BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ KHÁNH THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PH
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ KHÁNH
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TỈNH NAM ĐỊNH
SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NAM ĐỊNH - 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
NGUYỄN THỊ KHÁNH
THAY ĐỔI KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH
VỀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI BỆNH LAO TẠI BỆNH VIỆN LAO VÀ BỆNH PHỔI TỈNH NAM ĐỊNH
SAU CAN THIỆP GIÁO DỤC NĂM 2016
Chuyên ngành: Điều dưỡng
Mã số: 60.72.05.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS Vũ Văn Thành
Nam Định - 2016
Trang 3TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tên đề tài: Thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh lao tại Bệnh viên Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục năm 2016
Mục tiêu nghiên cứu: Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành về về tuân thủ điều trị và đánh giá sự thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người mắc bệnh lao đang điều trị giai đoạn củng cố sau can thiệp giáo dục tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định năm 2016
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp có so sánh trước sau, nghiên cứu viên phỏng vấn bằng bộ câu hỏi trên 55 người bệnh lao đang điều trị giai đoạn củng cố được có tên trong sổ quản lý điều trị tại tại khoa khám bệnh Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định
Kết quả nghiên cứu: Trước can thiệp tỷ lệ người bệnh hiểu biết được đủ 04 nguyên tắc điều trị chiếm 12,7%; 29,1% người bệnh biết 3 nguyên tắc điều trị, 32,7% biết 2 nguyên tắc điều trị, 7,3% không biết nguyên tắc điều trị nào Tỷ lệ tuân thủ sai nguyên tắc điều trị chiếm 72,7% ; trong đó, 18,1% người bệnh tuân thủ sai từ 2 nguyên tắc trở lên Điểm trung bình kiến thức của người bệnh tăng từ
0,6 sau can thiệp sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,01
Kết luận: Thực trạng kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh lao giai đoạn củng cố chưa tốt và có sự thay đổi rõ rệt về kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh sau can thiệp giáo dục
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn tốt nghiệp này là kết quả của quá trình học tập tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định của em trong hai năm theo học chương trình cao học, chuyên ngành khoa học điều dưỡng
Với tình cảm chân thành, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Văn Thành - Phó hiệu trưởng Trường ĐH Điều dưỡng Nam Định- Người Thầy đã hướng dẫn tận tình, chỉ bảo em trong toàn bộ quá trình viết đề cương, thực hiện nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành chương trình học tập
Em xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và cán bộ Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định, đặc biệt là những cán bộ làm công tác chống lao tại phòng khám ngoại trú của bệnh viện - nơi em tiến hành nghiên cứu
Em xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Trung tâm Tiền lâm sàng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, người thân, các bạn bè, đồng nghiệp đã khuyến khích, động viên em học tập và tất cả bạn bè đồng khóa cao học khóa 1 đã cùng nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong suốt 2 năm qua
Cuối cùng, với những phát hiện trong nghiên cứu này, em xin chia sẻ với tất
