên cứu của Ammar Almaaytah và cộng sự trên 202 nhà thuốc ở Jordan năm 2015 cho thấy 74,3% các nhà thuốc phân phối thuốc kháng sinh mà không cần kê đơn trong đó viêm họng là 97,6%, nhiễm trùng đường tiết niệu là 83,3%, tiêu chảy

là 83% và viêm tai giữa (68,4%) [35]

Năm 2016, nghiên cứu về vấn đề bán thuốc không theo toa ở Zambia của Aubrey Chichonyi Kalungia và cộng sự đã cho kết quả có tới 97% nhà

Trang 23

thuốc cho biết khách hàng thường yêu cầu kháng sinh không theo quy định và 100% người được hỏi đã cung cấp thuốc kháng sinh cho khách hàng mà không cần đơn của bác sĩ [50]

Sử dụng thuốc kháng sinh không hợp lý chủ yếu là từ người dùng, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, sử dụng kháng sinh không hợp lý lại là do việc lạm dụng kháng sinh của bác sĩ

Nghiên cứu của Clémence Marc và cộng sự năm 2016 cho thấy 59% nhiễm trùng đường hô hấp trên đã được kê đơn thuốc kháng sinh, 76% đơn thuốc được phân tích là không phù hợp, 72% kháng sinh có phổ quá rộng và một phần ba không được chỉ định Trong số 77 bác sĩ kê đơn được gọi, 33% đồng ý rằng họ thiếu thời gian trong quá trình tham vấn để giải thích với cha

mẹ rằng không cần dùng kháng sinh [53]

Nâng cao nhận thức và hiểu biết về kháng kháng sinh thông qua giao tiếp, giáo dục và đào tạo hiệu quả Tăng cường kiến thức và cơ sở bằng chứng thông qua nghiên cứu giám sát là điều cần thiết để hạn chế lạm dụng thuốc kháng sinh, góp phần ngăn ngừa kháng kháng sinh [75]

1.3.2 Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh tại Việt Nam

Sự phát triển của hệ thống y tế đã giúp người dân dễ dàng tiếp cận cơ sở

y tế để mua thuốc kháng sinh [14] Sự phong phú, sẵn có của thị trường dược phẩm đã tăng cơ hội tiếp cận của người dân với kháng sinh qua hệ thống nhà thuốc và hiệu thuốc là địa chỉ đầu tiên người bệnh tìm đến khi đau ốm [17] Kháng sinh đã đóng góp một tỉ lệ không nhỏ vào tổng doanh thu của các nhà thuốc ở thành thị và nông thôn Việt Nam với tỉ lệ lần lượt là 24% và 18% [45]

Mặt khác, việc mua trực tiếp kháng sinh tại nhà thuốc lại thường theo

tư vấn của người bán thuốc, theo lời khuyên của người thân, bạn bè hoặc mua theo đơn thuốc cũ, thậm chí theo kinh nghiệm của bản thân Có 43,1% người trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Tiến và cộng sự tại Thái Bình năm 2017 đã

Trang 24

sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm bản thân [29] và 71,0% người dân xã Trung Nghĩa, thành phố Hưng Yên trong nghiên cứu của Vũ Hải Vinh và cộng sự năm 2018 đã tự sử dụng kháng sinh khi bị ốm Những lý do chính để

tự dùng thuốc là có biểu hiện bệnh tương tự lần trước (71,7%), được bạn bè giới thiệu (70,0%), khi viêm họng, cảm cúm, sốt và ho (75,1%) với một tỉ lệ không nhỏ (39,1%) người dân đã sử dụng kháng sinh < 3 ngày [30] Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hà và cộng sự ở Hà Nội cũng có 56% ĐTNC

sử dụng thuốc kháng sinh theo kinh nghiệm của bản thân hoặc người xung quanh với 81% mua thuốc tại các nhà thuốc bán lẻ tư nhân [10]

Từ năm 2003, kháng sinh đã là một trong những thuốc được quy định bán theo đơn ở Việt Nam [1] Luật Dược 2005 và Luật Dược 2016 đã nghiêm cấm “bán lẻ thuốc kê đơn không có đơn thuốc” [26],[27] Năm 2017, đề án

“tăng cường kiểm soát kê đơn thuốc và bán thuốc kê đơn giai đoạn 2017-2020”

đã được phê duyệt [5] Tuy nhiên 88% ở thành thị và 91% ở nông thôn, các loại thuốc kháng sinh đã được bán mà không cần đơn của bác sĩ [45]

