BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ THÚY THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG NGỪA TÉ NGÃ CHO NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI MỘT SỐ KHO
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ THÚY
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG NGỪA
TÉ NGÃ CHO NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI MỘT SỐ KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
HÀ NAM NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SỸ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH, 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ THÚY
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH VỀ PHÒNG NGỪA
TÉ NGÃ CHO NGƯỜI BỆNH CỦA ĐIỀU DƯỠNG VIÊN TẠI MỘT SỐ KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
HÀ NAM NĂM 2019
Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS TRẦN VĂN LONG
NAM ĐỊNH, 2019
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho
người bệnh của Điều dưỡng viên tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019 (2) Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của Điều dưỡng viên trên địa bàn nghiên cứu sau can thiệp
Phương pháp: Nghiên cứu can thiệp trước sau trên đối tượng là 47 ĐDV của 4
khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình, Nội tim mạch, Nội thần kinh
- cơ - xương khớp bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam bằng chương trình can thiệp giáo dục về kiến thức, thực hành phòng ngừa té ngã của điều dưỡng viên Đánh giá thông qua phỏng vấn và quan sát trực tiếp tại 3 thời điểm: trước can thiệp, ngay sau can thiệp
và sau can thiệp 1 tháng Kết quả đánh giá đạt khi điểm lý thuyết từ 17 điểm trở lên (trong tổng số 33 điểm tối đa), điểm thực hành từ 3 điểm trở lên (trong tổng số 5 điểm tối đa) Các dữ liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm SPSS 16.0 với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05
Kết quả: Trước can thiệp, kiến thức và thực hành về phòng ngừa té ngã của
ĐDV đa số ở mức không đạt (61,7% và 82,9%) Sau can thiệp giáo dục, điểm kiến thức, thực hành về phòng ngừa nguy cơ té ngã đều tăng, có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp (p< 0,001) Điểm kiến thức trước can thiệp là 15,85 ± 3,94 tăng lên 21,02 ± 4,08 sau can thiệp và 21,36 ± 4,03 sau can thiệp 1 tháng Điểm thực hành trước can thiệp là 2,69 ± 0,24 tăng lên 3,74 ± 0,46 sau can thiệp và 3,47 ± 0,53 sau can thiệp 1 tháng
Kết luận: Chương trình can thiệp giáo dục nâng cao kiến thức, thực hành về
phòng ngừa té ngã cho điều dưỡng bước đầu đã cho thấy có hiệu quả
Khuyến nghị: Cần triển khai mô hình lớp tập huấn phòng ngừa té ngã cho
điều dưỡng với chương trình đào tạo tác động lên yếu tố nhận thức và hành vi để thay đổi kiến thức, thực hành phòng ngừa người bệnh té ngã trong bệnh viện
Từ khóa: Điều dưỡng, kiến thức, thực hành, phòng ngừa té ngã
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu,
phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học cùng các thầy, cô Trường Đại học Điều dưỡng
Nam Định đã giảng dạy, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập
Đặc biệt, với lòng biết ơn sâu sắc tôi xin gửi tới Thầy hướng dẫn của mình là
TS Trần Văn Long đã chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, các Phòng chức năng và các
Khoa của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình thu thập số liệu để hoàn thành luận văn đúng tiến độ
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến bạn bè, đồng nghiệp và người thân
trong gia đình đã thường xuyên động viên, khích lệ và tạo điều kiện để tôi học tập
nghiên cứu trong suốt khóa học vừa qua
Xin trân trọng cảm ơn!
Nam Định, ngày 29 tháng 8 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi là học viên lớp Cao học khóa 4, chuyên ngành Điều dưỡng, Trường Đại
học Điều dưỡng Nam Định xin cam đoan:
- Đây là luận văn do chính tôi trực tiếp thực hiện nghiên cứu dưới sự hướng
dẫn của thầy giáo
- Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã được
công bố ở Việt Nam
- Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và
khách quan Đã được sự đồng ý và xác nhận của cơ sở nơi mà tôi thực hiện việc thu
thập số liệu
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Nam Định, ngày 29 tháng 8 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thúy
Trang 6MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ ……… 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU……… 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 4
1.1 Các khái niệm cơ bản ……… 4
1.2 Té ngã và an toàn người bệnh trong chính sách y tế….……… 8
1.3 Khái quát về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện trên Thế giới và tại Việt Nam… 12
1.4 Một số nghiên cứu về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện 15
1.5 Học thuyết điều dưỡng áp dụng cho đề tài……… 19
1.6 Vài nét về tỉnh Hà Nam và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam……… 22
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ……… 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu ……… 26
2.4 Cỡ mẫu ……… ……… 27
2.5 Phương pháp chọn mẫu ……… 27
2.6 Phương pháp thu thập số liệu ……… 28
2.7 Các biến số nghiên cứu ……… 33
2.8 Các khái niệm, thước đo và tiêu chuẩn đánh giá 34
2.9 Phương pháp phân tích số liệu ……… 35
2.10 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu ……… 35
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục …… 36
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU……… 37
3.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu……… 37
3.2 Thực trạng kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của ĐDV … 41
Trang 73.3 Kết quả hoạt động can thiệp ……… 46
3.4 Sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của ĐDV sau can thiệp giáo dục 47
Chương 4 BÀN LUẬN……… 51
4.1 Một số thông tin chung về đối tượng nghiên cứu……… 51
4.2 Thực trạng kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của ĐDV … 53
4.3 Sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của ĐDV sau can thiệp giáo dục 56
4.4 Điểm mạnh và điểm yếu của nghiên cứu 61
KẾT LUẬN 62
KHUYẾN NGHỊ 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
AHRQ Agency for Healthcare Research and Quality (Tổ chức
Nghiên cứu xây dựng Chính sách Y tế và Chất lượng Hoa Kỳ ATNB An toàn người bệnh
ASEAN Association of South East Asian Nations
(Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á) ĐDV Điều dưỡng viên
FPTK Fall Prevention Tool Kit (Bộ công cụ phòng té ngã)
HIT Health Information Technology
(Công nghệ thông tin trong lĩnh vực Y tế ICN International Council of Nurses (Hội đồng điều dưỡng quốc tế) IPF Interdisciplinary Falls Prevention Program
(Chương trình phòng chống té ngã liên ngành) MFS Morse Falls Scale (Thang đo mức độ té ngã Morse)
NB Người bệnh
NN Người nhà người bệnh
NVYT Nhân viên y tế
QI Quality Improvement (Cải thiện chất lượng)
WAPS World Alliance for Patient Safety
(Liên minh thế giới vì sự an toàn người bệnh) WHO World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Tỷ lệ điều dưỡng viên theo tuổi và giới tính……… 37 Bảng 3.2 Trình độ chuyên môn hiện tại và loại hình đào tạo của đối tượng… 38 Bảng 3.3 Thâm niên công tác của đối tượng……… 38 Bảng 3.4 Số người bệnh trung bình ĐDV chăm sóc trong 1 ngày………… 39 Bảng 3.5 Xếp loại điểm kiến thức của ĐDV về về phòng ngừa té ngã trước
Bảng 3.6 Điểm trung bình thực hành trước can thiệp ……… 42
Bảng 3.7 Xếp loại điểm thực hành của ĐDV về về phòng ngừa té ngã trước
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng
với kiến thức phòng ngừa té ngã trước can thiệp……… 43
Bảng 3.9 Mối liên quan giữa một số đặc điểm chuyên môn của điều dưỡng
với kiến thức phòng ngừa té ngã trước can thiệp……… 44
Bảng 3.10 Mối liên quan giữa một số đặc điểm nhân khẩu học của điều dưỡng
