4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới, trình độ học vấn, nơi sống và nghề nghiệp
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 98 người bệnh mắc đái tháo đường type 2 với số tuổi trung bình là 58,88 ± 11,47 tuổi (Bảng 3.1). Trong đó, nhóm người bệnh trong độ tuổi từ 60-69 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37 người (37,8%), chiếm tỷ lệ cao thứ hai là nhóm người bệnh trong độ tuổi từ 50-59 tuổi với 33 người (33,7%) và nhóm người bệnh trong độ tuổi dưới 40 tuổi chiếm tỷ lệ thấp nhất là 6 người với 6,1%. Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả về trung bình số tuổi của người bệnh đái tháo đường type 2 phù hợp với kết quả của tác giả Vũ Thị Tuyết Mai (2014) với độ tuổi trung bình là 57,9 ± 12,3 tuổi [20], kết quả của tác giả Phạm Lan Anh (2017) với độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 59,5 ± 2,5 tuổi [2], kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Vũ Huyền Anh (2016) với độ tuổi trung bình là 58,86 ± 9,67 tuổi [1], tuổi trung bình trong nghiên cứu của Goweda R (2017) là 53
± 13,1 tuổi [43], trong nghiên cứu của Niroomand M và cộng sự là 60,17 ± 13,56 tuổi [52]. Năm 2013, trong kết quả công bố của ‘‘Dự án phòng chống Đái tháo đường Quốc gia” do Bệnh viện Nội tiết Trung ương thực hiện năm 2012 trên 11.000 người tuổi 30-69 tại 6 vùng gồm: Miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ đã cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ là 5,7% (tỷ lệ mắc cao nhất ở Tây Nam Bộ là 7,2%, thấp nhất là Tây Nguyên 3,8%). Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũng gia tăng mạnh mẽ từ 7,7%
năm 2002 lên gần 12,8% năm 2012. Cũng theo nghiên cứu này, những người trên 45 tuổi có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cao gấp 4 lần những người dưới 45 tuổi. Những thay đổi cấu trúc cơ thể với tình trạng mỡ bụng, giảm vận động ở tuổi trung niên và tuổi già làm giảm năng lượng tiêu hao dễ dẫn đến tích lũy mỡ bụng gây tình trạng đề kháng Insulin.
Bảng 3.1 cho thấy, số người bệnh ĐTĐ trong nghiên cứu của chúng tôi có nơi sống hiện tại ở thành thị chiếm tỷ lệ cao hơn ở nông thôn với tỷ lệ tương ứng là 56:42 người (57,1%:42,9%). Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Tuyết Mai thì đối tượng nghiên cứu phần lớn sống ở nông thôn (84%), ở thành thị chỉ chiếm 16% và kết quả của tác giả Vũ Thị Là, tỷ lệ người bệnh ở nông thôn cũng cao hơn tỷ lệ người bệnh ở thành thị [19]. Như vậy sự khác biệt về đặc điểm nơi sống của người bệnh tham gia nghiên cứu giữa nghiên cứu của chúng tôi với 2 nghiên cứu trên là do đặc điểm phân bố dân cư giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với thống kê của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở thành thị cao hơn ở nông thôn là 1,68 lần [6]. Và người bệnh sống ở khu vực thành thị thường có lối sống thụ động, ít vận động hơn so với người bệnh sống ở khu vực nông thôn tuy nhiên sẽ có nhiều cơ hội được tiếp cận với các phương tiện thông tin đại chúng, các kiến thức về sức khỏe nhiều hơn so với sống ở khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa. Kết quả nghiên cứu này cho phép chúng tôi hy vọng về một kết quả tích cực trong công tác truyền thông giáo dục sức khỏe cho người bệnh. Về trình độ học vấn của đối tượng tham gia nghiên cứu, kết quả ở Bảng 3.1 cho thấy, số người có trình độ học vấn THPT chiếm tỷ lệ cao nhất là 36 người (36,7%), số người bệnh có trình độ từ trung cấp trở lên chiếm tỷ lệ cao thứ hai với 32 người (32,7%), tỷ lệ thấp nhất là 30 người bệnh có trình độ THCS với 30,6%. Đối tượng tham gia nghiên cứu của chúng tôi có trình độ học vấn từ THPT trở lên chiếm 69,4% tương đồng với kết quả trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh là 70% [13], theo tác giả Nguyễn Vũ Huyền Anh là 62,2% [1], nghiên cứu của Vũ Thị Tuyết Mai là 65,2%
[20]. Trình độ văn hóa là một trong các yếu tố có ảnh hưởng không nhỏ tới kiến thức về bệnh cũng như khả năng tiếp thu thông tin của đối tượng tham gia nghiên cứu.