cả đồng nghiệp đang làm công tác chống lao trên địa bàn tỉnh Nam Định, đặc biệt là các đồng nghiệp tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định
Nam Định, ngày 18 tháng 10 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Khánh
Trang 5LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài “Thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh lao tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục năm 2016 ” là đề tài do bản thân tôi thực hiện Các số liệu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa từng công bố ở bất kỳ một công trình nào khác
Học viên
Nguyễn Thị Khánh
Trang 6MỤC LỤC
Trang TRANG PHỤ BÌA
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CAM ĐOAN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Các khái niệm cơ bản về bệnh lao 4
1.1.1 Bệnh lao 4
1.1.2 Vi khuẩn lao 4
1.2 Điều trị bệnh lao 5
1.2.1 Mục đích 5
1.2.2 Một số phác đồ điều trị lao thông thường 5
1.2.3 Tuân thủ điều trị bệnh lao 7
1.2.4 Nguyên tắc quản lý điều trị người bệnh lao 7
1.2.5 Quản lý điều trị người bệnh lao 8
1.2.6 Đo lường tuân thủ điều trị 10
1.2.7 Một số biện pháp thúc đẩy tuân thủ điều trị 12
1.3 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với tuân thủ điều trị lao 13
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến tuân thủ điều trị lao 15
1.5 Tình hình bệnh lao trên thế giới và Việt Nam 18
1.5.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới 18
1.5.2 Tình hình bệnh lao tại Việt Nam 21
Trang 71.6 Khung lý thuyết 22
1.7 Đôi nét về địa bàn nơi thực hiện nghiên cứu 23
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3 Thiết kế nghiên cứu: 25
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25
2.5 Biến số nghiên cứu : 26
2.6 Phương pháp thu thập số liệu và các bước thực hiện nghiên cứu 30
2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 31
2.8 Chương trình can thiệp 32
2.9 Kiểm soát sai lệch thông tin: 33
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 34
3.2.Thực trạng kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh mắc lao giai đoạn củng cố (n=55) 36
3.3 Sự thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người mắc bệnh lao đang điều trị giai đoạn củng cố sau can thiệp giáo dục 41
3.3.1.Sự thay đổi về kiến thức trước và sau can thiệp 41
3.3.2 Sự thay đổi thực hành tuân thủ điều trị lao trước và sau can thiệp 45
Chương 4: BÀN LUẬN 48
4.1 Thông tin chung của đối tượng 48
4.2 Thực trạng kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh mắc lao giai đoạn củng cố 50
4.3 Sự thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người mắc bệnh lao đang điều trị giai đoạn củng cố sau can thiệp giáo dục 54
4.3.1 Sự thay đổi về kiến thức trước và sau can thiệp 54
4.3.2 Sự thay đổi thực hành tuân thủ điều trị lao trước và sau can thiệp 57
Trang 8KẾT LUẬN 61 KHUYẾN NGHỊ 62 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Phụ lục 1
Phụ lục 2
Phụ lục 3
Trang 9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT AFB: Acide Fast Bacilli
(Trực khuẩn kháng cồn kháng toan)
AIDS: Acquired Immuno Deficiency Syndrome
(Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải)
CBYT: Cán bộ y tế
CTCLQG: Chương trình Chống lao Quốc gia
COPD: Chronic Ostructive Pulmonary Disease
(Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính)
CS: Cộng sự
DOTS : Directly Observed Treatment Short course
(Điều trị lao ngắn hạn có kiểm soát trực tiếp)
ĐTNC: Đối tượng nghiên cứu