với tuân thủ đánh giá nguy cơ té ngã trước can thiệp……… 45
Bảng 3.11 Xếp loại điểm kiến thức của ĐDV về về phòng ngừa té ngã sau can
Bảng 3.12 Kết quả đánh giá xếp loại kiến thức của ĐDV về phòng ngừa té
ngã trước và sau can thiệp……… 48
Bảng 3.13 Kết quả đánh giá sự thay đổi kiến thức của ĐDV về phòng ngừa té
ngã trước và sau can thiệp……… 48
Bảng 3.14 Xếp loại điểm thực hành của ĐDV về phòng ngừa té ngã sau
Trang 10Bảng 3.15 Kết quả đánh giá xếp loại thực hành của ĐDV về phòng ngừa té
ngã trước và sau can thiệp……… 49
Bảng 3.16 Kết quả đánh giá sự thay đổi thực hành của ĐDV về phòng ngừa té
ngã trước và sau can thiệp……… 50
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 3.1 Khoa công tác của điều dưỡng viên……… 37
Biểu đồ 3.2 Học về phòng ngừa té ngã trong thời gian học tập ở trường y… 39
Biểu đồ 3.3 Cập nhật kiến thức về phòng ngừa té ngã……… 40
Biểu đồ 3.4 Hình thức cập nhật kiến thức về phòng ngừa té ngã……… 40
Biểu đồ 3.5 Nhu cầu tập huấn về phòng ngừa té ngã……… 41
Biểu đồ 3.6 Đánh giá nguy cơ té ngã trước can thiệp… ……… 42
Trang 13
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, những thành tựu của y học trong việc chẩn đoán, điều trị đã giúp phát hiện sớm và điều trị thành công cho nhiều người mắc các bệnh nan y mà trước đây không có khả năng cứu chữa, mang lại cuộc sống và hạnh phúc cho nhiều người và nhiều gia đình Tuy nhiên, theo các chuyên gia y tế thách thức hàng đầu trong lĩnh vực y tế hiện nay là bảo đảm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn cho người bệnh Các chuyên gia y tế đã nhận ra một hiện thực là bệnh viện không phải là nơi an toàn cho người bệnh như mong muốn và mâu thuẫn với chính
sứ mệnh của nó là bảo vệ sức khỏe và tính mạng của con người [13] Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng đó là những sự cố không mong muốn tại các cơ sở khám chữa bệnh
Tổ chức Y tế Thế giới coi những sự cố không mong muốn là một thách thức đối với chất lượng chăm sóc người bệnh, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến đau đớn cho người bệnh, gây tổn thất về tài chính và chi phí y tế Đồng thời khẳng định việc thúc đẩy an toàn người bệnh là nguyên tắc cơ bản của tất cả các hệ thống y tế trên toàn thế giới [53]
Té ngã là một trong sáu sự cố y khoa được phân loại dựa vào đặc điểm chuyên môn theo Hiệp hội an toàn người bệnh Thế giới Mỗi năm có khoảng 37.3 triệu ca té ngã cần đến sự chăm sóc y tế, dẫn đến 646.000 ca tử vong do té ngã trên toàn cầu Té ngã là nguyên nhân đứng hàng thứ hai gây tử vong do thương tích không chủ ý sau tai nạn giao thông đường bộ và thường gặp ở những người từ 65 tuổi trở lên [56] Mặc dù té ngã thường gặp trong sinh hoạt tại cộng đồng nhưng tại các cơ sở y tế việc phòng chống té ngã cho người bệnh là hoạt động không thể thiếu Điều dưỡng viên với đặc thù nghề nghiệp của mình đóng vai trò hết sức quan trọng trong công tác phòng té ngã cho người bệnh
Tại Việt Nam hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ về số trường hợp té ngã Nhưng theo ước tính mỗi năm có hàng triệu ca té ngã trong đó bao gồm té ngã tại các cơ sở y tế [31] Điều 7 Thông tư số 19/2013/TT-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện quy định
về triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế Phòng
Trang 14ngừa người bệnh bị ngã là một trong những nội dung khi thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế [11]
Để có được số liệu cụ thể về kiến thức, thực hành phòng ngừa té ngã cho người bệnh cũng như cung cấp bằng chứng về hoạt động đảm bảo an toàn người
bệnh của điều dưỡng viên, chúng tôi thực hiện đề tài: “Thay đổi kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của Điều dưỡng viên tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019” với 2 mục tiêu:
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của Điều dưỡng viên tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam năm 2019
2 Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành về phòng ngừa té ngã cho người bệnh của Điều dưỡng viên trên địa bàn nghiên cứu sau can thiệp
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về té ngã, nguy cơ té ngã và phòng ngừa té ngã
1.1.1.1 Khái niệm về té ngã
Theo Kellogg Group (1987) đưa ra khái niệm “té ngã là sự việc mà một người không chủ ý (vô tình) nằm xuống mặt đất hoặc cấp độ thấp hơn và là hậu quả của một lực tác động mạnh, mất ý thức đột ngột như trong một cơn đột quỵ, động kinh” Buchner và cộng sự (1993): “ té ngã là sự không chủ ý nằm xuống hành lang, sàn nhà và những vị trí thấp khác không bao gồm đồ nội thất, tường nhà và những
đồ gia dụng khác”
Viện Thông tin Y tế Canada (2002): “té ngã là sự thay đổi tư thế không chủ ý
mà kết quả là cơ thể nằm xuống nền nhà hoặc hành lang”
Tideiksaar (2002): “té ngã là bất kỳ biến cố mà một người vô tình hay cố ý nằm xuống nền nhà hoặc một vị trí thấp hơn như ghế tựa, nhà vệ sinh hay giường ngủ” [24]
Tổ chức Y tế thế giới (2018) đưa ra khái niệm: “ té ngã là một biến cố dẫn đến việc một người không chủ ý nằm xuống mặt đất hoặc sàn nhà hay một vị trí thấp khác” [56] Đây là khái niệm mang tính tổng quát nhất so với những khái niệm trên
Tuổi tác là một trong những yếu tố nguy cơ chính cho việc té ngã Người già
có nguy cơ cao bị những chấn thương nghiêm trọng hoặc tử vong phát sinh do ngã
và nguy cơ tăng theo tuổi Tại Hoa Kỳ, có từ 20 - 30% người già phải chịu các chấn thương từ trung bình đến nặng như vết bầm tím, gãy xương hông hoặc chấn thương đầu Nguyên nhân có thể do những thay đổi về thể chất, cảm giác và nhận thức liên quan đến lão hóa, kết hợp với sự không thích nghi với môi trường ở người già
Trang 17Một nhóm nguy cơ cao khác là trẻ em, thời thơ ấu xảy ra té ngã phần lớn là
do giai đoạn đang phát triển của chúng, sự tò mò bẩm sinh trong môi trường xung quanh và mức độ độc lập ngày càng tăng cùng với các hành vi thiếu kiểm soát thường làm tăng ‘nguy cơ mắc bệnh” Mặc dù việc giám sát của người lớn không đầy đủ là một yếu tố rủi ro thường được đề cập đến, nhưng các trường hợp té ngã ở trẻ em thường liên quan đến tình trạng nghèo đói, làm cha mẹ đơn thân và môi trường đặc biệt nguy hiểm
+ Giới tính
Trên tất cả các nhóm tuổi và khu vực, cả hai giới đều có nguy cơ bị té ngã Ở một số quốc gia, tỷ lệ nam giới tử vong do ngã cao hơn nữ giới Phụ nữ lớn tuổi và trẻ nhỏ đặc biệt dễ bị té ngã và tăng mức độ nghiêm trọng của chấn thương Trên toàn thế giới, nam giới luôn duy trì tỷ lệ tử vong và số năm cuộc sống bị mất đi do
té ngã cao hơn nữ giới Giải thích có thể về gánh nặng lớn hơn được thấy ở nam giới bao gồm mức độ rủi ro cao hơn, thực hiện các hành vi và mối nguy hiểm trong nghề nghiệp
- Các yếu tố nguy cơ có thể can thiệp, bao gồm:
+ Nghề nghiệp ở độ cao hoặc điều kiện làm việc nguy hiểm khác;
+ Sử dụng rượu bia hoặc các chất kích thích;
+ Các yếu tố kinh tế xã hội bao gồm nghèo đói, nhà ở quá đông đúc, làm cha
mẹ đơn thân, tuổi mẹ trẻ;
+ Tình trạng sức khỏe: bệnh thần kinh, tim mạch… ;
+ Tác dụng phụ của thuốc, không hoạt động thể lực và mất thăng bằng (ở người cao tuổi);
+ Khả năng di chuyển, nhận thức và thị lực kém, đặc biệt là những người sống trong viện dưỡng lão hoặc cơ sở chăm sóc mãn tính;
+ Môi trường không an toàn, đặc biệt là với những người thăng bằng kém và tầm nhìn hạn chế [56]
1.1.1.3 Phòng ngừa té ngã
Phòng ngừa nói chung, theo Từ điển bách khoa Việt Nam: “làm một cái gì
đó trước khi sự việc, hiện tượng diễn ra nhằm ngăn chặn không để xảy ra hậu quả”
Trang 18[15] Luận điểm này thường được áp dụng đối với các hiện tượng xấu, phức tạp, ảnh hưởng tới cuộc sống con người và xã hội Như vậy có thể suy rộng ra phòng ngừa té ngã cho người bệnh của điều dưỡng viên là các hoạt động tác động lên người bệnh của người điều dưỡng nhằm mục đích ngăn chặn không để xảy ra té ngã khi người bệnh điều trị tại cơ sở y tế