Thông qua phương pháp đóng vai khách hàng, nghiên cứu của Nguyễn Phương Thúy và cộng sự, đã cho kết quả 100% các nhà thuốc, quầy thuốc tại các địa phương khảo sát dễ dàng bán thuốc mà không có đơn khi được yêu cầu Trong đó, có 73,9% cơ sở bán kháng sinh cho trường hợp ARI trẻ em với 86,1% kháng sinh đã bán dưới 5 ngày điều trị và 86,7% trường hợp không hướng dẫn sử dụng kháng sinh đã bán [28] Năm 2016, một nghiên cứu tại Nam Định cho kết quả, có 55,8% người chăm sóc chính đã từng sử dụng kháng sinh không theo đơn cho trẻ khi trẻ ốm với 85,3% thuốc kháng sinh là

từ các hiệu thuốc tư nhân [11] Nghiên cứu của Đào Thanh Liêm và cộng sự

năm 2018, có 93,7% trường hợp viêm họng và 88,9% trường hợp cảm lạnh đã

được bán thuốc kháng sinh mà không có chỉ định của bác sĩ [19]

Sử dụng thuốc kháng sinh chưa hợp lý tại Việt Nam còn có những yếu

Trang 25

tố từ phía bác sĩ Sự phân cấp chuyên môn, việc thích sử dụng kháng sinh mới, đắt tiền mà không xem xét các rủi ro xã hội Kê đơn thuốc vì sự hài lòng của người bệnh từ sự kỳ vọng vào kháng sinh của người bệnh/phụ huynh, sợ kiện tụng Thiếu hỗ trợ từ vi sinh cho các bác sĩ trong chẩn đoán chính xác căn nguyên gây bệnh do virus hay vi khuẩn … đã khiến cho các đối tượng cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe thường cung cấp kháng sinh một cách không cần thiết trong nhiều trường hợp [17],[49] 21,4% bệnh nhi trong nghiên cứu của Lê Xuân Ngọc và cộng sự tại bệnh viện Nhi Trung ương đã được sử dụng kháng sinh mặc dù không đủ bằng chứng nhiễm khuẩn [22] Trong nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Nhi Bình Dương của Phùng Thị Kim Dung và cộng sự, kết quả thấy tất cả trường hợp sử dụng kháng sinh chủ yếu dựa vào đặc điểm lâm sàng mà không có chẩn đoán xác định [7]

Trước thực trạng đó, phải có sự giáo dục của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện thay đổi văn hóa sử dụng kháng sinh, cải thiện hướng dẫn lâm sàng cùng với việc loại bỏ các khuyến khích không phù hợp là điều cần thiết để sử dụng kháng sinh hợp lý [59]

1.4 Thực trạng kháng kháng sinh

1.4.1 Thực trạng kháng kháng sinh trên thế giới

Kháng kháng sinh đang là mối quan tâm trên toàn thế giới bởi sự gia tăng của các loài sinh vật kháng thuốc và hậu quả của chúng đem lại

Tính đến tháng 9 năm 2019, có 50 loại kháng sinh trong đường ống lâm sàng nhưng vẫn không đủ để giải quyết thách thức gia tăng sự xuất hiện và lan truyền của kháng kháng sinh [75] Nhiều chủng vi khuẩn gây bệnh đã ngày càng trở nên kháng thuốc kháng sinh Các kháng sinh thế hệ mới đắt tiền, thậm chí cả một số kháng sinh thuộc nhóm “lựa chọn cuối cùng” cũng đang mất dần hiệu lực [17]

Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định Lao kháng thuốc là một mối đe

Trang 26

dọa dai dẳng Mặc dù tỉ lệ nhiễm Lao mới mỗi năm giảm nhưng số trường hợp phát hiện Lao kháng thuốc hàng năm lại tăng Trên toàn cầu, 153119 trường hợp lao đa kháng thuốc và Lao kháng rifampicin (MDR / RR-TB) đã được thông báo năm 2016, tăng lên 186.772 trường hợp năm 2018 [72],[76]

Escherichia coli, Klebsiella pneumonia, Streptococcus pneumoniae là

những vi khuẩn nằm trong danh sách giám sát kháng thuốc của WHO bởi khả năng gây bệnh và kháng kháng sinh của chúng Báo cáo giám sát năm 2014

cho thấy, Escherichia coli đã đề kháng với cephalosporin thế hệ thứ ba được

phát hiện ở 44% quốc gia thành viên, kháng fluoroquinolones từ 47%, kháng

carbapenem từ 37% của các quốc gia thành viên Klebsiella pneumoniae đã đề

kháng với cephalosporin thế hệ thứ ba được phát hiện ở hơn 30% quốc gia thành

viên Streptococcus pneumoniae đã kháng hoặc không nhạy cảm với penicillin

(hoặc cả hai) phát hiện ở hơn 35% quốc gia thành viên Đặc biệt, không mẫn cảm với penicillin đã được phát hiện trong tất cả các khu vực của WHO [69]