HBM: Health Belief Model
( Mô hình niềm tin sức khỏe)
HIV: Human Immunodeficiency Virus
MDR: Multi drug Resistant
Trang 10DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1 Ước tính của TCYTTG công bố về số người bệnh mắc lao mới và tử
vong do lao trên Thế giới năm 2013 [ 52] 19
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu 27
Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới 34
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 35
Bảng 3.3: Tình trạng mắc bệnh và thể bệnh lao 36
Bảng 3.4 Kiến thức về các nguyên tắc điều trị lao trước can thiệp 36
Bảng 3.5 Thực hành tuân thủ điều trị lao trước can thiệp 37
Bảng 3.6 Thực trạng hỗ trợ của cán bộ y tế trong việc tuân thủ nguyên tắc điều trị của người bệnh lao 38
Bảng 3.7 Các yếu tố khó khăn trong tuân thủ điều trị lao 39
Bảng 3.8 Các tác dụng phụ khi sử dụng thuốc điều trị lao 40
Bảng 3.9 Ứng xử của người bệnh khi gặp tác dụng phụ của thuốc 41
Bảng 3 10 Mức độ kiến thức về các nguyên tắc điều trị 41
Bảng 3.11.Mức độ kiến thức từng nguyên tắc điều trị 42
Bảng 3 12 Kiến thức về tác hại của việc không tuân thủ điều trị 42
Bảng 3 13 Kiến thức về thời gian điều trị bệnh lao 43
Bảng 3 14 Sự thay đổi điểm kiến thức trước và sau can thiệp 44
Bảng 3.15 Mức độ tuân thủ các nguyên tắc điều trị trước và sau can thiệp 45
Bảng 3 16 Mức độ tuân thủ từng nguyên tắc điều trị trước và sau can thiệp 45
Bảng 3.17 Sự thay đổi điểm thực hành tuân thủ điều trị trước và sau can thiệp 47
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Quy trình phát hiện và quản lý người bệnh lao của CTCLQG 10
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 34
Biểu đồ 3.2 Tình hình kinh tế hộ gia đình của đối tượng nghiên cứu 35
Biểu đồ 3.3 Thời gian lĩnh thuốc điều trị lao của đối tượng nghiên cứu 38
Biểu đồ 3.4 Sự hỗ trợ của người thân trong tuân thủ điều trị của người bệnh 40
Biểu đồ 3.5 Sự thay đổi kiến thức trước và sau can thiệp 44
Biểu đồ 3.6 Sự thay đổi thực hành về tuân thủ điều trị trước và sau can thiệp 46
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, vấn đề tuân thủ của người bệnh đã nhận được sự quan tâm của các nhà cung cấp dịch vụ y tế, điều này chủ yếu do một thực tế rằng triển vọng hiệu quả và việc áp dụng các biện pháp điều trị cho các bệnh mạn tính, lâu dài không thể thực hiện được nếu người bệnh không tuân thủ điều trị Trong hoạt động điều trị bệnh lao, việc tuân thủ nếu được giải quyết tích cực, thì sẽ cải thiện rõ rệt tỷ
lệ hoàn thành điều trị và kết quả điều trị của người bệnh [34] Ngược lại, không tuân thủ điều trị bệnh lao có thể dẫn đến kéo dài thời gian lây nhiễm, tái phát, xuất hiện kháng thuốc, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong [39] Điều đáng lo ngại và cũng là vấn
đề cấp thiết nhất trong điều trị lao đó là tỷ lệ không tuân thủ điều trị vẫn rất cao Theo Kulkarni (2013) [36], 50% người bệnh lao không tuân thủ điều trị, còn nghiên cứu tại Việt Nam của Nguyễn Xuân Tình (2014) [23] tỷ lệ người bệnh không tuân thủ tất cả các nguyên tắc của điều trị là 63,6% Hậu quả của vấn đề này là tỷ lệ lao kháng thuốc ngày càng tăng lên nhanh chóng Trong năm 2014, ước tính có 3,3% ca lao kháng thuốc mới tương đương khoảng 480000 trường hợp, 20% ca được điều trị trước đây có kháng thuốc trên toàn thế giới và khoảng 190000 ca tử vong do kháng thuốc chống lao [55]