1.1.2 Khái niệm về điều dưỡng, kiến thức và thực hành của người điều dưỡng
1.1.2.1 Khái niệm về điều dưỡng
Điều dưỡng bao gồm các hoạt động chăm sóc tự chủ và kết hợp của các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, có bệnh hoặc khỏe mạnh ở trong tất cả các cơ sở y tế Điều dưỡng giúp tăng cường sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và chăm sóc người bệnh, người tàn tật và chăm sóc cuối đời Tham gia vận động chính sách, thúc đẩy môi trường an toàn, nghiên cứu, định hình chính sách y tế, quản lý hệ thống y tế, giáo dục sức khỏe cũng là những vai trò quan trọng của điều dưỡng [37]
1.1.2.2 Khái niệm về điều dưỡng viên
Điều dưỡng viên là người đã hoàn thành một chương trình giáo dục điều dưỡng cơ bản, tổng quát và được ủy quyền bởi cơ quan quản lý thích hợp để thực hành điều dưỡng tại quốc gia của mình Giáo dục điều dưỡng cơ bản là một chương trình nghiên cứu được công nhận chính thức cung cấp nền tảng rộng rãi và vững chắc về khoa học hành vi, đời sống và kỹ năng thực hành điều dưỡng nói chung, cho vai trò định hướng và giáo dục sau cơ bản của chuyên ngành điều dưỡng hoặc thực hành nâng cao [37]
1.1.2.3 Kiến thức và thực hành của người điều dưỡng
- Kiến thức là sự nhận thức hoặc thành thạo có được từ kinh nghiệm, thông tin về sự vật, hiện tượng Nó là tập hợp sự hiểu biết về lý thuyết và thực hành về một lĩnh vực của con người [39] Kiến thức thường được tích lũy qua học tập, qua kinh nghiệm sống Kiến thức được cung cấp bởi các giáo viên, cha mẹ, bạn bè, sách
vở, báo chí… và kiến thức của mỗi người được tích lũy trong suốt cuộc đời [14] Tập hợp những kiến thức đã được hệ thống hóa gọi là tri thức, có 2 hệ thống tri thức
là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học [23]:
Trang 19+ Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế Tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định và là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học
+ Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học Tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động
xã hội, trong tự nhiên Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành
và bộ môn khoa học như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học,…
Như vậy, kiến thức điều dưỡng là tập hợp sự hiểu biết lý thuyết về lĩnh vực điều dưỡng Kiến thức điều dưỡng được tích lũy qua quá trình học tập chuyên nghiệp của sinh viên điều dưỡng tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo về chuyên ngành điều dưỡng cũng như quá trình công tác của người điều dưỡng viên sau này Kiến thức điều dưỡng vừa là tri thức kinh nghiệm, vừa là tri thức khoa học của người điều dưỡng
- Thực hành điều dưỡng là ứng dụng kiến thức, kỹ năng, thái độ trong việc giảm bớt, hỗ trợ hoặc nâng cao phản ứng của cá nhân, cộng đồng đối với các vấn đề sức khỏe hiện tại hay tiềm tàng Nó tập trung vào việc thúc đẩy, bảo vệ sức khỏe, phòng ngừa thương tích hoặc bệnh tật và chăm sóc người bệnh, người tàn tật để xác định nhu cầu điều dưỡng trong duy trì, tối ưu hóa sức khỏe hay chăm sóc giảm nhẹ lúc cuối đời [48]
- Có nhiều phương pháp để đánh giá kiến thức và thực hành điều dưỡng Việc lựa chọn phương pháp đánh giá phụ thuộc vào từng chủ đề và lĩnh vực cụ thể Đối với đánh giá kiến thức điều dưỡng, hiện nay người ta thường xây dựng những
bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điền, tốt nhất là sử dụng bộ câu hỏi được xây dựng bởi những tổ chức, những nhà khoa học có uy tín và đã chứng minh tính hiệu quả, được ứng dụng rộng rãi Còn đối với đánh giá thực hành điều dưỡng, bảng kiểm quan sát được dùng như là một phương pháp phổ biến
Trang 201.2 Té ngã và an toàn người bệnh trong chính sách y tế
1.2.1 Thế giới
Những năm gần đây an toàn người bệnh luôn là một trong những mối quan
tâm hàng đầu trong chính sách y tế trên phạm vi toàn thế giới nói chung và mỗi quốc gia nói riêng Đã có ba hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh được tổ chức, quy tụ các Bộ trưởng Bộ Y tế của các quốc gia thành viên của WHO, các chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách y tế
- Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ nhất (2016) tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh Tổng giám đốc WHO, các nhà lãnh đạo y tế của các quốc gia thành viên và các chuyên gia với quan điểm đồng thuận cao ủng hộ phong trào an toàn người bệnh toàn cầu cũng như hợp tác quốc tế ở tất cả các cấp
và đưa ra 5 điểm hành động cụ thể: (1) Cam kết chính trị và lãnh đạo; (2) Các chính sách khuyến khích và cho phép cải thiện an toàn cho bệnh nhân; (3) Thay đổi mô hình: cung cấp một không gian để mọi người báo cáo về an toàn; (4) Đo lường hiệu quả: điểm chuẩn, phát triển các chỉ số và hệ thống dữ liệu; (5) Phong trào an toàn cho bệnh nhân: kêu gọi hành động khẩn cấp của các chính phủ [54]
- Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ hai (2017) tại Bonn, Cộng hòa Liên bang Đức đã thảo luận và định hướng chính sách cho 6 vấn đề nhằm thúc đẩy an toàn người bệnh, cụ thể là: (1) Kinh tế và hiệu quả của sự an toàn người bệnh; (2) An toàn người bệnh toàn cầu: Quan điểm từ các quốc gia thu nhập thấp và trung bình; (3) An toàn người bệnh trong kỷ nguyên số; (4) Phòng ngừa và kiểm soát các bệnh truyền nhiễm; (5) Tăng tính an toàn trong chẩn đoán và điều trị -
bộ công cụ lượng giá; (6) An toàn người bệnh trong dùng thuốc [55]
- Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ ba (2018) tại Tokyo, Nhật Bản thể hiện sự lo ngại về sự cải thiện tiến trình đảm bảo an toàn người bệnh bất chấp những nỗ lực của các quốc gia và đưa ra Tuyên bố Tokyo với những cam kết mạnh mẽ hơn để đẩy nhanh tiến độ hướng tới cải thiện an toàn người bệnh toàn cầu, cụ thể là: (1) Cam kết mạnh mẽ trong việc duy trì động lực chính trị về “Hành động toàn cầu về an toàn người bênh” tại các quốc gia trên toàn thế giới, làm việc cụ thể với từng quốc gia, bao gồm cả các nước có thu nhập thấp
Trang 21và trung bình nhằm đẩy mạnh khả năng thông qua hợp tác và học hỏi, ưu tiên an toàn người bệnh trong chính sách và các chương trình y tế tiến tới mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; (2) Cam kết hỗ trợ và thúc đẩy các cơ sở khám chữa bệnh công lập và tư nhân, từ tuyến chăm sóc y tế ban đầu đến tuyến cao nhất nhằm thực hiện cải tiến trong hệ thống và thực hành nâng cao an toàn người bệnh, hướng tới đạt được các mục tiêu bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân và mục tiêu phát triển bền vững của liên hợp quốc; (3) Cam kết xây dựng năng lực lãnh đạo và quản
lý nhằm hỗ trợ mục tiêu chăm sóc lấy người bệnh làm trung tâm, thực hiện và đẩy mạnh hệ thống và các quy trình an toàn người bênh, tạo một môi trường an toàn và minh bạch, khích lệ đồng đều, giáo dục và đào tạo đội ngũ nhân viên y tế về an toàn người bệnh, khuyến khích sự tham gia của bệnh nhân và gia đình, tăng hiệu quả và giảm thiểu nguy cơ rủi ro qua việc chia sẻ kiến thức, phương pháp thực hành tốt nhất và cách điều trị tối ưu; (4) Phối hợp cùng người bệnh và gia đình người bệnh, các tổ chức quốc tế và các bên liên quan nhằm tăng tính rõ ràng, minh bạch và làm việc hướng tới hành động toàn cầu về an toàn người bệnh, trong đó lấy ngày 17 tháng 9 hàng năm là ngày An toàn người bệnh thế giới [57]
Luật khám bệnh, chữa bệnh (2009) tại điều 7 quy định người bệnh có quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế, trong đó: (1) Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh; (2) Được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật Những quy định trên thể hiện sự quan tâm lớn của những nhà hoạch định chính sách nhằm đảm bảo sự an toàn cho người bệnh [19]
Trang 22Để cụ thể hóa những quy định về an toàn người bệnh, ngày 26/01/2011 Bộ Y
