TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNHVŨ THỊ THANH HOA THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ CO GIẬT DO SỐT CHO CÁC BÀ MẸ CÓ CON ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG NĂM 2019
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
VŨ THỊ THANH HOA
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG
VÀ XỬ TRÍ CO GIẬT DO SỐT CHO CÁC BÀ MẸ CÓ CON ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG
NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
Trang 3VŨ THỊ THANH HOA
THAY ĐỔI KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DỰ PHÒNG
VÀ XỬ TRÍ CO GIẬT DO SỐT CHO CÁC BÀ MẸ CÓ CON
ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN TRẺ EM HẢI PHÒNG
NĂM 2019
. Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 TS.BS TRƯƠNG TUẤN ANH
2 TS ĐỖ MINH SINH
NAM ĐỊNH - 2019
Trang 4TÓM TẮT
Mục tiêu của nghiên cứu này là: Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về xử
trí co giật do sốt cho các bà mẹ có con đang điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2019 Đồng thời đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt sau giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ trên
Phương pháp nghiên cứu can thiệp một nhóm trước sau không đối chứng
trên 156 bà mẹ có con co giật do sốt đang điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng trong thời gian nghiên cứu theo 3 bước Bước 1: Đánh giá kiến thức, thực hành khi trẻ mới vào viện Bước 2: Can thiệp bằng cách truyền thông trực tiếp về kiến thức
và thực hành Bước 3: Đánh giá lại về kiến thức, thực hành sau can thiệp
Kết quả: Điểm trung bình kiến thức về dự phòng, xử trí trẻ co giật do sốt
của các bà mẹ trước can thiệp là 3,72/10 điểm và tăng lên 9,57/10 điểm sau can thiệp Trong đó, kiến thức về sốt tăng từ 3,88 điểm lên 8,82 điểm; kiến thức chăm sóc trẻ sốt 4,18 điểm lên 8,17 điểm; kiến thức phòng và xử trí co giật 3,08 điểm lên 8,82 điểm Các mức độ tăng điểm này đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Điểm thực hành chung tăng từ 5,54/10 điểm lên 9,08/10 điểm Trong đó thực hành đo nhiệt độ ở nách tăng từ 5,11 lên 8,89 điểm; thực hành chườm ấm cho trẻ sốt nóng tăng từ 5,44 lên 9,15 điểm; thực hành chườm ấm cho trẻ sốt rét tăng từ 6,06 lên 9,20 điểm Các mức độ tăng điểm này đều có ý nghĩa thống kê với p < 0,001
Kết luận: Mức độ kiến thức của các bà mẹ về dự phòng, chăm sóc trẻ sốt nói
chung cũng như kiến thức về sốt, chăm sóc trẻ sốt và xử trí co giật trước khi can thiệp đều ở mức thấp Sau can thiệp mức độ kiến thức đều đã tăng lên mức tốt Tương tự kiến thức, mức độ thực hành dự phòng, chăm sóc trẻ co giật do sốt trước can thiệp ở mức trung bình và mức thấp Sau can thiệp đã tăng lên mức tốt và rất tốt Các kết quả đó đã cho thấy hiệu quả của chương trình can thiệp giáo dục sức khỏe cho các bà mẹ đạt hiệu quả cao Ngoài ra kết quả trong nghiên cứu này cho thấy còn một số điểm cần cải thiện trong chương trình can thiệp sau này
Từ khóa: Kiến thức, thực hành, dự phòng, chăm sóc, trẻ co giật do sốt.
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh
sự nỗ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện luận văn thạc sĩ
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy giáo hướng dẫn đã hết lòng hướng dẫn, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em hoàn thành luận văn
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Em xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể cán bộ viên chức trường Cao đẳng Y tế Hải Phòng, bệnh viện Trẻ em Hải Phòng đã không ngừng hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho em rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh
Nam Định, ngày … tháng… năm 2019
Học viên
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ “Thay đổi kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí co giật do sốt cho các bà mẹ có con điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2019” là công trình nghiên cứu của riêng em
Những số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực và được chỉ rõ nguồn trích dẫn Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan này!
Học viên
Trang 7LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC BẢNG vii
Bảng 3.1 Một số đặc điểm tiền sử của trẻ co giật do sốt 30 vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1 4
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về co giật do sốt ở trẻ em 4
1.1.1 Khái niệm 4
1.1.2 Yếu tố nguy cơ 5
1.1.3 Hậu quả của co giật do sốt 7
1.2 Thực trạng co giật ở trẻ tại Việt Nam và trên thế giới 10
1.2.1 Thế giới 10
1.2.2 Việt Nam 12
1.3 Các nghiên cứu về thực trạng kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí co giật do sốt ở trẻ 12
1.3.1 Thế giới 12
1.3.2 Việt Nam 13
1.4 Các nghiên cứu về các giải pháp dự phòng co giật do sốt ở trẻ 14
1.4.1 Thế giới 14
1.4.2 Việt Nam 15
1.5 Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi 17
1.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 18
1.6.1 Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng 18
1.6.2 Khoa Thần kinh - Tâm bệnh - Phục hồi chức năng 18
Chương 2 19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
Trang 82.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 20
2.4.1 Cỡ mẫu 20
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 20
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.5.2 Tổ chức chương trình can thiệp 20
Đối tượng can thiệp: Các bà mẹ có con từ 1 tháng đến 5 tuổi đang điều trị co giật do sốt tham gia vào nghiên cứu 21
Nội dung can thiệp: 21
Hình thức can thiệp: 21
Quy trình can thiệp 22
2.6 Các biến số nghiên cứu và cách thu thập 24
2.6.1 Nhóm biến số đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 24
- Tuổi (nhóm tuổi), nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình hình mắc bệnh mãn tính trước sinh, tiền sử thai sản của bà mẹ Thu thập bằng phỏng vấn 24
- Tuổi (nhóm tuổi), giới, tiền sử chu sinh, tiền sử sốt cao co giật, tiền sử co giật và thân nhiệt của trẻ tại thời điểm co giật của trẻ Thu thập qua phỏng vấn 24
2.6.2 Nhóm biến số và về kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt của các bà mẹ 24
- Kiến thức của các bà mẹ về sốt trước can thiệp Thu thập bằng phỏng vấn 24
- Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ sốt trước can thiệp Thu thập bằng phỏng vấn 24