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị được kể đến như thu nhập thấp, tác dụng phụ của thuốc, nghề nghiệp, sự kỳ thị, sự ủng hộ, hệ thống y tế, một số đặc tính cá nhân…[35], [41] Trong số đó thiếu kiến thức và niềm tin vào điều trị được coi là nguyên nhân có ảnh hưởng không nhỏ đến sự tuân thủ của người bệnh Vì thế
từ năm 2006 giáo dục sức khỏe là một giải pháp quan trọng trong chiến lược “ thanh toán bệnh lao” của tổ chức y tế thế giới [50]
Việt Nam đứng thứ 12 trong số 22 nước có gánh nặng bệnh lao cao trên toàn cầu
và là nước đứng hàng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao kháng thuốc cao trên thế giới [9] Công tác chống lao ở nước ta được chính phủ xác định là một trong các chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống các bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS từ tháng 11 năm 1994 Từ 1997 đến nay, thực hiện chiến lược DOTS Chương trình Chống lao Quốc gia đã và đang hình thành mạng lưới chống lao rộng
Trang 13khắp trong toàn quốc Hoạt động phát hiện, chẩn đoán, điều trị và quản lý bệnh lao được phân cấp theo tuyến từ trung ương đến cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân đến cơ sở khám và chữa bệnh lao ở gần nơi sinh sống Tại mỗi tỉnh, thành phố đều có ban điều hành chương trình chống lao cấp tỉnh, đơn vị thường trực
có thể là bệnh viện chuyên khoa, có thể là khoa lao trong trung tâm phòng chống các bệnh xã hội hoặc trung tâm y tế dự phòng Mặc dù cơ cấu và mô hình tổ chức có thể khác nhau giữa các tỉnh thành nhưng chức năng nhiệm vụ chính vẫn là quản lý, điều phối, triển khai công tác phòng chống bệnh lao trên địa bàn tỉnh thành phố[6] Nam Định là tỉnh đặc trưng cho vùng đồng bằng nam sông Hồng và có tỷ lệ mắc lao khá cao Năm 2015 đã phát hiện 1.951 trường hợp, riêng lao phổi AFB (+) được phát hiện là 1116 trường hợp Trong số người bệnh lao phổi AFB (+) thì có 862 trường hợp được điều trị khỏi chiếm 91,4%, số người bệnh bỏ trị là 16 và thất bại điều trị là 3 Tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định, trong năm 2015 đã điều trị khỏi cho 193 trường hợp lao phổi AFB (+), có 5 người bệnh bỏ trị [2] Mặc
dù số người bệnh phát hiện có xu hướng giảm nhưng tỷ lệ lao kháng thuốc được phát hiện lại tăng lên nhanh chóng Nếu năm 2014 chỉ có 32 trường hợp lao kháng thuốc [1] thì năm 2015 bệnh viện đã phát hiện và điều trị lao kháng thuốc cho 58 trường hợp [2] Hiện chưa có nghiên cứu nào về thực trạng tuân thủ điều trị, cũng như nghiên cứu can thiệp nhằm nâng cao nhận thức tuân thủ điều trị bệnh lao cho người bệnh Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Thay đổi kiến thức và thực hành về tuân thủ điều trị của người bệnh lao tại Bệnh
viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định sau can thiệp giáo dục năm 2016 ”, nhằm
2 mục tiêu sau:
Trang 14MỤC TIÊU
người bệnh lao đang điều trị giai đoạn củng cố tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định năm 2016
của người mắc bệnh lao đang điều trị giai đoạn củng cố trước và sau can thiệp giáo dục
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm cơ bản về bệnh lao
1.1.1 Bệnh lao
Bệnh lao là một bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn lao (Mycobacteterium
Tuberculosis) gây nên Vi khuẩn lao lây từ người sang người chủ yếu qua đường hô
hấp Khi người bệnh lao phổi ho, hắt hơi hay khạc nhổ, họ đã phát tán vi khuẩn lao vào không khí, người xung quanh hít thở có thể hít những hạt này vào phổi [17] Một người chỉ cần hít phải một lượng nhỏ vi khuẩn lao cũng sẽ nhiễm lao Khoảng một phần ba dân số thế giới có lao tiềm tàng, có nghĩa là những người này đã nhiễm