tế đã ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Điều 14 của Thông tư quy định “ Bảo đảm
an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh” bao gồm ba nội dung: (1) Bệnh viện xây dựng và thực hiện những quy định cụ thể
về an toàn cho người bệnh phù hợp với mô hình bệnh tật của từng chuyên khoa; (2) Điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện các biện pháp phòng ngừa nhiễm khuẩn bệnh viện, bảo đảm an toàn, tránh nhầm lẫn cho người bệnh trong việc dùng thuốc, phẫu thuật và thủ thuật; (3) Bệnh viện thiết lập hệ thống thu thập và báo cáo các sự
cố, nhầm lẫn, sai sót chuyên môn kỹ thuật tại các khoa và toàn bệnh viện Định kỳ phân tích, báo cáo các sự cố, sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc và có biện pháp phòng ngừa hiệu quả [8]
Cải tiến chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành y tế trong giai đoạn hiện nay trong đó yếu tố an toàn người bệnh là tiêu chí hàng đầu Thông tư 19/2013/TT-BYT của Bộ Y tế về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện tại Điều 7 có quy định về triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế, các hoạt động bao gồm: (1) Thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế: Xác định chính xác người bệnh; An toàn phẫu thuật, thủ thuật; An toàn trong sử dụng thuốc; Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; Phòng ngừa rủi ro, sai sót do trao đổi thông tin sai lệch giữa các nhân viên y tế; Phòng ngừa người bệnh bị ngã; An toàn trong sử dụng trang thiết bị
y tế; (2) Bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người bệnh, khách thăm và nhân viên y tế; tránh tai nạn, rủi ro, phơi nhiễm nghề nghiệp; (3) Thiết lập hệ thống thu thập, báo cáo sai sót chuyên môn, sự cố y khoa tại các khoa lâm sàng và toàn bệnh viện, bao gồm báo cáo bắt buộc và tự nguyện; (4) Xây dựng quy trình đánh giá sai sót chuyên môn, sự cố y khoa để xác định nguyên nhân gốc, nguyên nhân có tính hệ thống và nguyên nhân chủ quan của nhân viên y tế; đánh giá các rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra; (5) Xử lý sai sót chuyên môn, sự cố y khoa và có các hành động khắc
Trang 23phục đối với nguyên nhân gốc, nguyên nhân có tính hệ thống và nguyên nhân chủ quan để giảm thiểu sai sót, sự cố và phòng ngừa rủi ro [11]
Để triển khai thực hiện Thông tư 19/2013/TT-BYT có hiệu quả Bộ Y tế đã ban hành Tài liệu an toàn người bệnh (2014) Tài liệu bao gồm có 6 nội dung: (1) Tổng quan về an toàn người bệnh; (2) Phòng ngừa sự cố y khoa trong việc xác định người bệnh và Cải thiện thông tin trong nhóm chăm sóc; (3) Phòng ngừa sai sót trong sử dụng thuốc; (4) Phòng ngừa sự cố y khoa trong phẫu thuật; (5) Phòng
và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; (6) Phòng ngừa sự cố y khoa trong chăm sóc
và sử dụng trang thiết bị vật tư y tế Tài liệu An toàn người bệnh nhằm cung cấp các kiến thức hiểu biết về tần suất các sai sót chuyên môn, sự cố y khoa, các nguyên nhân và các giải pháp để hạn chế các sai sót chuyên môn và sự cố y khoa tới mức thấp nhất có thể trong các cơ sở khám chữa bệnh để đảm bảo các dịch vụ chăm sóc sức khỏe an toàn hơn cho người bệnh Đồng thời tài liệu cũng giúp cán bộ y tế cập nhật những chủ trương, chính sách mới về an toàn người bệnh Trong những nội dung trên, vấn đề phòng ngừa té ngã cho người bệnh được đề cập đến ở nội dung thứ 6 [13]
Thực hiện những cam kết tại Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về an toàn người bệnh lần thứ ba (2018) tại Tokyo, Nhật Bản Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 43/2018/TT-BYT hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Thông tư quy định việc nhận diện, báo cáo, phân tích, phản hồi và xử lý
sự cố y khoa cũng như trách nhiệm thực hiện của CBYT và các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong phòng ngừa sự cố y khoa Tại phụ lục II của Thông tư, người bệnh
bị tử vong hoặc di chứng nghiêm trọng do té ngã trong lúc được chăm sóc tại cơ sở
y tế thuộc nhóm sự cố do môi trường [12]
An toàn người bệnh cũng là một tiêu chí trong đánh giá năng lực của người điều dưỡng Tiêu chuẩn 5 trong bộ Chuẩn năng lực cơ bản của Điều dưỡng Việt Nam về “Tạo sự an toàn, thoải mái và kín đáo cho người bệnh” quy định điều dưỡng viên cần: (1) Thực hiện các biện pháp an toàn trong chăm sóc người bệnh; (2) Tạo môi trường chăm sóc thoải mái trong khi chăm sóc cho người bệnh; (3) Bảo đảm sự kín đáo trong khi chăm sóc người bệnh [9]
Trang 241.3 Khái quát về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Trên thế giới
Tại Hoa Kỳ mỗi năm có khoảng 700.000 đến 1.000.000 người bị ngã trong khi đang nằm viện [31] Hậu quả là người bệnh có thể bị gãy xương, tổn thương phần mềm hoặc chày máu nội tạng Phòng ngừa té ngã có liên quan đến việc quản
lý các rủi ro tiềm ẩn của người bệnh như các vấn đề với việc đi bộ và chuyển viện, tác dụng phụ của thuốc, nhu cầu vệ sinh thường xuyên cũng như tối ưu hóa thiết kế môi trường bệnh viện Những biện pháp này không được sử dụng một cách có hệ thống trong tất cả các bệnh viện Việc phòng ngừa té ngã tại bệnh viện đòi hỏi sự phối hợp liên ngành trong chăm sóc người bệnh Một số phần của chăm sóc phòng ngừa té ngã cần được làm thường xuyên, các phần còn lại phải được điều chỉnh theo
hồ sơ rủi ro cụ thể của từng người bệnh Để thực hiện được sự phối hợp này, phòng ngừa chất lượng cao đòi hỏi sự tổ chức và hoạt động thực hành theo nhóm, khả năng giao tiếp cũng như chuyên môn cá nhân của cán bộ y tế Hoạt động phòng ngừa té ngã cũng cần được cân bằng với các nhu cầu khác như giảm thiểu sự hạn chế và duy trì khả năng vận động của người bệnh nhằm cung cấp những chăm sóc tốt nhất cho họ [25]
Trong hai năm 2016, 2017 theo một thống kê tại Anh có hơn 250.000 người bệnh bị té ngã trong các bệnh viện đa khoa, nhà cộng đồng và bệnh viện tâm thần Các trường hợp té ngã được báo cáo trong các sự cố về an toàn người bệnh và gây những hậu quả: (1) hơn 2500 ca vỡ xương chậu; (2) Người bệnh mất tự tin và phục hồi chậm hơn, ngay cả khi tác động vật lý do ngã là tối thiểu; (3) Gây lo lắng cho gia đình và nhân viên y tế; (4) Kiện tụng làm giảm uy tín, niềm tin vào bệnh viện; (5) Gây tổn thất 630 triệu bảng mỗi năm Thống kê cũng chỉ ra rằng nguy cơ té ngã tăng cao ở những người bệnh già yếu, những người đang hồi phục sau chấn thương, đại phẫu hoặc những bệnh nhân bị mất nước, suy nhược Phần lớn các vụ té ngã xảy
ra ở người bệnh nội trú trong những ngày đầu nhập viện do môi trường xung quanh không quen thuộc Không phải tất cả các trường hợp té ngã đều có thể phòng ngừa được, tuy nhiên việc phòng ngừa bằng những chỉ dẫn cụ thể có thể ngăn chặn được
Trang 2520 - 30% số trường hợp té ngã trong bệnh viện Phòng ngừa té ngã phụ thuộc vào việc đánh giá kịp thời các nguy cơ tiềm ẩn, các phản ứng lâm sàng đòi hỏi sự phối hợp nhóm trong chăm sóc và mỗi người bệnh có những can thiệp riêng như luôn có
sự hỗ trợ người bệnh khi đi bộ, xây dựng văn hóa báo cáo sự cố… Trên thực tế việc
áp dụng phòng ngừa té ngã cho người bệnh là rất khác nhau giữa các bệnh viện, bao gồm cả việc thiếu quan tâm đến các đánh giá về thị lực, hạ huyết áp ở tư thế đứng ở người bệnh [49]
Tại Australia ghi nhận 34.000 trường hợp người bệnh bị té ngã khi đang điều trị trong bệnh viện trong hai năm 2015 và 2016, chiếm tỷ lệ 3,2/1000 trong đó các bệnh viện công có tỷ lệ té ngã cao hơn các bệnh viện tư nhân (4,6/1000 so với 1,3/1000) Báo cáo cũng chỉ ra rằng té ngã trong bệnh viện có căn nguyên từ những tác dụng phụ khi người bệnh điều trị tại bệnh viện và trong một số trường hợp té ngã (18,0%) không xác định rõ được vị trí người bệnh ngã [27]
Malaysia là quốc gia tiên phong trong khu vực Đông Nam Á (2006) tham gia Liên minh thế giới vì an toàn người bệnh (WAPS) Với mục tiêu “An toàn cho tất
cả mọi người! Chúng ta hãy làm việc cùng nhau trên tinh thần học hỏi để làm cho