Trong các báo cáo những năm gần đây đã có sự gia tăng số lượng các quốc gia tham gia báo cáo, đồng thời cũng gia tăng tỉ lệ quốc gia thành viên

phát hiện Escherichia coli, Klebsiella pneumonia, Streptococcus pneumonia kháng kháng sinh Mặc dù tỉ lệ vi khuẩn không nhạy cảm với cùng một kháng

sinh được phát hiện ở mỗi quốc gia là không giống nhau, điều này phụ thuộc nhiều yếu tố Tuy nhiên phát hiện kháng kháng sinh ở các chủng trên nhìn

chung ngày càng gia tăng Escherichia coli được phát hiện kháng 9 kháng

sinh trong đó Ceftriaxone cao nhất với 100%, Cefepime và Ampicillin Levo

là 90% (ở Ai Cập) Kháng 12 kháng sinh trong đó Ampicillin Levo là 90% và Co-trimoxazole là 70% (ở Philippines) Kháng 11 kháng sinh trong đó cao nhất là Ampicillin với 90% và Co-trimoxazole với 55% (ở Thái Lan)

Klebsiella pneumonia được phát hiện kháng 9 kháng sinh trong đó cao nhất là

Ceftriaxone với 50% Kháng 9 kháng sinh trong đó kháng Cefotaxime lên tới

Trang 27

95% và Ceftriaxone là 90% (ở Ai cập) Phát hiện kháng 3 kháng sinh trong đó kháng Fluoroquinolones là 45% và Cephalosporin thế hệ 3 là 30% (ở Síp) Ngoài ra, nhiều chủng vi khuẩn khác cũng phát hiện đề kháng nhiều loại kháng sinh, trong đó có cả các kháng sinh mới [77],[78]

Trước sự gia tăng của tình trạng kháng kháng sinh hiện nay với những

hậu quả của nó, cần có thêm hành động trên khắp các cơ sở, ngành công nghiệp

và quốc gia để bảo vệ mọi người khỏi các mối đe dọa kháng kháng sinh [43]

1.4.2 Thực trạng kháng kháng sinh tại Việt Nam

Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ kháng kháng sinh cao nhất thế giới Tình trạng phổ biến của vi khuẩn kháng kháng sinh ở Việt Nam đã ở mức độ báo động [17]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang thực hiện từ năm 2012 đến năm 2014 của

Lê Văn Nam và cộng sự tại Bệnh viện Nhiệt đới Trung ương và Bệnh viện

Quân y, kết quả cho thấy 39,29 % chủng E coli sinh ESBL Kháng sinh bị kháng

tỷ lệ cao là ampicilin, trimethoprim/sulfamethoxazole, cephazolin, ceftriaxone, ciprofloxacin và levofloxacin đều 35,71% với tỉ lệ lần lượt là 85,71%; 64,29%; 50%; 46,43%; 35,71%; 35,71% [20]

Nghiên cứu mức độ nhạy cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Gram âm của tác giả Phạm Hồng Nhung và cộng sự tại Bệnh viện bạch Mai

từ năm 2011 đến năm 2015 cho thấy, nhiều kháng sinh chỉ còn nhạy cảm

dưới 10% đối với Acinobacter baumannii, kể cả các kháng sinh carbapenem hay

aminoglycoside Một số kháng sinh nhóm tetracycline như minocycline và doxycyclin còn nhạy cảm với khoảng trên 30% số chủng phân lập được [24]

Kết quả nghiên cứu của Khổng Thị Điệp và cộng sự tại Nguyên Xá, Vũ Thư, Thái Bình năm 2013 cho thấy 80,4% người khỏe mạnh có mang vi

khuẩn E.coli trong đó có tới 82,9% người nhiễm E.coli sinh ESBL với 66,7% các mẫu phân người khỏe mạnh nhiễm E.coli sinh ESBL [9]

Trang 28

Trong nghiên cứu đặc tính kháng Ciprofloxacin ở Neisseria meningitidis

trên đối tượng là tân binh tại khu vực phía Nam Việt Nam của tác giả Nguyễn

Gia Kỳ và cộng sự năm 2016, có 3 trong số 23 chủng N meningitidis chiếm

tỉ lệ 13% đề kháng với Ceftriaxone, 19 chủng đề kháng với Ciprofloxacin

Fluoroquinolone Với Gentamycin thì E coli và Klebsiella kháng lần lượt là 45,5% và 37,6% Đối với Staphylococcus aureus thì 80,5% chủng kháng

nhóm Cephalosporins, Carbapenemss và Penicillins kết hợp; 79% chủng kháng nhóm Macrolide và trên 80% chủng kháng Clindamycin [16]