- Kiến thức của các và mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt trước can thiệp Thu thập bằng phỏng vấn 24
- Thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ trước can thiệp Thu thập bằng cách quan sát các bà mẹ thực hành và cho điểm theo bảng kiểm 24
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng của các bà mẹ trước can thiệp Thu thập bằng cách quan sát các bà mẹ thực hành và cho điểm theo bảng kiểm .24
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt rét của các bà mẹ trước can thiệp Thu thập bằng cách quan sát các bà mẹ thực hành và cho điểm theo bảng kiểm 24
2.6.3 Nhóm biến số về kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt của các bà mẹ sau can thiệp 24
- Kiến thức của các bà mẹ về sốt sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp 24
Trang 9đổi so với trước can thiệp 24
- Thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp 24
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng của các bà mẹ sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp 24
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt rét của các bà mẹ sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp 25
2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 25
2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá 25
- Đánh giá kiến thức dựa theo cách cho điểm các câu trả lời của các bà mẹ ở 3 nhóm câu hỏi: Kiến thức về sốt trước và sau can thiệp, Kiến thức về chăm sóc trẻ sốt trước và sau can thiệp; Kiến thức về phòng và xử trí co giật trước và sau can thiệp Mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm câu trả lời sai không có điểm Sau đó quy về thang điểm 10 Điểm kiến thức chung là trung bình cộng của điểm 3 nhóm kiến thức trên Như vậy điểm kiến thức từng nhóm và kiến thức chung của các bà mẹ sẽ giao động từ 00 điểm đến 10 điểm Điểm càng cao thì kiến thức càng tốt, và ngược lại 25
- Đánh giá mức độ thực hành bằng điểm theo bảng kiểm Các bà mẹ làm đúng thì được điểm, làm sai không được điểm Sau đó nhân với hệ số và quy đổi sang thang điểm 10 Điểm thực hành chung được tính trung bình cộng của 3 kỹ thuật thực hành Điểm càng cao thì đánh giá thực hành càng tốt và ngược lại Điểm tối đa 10 điểm, điểm tối thiểu 00 điểm 25
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 26
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 26
Chương 3 28
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 28
3.1.1 Đặc điểm chung của của mẹ bệnh nhi được điều tra 28
3.1.2 Đặc điểm chung của trẻ co giật do sốt 30
3.2 Kết quả can thiệp thay đổi kiến thức của bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt 33
3.2.1 Kiến thức của bà mẹ về sốt trước và sau can thiệp 33
3.2.2 Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ sốt trước và sau can thiệp 35
3.2.3 Kiến thức của bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt trước và sau can thiệp 37
Điểm trung bình đánh giá kiến thức về sốt, kiến thức về chăm sóc trẻ sốt và kiến thức dự phòng và xử trí co giật do sốt cũng như kiến thức chung của các bà mẹ
Trang 103.3.1 Thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ có con co giật do sốt cao 40
3.3.2 Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng của các bà mẹ trước và sau can thiệp.42 3.3.3 Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt rét của các bà mẹ trước và sau can thiệp 44
Chương 4 47
BÀN LUẬN 47
4.1 Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu 47
4.1.1 Đặc điểm chung của các bà mẹ 47
4.1.2 Đặc điểm chung của trẻ co giật do sốt 48
4.2 Kiến thức của các bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt 49
4.2.1 Kiến thức của bà mẹ về sốt trước và sau can thiệp 49
4.2.2 Kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ sốt trước và sau can thiệp 51
4.2.3 Kiến thức của bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt trước và sau can thiệp 52
4.2.4 Kiến thức chung của bà mẹ về co giật do sốt của các bà mẹ trước và sau can thiệp 52
4.3 Kết quả can thiệp thay đổi hành vi thực hành của bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt 53
4.3.1 Thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ có con co giật do sốt 53
4.3.2 Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng của các bà me trước và sau can thiệp.54 4.3.3 Thực hành chườm ấm cho trẻ sốt rét run của các bà mẹ trước và sau can thiệp 55
4.3.4 Điểm thực hành nói chung của các bà mẹ trước và sau can thiệp 55
KẾT LUẬN 57
KHUYẾN NGHỊ 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Phụ lục 1: 6
PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU 6
Phụ lục 2 8
PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU KIẾN THỨC, THỰC HÀNH .8
DỰ PHÒNG VÀ XỬ TRÍ CO GIẬT DO SỐT 8
Phụ lục 3 17
NỘI DUNG CAN THIỆP 17
Trang 14DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Phân bố theo tuổi của bà mẹ nghiên cứu (n=156) 28
Biểu đồ 3.2: Phân bố theo địa bàn cư trú của bà mẹ nghiên cứu (n=156) 29
Biểu đồ 3.3: Trình độ học vấn của bà mẹ nghiên cứu (n=156) 29
Biểu đồ 3.4: Đặc điểm nghề nghiệp của bà mẹ nghiên cứu (n=156) 30
Biểu đồ 3.5: Phân bố tuổi của trẻ co giật do sốt (n=156) 30
Biểu đồ 3.6: Phân bố giới tính của trẻ co giật do sốt (n=156) 31
Bảng 3.1 Một số đặc điểm tiền sử của trẻ co giật do sốt (n=156) 31
Biểu đồ 3.7: Tiền sử của trẻ co giật do sốt (n=156) 32
39
Biểu đồ 3.8: Điểm kiến thức của bà mẹ trước và sau can thiệp (n=156) 39
Biểu đồ 3.9 Điểm thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ trước và sau can thiệp (n=156) 46
Trang 15DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Một số đặc điểm tiền sử của trẻ co giật do sốt 30Bảng 3.2 Nhiệt độ của trẻ khi nhập viện (n=156) 32Bảng 3.3 Khác biệt kiến thức của các bà mẹ về sốt trước, sau can thiệp (n=156) 33Bảng 3.4 Điểm trung bình kiến thức của bà mẹ về sốt trước và sau can thiệp (n=156) 33Bảng 3.5 Sự khác biệt kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ sốt trước và sau can thiệp (n=156) 35Bảng 3.6: Điểm kiến thức chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ trước và sau can thiệp