hệ thống chăm sóc sức khỏe trở nên an toàn hơn trong năm 2013 và những năm sau nữa Thành công không phải không bao giờ phạm sai lầm nhưng là không bao giờ phạm sai lầm lần thứ hai” Chương trình phòng ngừa té ngã cho người bệnh tại Malaysia được thực hiện tại tất cả các bệnh viện bao gồm giúp đỡ bảo vệ người bệnh, du khách và nhân viên Tất cả các nhân viên bệnh viện phải được đào tạo phòng ngừa té ngã, đặc biệt là điều dưỡng viên phải thường xuyên đánh giá mức độ rủi ro té ngã để đảm bảo người bệnh được an toàn trong suốt quá trình điều trị tại bệnh viện [44]
1.3.2 Tại Việt Nam
Năm 2009, Quốc hội Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật khám bệnh, chữa bệnh trong đó tại điều 7 quy định người bệnh được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật [19] Năm 2011, Bộ Y tế ban hành Thông tư 07/2011/TT-BYT Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, trong đó có quy định
Trang 26“Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh” [8] Đến năm 2013, Bộ Y tế ban hành Thông tư 19/2013/TT-BYT về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện có quy định về triển khai các biện pháp bảo đảm an toàn người bệnh và nhân viên y tế, thiết lập chương trình và xây dựng các quy định cụ thể bảo đảm an toàn người bệnh
và nhân viên y tế trong đó có nội dung phòng ngừa người bệnh bị ngã [11]
Một vấn đề mà ngành y tế nước ta đang phải đối mặt là tình trạng quá tải tại bệnh viện Nghiên cứu ở một số bệnh viện tuyến trung ương chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến quá tải như tình trạng vượt tuyến còn phổ biến, thiếu hiệu quả trong hoạt động của hệ thống phân tuyến kỹ thuật, tâm lý người bệnh Sự quá tải làm cho bệnh viện hoạt động vượt công suất thiết kế từ các chỉ số về giường bệnh đến tương quan giữa số cán bộ y tế với số lượng bệnh nhân [21] Hệ quả tất yếu của sự quá tải người bệnh là cán bộ y tế phải chịu một cường độ lao động cao và cũng làm phát sinh những sự cố y khoa không mong muốn Chương trình hành động Quốc gia về tăng cường công tác Điều dưỡng hộ sinh giai đoạn từ nay đến năm 2020 cũng ghi nhận “Tình trạng quá tải người bệnh và quá tải công việc làm cho điều dưỡng viên không có nhiều thời gian giao tiếp với người bệnh, tăng nguy cơ sai sót chuyên môn” [10]
Tháng 6/2016, Tổ chức Nghiên cứu xây dựng Chính sách Y tế và Chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) chính thức công bố Việt Nam là quốc gia thứ 66 trên thế giới đã nghiên cứu về văn hóa ATNB và tiếng Việt là phiên bản thứ 31 của Bảng câu hỏi khảo sát văn hóa ATNB trong bệnh viện của tổ chức AHRQ Đây là kết quả của công trình nghiên cứu cấp thành phố của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh với chủ
đề “ Khảo sát thực trạng văn hóa an toàn người bệnh tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” do TS.BS Tăng Chí Thượng - Phó Giám đốc Sở Y tế làm chủ nhiệm đề tài cùng nhóm nghiên cứu thực hiện Nghiên cứu này không những có thể áp dụng cho các bệnh viện của thành phố Hồ Chí Minh mà có thể triển khai trên
cả nước [1]
Tại các bệnh viện ở nước ta hiện nay, an toàn người bệnh từng bước được đưa vào như là một trong những nội dung quan trọng nhất góp phần cải tiến chất
Trang 27lượng bệnh viện Tháng 5/2017, Bệnh viện Bạch Mai ban hành Quy định An toàn người bệnh trong Bệnh viện Bạch Mai theo Quyết định số 999/QĐ-BM trong đó mục 6 đề cập đến việc Phòng ngừa người bệnh bị ngã và các tai nạn thương tích khác trong bệnh viện [2] Đồng thời ban hành Quy trình quản lý ngã (QT.75.HT) trong dự án Nâng cao năng lực thực hành điều dưỡng 2017 [3]
Báo cáo về An toàn người bệnh trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân tim mạch tại Hội nghị tim mạch toàn quốc năm 2016 do Hội tim mạch học Quốc gia tổ chức đã ghi nhận những sự cố y khoa ảnh hưởng đến người bệnh: (1) Quên rút Introducer/sheath; (2) Nhầm hồ sơ bệnh án và người bệnh; (3) Nhầm lẫn thuốc; (4)
Xe tiêm không an toàn; (5) Té ngã trong bệnh viện Để đảm bảo an toàn trong chăm sóc người bệnh tim mạch, Hội nghị đưa ra 5 nhóm giải pháp bao gồm: (1) An toàn tiêm; (2) An toàn trong sử dụng thuốc; (3) Phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện; (4) An toàn trong thủ thuật, phẫu thuật; (5) Phòng ngừa người bệnh bị ngã Việc áp dụng công cụ 5S (Sẵn sàng, Sàng lọc, Sắp xếp, Sạch sẽ, Săn sóc) cho cán
bộ y tế và nhân viên bệnh viện cũng được đề cập đến như một cách tiếp cận mới trong quản lý, đề phòng rủi ro cho người bệnh [16]
1.4 Một số nghiên cứu về té ngã và phòng ngừa té ngã trong bệnh viện
1.4.1 Trên thế giới
Nghiên cứu quan sát của Renné Schwendimann và cộng sự từ năm 1999 đến năm 2003 tại một bệnh viện công có quy mô 300 giường bệnh ở thành phố Zurich, Thụy Sỹ về tác động của chương trình phòng ngừa té ngã liên ngành tới người bệnh ngã và chấn thương khi nằm viện Nghiên cứu đã sử dụng thiết kế khảo sát nối tiếp
để kiểm tra tỷ lệ ngã của người bệnh trước và sau khi thực hiện Chương trình phòng ngừa té ngã liên ngành (IPF), đối tượng nghiên cứu là người bệnh các khoa nội, lão khoa và khoa ngoại Kết quả trong 34.972 người bệnh nhập viện, có 3.842 vụ té ngã ảnh hưởng tới 2.512 người bệnh (7,2%) trong đó 66,4% không gây thương tích, 29,7% gây thương tích nhẹ và 3,9% dẫn đến chấn thương nặng [47]
Nghiên cứu quan sát của Sachiko Ohde và cộng sự trong 6 năm (2004-2010) tại Bệnh viện quốc tế St.Luke ở Tokyo, Nhật Bản về hiệu quả của hoạt động cải thiện chất lượng đa ngành (QI) trong phòng ngừa rủi ro té ngã, sự tuân thủ của nhân
Trang 28viên y tế là rất quan trọng Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự giảm đáng kể số lần
té ngã trong bệnh viện: 2,13 lần/1000 ngày điều trị nội trú năm 2004 so với 1,53/1000 ngày điều trị nội trú năm 2010 (p=0,039); có sự gia tăng việc tuân thủ sử dụng công cụ đánh giá rủi ro té ngã khi người bệnh nhập viện trong sáu tháng đầu năm: 91,5% năm 2007 tăng lên 97,6% năm 2010; Tỷ lệ tuân thủ của nhân viên trong việc thực hiện kế hoạch can thiệp phù hợp là 85,9% năm 2007 tăng lên 95,3% trong năm 2010 Nghiên cứu đưa ra kết luận: tỷ lệ té ngã của người bệnh trong bệnh viện giảm đáng kể và tăng sự tuân thủ của NVYT với chương trình phòng ngừa té ngã mới Cách tiếp cận QI có hiệu quả bao gồm sự giám sát chặt chẽ, khuyến khích
và giáo dục NVYT [50]
Trong một nghiên cứu đoàn hệ được thực hiện tại Bệnh viện Đại học Y Fukushima, Nhật Bản Đối tượng nghiên cứu bao gồm 9957 bệnh nhân nội trú nhập viện đồng ý tham gia nghiên cứu từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009 được theo dõi cho đến khi xuất viện Kết quả nghiên cứu: có 9470 đối tượng (95%) được theo dõi từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 9 năm 2009: số lượng người bệnh té ngã trong thời gian theo dõi là 230 (2,5%) và tỷ lệ té ngã là 3,28/100 ngày điều trị nội trú, thời gian trung bình từ khi nhập viện đến khi bị té ngã là 30,0 ngày Nghiên cứu chỉ ra việc xác định có nguy cơ té ngã ở người bệnh trong bệnh viện là rất quan trọng Hiện trạng, tiền sử té ngã của người bệnh là những thông tin quan trọng nhất cần được thu thập khi nhập viện Các kế hoạch chăm sóc cần được xem xét và làm
rõ việc phòng ngừa té ngã và người bệnh nhân nên được theo dõi cẩn thận khi được điều trị bằng thuốc an thần Bác sĩ và NVYT nên kiểm tra cẩn thận tiền sử và thuốc hiện tại của người bệnh [52]
Một nghiên cứu ngẫu nhiên theo cụm được thực hiện tại 4 bệnh viện ở Boston và Massachusetts, Hoa Kỳ năm 2009 về ứng dụng công nghệ thông tin trong
y tế (HIT) bằng cách sử dụng Thang đo té ngã Morse (MFS), Bộ công cụ phòng ngừa té ngã (FPTK) đánh giá rủi ro té ngã trên người bệnh, giám sát sự tuân thủ phòng ngừa té ngã trên người bệnh và NVYT Tại mỗi bệnh viện chọn ngẫu nhiên hai khoa, một khoa có can thiệp, khoa còn lại làm đối chứng để so sánh Có 10.264 người bệnh tham gia nghiên cứu với tổng số 48.250 ngày nằm viện Kết quả của