vi khuẩn lao nhưng chưa phát triển thành bệnh lao và cũng không gây lây lan bệnh lao sang người khác Khoảng 10% những người đã nhiễm vi khuẩn lao có nguy cơ phát triển thành bệnh lao trong cuộc đời Tuy nhiên, ở những người có suy giảm miễn dịch như người nhiễm HIV, suy dinh dưỡng hoặc tiểu đường hoặc những người nghiện thuốc lá sẽ có nguy cơ bị bệnh lao cao hơn so với những người khác Khi một người bị bệnh lao, các triệu chứng như ho, sốt, ra mồ hôi ban đêm, sụt cân… có thể chỉ ở mức độ nhẹ trong vài tháng Điều này có thể dẫn đến việc chậm tìm kiếm dịch vụ y tế gây ra việc tiếp tục lây lan trong cộng đồng Một người bị bệnh lao có thể gây nhiễm vi khuẩn lao cho khoảng 10 – 15 người mỗi năm thông qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày [25]
1.1.2 Vi khuẩn lao
Vi khuẩn lao do bác sỹ người Đức Robert Koch phát hiện năm 1882, vì vậy còn được gọi là Bacilie de Koch (viết tắt là BK) Vi khuẩn lao dài từ 3-5 µm, không có lông, hai đầu tròn, thân có hạt, chúng đứng riêng rẽ hoặc thành đám trên tiêu bản nhuộm Ziehl neelsen, không làm cồn và acid làm mất màu đỏ của fuchin [21] Trong điều kiện tự nhiên vi khuẩn có thể tồn tại 3-4 tháng, trong phòng thí nghiệm người ta có thể bảo quản vi khuẩn lao trong nhiều năm Khi phát triển vi khuẩn cần
đủ oxy chính vì thế lao phổi là thể bệnh gặp nhiều nhất chiếm 80% trong tổng tất cả các thể lao Bình thường, trung bình 20-24h vi khuẩn lao sinh sản 1 lần, nhưng có
Trang 16khi hàng tháng thậm chí “nằm vùng” ở tổn thương rất lâu, khi gặp điều kiện thuận lợi chúng có thể tái phát triển [20]
1.2 Điều trị bệnh lao
1.2.1 Mục đích
Điều trị bệnh lao là nền tảng quan trọng của Chương trình Chống lao Quốc gia Hiện nay, ở nước ta việc điều trị lao dựa trên cơ sở của một công thức điều trị chuẩn, áp dụng trong điều kiện quản lý người bệnh chặt chẽ Phương pháp điều trị
đó được Tổ chức Y tế Thế giới gọi là DOTS ( Directly Observed Treatment Short Course ) có nghĩa là: Điều trị hoá trị liệu ngắn ngày có kiểm soát trực tiếp
Mục đích điều trị bệnh lao:
- Chữa cho người mắc lao khỏi bệnh, không lây bệnh sang người khác
- Tránh cho người lao nặng khỏi tử vong
- Ngăn chặn hạn chế tổn thương lao phát triển hủy hoại thêm cơ thể
- Phòng chống các biến chứng, các hậu quả do bệnh lao gây ra
- Tránh tái phát
- Không tạo ra các chủng trực khuẩn lao kháng thuốc
- Chống lây nhiễm cho gia đình người bệnh, cho người xung quanh và cho cộng đồng
- Điều trị lao tốt là cách phòng bệnh lao tốt nhất [3] [17]
1.2.2 Một số phác đồ điều trị lao thông thường
Trực khuẩn lao là trực khuẩn đặc biệt, có lớp vỏ có cấu trúc phong phú, phức tạp làm cho nó khó bị các tế bào miễn dịch của cơ thể tiêu diệt Hơn nữa ngoài khả năng tồn tại bên ngoài cơ thể, trực khuẩn lao còn có thể sống tiềm ẩn bên trong tế bào nên tránh được tác động của thuốc chống lao, duy trì được sự tồn tại và khi có điều kiện thuận lợi thì nó phát triển bên trong tế bào Vì thế khó tiêu diệt trực khuẩn lao một cách nhanh chóng như tiêu diệt vi khuẩn thông thường Do vậy điều trị lao không thể nhanh mà cần phải điều trị dài ngày [17]
Điều trị lao có các phác đồ điều trị và đều có 2 giai đoạn tấn công và củng cố với
5 loại thuốc chống lao thiết yếu (hàng 1) là Streptomycin(S), Isoniazid(H),