Nghiên cứu của Nguyễn Vĩnh Nghi và cộng sự tại Bệnh viện Ninh

Thuận năm 2017, kết quả: Vi khuẩn thuộc nhóm Gram âm và Gram dương phân lập được lần lượt là 60,9% và 39,1% Ở mỗi nhóm phân lập được đều

phát hiện có kháng kháng sinh với tỉ lệ khá cao Phát hiện Escherichia coli

kháng 18 kháng sinh, cao nhất là Ampicillin (100%), Bactrim (92,7%),

Nalidixic acidv (91,5%), Tetracycline (84,6%) Staphylococcus aureus kháng

16 kháng sinh, cao nhất là Penicillin (100%), Erythromycin (93,4%),

Clindamycin (92,6%), Azithromycin (91,9%) Klebsiella spp kháng 19 kháng

sinh, cao nhất là Ampicillin (100%), Bactrim (90,3%), Tetracycline (86,4%)

Staphylococcus epidermidis kháng 14 kháng sinh, trong đó 100% kháng Bactrim; 96,2% kháng Penicillin; 80,8% kháng Erythromycin Acinetobacter spp

kháng 14 kháng sinh, Pseudomonas aeruginosa kháng 10 kháng sinh

Enterococcus spp và Streptococcus kháng 6 kháng sinh [21]

Trang 29

Kết quả nghiên cứu của Ngô Thế Hoàng và cộng sự thực hiện từ 4/2018 đến 5/2019 tại Khoa hô hấp Bệnh viện Thống Nhất: Tác nhân gây bệnh chủ yếu

là S pneumoniae 43,8%; P aeruginosa 15,8%; A baumannii 12,5%; S aureus 10,4%; K pneumoniae 9,4% và E coli 8,3% Trong đó, S Pneumoniae có tỉ lệ

kháng cao với nhiều loại kháng sinh: kháng Penicillin 66,7%, kháng Ampicillin 75,8%; Erythromycin 94,3%, kháng Clindamycin 71,4%, kháng Tetracycline 83,9%

S aureus kháng Penicillin 100%; Oxacillin 88,9%, Gentamicin và Ciprofloxacin 87,5%; Moxifloxacin 100%; Imipenem 83,3% P aeruginosa kháng với hầu hết

các kháng sinh, cao nhất với Piperacillin 46,1%; thấp nhất là Cefepime (7,7%)

Nhóm A baumannii kháng gần như toàn bộ với các loại kháng sinh, kháng

cao nhất với với Piperacillin 77,8% và thấp nhất với Meropenem 25% [15] Qua các nghiên cứu cho thấy, ở mỗi địa điểm nghiên cứu khác nhau, có các vi khuẩn kháng kháng sinh khác nhau về số lượng, tỉ lệ Tuy nhiên, rất nhiều vi khuẩn phân lập được ở mỗi nghiên cứu có tỷ lệ kháng kháng sinh cao Tỉ lệ kháng kháng sinh gia tăng như hiện nay là mối hiểm họa đối với hiệu quả của các liệu pháp điều trị bằng kháng sinh do các bệnh nhiễm khuẩn vẫn là các bệnh phổ biến ở Việt Nam [17] Vì vậy, cần học cách xác định chính xác hơn các tác nhân gây bệnh và hạn chế việc sử dụng bừa bãi thuốc kháng vi sinh vật và các phương pháp thực hành khác đẩy nhanh sự xuất hiện của các cơ chế kháng thuốc mới [37] là điều cần thiết

1.5 Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân

1.5.1 Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân trên thế giới

Nhận thức của cộng đồng về sử dụng kháng sinh các vùng còn thấp Ngay cả ở một số quốc gia đã tiến hành các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng quốc gia, vẫn có niềm tin rộng rãi rằng thuốc kháng sinh có hiệu

Trang 30

quả chống lại các bệnh do vi rút Tình trạng này đang đáng báo động, đặc biệt

là ở những quốc gia có sẵn thuốc kháng khuẩn mà không cần đơn [71]

Năm 2017, một cuộc khảo sát cắt ngang trực tuyến trên toàn quốc của Kazuhiro Kamata và cộng sự ở Nhật Bản cho thấy chỉ có khoảng 22% người tham gia nghiên cứu biết rằng kháng sinh không thể tiêu diệt virus và 24,6% ĐTNC biết rằng thuốc kháng sinh không có hiệu quả chống lại cảm lạnh và cúm Trong khi đó, 23,6% trong số họ báo cáo đã tự dừng hoặc điều chỉnh liều kháng sinh [51]