Trang 29nghiên cứu: Người bệnh trong các khoa đối chứng và can thiệp có điểm rủi ro té ngã tương tự khi nhập viện (49,8 và 48,6 trong khoảng 0-125; P = 0,74), không có
sự khác biệt về thời gian nằm viện và giới tính Tỷ lệ tuân thủ hoàn thành đánh giá MFS hàng ngày là 81% trong các khoa đối chứng và 94% trong các khoa can thiệp Các khoa can thiệp có ít bệnh nhân bị té ngã hơn ở các khoa đối chứng (67 so với 87) FPTK được phát hiện là đặc biệt hiệu quả với bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên với chênh lệch tỷ lệ té ngã/1000 ngày điều trị nội trú 2.08 (95% CI, 0,61-3,56), P = 0,003 Nghiên cứu đưa ra kết luận: can thiệp HIT nhằm mục tiêu cơ bản ngăn ngừa
té ngã ở người bệnh nhân cao tuổi khi nằm viện [45]
Nghiên cứu so sánh có can thiệp và kiểm soát về tác động của Chương trình phòng chống té ngã trong bệnh viện tại Singapore năm 2006 nhằm đánh giá kiến thức, thực hành về phòng chống té ngã của điều dưỡng viên trước và sau can thiệp
Có 641 điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu, cùng với 610 hồ sơ người bệnh nội trú tại bệnh viện có can thiệp và 510 hồ sơ tại bệnh viện đối chứng được chọn ngẫu nhiên để lấy tỷ lệ người bệnh té ngã năm 2006 so với năm 2004 Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm kiểm tra kiến thức trung bình sau sáu tháng tại bệnh viện can thiệp (10,3 ± 2,3) cao hơn đáng kể so với điểm số tại bệnh viện đối chứng (9,8 ± 1,8) với t [516] = -3,3; p < 0,01 Việc thực hiện chương trình phòng ngừa té ngã tại bệnh viện có can thiệp giúp giảm đáng kể tỷ lệ té ngã (từ 1,44 xuống còn 1,09/1.000 ngày điều trị nội trú, không có giảm tỷ lệ té ngã tại bệnh viện đối chứng Nghiên cứu ghi nhận tác động nhiều mặt của chương trình phòng ngừa té ngã có hiệu quả trong việc nâng cao kiến thức và thực hành của Điều dưỡng viên nhưng không có tác động đáng kể về mặt thống kê đối với việc giảm tỷ lệ ngã [42]
Trong một nghiên cứu mô tả tại Khoa Cấp cứu của một Trung tâm Y tế tại Michigan, Hoa Kỳ về độ cao của giường bệnh là yếu tố nguy cơ có thể dẫn đến té ngã trong bệnh viện Có 32 giường bệnh được theo dõi về chiều cao, số liệu được thu thập trong vòng một tuần, vào thời điểm khi không có mặt NVYT Kết quả: Số
đo chiều cao trung bình của NVYT vào cuối tuần cao hơn đáng kể so với các ngày trong tuần (26,01 inch so với 25,32 inch); chiều cao trung bình giường bệnh của người bệnh có cảnh báo té ngã là 26,43 inch, cao hơn đáng kể so với nhóm không
Trang 30có nguy cơ té ngã là 25,41 inch ( t = 2,473; p = 0,007) Nghiên cứu kết luận: nếu giường bệnh có thể được điều chỉnh bằng tay hoặc tự động thì điều dưỡng viên phải
hạ chiều cao của giường xuống vị trí thấp nhất sau khi hoàn thành các kỹ thuật can thiệp, hoạt động này cần được thực thi và thường xuyên theo dõi; giường thấp nên được sử dụng cho những người bệnh có nguy cơ bị ngã cao [36]
1.4.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu về té ngã và phòng ngừa té ngã cho người bệnh khi nằm viện Trong một số nghiên cứu, té ngã được đề cập đến như một sự cố y khoa và phòng chống té ngã được bao hàm trong nội dung của an toàn người bệnh
Nghiên cứu cắt ngang nhằm mô tả kiến thức, thực hành về an toàn người bệnh của điều dưỡng tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông năm 2016 được thực hiện trên
203 điều dưỡng Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt về
an toàn người bệnh (≥28/55 điểm) là 78,3% Tỷ lệ điều dưỡng thực hành an toàn người bệnh đạt chiếm 88,7%; Cụ thế, tỷ lệ thực hành đạt về xác định đúng người bệnh đạt 50,7%; Cải tiến thông tin chăm sóc và phòng ngừa sự cố trong sử dụng thuốc lần lượt 93,1% và 78,8%; Thực hành phòng ngừa sự cố trong phẫu thuật chiếm 80,3%; Kiểm soát nhiễm khuẩn 48,3%; Phòng ngừa người bệnh ngã 82,8% Nghiên cứu giúp cung cấp thông tin về 6 nhóm mục tiêu An toàn người bệnh nhằm
đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hướng tới nâng cao công tác quản lý chất lượng bệnh viện [20]
Nghiên cứu tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, trong 6 tháng đầu năm 2017 ghi nhận 13 sự cố/sai sót được báo cáo trong đó có 12 ca là sự
cố (92,3%) và 01 là sai sót (7,7%) Trong tổng số 13 sự cố/sai sót, số ca té ngã chiếm tỷ lệ 84,6% (11/13), tiếp đến là sự cố an toàn sử dụng thuốc 7,7 % (1/13) và
sự cố an toàn cơ sở vật chất trang thiết bị 7,7% (1/13) Về tần suất xảy ra sự cố/sai sót, thống kê của nghiên cứu cho thấy khoa Nội tiêu hóa có tần suất cao nhất với 5
sự cố/sai sót, các khoa Ngoại thần kinh, Ngoại tiêu hóa, Chấn thương chỉnh hình, Lão khoa, Nội hô hấp, Nội tim mạch, Gan - mật - tụy, Hồi sức tích cực xảy ra 01 sự cố/sai sót Các biện pháp phòng ngừa sự cố/sai sót được đưa ra gồm: (1) Phòng
Trang 31ngừa nguy cơ người bệnh bị té ngã: Xây dựng đề án phòng ngừa té ngã cho người bệnh; (2) An toàn liên quan vật tư, thiết bị: Cố định các thiết bị, vật tư y tế; (3) An toàn trong sử dụng thuốc: Tập huấn, nhắc nhở NVYT về Quy trình quản lý và sử dụng thuốc an toàn [5]
1.5 Học thuyết Điều dưỡng áp dụng cho đề tài
Trong nghiên cứu này chúng tôi áp dụng học thuyết về nâng cao sức khỏe của Nola J Pender [46]và học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura [28]
1.5.1 Học thuyết về nâng cao sức khỏe của Nola J Pender
Mục đích của mô hình là hỗ trợ các điều dưỡng viên trong việc tìm hiểu các yếu tố quyết định hành vi sức khỏe làm cơ sở cho tư vấn hành vi để thúc đẩy lối sống lành mạnh Cơ sở của mô hình nâng cao sức khỏe gồm 5 yếu tố cơ bản là của con người, môi trường, điều dưỡng, sức khỏe và bệnh tật:
Con người là một thực thể sinh học được hình thành một phần bởi môi
trường nhưng cũng tìm cách cải tạo một môi trường bằng tiềm năng vốn có và có được một cách đầy đủ nhất Do đó, mối quan hệ giữa con người và môi trường là có
đi có lại Đặc điểm cá nhân cũng như trải nghiệm cuộc sống hình thành các hành vi bao gồm cả hành vi sức khỏe
Môi trường là bối cảnh xã hội, văn hóa và thể chất mà trong đó diễn ra quá
trình của cuộc sống Môi trường có thể được điều chỉnh bởi cá nhân để tạo ra bối cảnh tích cực chỉ dẫn cho các hành vi tăng cường sức khỏe
Hình 1.1: Yếu tố cơ bản của mô hình nâng cao sức khỏe
Trang 32Điều dưỡng là sự hợp tác với các cá nhân, gia đình và cộng đồng để tạo điều
kiện thuận lợi nhất cho sức khỏe và hạnh phúc
Sức khỏe liên quan đến cá nhân được định nghĩa là sự hiện thực hóa tiềm
năng vốn có và có được của con người thông qua hành vi hướng đến mục tiêu có thẩm quyền tự chăm sóc và thỏa mãn mối quan hệ với người khác, thực hiện điều chỉnh khi cần thiết để duy trì cấu trúc toàn vẹn và hài hòa với môi trường xung quanh Sức khỏe là một phát triển kinh nghiệm cuộc sống
Bệnh tật là những sự kiện riêng biệt trong suốt thời gian vòng đời ngắn (cấp
tính) hoặc dài (mãn tính) có thể cản trở hoặc tạo điều kiện tiếp tục cho một nhiệm
vụ tìm kiếm sức khỏe
Từ 5 yếu tố cơ bản trên, mô hình tập trung vào 3 lĩnh vực thành phần: Đặc điểm và kinh nghiệm cá nhân; Nhận thức cụ thể và ảnh hưởng đến hành vi; Kết quả hành vi - hành vi tăng cường sức khỏe Trọng tâm của mô hình là 8 nhận thức có thể được đánh giá bởi điều dưỡng viên và là những điểm quan trọng cho can thiệp điều dưỡng: (1) Nhận thức về lợi ích của hành động: kết quả tích cực hoặc củng cố của thực hiện một hành vi sức khỏe; (2) Rào cản nhận thức về hành động: nhận thức
về các rào cản và chi phí cá nhân khi thực hiện một hành vi sức khỏe; (3) Nhận thức