(n=156) 36Bảng 3.7 Sự khác biệt về kiến thức của các bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt trước và sau can thiệp (n=156) 37Bảng 3.8 Điểm kiến thức của các bà mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt trước và sau can thiệp (n=156) 38Bảng 3.9 Sự thay đổi kiến thức chung của các bà mẹ về co giật do sốt trước và sau can thiệp (n=156) 39Bảng 3.10 Sự khác biệt về thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ trước và sau can thiệp (n=156) 40Bảng 3.11 Điểm thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ trước và sau 41can thiệp (n=156) 41Bảng 3.12 Sự khác biệt về thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng trước và sau can thiệp (n=156) 42Bảng 3.13 Điểm thực hành chườm ấm cho trẻ sốt nóng của các bà mẹ trước và sau can thiệp (n=156) 43Bảng 3.14 Sự khác biệt về thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt rét trước và sau can thiệp (n=156) 44Bảng 3.15 Điểm thực hành chườm ấm cho trẻ sốt rét của các bà mẹ trước và sau can thiệp (n=156) 45
Trang 16Bảng 3.16 Điểm thực hành chăm sóc trẻ của các bà mẹ trước và sau can thiệp (n=156) 46
Trang 17ĐẶT VẤN ĐỀ
Co giật là một cấp cứu thần kinh thường gặp nhất ở trẻ em Trong đó nặng nhất là cơn co giật liên tục khi cơn co giật cục bộ hay toàn thể kéo dài trên 30 phút hay nhiều cơn co giật liên tiếp nhau không có khoảng tỉnh Biến chứng co giật là thiếu oxy não, tắc nghẽn đường thở gây tử vong
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới co giật, trong đó nguyên nhân do sốt thường gặp nhất ở trẻ em Năm 1980, Viện quốc gia về sức khỏe ở Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về co giật do sốt: “Là một hiện tượng xảy ra ở trẻ bú mẹ hoặc trẻ nhỏ, thường gặp độ tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi, liên quan tới sốt nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ hoặc một nguyên nhân xác định khác đối với cơn co giật Những cơn
co giật có sốt ở trẻ mà trước đó đã có một cơn co giật không sốt thì được loại trừ”
Co giật do sốt thường xảy ra khi nhiệt độ cơ thể tăng nhanh trong một khoảng thời gian ngắn, nhất là khi trẻ không được uống đủ nước hoặc trẻ mặc nhiều quần
áo, bị bọc kín hoặc ở trong môi trường ngột ngạt, không thoáng khí và thông gió
Co giật ở trẻ em sẽ gây ảnh hưởng đến các hoạt động của tế bào, đặc biệt là tổ chức não của trẻ do thiếu oxy, nhất là nếu cơn co giật kéo dài và tái phát nhiều lần Khi
co giật, trẻ có thể bị thương do va đập, ngạt thở do tăng tiết đờm dãi, do hít phải chất nôn hoặc bị viêm phổi nặng
Các nghiên cứu dịch tễ học cộng đồng về co giật do sốt ở châu Á, châu Âu
và nước Mỹ thông báo tỷ lệ mắc nói chung vào khoảng 3-5% Ở Nhật: 8,8%, ở Guam 14%, ở Hồng Kông 0,35% và tại Trung Quốc 1,5% Theo Nelson 9% trẻ co giật do sốt cao có thể chuyển thành động kinh Tại bệnh viện Nhi Trung Ương, trong 7 năm, từ năm 1984 đến 1990, tỷ lệ co giật do sốt ở trẻ dưới 7 tuổi trên tổng
số trẻ vào khoa Cấp cứu lưu là 2,12% Theo thống kê ở bệnh viện Nhi Đồng 1 thành phố Hồ Chí Minh cho biết trung bình mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng
10 trẻ bị co giật, trong đó có 7 trường hợp sốt cao co giật lành tính
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu co giật do sốt ở trẻ em , , , , …
Ở Việt Nam, kết quả một số nghiên cứu về co giật do sốt cao trước đây cho thấy:
Trang 183,16% trẻ dưới 15 tuổi bị co giật do sốt trong nghiên cứu của Lê Thiện Thuyết (2013) Tỷ lệ trẻ co giật do sốt dưới 5 tuổi là 1,93% Độ tuổi co giật do sốt chủ yếu xảy ra ở trẻ trong độ tuổi từ 5 tháng – 60 tháng Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào đặc điểm lâm sàng, dịch tễ học co giật do sốt hoặc mới ở mức độ đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ co giật do sốt ở các bà mẹ mà ít
có nghiên cứu giúp thay đổi kiến thức, thực hành của các bà mẹ có con điều trị co giật do sốt Người trực tiếp chăm sóc trẻ, nhất là các bà mẹ có một vai trò đặc biệt quan trọng Nếu họ có kiến thức đúng và cách xử trí kịp thời khi trẻ bị sốt và co giật
do sốt sẽ giúp dự phòng và giảm tỷ lệ tái phát cũng như hạn chế các biến chứng nguy hiểm đến tính mạng và phát triển trí tuệ của trẻ sau này
Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng là bệnh viện hạng 1 đồng thời cũng là bệnh viện
vệ tinh của bệnh viện Nhi Trung Ương, đã và đang triển khai được nhiều kỹ thuật hiện đại, chuyên sâu Năm 2018, bệnh viện đón gần 2000 lượt khám trẻ bị co giật lần đầu và tái khám, trong đó số trẻ nằm nội trú chiếm 1/3 Trong công tác chăm sóc, đội ngũ điều dưỡng bệnh viện đã lồng ghép hoạt động tư vấn hướng dẫn bà mẹ
xử trí co giật do sốt Tuy nhiên, do lưu lượng người bệnh lớn, các hoạt động này còn thiếu tính đồng bộ, chủ yếu tư vấn về lý thuyết mà chưa đi vào cầm tay chỉ việc cho từng bà mẹ
Vì vậy, nhằm góp phần giúp bà mẹ nâng cao kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt, giảm thiểu tỷ lệ mắc, tái phát co giật và phòng ngừa các biến chứng xảy
ra, chúng tôi nghiên cứu đề tài:
"Thay đổi kiến thức, thực hành về dự phòng và xử trí co giật do sốt cho các bà mẹ có con điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2019."
Trang 19MỤC TIÊU
1- Mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về xử trí co giật do sốt cho các bà mẹ
có con điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2019
2- Đánh giá sự thay đổi kiến thức, thực hành xử trí co giật của các bà mẹ có con co giật do sốt sau giáo dục sức khoẻ
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về co giật do sốt ở trẻ em
1.1.1 Khái niệm
Sốt là hiện tượng tăng nhiệt độ của cơ thể được xác nhận khi nhiệt độ đo ở hậu môn trên 38°C hoặc ở nách trên 37,5°C trong điều kiện cơ thể nghỉ ngơi do hậu quả của sự rối loạn trung tâm điều nhiệt
Co giật là một cấp cứu thần kinh thường gặp nhất ở trẻ em Trong đó nặng nhất là cơn co giật liên tục khi cơn co giật cục bộ hay toàn thể kéo dài trên 30 phút hay nhiều cơn co giật liên tiếp nhau không có khoảng tỉnh Biến chứng co giật là thiếu oxy não, tắc nghẽn đường thở gây tử vong
Năm 1980, Viện quốc gia về sức khỏe ở Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa về co giật do sốt: “Là một hiện tượng xảy ra ở trẻ bú mẹ hoặc trẻ nhỏ, thường gặp độ tuổi
từ 3 tháng đến 5 tuổi, liên quan tới sốt nhưng không có dấu hiệu nhiễm khuẩn nội sọ hoặc một nguyên nhân xác định khác đối với cơn co giật Những cơn co giật có sốt
ở trẻ mà trước đó đã có một cơn co giật không sốt thì được loại trừ”
Liên hội chống động kinh quốc tế cũng đã đưa ra định nghĩa: “Co giật do sốt
là co giật xảy ra ở trẻ em sau 1 tháng tuổi, liên quan với bệnh gây sốt, không phải bệnh nhiễm khuẩn thần kinh, không có co giật ở thời kỳ sơ sinh, không có cơn giật xảy ra trước không có sốt”