Kết quả khảo sát ở quận Salem của bang Nad Nadu, Ấn độ của tác giả

Rahul Radhakris và cộng sự, có 43,5% số người được hỏi tin rằng kháng sinh

có hiệu quả đối với hầu hết các trường hợp cảm lạnh và 55,4% ĐTNC thích giữ kháng sinh tại nhà Có 63,9% số người được hỏi tin rằng có thể ngừng kháng sinh nếu các triệu chứng nhiễm trùng được cải thiện và 36,1% sẵn sàng cung cấp kháng sinh cho thành viên gia đình nếuhọ bị nhiễm trùng [61] Kết quả khảo sát cộng đồng ở 12 quốc gia của Tổ chức Y tế thế giới năm

2015 , có 76% số người tin rằng, tình trạng kháng kháng sinh xảy ra khi cơ thể

họ kháng kháng sinh và 44% số người được hỏi nghĩ rằng kháng kháng sinh chỉ là vấn đề đối với những người dùng thuốc kháng sinh thường xuyên [70] Một cuộc khảo sát cắt ngang đã được thực hiện bởi Tarek H Mouhieddine và cộng sự trong cộng đồng ở thủ đô Beirut của Liban năm 2013 cho kết quả, có 54,1% người được hỏi coi kháng sinh là tác nhân chống vi rút 39,2% người được hỏi đã mua kháng sinh theo lời khuyên của dược sĩ và 22,4% người trả lời rằng họ dùng thuốc kháng sinh mà không được tư vấn Lý do để sử dụng kháng sinh là cảm lạnh thông thường (73,5% ) Chỉ 53,1% tuân thủ đầy đủ liệu trình điều trị kháng sinh [56]

Một nghiên cứu khác ở Liban của Lama Zahreddine và cộng sự cho thấy, 55,9% cha mẹ tin rằng cần phải sử dụng kháng sinh cho sốt Có tới 58,4% cha

Trang 31

mẹ cho rằng được phép cho trẻ uống kháng sinh mà không cần lời khuyên của bác sĩ và 66,7% tin tưởng dược sĩ trong đơn thuốc kháng sinh Trong khi có 28,7% dược sĩ không biết yếu tố nào có thể góp phần kháng kháng sinh [80]

Nghiên cứu cắt ngang của Fabrizio Bert và cộng sự thực hiện tại bảy thành phố của Ý cho kết quả, cha mẹ thiếu kiến thức về việc sử dụng kháng sinh 32,8% cha mẹ cho rằng thuốc kháng sinh hữu ích cho các bệnh nhiễm trùng do virus và 20,7% cho rằng thuốc kháng sinh hữu ích cho mọi loại đau

vàviêm, vì chúng tương đương với chất chống viêm [40]

Từ các nghiên cứu trên cho thấy mặc dù có nhiều người đã có kiến thức

và thực hành sử kháng sinh tốt, nhưng vẫn còn một số lớn có kiến thức về kháng sinh còn chưa đầy đủ và thực hành sử dụng kháng sinh còn chưa đạt Điều này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố Do đó, một trong những biện pháp khắc phục cho người tiêu dùng tránh sử dụng kháng sinh mà không cần kê đơn là vai trò tư vấn của các chuyên gia chăm sóc sức khỏe [38]

1.5.2 Thực trạng kiến thức, thực hành sử dụng kháng sinh của người dân

ở Việt Nam

Lý do thường gặp để các đối tượng nghiên cứu sử dụng kháng sinh là viêm họng, cảm cúm, sốt và ho [11],[14],[25]

Nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa trên dữ liệu thu được từ phỏng vấn gián tiếp khách hàng nhà thuốc của Ngô Thảo Nguyên và cộng sự Tỷ lệ khách hàng có kiến thức, thái độ, hành vi sử dụng KS ở mức kém lần lượt là 28,9%; 7,17% và 5,27% Có 48,8% khách hàng cho rằng KS giúp cảm cúm không trầm trọng hơn Hơn 40% người cho rằng KS có thể tiêu diệt vi rút hoặc có tác dụng chính để điều trị cảm cúm và các triệu chứng của cảm cúm; gần 30% người cho rằng KS có tác dụng chính là giảm đau Gần 50% khách hàng đã

Trang 32

ngừng KS khi các triệu chứng bệnh thuyên giảm và hơn 30% khách hàng sử dụng lại KS của lần điều trị trước [23]

Năm 2018, kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Hà và cộng tại Bắc