về năng lực bản thân: đánh giá năng lực cá nhân để tổ chức và thực hiện hành vi sức khỏe cụ thể, tự tin thực hiện hành vi sức khỏe thành công; (4) Ảnh hưởng liên quan đến hoạt động: trạng thái cảm xúc chủ quan hoặc cảm xúc xảy ra trước, trong và sau một hành vi sức khỏe cụ thể; (5) Ảnh hưởng giữa các cá nhân (gia đình, đồng nghiệp): định mức hỗ trợ xã hội, các hành vi, niềm tin hoặc thái độ của những người khác có liên quan đến tham gia vào một hành vi sức khỏe cụ thể; (6) Ảnh hưởng tình huống (sự lựa chọn, đặc điểm nhu cầu, thẩm mỹ): nhận thức về khả năng tương thích của bối cảnh cuộc sống hoặc môi trường với việc tham gia vào một hành vi sức khỏe cụ thể; (7) Cam kết về một kế hoạch hành động: ý định thực hiện một hành vi sức khỏe cụ thể bao gồm cả việc xác định các chiến lược cụ thể để thực hiện thành công; (8) Nhu cầu và sở thích hiện tại: các hành vi thay thế xâm nhập vào ý thức như các khóa học thực hành có thể có trước khi xảy ra dự định của một hành vi sức khỏe có kế hoạch
Trang 33Hình 1.2 Mô hình Học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura
Học thuyết của Pender khuyến khích các học giả nhìn vào các yếu tố đã được chứng minh là tác động đến hành vi sức khỏe Nó sử dụng các kết quả nghiên cứu
từ điều dưỡng, tâm lý học và sức khỏe thành một mô hình hành vi sức khỏe Mô hình này có thể được sử dụng như một nền tảng để cấu trúc các giao thức điều dưỡng và can thiệp Với mô hình này, các điều dưỡng đã nâng cao phương pháp tiếp cận sức khỏe, giải quyết không chỉ khía cạnh chữa bệnh, mà còn phòng ngừa bệnh tật Một trong những vai trò của điều dưỡng là giúp người bệnh học cách tự chăm sóc bản thân và đưa ra những lựa chọn lành mạnh Bằng cách tham gia vào việc tự chăm sóc bản thân, người bệnh có thể phòng ngừa bệnh tật và giúp bảo đảm sức khỏe của họ tốt hơn [46]
1.5.2 Học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura
Học thuyết về học tập xã hội của Albert Bandura giải thích cách mọi người nghĩ và những yếu tố xác định hành vi của họ Nó là một dạng của các học thuyết dựa trên niềm tin rằng hành vi của con người được quyết định bởi một mối quan hệ
ba chiều giữa yếu tố nhận thức, ảnh hưởng môi trường, và hành vi học tập
Yếu tố môi trường
Yếu tố nhận thức của điều dưỡng
- Kiến thức
- Sự mong muốn
- Thái độ
Xác định hành vi của Điều dưỡng
Trang 34Theo Albert Bandura: Nhận thức có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc điều chỉnh hành vi Quá trình nhận thức tác động mạnh, quyết định đến hành vi của con người thông qua bốn bước: (1) Gây sự chú ý đến vấn đề cần thay đổi; (2) Nhớ lại; (3) Thực hành lại; (4) Tạo động lực
Từ hai mô hình học thuyết trên chúng tôi ứng dụng vào nghiên cứu với mục đích thay đổi hành vi của điều dưỡng viên về phòng ngừa té ngã và dựa vào đó tiến hành thực hiện chương trình tập huấn cho điều dưỡng viên thông qua mô hình Đây
là một mô hình đơn giản giúp điều dưỡng viên đạt được các kỹ năng phòng té ngã
cơ bản thông qua quá trình nhận thức với 4 bước: (1) Gây sự chú ý đến vấn đề cần thay đổi: làm cho đối tượng quan sát và nhận ra được hành vi thực hiện hàng ngày cần phải thay đổi Điều này rất quan trọng trong quá trình nhận thức làm thay đổi hành vi; (2) Nhớ lại: làm cho đối tượng có thể ghi nhớ, nhớ lại hành vi đã được học
từ trước Ở bước này giúp cho đối tượng nhớ lại hành vi đã được thành lập; (3) Thực hành lại là khả năng thực hiện được các hành vi sau khi đã được quan sát và nhớ lại để hình thành hành vi của chính mình; (4) Tạo động lực: Ý chí, quyết tâm để thực hiện hành vi vừa có Thể hiện bằng những hình thức thưởng phạt khi giám sát đối tượng thực hiện hành vi Khi thực hiện ở bước này cần phải xem xét sự công bằng của người giám sát [28]
1.6 Vài nét về tỉnh Hà Nam và Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
Hà Nam là tỉnh nằm ở phía nam vùng Đồng bằng châu thổ sông Hồng, tỉnh được tái lập năm 1997 Phía bắc tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội, phía đông giáp với tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, phía nam giáp tỉnh Ninh Bình, đông nam giáp tỉnh Nam Định và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình Tỉnh Hà Nam có diện tích 852 km2 , bao gồm 116 đơn vị hành chính cấp xã (7 thị trấn, 11 phường và 98 xã) được phân bố trên 5 huyện (Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm) và 1 thành phố (Phủ Lý) Theo điều tra dân số ngày 01/04/2013, Hà Nam có 785.057 người, chiếm 5,6 % dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân số 954 người/km2 Trong đó 91,5% dân số sống ở khu vực nông thôn và 8,5% sống ở khu vực đô thị
Ngành y tế tỉnh Hà Nam hiện có 2604 cán bộ công tác từ tuyến tỉnh, tuyến huyện/thành phố đến tuyến xã/phường/thị trấn và được phân bố như sau: Khối quản
Trang 35lý nhà nước: 56 cán bộ; Khối khám chữa bệnh: 1.376 cán bộ; Khối dự phòng: 326 cán bộ; Các trung tâm Dân số - KHHGĐ huyện, thành phố: 37 cán bộ; Lĩnh vực đào tạo (Trường Cao đẳng Y tế): 83 cán bộ; Khối các trạm y tế xã, phường, thị trấn: 726 cán bộ Toàn tỉnh có 131 cơ sở khám chữa bệnh với 2499 giường bệnh, bình quân
có 31,8 giường bệnh trên 1 vạn dân, trong đó tuyến tỉnh có 1020 giường bệnh, tuyến huyện có 620 giường bệnh, tuyến xã có 859 giường bệnh [22]
Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam được thành lập năm 1954 nằm ở ngay trung tâm Thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam, là bệnh viện hạng II với quy mô gần 550 giường Bệnh viện được sự đầu tư của nhà nước, Bộ Y tế, tỉnh Hà Nam và đặc biệt
sự đóng góp, nỗ lực của tập thể cán bộ viên chức của bệnh viện qua nhiều thế hệ, trải qua thời gian xây dựng và phát triển đến nay bệnh viện có một cơ sở vật chất hoàn chỉnh cùng với đội ngũ cán bộ y tế vững mạnh về chuyên môn nghiệp vụ Bệnh viện thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo qui định của Bộ Y tế: Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh; Đào tạo cán bộ y tế; Nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật; Chỉ đạo tuyển dưới về chuyên môn, kỹ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế và Quản lý kinh tế y tế
Công tác phòng ngừa té ngã tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam được lồng ghép trong nội dung Quản lý chất lượng bệnh viện do Phòng quản lý chất lượng điều hành Tháng 6 năm 2017, Phòng quản lý chất lượng phối hợp với Phòng chỉ đạo tuyến tổ chức buổi tập huấn “Tư duy dựa trên rủi ro - Giảm thiểu sự cố y khoa hướng tới an toàn người bệnh” tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam, thành phần tham dự là lãnh đạo các khoa phòng và toàn thể NVYT trong bệnh viện Nội dung tập huấn hướng đến Quy trình quản lý rủi ro (QT.03 HT) đã được bệnh viện ban hành từ tháng 01/2017 Việc nhận diện rủi ro (các sự cố y khoa) theo nguyên nhân cũng được xác định, trong đó té ngã trong bệnh viện là một trong bảy nguyên nhân được đề cập đến Qua đó đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng hướng đến an toàn người bệnh, bao gồm: (1) Tăng cường tư duy dựa trên rủi ro trong quản lý chất lượng bệnh viện; (2) Tuân thủ đầy đủ quy trình quản lý sự cố y khoa trong bệnh viện (3) Đổi mới trong giải quyết sự cố y khoa và hình thành văn hóa chất lượng hướng tới người bệnh; (4) Áp dụng các công cụ cải tiến chất lượng bệnh viện [6]
Trang 36Để nâng cao nhận thức của CBYT về an toàn người bệnh, công tác báo cáo
sự cố y khoa cũng được Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam đặc biệt quan tâm Tháng
3 năm 2018, bệnh viện tổ chức tập huấn về “Xây dựng hệ thống và quy trình báo cáo sự cố y khoa trong bệnh viện”, thiết lập quy định về báo cáo sự cố y khoa: (1)
Áp dụng cho tất cả các cá nhân và đơn vị trong BV; (2) Bắt buộc báo cáo các sự cố nghiêm trọng theo biểu mẫu BM01/QT03HT và BM01/QT03HT; (3) Khuyến khích báo cáo sự cố suýt xảy ra/đã xảy ra nhưng chưa gây tổn hại cho NB; (4) Sử dụng để rút kinh nghiệm, không xem xét kỷ luật; (5) Báo cáo phải khách quan, trung thực, kịp thời Tại buổi tập huấn, quy trình báo cáo sự cố y khoa cũng được phổ biến tới toàn thể CBYT trong đó có các bước được quy định theo trình tự: Phát hiện sự cố y khoa → Báo cáo lãnh đạo khoa → Báo cáo sự cố lên Phòng quản lý chất lượng → Phân tích sự cố, xử lý và phản hồi → Tổng hợp, báo cáo kết quả, rút kinh nghiệm Buổi tập huấn cũng đưa ra Danh mục sự cố bắt buộc phải báo cáo trong đó người bệnh bị té ngã trong thời gian nằm viện thuộc nhóm sự cố liên quan đến chăm sóc điều dưỡng [7]