Hai định nghĩa này rất giống nhau chỉ khác về giới hạn tuổi (3 tháng so với 1 tháng) Cả hai định nghĩa này không loại trừ trẻ bị suy giảm thần kinh trước đó, không đưa ra một tiêu chuẩn nhiệt độ rõ ràng, cũng không định nghĩa một “cơn co giật” Co giật do sốt phải phân biệt với động kinh, là loại co giật được đặc trưng bởi các cơn co giật không sốt và tái diễn Hai định nghĩa này loại trừ những cơn co giật
có liên quan tới bệnh lý thần kinh như: Viêm màng não, viêm não, hoặc bệnh não
do nhiễm độc
Trang 211.1.2 Yếu tố nguy cơ
a) Yếu tố nguy cơ phát sinh co giật do sốt
* Tuổi
CGDS liên quan rõ rệt với tuổi, trẻ mắc bệnh thường ở nhóm từ 6 tháng đến
3 tuổi, cao điểm trong năm thứ hai , , CGDS hiếm khi xảy ra trước 6 tháng và sau
5 tuổi
Tuổi khởi phát CGDS cũng liên quan đến giới tính Trẻ nữ thường có cơn CGDS đầu tiên sớm hơn trẻ nam Wallace nghiên cứu trên 134 bệnh nhân cho thấy 62% trẻ nữ và 38% trẻ nam có cơn CGDS đầu tiên xảy ra dưới 20 tháng tuổi
Cơn CGDS phức hợp lần đầu cũng thường xảy ra ở tuổi nhỏ hơn so với cơn CGDS đơn thuần Theo Tahir Saeed Siddqui (Pakistan) 71,43% trẻ trong nhóm CGDS phức hợp khởi phát cơn CGDS đầu tiên dưới 12 tháng tuổi, chỉ 28,57% trường hợp khởi phát sau 12 tháng tuổi
Những trẻ có tiền sử co giật trong gia đình thường có cơn CGDS đầu tiên ở tuổi sớm hơn
* Các yếu tố môi trường, địa dư liên quan đến CGDS
Nghề nghiệp, trình độ văn hóa của bố, mẹ, nhà ở, diện tích nhà trật trội, số người trong gia đình đông đúc đều làm tăng nguy cơ CGDS ở trẻ Một mức thu nhập hộ gia đình cao có liên quan đến việc giảm tỷ lệ mắc bệnh sốt cao
* Sự chậm phát triển tâm thần vận động trước cơn CGDS lần đầu
Khi nghiên cứu 157 trẻ CGDS: 1/3 trẻ em có ít nhất một chẩn đoán rối loạn phát triển thần kinh DSM-5 hoặc trong các lĩnh vực chú ý, điều chỉnh hoạt động, hành vi, lời nói và ngôn ngữ, nhận thức chung hoặc chức năng vận động
Trang 22* Các yếu tố trong thời kỳ chu sinh
Các bất thường chu sinh có vai trò quan trọng trong sinh bệnh học CGDS như đẻ ngạt, mổ đẻ, đẻ thiếu tháng Wallace nhận xét 62% trẻ CGDS có ít nhất một trong các yếu tố bất thường trước sinh và chu sinh ,
* Các yếu tố trước sinh ở người mẹ
Mẹ nghiện thuốc lá, mẹ có tiếp xúc với hóa chất, mẹ bị bệnh mãn tính, nhiễm độc thai nghén, chảy máu trong 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối thai kỳ đều làm tăng nguy cơ CGDS ở con do các yếu tố này ảnh hưởng xấu đến sự hình thành và phát triển hệ thần kinh
* Yếu tố nguy cơ nhiễm khuẩn
Nhiều nghiên cứu: trẻ mắc CGDS thường có nguy cơ tăng lên đối với các bệnh nhiễm khuẩn như Human herpes virus 6 Bất kỳ bệnh nhiễm virus hoặc vi khuẩn có thể khởi phát CGDS, điều này có thể liên quan đến miễn dịch cơ thể Nói chung 50% trẻ có biểu hiện CGDS không nhận biết được yếu tố nguy cơ
b) Yếu tố nguy cơ đối với đợt co giật do sốt tái phát
Tái phát đợt CGDS rất thường xảy ra, tỷ lệ khác nhau tùy tác giả nghiên cứu,
từ 25-50%, trung bình 30%, 9% trường hợp có 3 đợt tái phát hoặc hơn ,, Đợt tái phát hầu hết xảy ra trong hai năm đầu sau đợt CGDS đầu tiên Wolf và cộng sự (1997) nhận thấy 30% trường hợp tái phát trong 6 tháng, gần 70% tái phát trong 12 tháng và 93% tái phát trong hai năm ,
Tỷ lệ tái phát đợt CGDS tỷ lệ thuận với các yếu tố nguy cơ hiện diện trong người bệnh , Các yếu tố này chủ yếu phụ thuộc vào đợt CGDS đầu tiên
Trang 23- Theo William T Zempsky, MD (1999) có 4 yếu tố nguy cơ gây tái diễn cơn CGDS là:
+ Tuổi của trẻ càng nhỏ khi cơn co giật do sốt lần đầu
+ Trẻ bị cơn co giật lần đầu ở mức độ sốt không cao lắm
+ Tiền sử gia đình có anh, chị bị co giật do sốt
+ Khoảng cách từ khi bắt đầu sốt đến khi có cơn co giật đầu tiên càng ngắn
1.1.3 Hậu quả của co giật do sốt
Ngày nay, đa số các công trình nghiên cứu cho rằng CGDS là một rối loạn co giật lành tính có tiên lượng tốt
1.1.3.1 Động kinh sau co giật do sốt
Đây là biến chứng cần lưu tâm nhiều nhất vì có thể ảnh hưởng tới sự phát triển vận động và tâm thần của bệnh nhi
Các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ bị động kinh vào khoảng 2-7% ở trẻ CGDS , Tỷ lệ bị động kinh là 0,5% vào lúc 7 tuổi đối với trẻ không bị CGDS ở cộng đồng
Theo Waruiru và Appleton, sau đợt CGDS đầu tiên, khoảng 2-4% trẻ sẽ bị ít nhất một lần CGDS, nguy cơ này cao gấp 4 lần ở cộng đồng, và hầu hết những trẻ này sẽ phát triển thành động kinh
Theo Camfield P và cộng sự, 13-19% trẻ co giật không liên quan đến sốt ít nhất một lần CGDS trong tiền sử
John Laidlaw và cộng sự đã nghiên cứu 256 trẻ CGDS đơn thuần cho đến 15 tuổi thấy tỷ lệ bị động kinh là 2,9%
Nguy cơ động kinh sẽ tăng lên nếu có thêm các yếu tố động kinh Năm 1980, Viện Quốc gia về sức khỏe ở Mỹ đã đưa ra các yếu tố nguy cơ chính gây nên động kinh như sau ,
- Tình trạng phát triển tâm thần vận động bất thường của trẻ trước cơn CGDS đầu tiên
- Tiền sử động kinh ở họ hàng thế hệ thứ nhất (bố mẹ, anh chị em ruột)
- CGDS phức hợp của cơn đầu tiên (co giật cục bộ, kéo dài, lặp lại) Ở trẻ bị
Trang 24CGDS đơn thuần, nguy cơ động kinh sau đó là từ 1-2,4%, trong khi nguy cơ này cao hơn nhiều ở trẻ CGDS phức hợp Tùy theo trẻ có một, hai, hay ba dấu hiệu trên mà nguy cơ đó lần lượt là 6-8%, 17-22%, và 49%
Ở trẻ có tình trạng chậm phát triển tâm thần vận động trước đợt CGDS đầu tiên và những trẻ có đợt CGDS đầu tiên nặng, tỷ lệ động kinh là 9,2% so với 1% ở trẻ CGDS không có yếu tố nguy cơ Khi tất cả các yếu tố nguy cơ trên kết hợp lại thì tỷ lệ bị động kinh là 50%
* CGDS và động kinh thùy thái dương
Đây là vấn đề tranh luận nhất trong động kinh, nhiều nghiên cứu đã cho thấy
có liên quan, nhưng giải thích còn chưa rõ và có nhiều ý kiến khác nhau Các nghiên cứu hồi cứu đã thông báo 40% người lớn bị động kinh thùy thái dương khó chữa có tiền sử CGDS phức hợp trong thời kỳ trẻ em
1.1.3.2 Phát triển thần kinh
Hầu hết các nghiên cứu dựa trên quần thể không cho thấy mối liên quan rõ rệt giữa CGDS đơn thuần hoặc CGDS phức hợp bao gồm cả trạng thái động kinh CGDS và phát triển thần kinh thiếu sót sau đó (ví dụ liệt nửa người, suy giảm chức năng nhận thức, hoặc trí nhớ) ,
Người ta thấy rõ có suy giảm tâm thần xã hội, nhận thức có ý nghĩa ở những trẻ bị động kinh thùy thái dương kháng trị bằng thuốc kháng động kinh Tuy rằng những trẻ CGDS phức hợp đã có tổn thương sẵn ở thùy thái dương (bất thường hồi hải mã) ngay trong đợt CGDS đầu tiên