Từ Liêm, Hà Nội cho thấy tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức chung và thực hành về sử dụng thuốc kháng sinh tốt chưa cao (32,2%) và (42,6%) Trong đó 79,4% đối tượng nghiên cứu cho rằng kháng sinh có thể chữa cảm cúm, ho và 15,4% đối tượng cho biết kháng sinh có thể dùng khi thấy đau đầu, mệt mỏi; 30,7% đổi kháng sinh khác khi dùng thuốc không đỡ, trong khi 26,2% đối tượng cho rằng nên tăng liều dùng 56% ĐTNC sử dụng thuốc kháng sinh theo kinh nghiệm của bản thân hoặc người xung quanh [10]

Nghiên cứu của tác giả Vũ Hồng Nhung năm 2018 cho thấy đối tượng nghiên cứu có kiến thức và thực hành sử dụng thuốc kháng sinh đạt lần lượt là 32,9% và 37,8% Trong đó có 69,8% ĐTNC không phân biệt được thuốc kháng sinh và thuốc kháng viêm; 71,7% cho rằng thuốc kháng sinh để điều trị virus; 70,2% ĐTNC mắc sai lầm khi cho rằng các nhà khoa học luôn sản xuất được kháng sinh mới; 63,7% ĐTNC mắc sai lầm về việc sử dụng kháng sinh cho trẻ để điều trị các triệu chứng như ho, chảy nước mũi hoặc đau họng [25] Nghiên cứu của Chu Thị Đào ở Huyện Hoài Đức, Hà Nội, năm 2018, cho thấy trong 385 bà mẹ tham gia nghiên cứu có 46.8% bà mẹ vự ý mua kháng sinh cho con sử dụng khi trẻ bị VĐHHT Một tỉ lệ không cao, lần lượt

là 37,4% và 39,5% bà mẹ có kiến thức đúng và thực hành đúng về sử dụng kháng sinh cho trẻ bị viêm đường hô hấp [8]

Tình trạng sử dụng kháng sinhliên quan có ý nghĩa thống kê với sự kém hiểu biết về kháng sinh [11] Người dân sử dụng kháng sinh mà không có kiến thức tốt sẽ gây ảnh hưởng rất lớn đến thực hành sử dụng kháng sinh cũng như các hậu quả do lạm dụng kháng sinh gây nên [8] Việc có các chương

Trang 33

trình giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân trong việc sử dụng kháng là điều cần thiết [10],[23],[25].

1.6 Truyền thông – Giáo dục sức khỏe

* Khái niệm truyền thông giáo dục sức khỏe

- Tuyên truyền là hoạt động cung cấp thông tin về một chủ đề sức khỏe, bệnh tật cụ thể nào đó, nhưng được lặp đi lặp lại nhiều lần, bằng nhiều hình thức Trong tuyên truyền, thông tin được chuyển đi chủ yếu là một chiều [2]

- Giáo dục là cơ sở của tất cả quá trình học tập, làm cho học tập diễn ra thuận lợi, giáo dục gắn liền với học tập

- Truyền thông – Giáo dục sức khỏe là quá trình tác động có mục đích,

có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổi thái độ và thực hành các hành vi lành mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cá nhân, gia đình và cộng đồng

- Truyền thông - Giáo dục sức khỏe là quá trình dạy và học, tác động giữa người thực hiện GDSK và người được GDSK theo hai chiều Người thực hiện TT - GDSK không phải chỉ là người dạy mà còn biết học từ đối tượng của mình Người TT - GDSK thu nhận những thông tin phản hồi từ đối tượng được TT-GDSK, điều chỉnh, bổ sung hoạt động của mình nhằm nâng cao kỹ năng, hiệu quả của các hoạt động TT - GDSK [2]

* Phương pháp giáo dục sức khỏe

Phương pháp GDSK là cách thức mà người làm công tác GDSK thực hiện một chương trình GDSK

- Giáo dục sức khỏe gián tiếp: là phương pháp mà người làm công tác GDSK không tiếp xúc trực tiếp với đối tượng GDSK, các nội dung được truyền tải tới đối tượng thông qua các phương tiện thông tin đại chúng

- Giáo dục sức khỏe trực tiếp: còn được gọi là giáo dục sức khỏe mặt

Trang 34

đối mặt, người giáo dục sức khỏe trực tiếp tiếp xúc với đối tượng cần được giáo dục sức khỏe Người giáo dục có thể nhanh chóng nhận được các thông tin phản hồi từ đối tượng giáo dục nên truyền thông – giáo dục sức khỏe luôn

có hiệu quả tốt nhất trong việc giúp đỡ đối tượng học kỹ năng và thay đổi hành vi [2]