Mặc dù Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Nam đã thực hiện Quy trình quản lý rủi
ro trong đó có việc nhận diện nguy cơ té ngã cũng như trình tự báo cáo sự cố té ngã trên người bệnh Tuy nhiên, những nội dung đánh giá còn mang tính chung chung, chưa xây dựng tiêu chí đánh giá rõ ràng để có số liệu cụ thể làm cơ sở củng cố hoạt động phòng ngừa té ngã góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh của ĐDV Mặt khác, kiến thức và thực hành về phòng ngừa té ngã của ĐDV được trau dồi, tích lũy qua quá trình đào tạo chuyên nghiệp, kinh nghiệm công tác nhưng cũng
sẽ bị mai một theo thời gian Vì vậy một trong những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động phòng ngừa té ngã cho người bệnh là can thiệp giáo dục cho đội ngũ ĐDV nhằm củng cố và bổ sung kiến thức, thực hành trong hoạt động phòng ngừa té ngã cho người bệnh
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Điều dưỡng viên đang làm việc tại bốn Khoa: Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp, Khoa Nội tim mạch, Khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
Chúng tôi chọn bốn khoa này vì: Đây là những khoa mà người bệnh có nguy
cơ cao dẫn đến té ngã trong bệnh viện:
- Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp, Khoa Nội tim mạch: Diễn biến bệnh lý ảnh hưởng nhiều đến toàn trạng, có nhiều người bệnh lớn tuổi, tinh thần người bệnh không ổn định và thời gian nằm viện lâu
- Khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình: Người bệnh trải qua phẫu thuật/thủ thuật trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng vận động, đi lại
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
ĐDV đang trực tiếp chăm sóc người bệnh, có chứng chỉ hành nghề, có thời gian làm việc trên 1 năm Lý do chọn Điều dưỡng có thâm niên 1 năm trở lên vì đây
là thời gian cần thiết để họ thực hành các kỹ năng cơ bản về chuyên môn và đủ thời gian học tập và áp dụng những kiến thức về phòng ngừa té ngã cho người bệnh sau tốt nghiệp
ĐDV đồng ý tự nguyện tham gia trong nghiên cứu, không bị tác động của bất cứ yếu tố ép buộc nào
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
ĐDV đang làm công tác quản lý, công việc hành chính ở các khoa
ĐDV không đồng ý tham gia trong nghiên cứu này
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian thu thập số liệu: Từ tháng 3 đến tháng 5 năm 2019
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu:
Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp, Khoa Nội tim mạch, Khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
Trang 38Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu can thiệp dạng trước sau
Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu:
Khoa Nội tim mạch: Là khoa lâm sàng có nhiệm vụ khám và điều trị người bệnh có các bệnh lý liên quan đến tim mạch, tham gia nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến Nhân lực hiện tại của khoa gồm có 6 bác sỹ và 10 điều dưỡng viên, với quy mô 50 giường bệnh
Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp: Là khoa lâm sàng có nhiệm vụ khám
và điều trị nội trú người bệnh có các bệnh lý tâm - thần kinh, cơ xương khớp, tham gia nghiên cứu khoa học và các nhiệm vụ khác Nhân lực hiện có của khoa gồm 5 bác sỹ và 13 điều dưỡng viên, có quy mô 42 giường bệnh
Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình: Là khoa lâm sàng có nhiệm vụ khám
và điều trị bằng phẫu thuật, thủ thuật đối với các bệnh về chấn thương chỉnh hình và bỏng, tham gia công tác nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến Nhân lực hiện tại của khoa gồm có 7 bác sỹ và 11 điều dưỡng viên, với quy mô 50 giường bệnh
Khoa Ngoại Tổng hợp: Là khoa lâm sàng có nhiệm vụ khám và điều trị phẫu thuật các bệnh lý về tiêu hóa và lồng ngực, các bệnh về gan mật, lách tụy, dạ dày, ruột non, đại tràng, các khối u ổ bụng, chấn thương ngực; tham gia nghiên cứu khoa học và một số nhiệm vụ khác Nhân lực của khoa có 6 bác sỹ và 13 điều dưỡng viên, với quy mô 60 giường bệnh
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu can thiệp dạng trước sau
1 Kiến thức
2 Thực hành
CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP
Trang 39Sơ đồ tóm tắt các bước thực hiện nghiên cứu (Từ tháng 3/2019 đến tháng 5/2019):
2.4 Cỡ mẫu
Mẫu được chọn toàn bộ từ danh sách các điều dưỡng viên đang làm trực tiếp tham gia chăm sóc người bệnh tại bốn khoa: Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp, Khoa Nội tim mạch, Khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam Tổng số 47 điều dưỡng viên: Khoa Nội thần kinh -
cơ - xương khớp 13; Khoa Nội tim mạch: 10; Khoa Ngoại tổng hợp 13; Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình 11
2.5 Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Chọn khoa: Chọn có chủ đích
Chọn các khoa lâm sàng: 04 khoa, Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp, Khoa Nội tim mạch, Khoa Ngoại tổng hợp, Ngoại Chấn thương chỉnh hình thuộc Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Nam
2.5.2 Chọn điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu:
- Cỡ mẫu lý thuyết: Thực hiện nghiên cứu này chúng tôi đã chọn mẫu toàn bộ điều dưỡng viên đang làm việc trực tiếp trên lâm sàng, có thời gian trực tiếp chăm sóc người bệnh trên 1 năm tại bốn khoa trên, có sự đồng thuận tham gia nghiên cứu Sau khi đưa vào lựa chọn thỏa mãn các tiêu chí trên, chúng tôi chọn được 47 điều dưỡng
Thực hiện chương trình can thiệp giáo dục cho ĐD về phòng ngừa té ngã + Tập huấn từ 16h - 17h vào các ngày trong tuần (2 đợt):
Đợt 1: 23 ĐDV
Đợt 2: 24 ĐDV
Từ ngày 15/4 đến 30/05/2019:
Đánh giá lại kiến thức, thực hành phòng ngừa
té ngã của ĐD sau can thiệp:
Lần 2: từ 15/4 - 26/4 Lần 3: từ 15/5 - 30/5
+ Kiến thức: Posttest + Thực hành: Checklist
Trang 40viên tham gia vào nghiên cứu (Khoa Nội thần kinh - cơ - xương khớp 13; Khoa Nội tim mạch 10; Khoa Ngoại tổng hợp 13; Khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình 11)
- Cỡ mẫu thực hành: Do đặc thù tính chất công việc của điều dưỡng viên, một điều dưỡng không thể thực hiện cùng một lúc nhiều quy trình; đồng thời phụ thuộc vào số lượng người bệnh biến động tại mỗi khoa trong thời gian nghiên cứu vì vậy
cỡ mẫu thực hành dựa theo số lượt thực hiện trên người bệnh Chúng tôi đã quan sát điều dưỡng viên thực hiện biện pháp phòng ngừa té ngã 2 lượt (trên 2 người bệnh)
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Phần thực hành: Điều tra viên quan sát kín(không cho đối tượng nghiên cứu biết) việc thực hiện các nội dung phòng té ngã cho người bệnh của đối tượng nghiên cứu, ghi kết quả vào phiếu quan sát bằng cách tích ( ) vào phiếu quan sát ở mức
độ đánh giá tương ứng trong số 5 mức độ theo thang đo Likert [38]
2.6.1.1 Cơ sở xây dựng bộ câu hỏi và bảng quan sát
Bộ câu hỏi phần kiến thức được xây dựng dựa trên tài liệu “Phòng té ngã trong bệnh viện: một công cụ để cải tiến chất lượng chăm sóc” do Tổ chức Nghiên cứu xây dựng Chính sách Y tế và Chất lượng Hoa Kỳ (AHRQ) ban hành Trong đó biểu mẫu 2E là phần đánh giá kiến thức về té ngã dành cho điều dưỡng viên (2E: Fall Knowledge Test) bao gồm có 13 câu hỏi, người được đánh giá lựa chọn một hay nhiều ý đúng ở mỗi câu bằng cách khoanh tròn vào chữ cái đầu câu Mục đích của bộ câu hỏi này là để đánh giá kiến thức chung của điều dưỡng viên về phòng chống té ngã nhằm phát hiện lỗ hổng kiến thức, qua đó điều chỉnh nội dung các chương trình tập huấn để bổ trợ kiến thức cho điều dưỡng viên [25]