1.1.3.3 Tử vong
Nhiều nghiên cứu dựa trên quần thể đã không thấy nguy cơ tăng lên về tỷ lệ
tử vong ở trẻ em bị CGDS, gồm cả trạng thái CGDS, không bao hàm nhiễm khuẩn thần kinh Thêm nữa không thấy một sự liên quan nào giữa CGDS và hội chứng chết đột ngột ở trẻ em ,
1.1.3.4 Quy trình kỹ thuật dự phòng và xử trí CGDS
a) Chăm sóc trẻ bị sốt
- Cho trẻ nằm phòng thoáng, nới rộng quần áo, mặc quần áo mỏng, mềm
Trang 25- Đảm bảo đủ nước cho trẻ
b) Quy trình kỹ thuật đo nhiệt độ ở nách
- Để trẻ nằm thoải mái trên giường
- Dùng khăn khô, mềm lau khô hố nách
- Kiểm tra nhiệt kế (vẩy cho cột thủy ngân xuống <350C)
- Lau nhiệt kế bằng bông cồn 700 chờ khô
- Đặt bầu thủy ngân vào hõm nách trẻ
- Giữ cánh tay trẻ ép sát vào thân, cẳng tay vuông góc với cánh tay, mẹ giữ tay trẻ vừa đủ chặt
- Để nhiệt kế trong thời gian 3-5 phút
- Lấy nhiệt kế, cầm thân nhiệt kế, đọc kết quả
- Cầm thân nhiệt kế tay đỡ bầu thủy ngân vẩy nhẹ cho cột thủy ngân xuống < 350C
- Làm sạch nhiệt kế
- Để trẻ nằm thoải mái ,
d) Quy trình kỹ thuật chườm
* Pha nước chườm:
- Đổ 2 ca nước lạnh ra chậu, pha thêm 1 ca nước nóng ở phích
- Đổ nước lên mu bàn tay để kiểm tra nhiệt độ của nước (khoảng 320 - 350)
- Nhúng khăn mềm vào chậu và vắt khô vừa phải
Trang 26- Đặt khăn nhẹ nhàng lên trán trẻ (không che mắt, thóp, khăn chùm cả 2 bên thái dương)
- 2-3 phút lật mặt khăn chườm (nhúng lại khi khăn khô)
- Mặc quần áo rộng, thoáng cho trẻ khi nhiệt độ trở về bình thường ,
Trường hợp trẻ sốt rét run:
- Để trẻ nằm thoải mái trên giường
- Lau toàn diện, chú ý những vùng có mạch máu lớn như cổ, nách, bẹn, có diện tích rộng thân, lưng đùi và trán
- Thường xuyên thay khăn (nhúng lại khi khăn khô)
- Lau tích cực cho đến khi nhiệt độ hạ xuống thấp hơn hoặc bằng 38,50C (hoặc giảm 20C so với lúc trẻ sốt)
- Lau khô lại và mặc quần áo dễ thấm hút
e) Chăm sóc khi trẻ bị co giật
- Để trẻ nằm nơi an toàn tránh bị ngã
- Để vật mềm giữa hai hàm răng để trẻ khỏi cắn vào lưỡi
- Đặt đầu trẻ nghiêng về một bên, cởi khăn cúc áo để trẻ dễ thở
Berger (1924) lần đầu tiên thành công trong kỹ thuật ghi điện não đồ ở người,
từ đó đặt nền móng cho ngành điện sinh lý thần kinh trong việc nghiên cứu co giật
Trang 27Lennox (1949) là người đầu tiên nghiên cứu về lâm sàng, điện não đồ và tiến triển của CGDS Sau đó, nhiều bài báo đã được công bố cùng thời kỳ này, người ta cho rằng CGDS là một triệu chứng của nhiễm trùng nội sọ
M Lennox – Buchtal (1973) phát hành cuốn “CGDS – sự phát giá lại”, trong
đó đề nghị điều trị dự phòng liên tục bằng Phenobarbital Tác giả cho rằng CGDS
có thể gây thương tổn não vĩnh viễn nên điều trị dự phòng liên tục bằng Phenobarbital, nhưng thuốc có nhiều tác dụng phụ, do vậy nhiều nghiên cứu sau đó
đi vào hướng tìm biện pháp thay thế
Tháng 5 năm 1980, Viện Quốc gia về sức khỏe ở Mỹ đã hội thảo thống nhất
về CGDS: Định nghĩa, yếu tố nguy cơ, tiến triển, biện pháp điều trị dự phòng Từ
đó, người ta bắt đầu chú ý đến tác dụng phụ của các thuốc kháng động kinh ở trẻ bị CGDS được điều trị dự phòng liên tục và đưa ra các chỉ định điều trị cụ thể hơn
Tại châu Á, trong các hội nghị về thần kinh Nhi khoa, vấn đề CGDS cũng đã được bàn luận rất nhiều
Theo Tonia Jones và Steven J.Jacobsen (2007), ở Mỹ mỗi năm có khoảng nửa triệu trẻ bị CGDS, tỉ lệ tái phát là 30% và tăng lên đến 50% nếu cơn co giật đầu tiên xảy ra ở trẻ dưới 1 năm tuổi
Celine M.Dube (2008), nghiên cứu về cơ chế và mối quan hệ CGDS và bệnh động kinh
Các tác giả Jiong Li và cộng sự (2009) đã nghiên cứu mối liên quan về chấn thương tâm lý nặng trong quá trình mang thai của mẹ và nguy cơ CGDS của trẻ sau này
Tần suất và tỷ lệ mắc bệnh CGDS thay đổi theo tuổi và từng nghiên cứu
Các nghiên cứu về dịch tễ học cộng đồng của CGDS ở trẻ em trên thế giới thông báo tỷ lệ mắc bệnh nói chung vào khoảng 2-5%
Lennox-Buchthal đánh giá tỷ lệ CGDS ở 6 quần thể trẻ em dưới 5 tuổi là 2,9%
Tsuboi (Nhật Bản) thông báo tỷ lệ CGDS của trẻ dưới 3 tuổi trong 6 năm (1974-1980) tại một vùng của Tokyo là 8,3%
Trang 28Ở nước Anh theo dõi trên một quần thể 14.676 trẻ sơ sinh đến 10 năm 1980) thấy 2,7% trẻ ít nhất có một lần co giật
(1970-1.2.2 Việt Nam
Ở Việt Nam, trước những năm 1980 hầu như không có công trình nghiên cứu nào về CGDS Từ hai thập kỷ trở lại đây đã có một số công trình nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tình hình mắc CGDS
Lê Thanh Hải và cộng sự cho biết tỷ lệ CGDS dưới 7 tuổi vào cấp cứu tại khoa cấp cứu lưu bệnh viện Nhi Trung Ương ở giai đoạn 1984-1990 trong quần thể trẻ em cùng nhập viện là 2,12%
Nguyễn Đình Thoại (2000) nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và các yếu tố nguy
cơ của CGDS ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy: CGDS thường xảy
ra ở trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi, tuổi trung bình lúc khởi phát là 18,43 tháng Tỷ lệ tái phát cao, phần lớn sau đợt đầu tiên 24 tháng, chiếm 97,70 %
Lê Thiện Thuyết (2003) nghiên cứu trong 2 năm (2002 - 2003) tại Bệnh viện Trung ương Huế báo cáo có 206 bệnh nhi bị CGDS trên 6513 trẻ nhập viện dưới 15 tuổi và tác giả xác định được tỷ lệ bị CGDS nhập viện là 3,16%
Nghiên cứu của Phạm Thị Lệ Quyên (2005), trong 3 năm từ 2002 - 2004 trung bình mỗi năm có khoảng 500/29743 bệnh nhi vào Bệnh viện Nhi Trung Ương điều trị vì CGDS, tỷ lệ trẻ CGDS dưới 5 tuổi nhập viện là 1,93%
Kết quả nghiên cứu của Cao Xuân Đĩnh (2007) tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho biết: tuổi mắc CGDS trung bình là 16,6 tháng, CGDS tái phát chiếm 63,41%
1.3 Các nghiên cứu về thực trạng kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí co giật do sốt ở trẻ
1.3.1 Thế giới
Nghiên cứu của Paul B Tchounwou, Acadamic Editor (2015) cung cấp một đánh giá rõ ràng về kiến thức của người mẹ về các triệu chứng sốt rét cơ bản và tác động của nó đối với việc lựa chọn các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tính kịp thời của việc tìm kiếm điều trị cho trẻ em dưới năm tuổi bị sốt Phần lớn trẻ em được điều trị tự do nhưng việc sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chính thống còn
Trang 29thấp Điều này làm tăng mối lo ngại về chất lượng dịch vụ được cung cấp trong các trung tâm y tế miễn phí và thời gian chờ đợi