* Mục đích của truyền thông giáo dục sức khỏe

Truyền thông giáo dục sức khoẻ làm cho mọi người từ bỏ hành vi có hại

và thực hành các hành vi có lợi cho sức khoẻ, đây là một quá trình lâu dài, cần phải tiến hành theo kế hoạch, kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, với sự tham gia của nghành y tế và các nghành khác Trong truyền thông - giáo dục sức khỏe, chúng ta quan tâm nhiều đến vấn đề làm thế nào để mọi người hiểu được các yếu tố nào có lợi và yếu tố nào có hại cho sức khỏe, từ đó khuyến khích, hỗ trợ nhân dân thực hành hành vi có lợi cho sức khỏe và từ bỏ các hành

vi có hại cho sức khỏe [2]

* Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe trong chăm sóc sức khỏe

Truyền thông giáo dục sức khỏe qua việc cung cấp các kiến thức, hướng dẫn, hỗ trợ thực hành giúp cho mọi người có thể:

- Hiểu biết và nhận ra được vấn đề và nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của chính họ

- Nhận rõ trách nhiệm của cá nhân và cộng đồng trong chăm sóc và bảo

vệ sức khỏe cho cá nhân cũng như trong cộng đồng

- Hiểu được những việc có thể làm để giải quyết các vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng bằng chính những lỗ lực của cá nhân, nhóm và cộng đồng, kết hợp với sự hỗ trợ từ bên ngoài

- Quyết định thực hiện hành động thích hợp nhất để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng

Trang 35

Kiến thức

sử dụng kháng sinh trước can thiệp

Thực hành

sử dụng kháng sinh trước can thiệp

1.7 Khung lý thuyết

Hình 1.1 Sơ đồ khung lý thuyết nghiên cứu

1.8 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện đa khoa Đông Hưng là bệnh viện hạng 2 trực thuộc Sở Y tế Thái Bình, hàng năm khám chữa bệnh cho người dân 44 xã, thị trấn trên địa bàn huyện và một số xã vùng lân cận Bệnh viện có 12 khoa lâm sàng, 05 khoa cận lâm sàng, 05 phòng chức năng, với quy mô 300 giường thực kê Theo số liệu của phòng Kế hoạch tổng hợp, mỗi năm có khoảng 152.000 lượt người bệnh tới khám và điều trị Số lượt trẻ được đưa tới khám và điều trị là 35.000 lượt Năm 2019, trong số 3.932 trẻ có chỉ định nhập viện thì có tới 2.364 trẻ mắc bệnh liên quan đến nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính với thời gian điều trị trung bình cho mỗi đợt là 7,09 ngày

sử dụng kháng sinh

Thực trạng kiến thức, thực hành

sử dụng kháng sinh trước can thiệp

Can thiệp GDSK

Sử dụng kháng sinh an toàn, hiệu quả, phòng ngừa kháng kháng sinh

Trang 36

Nhiều năm nay, Bệnh viện đa khoa Đông Hưng đã trú trọng đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khỏe với đa dạng mô hình truyền thông như truyên truyền qua loa phát thanh bệnh viện, giáo dục sức trực tiếp cho một nhóm người (số lượng tùy thuộc vào lượng bệnh nhân), xây dựng góc truyền thông ở mỗi khoa bao gồm tờ rơi, áp phích Tuy nhiên, giáo dục sức khỏe cho người bệnh, người nhà người bệnh về sử dụng kháng sinh an toàn, hợp lý chưa được chú trọng và chưa được thực hiện bài bản

Mặt khác, 6 tháng đầu năm 2020, trong 405 trẻ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính có chỉ định thử nghiệm kháng sinh đồ, 294 trẻ được phát hiện vi khuẩn kháng kháng sinh Trước thực trạng đó, việc tìm hiểu kiến thức, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của bà mẹ để có giải pháp can thiệp giáo dục sức khỏe phù hợp là vô cùng cần thiết Nâng cao kiến thức, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh không chỉ góp phần kiểm soát tình trạng kháng kháng sinh

mà còn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc, điều trị người bệnh, hướng tới sự hài lòng của người bệnh

Trang 37

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020

- Bà mẹ đồng ý tham gia nghiên cứu

- Bà mẹ có khả năng trả lời bộ câu hỏi

- Bà mẹ có trẻ nằm viện từ 06 ngày trở lên

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:

- Bà mẹ có con trong quá trình điều trị bệnh diễn biến nặng phải chuyển tuyến điều trị

- Bà mẹ có con bỏ dở trong thời gian điều trị

- Bà mẹ có con dưới 5 tuổi đã tham gia chương trình GDSK tương tự

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 12 năm 2019 đến tháng 06 năm 2020

- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2020

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Nhi và khoa Tai – Mũi - Họng, Bệnh viện đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

2.3 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu can thiệp trên 01 nhóm đối tượng, so sánh trước và sau can thiệp bằng tư vấn giáo dục sức khỏe