Trang 17Rifampicin(R), Pyrazinamid(Z), Ethambutol(E) Giai đoạn tấn công (giai đoạn đầu): Kéo dài 2-3 tháng, mục đích giảm nhanh số vi khuẩn lao có trong tổn thương để ngăn chặn đột biến kháng thuốc Sau những ngày đầu tiên tấn công có hiệu quả các trực khuẩn lao không thể tăng trưởng được nữa, trực khuẩn lao ngừng phát triển, tổng số trực khuẩn lao trong đờm giảm nhanh, đặc biệt là trong 2 tuần đầu tiên điều trị Giai đoạn củng cố (giai đoạn tiếp theo): Kéo dài 4 – 10 tháng người bệnh uống thuốc tại nhà, mục đích tiêu diệt hết các vi khuẩn lao trong tổn thương để tránh tái phát Giai đoạn này không cần dùng nhiều loại thuốc nhưng ít nhất phải có một loại thuốc có tính diệt khuẩn và đòi hỏi phải dùng đủ thời gian quy định [3]
Phác đồ IA: 2RHZE(S)/4RHE: Chỉ định cho các trường hợp bệnh lao mới người lớn (chưa điều trị lao bao giờ hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng) Điều trị lao màng tim có thể sử dụng corticosteroid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trong tháng đầu tiên
Phác đồ IB: 2RHZE/4RH: Chỉ định cho các trường hợp bệnh lao mới trẻ em (chưa điều trị lao bao giờ hoặc đã từng điều trị lao nhưng dưới 1 tháng) Điều trị lao màng tim có thể sử dụng corticosteroid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trong tháng đầu tiên
Phác đồ II: 2SRHZE/1RHZE/5RHE hoặc 2SRHZE/1RHZE/5R3H3E3
Chỉ định: Cho các trường hợp bệnh lao tái phát, thất bại, điều trị lại sau bỏ trị, tiền sử điều trị khác, không rõ tiền sử điều trị mà không có điều kiện làm xét nghiệm chẩn đoán lao đa kháng nhanh hoặc không rõ tiền sử điều trị có làm xét nghiệm chẩn đoán lao đa kháng nhanh, nhưng kết quả không kháng đa thuốc Phác đồ III A: 2RHZE/10RHE :Chỉ định lao màng não và lao xương khớp người lớn Điều trị lao màng não có thể sử dụng corticoid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trong tháng đầu tiên và dùng Streptomycin trong giai đoạn tấn công Phác đồ III B: 2RHZE/10RH : Chỉ định lao màng não và lao xương khớp trẻ
em Điều trị lao màng não có thể sử dụng corticoid liều 2mg/kg cân nặng và giảm dần trong tháng đầu tiên và dùng Streptomycin trong giai đoạn tấn công [5]
Trang 181.2.3 Tuân thủ điều trị bệnh lao
Tuân thủ điều trị lao được định nghĩa là "hành vi trùng hợp với các tư vấn của nhân viên y tế về điều trị bệnh lao [44] Hoặc xét về kiểm soát bệnh lao, tuân thủ điều trị có thể được định nghĩa “là mức độ mà lịch sử lấy thuốc điều trị của người bệnh trùng hợp với việc điều trị theo quy định” [51]
Trong điều trị lao theo Chương trình Chống lao Quốc gia của Việt Nam có các 4 nguyên tắc điều trị mà thầy thuốc và người bệnh phải tuân thủ chặt chẽ:
1 Phối hợp các thuốc chống lao: mỗi loại thuốc chống lao có tác dụng khác nhau trên vi khuẩn lao (diệt khuẩn, kìm khuẩn), do vậy phải phối hợp ít nhất 3 loại thuốc chống lao trong giai đoạn tấn công và ít nhất 2 loại trong giai đoạn duy trì
2 Phải dùng thuốc đúng liều lượng: các thuốc chống lao tác dụng hợp đồng, mỗi thuốc có một nồng độ tác dụng nhất định Nếu dùng liều thấp sẽ không hiệu quả và
dễ tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc, nếu dùng liều cao dễ gây tai biến Dùng tất cả các loại thuốc lao một lần trong ngày, không chia nhỏ liều, không bỏ bớt số lượng của một loại thuốc nào
3 Phải dùng thuốc đều đặn hàng ngày: các thuốc chống lao phải được uống, tiêm cùng một lần vào thời gian nhất định trong ngày và xa bữa ăn để đạt hấp thu thuốc tối đa