Sanjana Thota và các cộng sự (2018) đã tiến hành nghiên cứu 100 bố, mẹ của trẻ em dưới năm tuổi có tiền sử sốt trong ba tháng tại Ấn Độ đã được lựa chọn ngẫu nhiên và phỏng vấn bằng một công cụ được thiết kế trước cho thấy: 95% cha
mẹ đã nhận thức được nhiệt độ chính xác ở trên mà sốt trở nên có hại Điểm nhận thức về nguyên nhân gây sốt là kém (<1) trong số 41% phụ huynh Điểm số nhận thức về biến chứng của các bà mẹ tốt hơn so với các ông bố (p <0,05) 81% cha mẹ
đã sử dụng kháng sinh; chỉ 18% hỏi ý kiến bác sĩ trước khi làm như vậy 17% cha
mẹ sử dụng kháng sinh không hoàn thành khóa học theo quy định
Nghiên cứu của Maria Kelly và các cộng sự trên 23
bố, mẹ của trẻ tại sáu phòng khám trước sinh ở phía tây nam Ireland trong tháng 3 và tháng 4 năm 2015 họ đã tiết lộ sự khó khăn khi sử dụng thuốc dưới dạng thuốc đạn Sốt gây lo lắng cho họ và là một trong những lý do chính khiến bố, mẹ trẻ tìm kiếm sự trấn an và lời khuyên từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe
Một đánh giá các tài liệu khoa học chỉ ra rằng kiến thức của bố, mẹ về định nghĩa và quản lý sốt là thiếu , Các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Pháp, Palestine và Ả Rập Xê Út đã cho thấy bố, mẹ trẻ hiếm khi xác định chính xác sốt , không biết tần suất chính xác để điều trị thuốc hạ sốt cho trẻ
1.3.2 Việt Nam
Lê Thanh Hải (1990) mô tả kiến thức, thái độ và cách xử trí sốt của bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy kiến thức về chăm sóc trẻ của các
bà mẹ còn thấp, hơn 60% bà mẹ không biết về biến chứng của sốt ở trẻ
Bùi Bình Bảo Sơn (2009) đã đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi của người chăm sóc đối với trẻ bị CGDS, kết quả nghiên cứu cho thấy đa số các bà mẹ không biết cách xử trí đúng khi trẻ bị CGDS: 7% bà mẹ đứng sững, không xử trí gì, 45% đưa trẻ đến cơ sở y tế, 27% lay và đánh thức trẻ, 25% kích thích trẻ đau, 55% ôm ghì chặt trẻ, 33% nắn bóp tay chân, mặc thêm quần áo, 21% cạo gió
Trang 301.4 Các nghiên cứu về các giải pháp dự phòng co giật do sốt ở trẻ
1.4.1 Thế giới
Sakai R1 và các cộng sự (2009) đã nghiên cứu kiến thức và nhận thức các bà
mẹ về sốt ở trẻ em và thực hành quản lý sốt Mục đích của nghiên cứu này là so sánh kiến thức và nhận thức của các bà mẹ về sốt, thực hành quản lý sốt và nguồn thông tin của các bà mẹ có con có và không có tiền sử CGDS Tổng cộng có 386 phản hồi đã được phân tích Những bà mẹ có con bị tiền sử sốt cao đã chứng minh
tỷ lệ chính xác cao hơn trong kiến thức về sốt của họ so với những người trong nhóm khác Các bà mẹ có con bị tiền sử sốt cao đã sử dụng giao tiếp cá nhân, trong khi những bà mẹ trong nhóm khác dựa vào thông tin đại chúng để biết thông tin sức khỏe Cung cấp thông tin chính xác cho các thành viên trong gia đình là điều cần thiết để cung cấp cho các bà mẹ cả thông tin chính xác và hỗ trợ cảm xúc
Nghiên cứu của các tác giả Asiri NA1, Bin Joubah MA, Khan SM, Jan MM (2014) về kiến thức của khi phỏng vấn 92 bà mẹ về kiến thức co giật cấp tính tại Phòng khám Thần kinh Nhi của Bệnh viện Đại học King Abdulaziz, Jeddah, Vương quốc Ả Rập Saudi, cho thấy: 41% chứng kiến ít nhất một cơn động kinh cấp tính ở đứa trẻ bị ảnh hưởng của họ (khoảng 1-15 tuổi, trung bình 4,5) Có tới 26% cảm thấy không hiểu biết gì về việc chăm sóc và quản lý cơn động kinh cấp tính Những
bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn (bằng đại học hoặc cao đẳng) có nhiều khả năng cảm thấy rất hiểu biết (19% so với 11%, p = 0,02) Chỉ 10% biết về một loại thuốc chống động kinh có thể được sử dụng tại nhà để ngăn chặn cơn động kinh kéo dài,
và 35% đề cập rằng họ sẽ đợi trong 15 phút trước khi đưa trẻ đến khoa cấp cứu Từ
đó, nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ hiểu biết và hành vi của người mẹ trong cơn động kinh cấp tính cần cải thiện Nhiều bà mẹ có thông tin sai lệch đáng kể, hành vi tiêu cực và thực hành quản lý kém Tăng cường nhận thức và các chương trình giáo dục là cần thiết
Một nghiên cứu định tính của Mahbobeh Sajadi và Sharareh Khosravi (2017) trên các bà mẹ ở bệnh viện Amir Kabir của thành phố Arak về chia sẻ kinh nghiệm của họ thông qua các cuộc phỏng vấn bán cấu trúc CGDS ở trẻ em là một kinh
Trang 31nghiệm đáng sợ đối với các bà mẹ Kinh nghiệm này có thể có những khía cạnh chưa biết, cần phải được điều tra để có kế hoạch hỗ trợ tốt hơn cho các bà mẹ và trẻ
em Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích khám phá những trải nghiệm của những bà mẹ có con bị CGDS
Nghiên cứu của S S K Abeysekara, M và các cộng sự (2018) được thực hiện trên 150 bà mẹ đang có con dưới 5 tuổi được nhận vào khoa nhi của bệnh viện giảng dạy Kandy bằng phương pháp nghiên cứu định lượng và thiết kế nghiên cứu
mô tả Theo kết quả của nghiên cứu này, kết luận rằng các bà mẹ có con dưới 5 tuổi,
có kiến thức đầy đủ về nguyên nhân, dấu hiệu và triệu chứng của CGDS, nhưng vẫn còn một số lĩnh vực cần được cải thiện Thói quen phổ biến nhất của các bà mẹ trong trường hợp CGDS là tắm bọt biển Tepid, tắm bằng nước lạnh và cho uống paracetamol Hơn nữa, niềm tin tiêu cực vẫn còn tồn tại liên quan đến thói quen phổ biến nhất của các bà mẹ trong trường hợp CGDS và những quan niệm sai lầm đó có thể dẫn đến những hành động không phù hợp hoặc thậm chí có hại trong nỗ lực kiểm soát co giật
1.4.2 Việt Nam
Nghiên cứu “Đặc điểm lâm sàng và kiến thức chăm sóc của bà mẹ có con dưới
6 tuổi bị sốt cao co giật tại bệnh viện Nhi Thái Bình năm 2010” của tác giả Nguyễn
Thị Thanh cho kết quả: 18,8% các bà mẹ kiểm tra sốt khi con bị co giật; các bà mẹ
không sử dụng nhiệt kế mà do cảm nhận chiếm 86,2%; 19,8% các bà mẹ không đánh giá được sốt khi con mình đạng bị CGDS; 53,7% số các bà mẹ cho là cần sử dụng thuốc hạ sốt khi con bị sốt cao tại nhà; các bà mẹ cho là cần sử dụng phối hợp các phương pháp hạ sốt chiếm 67,5%; số các bà mẹ hiểu chưa đúng khi xử trí con đang bị
co giật chiếm 81,3% và 58,3% số bà mẹ chưa biết cách phòng cơn giật cho con mình
Nghiên cứu của Đặng Thị Hà và Đoàn Thị Vân (2010) về khảo sát kiến thức, thái độ và hành vi của 106 bà mẹ có trẻ bị sốt cao đến khám tại bệnh viện đa khoa Phúc Yên cho kết quả 57,5% nhận được nguồn cung cấp kiến thức Chỉ có 36,8 % bà mẹ có kiến thức xử trí tốt; 35,8% có thái độ xử trí tốt và 34,9 % có hành
vi xử trí tốt Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa kiến thức và trình độ học vấn