Trang 38

* Sơ đồ nghiên cứu

Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu

* Quy trình can thiệp

- Đánh giá lần 1 (T1): Thực trạng kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu, thực hiện vào thời điểm sau khi bệnh nhi vào viện, trong 24 giờ

- Tiến hành can thiệp GDSK cho đối tượng nghiên cứu vào thời điểm ngay sau đánh giá lần 1 Dựa trên kết quả đánh giá lần 1, đối tượng nghiên cứu còn thiếu kiến thức được tư vấn trực tiếp

- Đánh giá lần 2: Đánh giá lại kiến thức và thực hành của đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi giống lần 1 nhằm so sánh sự thay đổi về kiến thức

Đối tượng nghiên cứu (bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT)

Đánh giá lần 2 (T2) Đánh giá sau can thiệp Đánh giá lại sau giáo dục sức khỏe 01 tuần

Trang 39

và thực hành sử dụng kháng sinh của ĐTNC trước và sau can thiệp, được tiến hành sau GDSK 01 tuần Dựa trên kết quả đánh giá lần 2, đối tượng nghiên cứu còn thiếu kiến thức được tiếp tục tư vấn

* Nội dung can thiệp:

Nhóm nghiên cứu chúng tôi đã tiến hành can thiệp và tư vấn cho tất cả

bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT điều trị tại khoa Nhi và khoa Tai - Mũi - Họng, bệnh viện đa khoa Đông Hưng từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020 Thực tế nhóm nghiên cứu đã lựa chọn được 97 bà mẹ đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu

* Phương pháp chọn mẫu:

Chọn mẫu thuận tiện Áp dụng phương pháp lấy mẫu toàn bộ, chúng tôi chọn toàn bộ bà mẹ (đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu) có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT nằm điều trị tại khoa Nhi và Tai - Mũi - Họng, bệnh viện đa khoa Đông Hưng, tỉnh Thái Bình từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2020

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Kỹ thuật thu thập số liệu

* Xây dựng bộ công cụ:

Bộ công cụ được xây dựng dựa trên Hướng dẫn sử dụng kháng sinh

ban hành kèm theo quyết định số 708/QĐ-BYT ngày 02/3/2015 của Bộ Y

tế [4] và bộ công cụ phỏng vấn “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến

Trang 40

kiến thức, thái độ, thực hành sử dụng thuốc kháng sinh của người chăm sóc chính có trẻ tại bệnh viện Nhi Nam Định, năm 2018” của tác giả Vũ Hồng

Nhung [25]

Điều tra thử 30 bà mẹ có con dưới 5 tuổi mắc NKHHCT đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu ban đầu (các bà mẹ này không nằm trong cỡ mẫu nghiên cứu) để xác định độ tin cậy (dựa vào hệ số Crombach´s Alpha), đồng thời nhận phản hồi của đối tượng nghiên cứu Các câu hỏi được chỉnh sửa,

bổ sung, hoàn thiện phù hợp với đối tượng nghiên cứu cũng như mục tiêu nghiên cứu, sau đó in ấn phục vụ cho điều tra

* Tập huấn cho điều tra viên, thống nhất cách thức thu thập số liệu

- Đối tượng được tập huấn (điều tra viên): 01 điều dưỡng khoa Tai - Mũi

- Họng và 03 điều dưỡng khoa Nhi

- Nội dung tập huấn: Thống nhất mục đích của cuộc điều tra, nội dung các câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn, kỹ năng tiếp xúc với đối tượng nghiên cứu,

kỹ năng khai thác hồ sơ bệnh án

- Thời gian, địa điểm: 01 buổi, tại Phòng hành chính khoa Nhi - Bệnh viện đa khoa Đông Hưng

- Người tập huấn: Trưởng nhóm nghiên cứu (nghiên cứu viên)

Cộng tác viên chỉ cộng tác trong thu thập số liệu

* Tiến hành thu thập số liệu

- Các bước thu thập số liệu:

+ Bước 1: Lựa chọn các đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn

Giải thích các bước mà bà mẹ sẽ thực hiện nếu tham gia nghiên cứu Nếu

bà mẹ của trẻ đồng ý thì ký vào bản đồng thuận

+ Bước 2: Thu thập số liệu lần 1 Sử dụng bộ công cụ chuẩn bị sẵn phỏng vấn trực tiếp bà mẹ của trẻ bệnh Sau khi bệnh nhi vào viện, được chăm sóc y

tế, được ổn định buồng, giường bệnh, chúng tôi tiến hành phỏng vấn bà mẹ

Ngày đăng: 19/02/2021, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w