Qua kết quả tại Biểu đồ 3.1, có 53 người bệnh (54,1%) là nam giới, 45 người bệnh (45,9%) là nữ giới. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ nữ giới thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Bùi Nam Trung với tỷ lệ người bệnh nữ giới
chiếm 57,9% [28], kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Tuyết Mai là 61,3% [20], của tác giả Hồ Phương Thúy là 58% [25]. Và tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Hà Thị Huyền với tỷ lệ nữ giới là 49,27%. Kết quả của tác giả Niroomand M với tỷ lệ nữ là 47% [52], kết quả của tác giả Ghannadi S với tỷ lệ nữ là 35,9% [42]. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu này có thể giải thích do sự khác nhau về đặc điểm phân bố dân số giữa các vùng miền trong cùng một quốc gia và giữa các quốc gia, các khu vực. Mặt khác, kết quả nghiên cứu của chúng tôi hoàn toàn hợp lý với Tổ chức Y tế Thế giới, số liêu được lấy trung bình từ nhiều quốc gia cho thấy trước 60 tuổi, tần số mắc bệnh đái tháo đường ở nam giới cao hơn nữ giới, sau 60 tuổi, tần suất mắc bệnh ở nữ giới cao hơn ở nam giới.
Về nghề nghiệp của đối tượng tham gia nghiên cứu, qua Bảng 3.2, số người bệnh có công việc hiện tại là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất là 35 người với 35,7%, số người bệnh là hưu trí chiếm tỷ lệ cao thứ hai với 32 người (32,7%) và người bệnh là cán bộ viên chức chiếm tỷ lệ thấp nhất là 03 người chiếm 3,1%. Kết quả của chúng tôi cũng tương tự kết quả của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh [13], Bùi Nam Trung [28], Đỗ Thị Hằng [11], Ghannadi S [42]. Kết quả này phù hợp với độ tuổi trung bình của người bệnh trong nghiên cứu đó là chủ yếu trên 55-60 tuổi và là độ tuổi nghỉ hưu. Ngoài ra, đối tượng là người nông dân chiếm tỷ lệ cao có thể được giải thích do đặc điểm nghề nghiệp địa phương chủ yếu là trồng lúa nước. Với thói quen cũng như đặc tính công việc phải làm ngoài đồng áng thời gian kéo dài và khá vất vả nên người dân thường có xu hướng ăn nhiều tinh bột để “no lâu“, “chắc dạ“.
Về đặc điểm chung sống của đối tượng tham gia nghiên cứu, Bảng 3.2 cho thấy người bệnh ĐTĐ trong nghiên cứu chủ yếu sống chung với gia đình với 66 người (67,3%), còn lại 32 người (32,7%) là đang sống một mình. Kết quả của tác giả Hồ Phương Thúy cao hơn kết quả của chúng tôi với tỷ lệ người bệnh sống cùng với gia đình là 98% [25], tác giả Vũ Thị Là với 92,5% [19], tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh với 96,8% [13]. Phong tục, tập quán hay truyền thống của người Việt Nam ta từ xưa tới nay là xu hướng gia đình sống chung trong cùng một mái nhà, người cao tuổi thường sống cùng con cháu, nương tựa lẫn nhau.