Trang 32Hầu hết kiến thức về xử trí sốt cao của các bà mẹ về tuổi, nghề nghiệp, thu nhập gia đình, nguồn cung cấp thông tin mẹ thì có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với giá trị P<0,05 Có sự khác biệt giữa kiến thức và hành vi với p=0.023 OR=2.586
Tác giả Trần Thị Lan Phương (2012) khi tiến hành cứu mô tả cắt ngang có can thiệp trên tất cả các trẻ nhi bị sốt đến khám và điều trị tại khoa Nhi bệnh viện
Việt Nam Cu Ba cho thấy có sự thay đổi có ý nghĩa thống kê khi chọn những trẻ sốt cao trên 390C nhưng chưa dùng thuốc hạ sốt trước đó 6 giờ và chia hai nhóm ngẫu nhiên để nghiên cứu: Nhóm một chỉ dùng thuốc hạ nhiệt Paracetamol Nhóm hai: kết hợp dùng thuốc Paracetamol với chườm cơ thể bằng nước ấm Theo dõi nhiệt độ của hai nhóm này sau 15 phút thấy nhóm một giảm 1,1 ± 0,3 độ; nhóm 2
là 0,4 ± 0,3 độ So sánh sự giảm nhiệt độ của hai nhóm sau 30 phút thấy nhiệt độ giảm trung bình của nhóm một là 2,3 ± 0,5, nhóm hai là 1,8 ± 0,6 Từ đó nghiên
cứu kết luận rằng: Chườm ấm kết hợp với uống thuốc hạ sốt có tác dụng giảm
nhiệt tốt hơn so với chỉ dùng uống thuốc hạ sốt đơn thuần
Khi phỏng vấn trực tiếp 240 bà mẹ có con sốt co giật cơn đơn giản tại khoa Cấp cứu bệnh viện Nhi Đồng 2 trong 10 tháng, nghiên cứu của Đoàn Thị Ngọc Diệp
và các cộng sự (2011) chỉ ra rằng 60% bà mẹ (n=144) biết về sốt co giật trong khi 12% (n=29) chưa từng nghe qua bệnh lý này Nguồn thông tin được nhiều bà mẹ tiếp nhận nhất là từ gia đình với 60%, nhân viên y tế chỉ chiếm 35% (n=74) Các bà mẹ cho là bệnh lý này nguy hiểm trong 93% trường hợp (n=224) Chỉ 15% (n= 30) bà
mẹ có hành vi xử trí đúng Yếu tố có liên quan đến tỷ lệ kiến thức và hành vi đúng ở
bà mẹ chính là việc nhận thông tin từ nhân viên y tế Tuy vậy, trong nghiên cứu này, chưa nhận thấy mối liên quan giữa việc có kiến thức đúng của bà mẹ với có hành vi hay thái độ đúng trước sốt cao co giật
Phạm Hải Yến nghiên cứu trên 278 trẻ nhập viện và các bà mẹ có con bị sốt nhập viện tại khoa Nhi - Bệnh viện Quân y 103 trong 2 tháng 8 và 9 năm 2013, cho thấy: 73,7% số trẻ nhập viện là có sốt Nhóm tuổi thường gặp là 6 - 36 tháng (60,9%); 17,6% bà mẹ có hành vi hỗ trợ hạ sốt cho trẻ chưa đúng như chườm nước lạnh, xoa cồn, hoặc không biết làm gì để hỗ trợ hạ sốt cho trẻ; 52,9% số bà mẹ tự
Trang 33dùng thuốc hạ sốt cho con Chỉ có 19,7% số bà mẹ biết nạp thuốc vào hậu môn cho trẻ Còn 7,8% không biết tính khoảng cách thời gian dùng thuốc cho lần tiếp theo
1.5 Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi
Lý thuyết này được Procchaska và Diclemente đưa ra đầu tiên năm 1992, sau
đó được xem xét lại vào năm 1997, và được Prochaska và Velicer hoàn tất vào năm
2002 Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi (TTM - The Transtheoretical Model)
đề cập đến năm giai đoạn trong hình thành hành vi của con người Mô hình lý thuyết thể hiện qua hình 1.1
Lý thuyết TTM được xây dựng dựa trên sự phân tích hệ thống liệu pháp tâm
lý trong nghiên cứu thực nghiệm ở những người hút thuốc lá Lý thuyết này mô tả các giai đoạn hành vi tâm lý liên quan đến sức khỏe con người
Hình 1 1: Mô hình các giai đoạn thay đổi hành vi theo Prochaska (1984)
Chuẩn bị thay đổi
Duy trì hành vi đã thay đổi
Hành động
Trang 341.6 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
1.6.1 Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng được thành lập ngày 29/01/1975 dưới sự giúp
đỡ của các tổ chức của Cộng hòa Liên bang Đức và đi vào hoạt động chính thức ngày 01/9/1977, là bệnh viện chuyên khoa Nhi tuyến thành phố đầu tiên của Miền Bắc
Đến nay, sau hơn 41 năm xây dựng và trưởng thành, bệnh viện Trẻ em trở thành bệnh viện hạng 1 thành phố với 36 khoa phòng, đội ngũ nhân lực chất lượng với gần 600 cán bộ, viên chức Quy mô bệnh viện gồm 500 giường bệnh theo kế hoạch (số giường thực tế do Sở Y tế và bệnh viện thống kê gần 900 giường bệnh), Hiện nay, bệnh viện Trẻ em Hải Phòng là bệnh viện vệ tinh của Bệnh viện Nhi Trung ương Bệnh viện đã và đang triển khai được nhiều kỹ thuật hiện đại, chuyên sâu như phẫu thuật dị tật tim bẩm sinh, sứt môi, hở vòm, phẫu thuật nội soi, nội soi thanh quản ống mềm, tiến tới triển khai kỹ thuật can thiệp tim mạch góp phần rất lớn trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em
Trong thời gian tới, bệnh viện phấn đấu trở thành trung tâm nhi khoa khu vực miền Duyên hải Bắc bộ như tinh thần Nghị quyết số 10/2014/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân thành phố Hải Phòng
1.6.2 Khoa Thần kinh - Tâm bệnh - Phục hồi chức năng
Khoa TK - TB - PHCN hình thành và phát triển trên nền tảng khoa PHCN được thành lập từ năm 1977 khi bệnh viện được thành lập Do mô hình bệnh tật thay đổi, năm 2013 khoa sáp nhập thêm hai đơn nguyên TK - TB được tách ra từ khoa Tim mạch Thời điểm đó, khoa có: 3 bác sĩ, 3 điều dưỡng, 4 kỹ thuật viên với
25 giường bệnh Đến nay, khoa đã có: 5 bác sĩ, 5 kỹ thuật viên, 15 điều dưỡng với
57 giường bệnh nội trú, khám và điều trị ngoại trú hàng nghìn lượt người bệnh/năm
Trang 35Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các bà mẹ có con từ 1 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán
co giật do sốt tại thời điểm nghiên cứu
- Đối tượng khảo sát: Các bà mẹ có con từ 1 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán
co giật do sốt đang điều trị tại bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2019
Lý do chọn từ 1 tháng đến 5 tuổi vì đây là độ tuổi dễ xảy ra CGDS ở trẻ Theo định nghĩa của Viện quốc gia về sức khỏe ở Hoa Kỳ về CGDS: “Là một hiện tượng xảy ra ở trẻ bú mẹ hoặc trẻ nhỏ, thường gặp độ tuổi từ 3 tháng đến 5 tuổi…” Liên hội chống động kinh quốc tế cũng đã đưa ra định nghĩa: “CGDS là co giật xảy
ra ở trẻ em sau 1 tháng tuổi ” Hai định nghĩa này rất giống nhau chỉ khác về giới hạn tuổi (3 tháng so với 1 tháng)
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Các bà mẹ có con được chẩn đoán CGDS đang điều trị tại tại khoa TK – TB – PHCN, bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Các bà mẹ không có khả năng đọc hiểu và tiếp thu kiến thức
- Bà mẹ tham gia điền phiếu không đầy đủ
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2019
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa TK - TB - PHCN, bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Sử dụng thiết kế nghiên cứu can thiệp một nhóm trước sau không đối chứng
để đánh giá hiệu quả của các biện pháp cải thiện kiến thức, thực hành về dự phòng