4 Phải dùng thuốc đủ thời gian và theo 2 giai đoạn tấn công và duy trì: giai đoạn tấn công kéo dài 2, 3 tháng nhằm tiêu diệt nhanh số lượng lớn vi khuẩn có trong các vùng tổn thương để ngăn chặn các đột biến kháng thuốc Giai đoạn duy trì kéo dài 4 đến 6 tháng nhằm tiêu diệt triệt để các vi khuẩn lao trong vùng tổn thương để tránh tái phát [5]
1.2.4 Nguyên tắc quản lý điều trị người bệnh lao
Tất cả các bác sĩ (công và tư) tham gia điều trị người bệnh lao phải được tập huấn theo hướng dẫn của Chương trình Chống lao Quốc gia và báo cáo theo đúng quy định
Sử dụng phác đồ chuẩn thống nhất trong toàn quốc
Điều trị sớm ngay sau khi được chẩn đoán
Trang 19Điều trị phải được theo dõi và kiểm soát trực tiếp: Kiểm soát việc tuân thủ điều trị của người bệnh, theo dõi kết quả xét nghiệm đờm, theo dõi diễn biến lâm sàng, xử trí kịp thời các biến chứng của bệnh và tác dụng phụ của thuốc Với bệnh lao trẻ em phải theo dõi cân nặng hàng tháng khi tái khám để điều chỉnh liều lượng thuốc
Thầy thuốc cần tư vấn đầy đủ cho người bệnh trước, trong và sau khi điều trị
để người bệnh thực hiện tốt liệu trình theo quy định
Chương trình Chống lao Quốc gia cung cấp thuốc chống lao đảm bảo chất lượng, miễn phí, đầy đủ và đều đặn[5]
1.2.5 Quản lý điều trị người bệnh lao
Sau khi được chẩn đoán xác định, người bệnh cần được đăng ký quản lý điều trị ngay càng sớm càng tốt tại một đơn vị chống lao tuyến huyện và tương đương Cán bộ Tổ chống lao sẽ đăng ký người bệnh vào sổ đăng ký điều trị, lập thẻ người bệnh, lập phiếu điều trị có kiểm soát để theo dõi (mỗi người bệnh sẽ có một số đăng
ký, thẻ người bệnh và phiếu điều trị có kiểm soát), đồng thời cán bộ chống lao huyện tư vấn cho người bệnh kiến thức cơ bản về điều trị lao
Sau khi đăng ký quản lý điều trị tại Tổ chống lao – người bệnh được chuyển về
xã điều trị, tại trạm y tế (TYT) xã:
- Đăng ký người bệnh vào sổ Quản lý điều trị bệnh lao (dùng cho tuyến xã và đơn vị tương đương)
- Cán bộ chống lao xã (giám sát viên 1: GSV1) thực hiện điều trị cho người bệnh: nhận thuốc hàng tháng từ tuyến huyện và cấp phát cho người bệnh 7-10 ngày/lần, ghi chép phiếu điều trị có kiểm soát, mỗi lần cấp phát thuốc là một lần giám sát, khám, tư vấn cho người bệnh
- Lựa chọn người giám sát hỗ trợ (giám sát viên 2: GSV2): Có thể là cộng tác viên tuyến xã như: nhân viên Y tế thôn bản, hội viên các hội, tình nguyện viên hoặc là người thân người bệnh, việc lựa chọn người giám sát hỗ trợ
Trang 20(GSV2) làm sao cho phù hợp nhất với từng cá thể người bệnh, có cam kết tham gia với đầy đủ thông tin của 3 bên: CBYT - Người bệnh - GSV2
- Cán bộ chống lao tuyến xã tư vấn cách giám sát hỗ trợ điều trị, kiến thức cơ bản về bệnh lao, hình thức và tần suất trao đổi thông tin giám sát cho GSV2, việc tư vấn này có thể được thực hiện thêm trong các chuyến vãng gia thăm người bệnh, GSV2 có thể được thay đổi trong quá trình điều trị nếu thấy không phù hợp
CBYT xã thực hiện vãng gia thăm người bệnh theo xác suất, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên thăm những người bệnh tiên lượng khả năng tuân thủ điều trị kém
Nhiều trường hợp người bệnh lao được chẩn đoán tại tuyến tỉnh - điều trị tại tỉnh một thời gian sau đó mới chuyển về huyện quản lý điều trị, một số nơi người bệnh được điều trị nội trú một thời gian tại huyện sau đó mới chuyển về xã điều trị, một số nơi đơn vị chống lao huyện trực tiếp quản lý điều trị một số người bệnh - Những trường hợp người bệnh này sau khi điều trị tại các tuyến trên - chuyển về huyện, xã quản lý điều trị phải thực hiện đúng theo quy trình nêu trên