4.1.2. Đặc điểm về tiền sử gia đình, bệnh lý kèm theo, tiền sử bệnh và nguồn thông tin nhận được
Biểu đồ 3.2 mô tả về đặc điểm tiền sử gia đình của đối tượng tham gia nghiên cứu. Trong đó, có 27 người (27,6%) không có tiền sử gia đình về bệnh này, còn lại 71 người chiếm 72,4% mắc bệnh giống họ (trong đó có 44 người (44,9%) có bố/mẹ, anh/chị em ruột hoặc con ruột cũng mắc bệnh giống họ, còn lại 27 người (27,6%) có vợ/chồng, chú, bác, cô, dì cũng mắc bệnh giống họ). Kết quả của chúng tôi cao hơn so với một số nghiên cứu trước đó như tác giả Hồ Phương Thúy với 30%, tác giả Vũ Thị Là (34%), tác giả Nguyễn Thị Hồng Hạnh (31%), tác giả Vũ Thị Ngát (33,3%) [21]. Yếu tố gia đình là một trong các yếu tố nguy cơ của bệnh đái tháo đường type 2. Tuy không phải là nguyên nhân hay yếu tố nguy cơ hàng đầu nhưng trong gia đình của người bệnh có người cũng mắc bệnh đái tháo đường type 2 sẽ ảnh hưởng khá lớn đến vấn đề thực hành chế độ ăn uống bệnh lý cũng như giá trị của vấn đề truyền thông giáo dục sức khỏe. Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi thấy có 44,9% bố/mẹ, anh/chị em ruột, con ruột của người bệnh cũng mắc bệnh giống họ. Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng có khoảng 6% anh, chị, em ruột cùng mắc bệnh ĐTĐ type 2 và khi bố mẹ bị bệnh thì 5% con cái của họ sẽ mắc bệnh. Hai trẻ sinh đôi cùng trứng, một người mắc bệnh ĐTĐ type 2 thì người kia sẽ bị xếp vào nhóm đe dọa thực sự sẽ mắc bệnh ĐTĐ type 2 [49].
Bảng 3.3 mô tả một số đặc điểm bệnh lý/biến chứng kèm theo của đối tượng nghiên cứu trong nghiên cứu của chúng tôi. Trong 92 người bệnh có biến chứng (93,9%), có 70 người bệnh tham gia nghiên cứu (76,1%) bị mắc bệnh về huyết áp (tăng huyết áp) kèm theo, 38 người (41,3%) có bệnh lý tuyến giáp, 50 người (54,3%) có kèm theo chứng đau đầu, 49 người (53,3%) có kèm theo bệnh lý về mắt (mờ mắt), 08 người (8,7%) có tổn thương chân và cũng có 08 người (8,7%) có bệnh về thận kèm theo. Kết quả này cũng tương đồng với kết quả của tác giả Hồ Phương Thúy với biến chứng tim mạch chiếm tỷ lệ cao nhất (69%) [25], tác giả Nguyễn Thị Hương với 44,3% [15], tác giả Vũ Thị Ngát với 46,1% [21]. Tuy nhiên, tỷ lệ người bệnh bị biến chứng trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với các tác giả này
có thể giải thích do nhóm tuổi chiếm ưu thế trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn, tuổi càng cao thì lão hóa càng nhiều sẽ là yếu tố tác động cộng gộp để xuất hiện biến chứng sớm và nhiều hơn. Tăng huyết áp không những là biến chứng mà còn là nguy cơ phát triển bệnh ĐTĐ type 2. Đa số người bệnh ĐTĐ type 2 có tăng huyết áp và tỷ lệ ĐTĐ type 2 ở người tăng huyết áp cũng cao hơn rất nhiều so với người bình thường cùng lứa tuổi. Ở Việt Nam, tăng huyết áp và đái tháo đường là hai bệnh ngày càng phổ biến, tiến triển có thể độc lập hoặc có mối liên quan với nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy tăng huyết áp và đái tháo đường thường song hành cùng nhau do có cùng những yếu tố nguy cơ như: thừa cân hoặc béo phì; chế độ ăn nhiều chất béo, nhiều muối; lười vận động… Tăng huyết áp là một yếu tố làm tăng mức độ nặng của đái tháo đường, ngược lại đái tháo đường cũng làm cho tăng huyết áp trở nên khó điều trị hơn. Người bệnh đái tháo đường khi có tăng huyết áp đều làm cho tiên lượng bệnh xấu đi rõ rệt với tỷ lệ bệnh lý mạch vành và đột quỵ tăng gấp 2 đến 3 lần so với người không bị đái tháo đường. Tăng huyết áp và đái tháo đường làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch máu lớn và nhỏ: bệnh mạch vành, tai biến mạch máu não, tắc mạch chi, bệnh võng mạc mắt, bệnh lý thần kinh.