và xử trí cho trẻ CGDS
Trang 362.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Tiến hành điều tra thử trên 30 bà mẹ để hoàn chỉnh bộ phiếu
Tập huấn điều tra viên để hướng dẫn bà mẹ cách điền phiếu, đảm bảo thông tin thu được mang tính khách quan và đầy đủ
Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp, quan sát thực hành và đánh giá theo bảng kiểm quy trình:
- Phần 1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
- Phần 2: Gồm 16 câu hỏi kiến thức của bà mẹ
- Phần 3: Phần thực hành của bà mẹ gồm kỹ thuật đo nhiệt độ ở nách; kỹ thuật chườm hạ sốt cho trẻ; kỹ thuật chăm sóc khi trẻ bị co giật
Cách đánh giá:
- Phần kiến thức: Bà mẹ tham gia trả lời phỏng vấn, với mỗi 1 ý trả lời đúng chúng tôi cho 1 điểm, không chọn hoặc không biết chúng tôi cho 0 điểm
- Phần thực hành: Bà mẹ thực hiện kỹ thuật chăm sóc trẻ, học viên quan sát
và đánh giá thông qua bảng kiểm quy trình đo nhiệt độ và chườm, làm đúng được 1 điểm, làm sai hoặc chưa làm 0 điểm
Kết quả cuối cùng quy ra thang điểm 10 và tính điểm trung bình
2.5.2 Tổ chức chương trình can thiệp
- Lựa chọn mô hình can thiệp: Căn cứ vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, mô hình “Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi” được lựa chọn Mô hình được Prochaska giới thiệu từ năm 1984 và đã được áp dụng rộng rãi trong các
Trang 37chương trình can thiệp thay đổi hành vi Mô hình này thừa nhận việc thay đổi hành
vi là một quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn cần có những tác động khác nhau
Theo đó quá trình thay đổi hành vi gồm 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Chưa quan tâm đến việc thay đổi hành vi;
Giai đoạn 2: Quan tâm để thay đổi hành vi;
Giai đoạn 3: Chuẩn bị thay đổi;
Giai đoạn 4: Hành động;
Giai đoạn 5: Duy trì hành vi đã thay đổi
Đối tượng can thiệp: Các bà mẹ có con từ 1 tháng đến 5 tuổi đang điều trị co giật
do sốt tham gia vào nghiên cứu
Nội dung can thiệp:
Về kiến thức:
Kiến thức về sốt: Khái niệm về sốt; Nguyên nhân gây sốt; Các mức độ sốt; Nguy cơ của sốt cao
Kiến thức về chăm sóc trẻ bị sốt: Thời gian đo nhiệt độ ở nách, ở hậu môn;
Xử trí đúng khi trẻ sốt cao; Vị trí chườm; Phòng mất nước; Dùng thuốc hạ sốt đúng; Đường dùng thuốc; Thuốc hạ sốt an toàn cho trẻ; Thời gian giữa 2 lần dùng thuốc
hạ sốt; Kiến thức về dự phòng và xử trí co giật
Về thực hành:
Quy trình kỹ thuật đo nhiệt độ ở nách , ;
Quy trình kỹ thuật chườm , ;
Chăm sóc trẻ bị co giật , [13],
Hình thức can thiệp:
Sử dụng phương pháp trực tiếp: Học viên sử dụng mô hình trình diễn và phát
tờ rơi có nội dung giáo dục sức khoẻ về kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí CGDS ở trẻ cho các bà mẹ
Phương tiện gồm có: mô hình, dụng cụ xử trí CGDS và tờ rơi
Trang 38Quy trình can thiệp
Bước 1: Trước can thiệp
- Về kiến thức các bà mẹ tự điền theo bộ câu hỏi dưới sự hướng dẫn của người điều tra
- Về thực hành: quan sát các bà mẹ thực hiện các kỹ thuật chăm sóc trên trẻ hoặc trên mô hình theo bảng kiểm đã được xây dựng
Bước 2: Tiến hành can thiệp
- Thảo luận cùng nhóm bà mẹ về những kiến thức đúng, chưa đúng, những hành vi có lợi và chưa có lợi khi dự phòng và xử trí cho trẻ CGDS
- Truyền thông giới thiệu kiến thức về CGDS cho các bà mẹ.
- Sử dụng mô hình trình diễn các kỹ thuật chăm sóc dự phòng và xử trí
CGDS tái phát theo đúng bảng kiểm quy trình
- Mời mỗi bà mẹ thực hiện lại 1 kỹ thuật vừa hướng dẫn và thảo luận
- Phát tờ rơi cho các bà mẹ
Bước 3 Sau can thiệp
Từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 5 (sau ngày truyền thông và trước khi trẻ ra viện)
- Học viên giám sát và hỗ trợ các bà mẹ thực hành xử trí CGDS
- Tiến hành kiểm tra, đánh giá tại giường bệnh kiến thức, thực hành dự phòng và xử trí CGDS
Trang 39Hình 2 1 Quá trình thay đổi kiến thức, thực hành dự phòng xử trí CGDS
mô hình “Lý thuyết về quá trình thay đổi hành vi”
và cách giải quyết, nhấn mạnh đến những lợi ích thu được nếu thay đổi
Lập kế hoạch hành động, chuẩn bị các kỹ thuật cần thiết để dự phòng và
xử trí CGDS cho trẻ
Theo dõi, hỗ trợ thường xuyên, trao đổi với các bà mẹ về khả năng duy trì những kỹ thuật đã thay đổi và khả năng quay về như cũ
Các giai đoạn
thay đổi
Quá trình thay đổi Hành động can thiệp
Nâng cao nhận thức
Nhận thức về lợi ích của sự thay đổi
Xác định các rào cản
Duy trì và tiếp tục hỗ trợ
Chương trình hành động thay đổi
Trang 402.6 Các biến số nghiên cứu và cách thu thập
2.6.1 Nhóm biến số đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu
- Tuổi (nhóm tuổi), nơi cư trú, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình hình mắc bệnh
mãn tính trước sinh, tiền sử thai sản của bà mẹ Thu thập bằng phỏng vấn
- Tuổi (nhóm tuổi), giới, tiền sử chu sinh, tiền sử sốt cao co giật, tiền sử co giật và thân nhiệt của trẻ tại thời điểm co giật của trẻ Thu thập qua phỏng vấn
2.6.2 Nhóm biến số và về kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt của các bà
mẹ
- Kiến thức của các bà mẹ về sốt trước can thiệp Thu thập bằng phỏng vấn
- Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ sốt trước can thiệp Thu thập bằng phỏng vấn
- Kiến thức của các và mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt trước can thiệp Thu thập bằng phỏng vấn
- Thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ trước can thiệp Thu thập bằng cách quan sát các bà mẹ thực hành và cho điểm theo bảng kiểm
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng của các bà mẹ trước can thiệp Thu thập bằng cách quan sát các bà mẹ thực hành và cho điểm theo bảng kiểm
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt rét của các bà mẹ trước can thiệp Thu thập bằng cách quan sát các bà mẹ thực hành và cho điểm theo bảng kiểm
2.6.3 Nhóm biến số về kiến thức, thực hành xử trí co giật do sốt của các bà mẹ sau can thiệp
- Kiến thức của các bà mẹ về sốt sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp
- Kiến thức của bà mẹ về chăm sóc trẻ sốt sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp
- Kiến thức của các và mẹ về phòng và xử trí co giật do sốt sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp
- Thực hành đo nhiệt độ ở nách của các bà mẹ sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp
- Thực hành chườm ấm hạ sốt cho trẻ sốt nóng của các bà mẹ sau can thiệp, sự thay đổi so với trước can thiệp