Trong tổng số 98 người tham gia nghiên cứu, có 50 người (51%) mắc bệnh dưới 5 năm, 33 người (33,7%) mắc bệnh trên 10 năm, 15 người (15,3%) mắc bệnh từ 5-10 năm (Biểu đồ 3.3). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có số người bệnh mắc bệnh dưới 5 năm cao hơn so với kết quả nghiên cứu của tác giả Hà Thị Huyền với 40,6% số người mắc bệnh dưới 5 năm, 34,8% mắc bệnh từ 5-10 năm, 25,6% mắc bệnh trên 10 năm. Kết quả nghiên cứu của Ghannadi S với số người bệnh mắc bệnh dưới 10 năm chiếm 17,9% nhưng số người mắc bệnh trên 10 năm chiếm tỷ lệ cao là 82,1% [42]. Sự khác nhau này là do đặc điểm của từng vùng, từng quốc gia về khả năng tiếp cận mạng lưới y tế của người dân, sự lơ là, chủ quan, chậm trễ trong việc đi khám của bản thân người bệnh. Hơn nữa, có thể người bệnh đã bị mắc bệnh trước khi được chẩn đoán bệnh nên rất khó có thể xác định chính xác thời gian mắc bệnh.
Có 45 người (45,9%) phát hiện bệnh khi tình cờ đi khám các bệnh khác, 28 người (28,6%) không nhớ mình phát hiện bệnh trong trường hợp nào, 22 người
(22,4%) phát hiện bệnh khi đi khám sức khỏe và chỉ có 03 người (3,1%) tự phát hiện ra bệnh (Bảng 3.4). Kết quả nghiên cứu này cũng tương đồng với nghiên cứu của Vũ Thị Ngát là có 26,7% đối tượng nghiên cứu phát hiện bệnh khi đi khám sức khỏe, 11% đối tượng kiểm tra đường huyết khi đi khám các bệnh khác [21]. Các kết quả cho thấy, khả năng tự phát hiện ra bệnh cũng như thói quen khám sức khỏe định kỳ của người dân địa phương nói riêng và của người Việt Nam nói chung còn hạn chế. Đến khi phát hiện ra bệnh thường bệnh nặng hoặc đã xuất hiện các biến chứng kèm theo.
Cũng theo Bảng 3.4 cho thấy có 67 người (68,4%) được nhận nguồn thông tin về chế độ ăn uống từ nhân viên y tế. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn của tác giả Vũ Thị Là (18,9%) [19], tác giả Hồ Phương Thúy với 12% [25], tác giả Lưu Thị Hạnh với 22,2% [12]. Như vậy, để có được thông tin chính xác, đầy đủ và phù hợp với từng người bệnh, tránh sự tiếp nhận thông tin từ những nguồn không đảm bảo như truyền đạt cho nhau, qua nguồn sách báo không chính thống... thì NVYT cần khuyên người dân nên đi khám sức khỏe định kỳ, tham gia vào các câu lạc bộ ĐTĐ nếu phát hiện ra mình bị mắc bệnh... để có được những kiến thức phục vụ cho quá trình theo dõi và điều trị lâu dài.
Về phân bố thói quen sử dụng thuốc lá, thuốc lào..theo Bảng 3.5 cho thấy, có 42 người bệnh (42,8%) không hút thuốc lá, thuốc lào…, 56 người (57,2%) có hút thuốc. Trong 56 người bệnh có hút thuốc, có 28 người hút từ 5-10 năm chiếm 50%, 27 người hút đã trên 10 năm chiếm 48,2%, chỉ có 1 người hút dưới 5 năm với 1,8%.
32 người hút từ 5-10 điếu/ngày chiếm 57,1%, 21 người hút dưới 5 điếu/ngày chiếm 37,5% và 03 người hút trên 10 điếu/ngày chiếm 5,4%. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương đồng với kết quả nghiên cứu của các tác giả: Tác giả Lưu Thị Hạnh cũng cho kết quả 30,4% đối tượng nghiên cứu có hút thuốc lá, nam 51,4% và nữa 8,8% [12], Anju Gautam và cộng sự năm 2014 đã tiến hành điều tra cắt ngang trên 244 người bệnh ĐTĐ cho thấy có 9,8% người bệnh có hút thuốc lá [41]. Nhiều nhà khoa học đã chỉ ra, thuốc lá là một yếu tố gây viêm tắc động mạch chi dưới, nhất là động mạch gần gốc. Ngay cả hút thuốc lá với liều lượng trung bình (15 điếu/
ngày) cũng làm tăng gấp đôi nguy cơ viêm tắc động mạch chi dưới. Người Việt Nam, đặc biệt là nam giới có thói quen hại sức khỏe đó là hút thuốc. Lối sống có hại này đáng báo động, không những góp phần làm kéo dài quá trình điều trị bệnh ĐTĐ của người bệnh mà còn góp phần gây ra nhiều bệnh khác kèm theo cho người bệnh.