Những người bệnh đang điều trị trong giai đoạn tấn công nếu bỏ trị hai ngày liền hoặc ở giai đoạn duy trì bỏ trị một tuần thì cán bộ y tế cần tìm người bệnh và giải thích cho họ quay lại điều trị
Khi chuyển người bệnh đi nơi khác điều trị phải kèm theo phiếu chuyển và các
hồ sơ người bệnh theo quy định Nơi nhận người bệnh phải có phản hồi tiếp nhận cho cơ sở chuyển ngay sau khi nhận và đăng ký điều trị tiếp, có phản hồi kết quả điều trị khi kết thúc điều trị cho nơi chuyển [5]
Trang 21Biểu đồ 1.1: Quy trình phát hiện và quản lý người bệnh lao của CTCLQG [6] 1.2.6 Đo lường tuân thủ điều trị
Việc đánh giá mức độ tuân thủ điều trị của người bệnh là rất quan trọng giúp cho các bác sĩ có kế hoạch điều trị hiệu quả Ngoài ra, đánh giá mức độ tuân thủ chính xác là cần thiết để đưa ra những bằng chứng thiết thực về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của người bệnh để các nhà quản lý Chương trình Chống lao, có các biện pháp làm tăng cường sự tuân thủ của người bệnh, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong điều trị bệnh lao [51]
Cho đến nay, không có “tiêu chuẩn vàng” nào để đo lường tuân thủ điều trị
Mỗi phương pháp đo lường là đều có những điểm mạnh và những hạn chế nhất định Phương pháp đo lường tuân thủ điều trị tốt đòi hỏi các tiêu chuẩn sau: dễ sử dụng, đáng tin cậy, hiệu quả và chi phí thấp Tuân thủ điều trị có thể được đánh giá bằng hai phương pháp: phương pháp trực tiếp hoặc phương pháp gián tiếp Các biện pháp trực tiếp bao gồm quan sát trực tiếp người bệnh uống thuốc, đo nồng độ thuốc hoặc chất chuyển hóa trong dịch cơ thể, đánh dấu sinh học, theo dõi sự có mặt tại phòng khám Biện pháp gián tiếp thường được sử dụng là tự báo cáo, đánh giá của
Trang 22CBYT, các thiết bị theo dõi điện tử, đếm số lượng thuốc còn lại và các đáp ứng lâm sàng [51].
Phương pháp trực tiếp
- Quan sát trực tiếp bệnh nhân uống thuốc: phương pháp này đánh giá tương đối chính xác về hành vi tuân thủ Nhưng lại tốn thời gian và nhân lực y tế và khó đánh giá các hành vi tuân thủ biện pháp thay đổi lối sống
- Định lượng trực tiếp thuốc hoặc các chất chuyển hóa: phương pháp này cho phép xác định nồng độ thuốc, chất ban đầu hoặc các chất chuyển hóa nhưng chi phí cao, cần mẫu dịch cơ thể (máu, huyết thanh) bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sinh học, độ đặc hiệu giảm theo thời gian và không phải lúc nào cũng thực hiện được [23]
Phương pháp gián tiếp
- Hệ thống tự ghi nhận (Self – report system): phương pháp này dễ thực hiện, chi phí thấp, cung cấp thông tin về các yếu tố rào cản tuân thủ điều trị nhưng lại dễ bị sai số nhớ lại, mang tính chủ quan và thường cho tỷ lệ tuân thủ cao hơn thực tế - Nhật
ký của người bệnh: phương pháp này đơn giản hóa mối tương quan với các sự kiện bên ngoài hoặc ảnh hưởng của thuốc nhưng lại có thể gây ra sự thay đổi hành vi có tính phản ứng và không phải luôn nhận được sự hợp tác của người bệnh
- Đếm số lượng viên thuốc dùng: phương pháp này ước lượng được tỷ lệ tuân thủ ở mức trung bình nhưng người bệnh cần mang vỏ thuốc đến khi tái khám
và nhiều khi không có sự tương quan giữa số viên thuốc đã dùng và vỏ thuốc
Đánh giá theo quan điểm của CBYT: phương pháp này dễ thực hiện, chi phí
thấp, độ đặc hiệu cao nhưng thường tỷ lệ tuân thủ cao hơn thực tế [23]
Sử dụng thiết bị theo dõi điện tử: được gắn trên nắp của mỗi lọ đựng thuốc
từng ngày của người bệnh để ghi lại ngày, giờ nắp được mở ra Đây là phương pháp
có thể áp dụng để phản hồi tuân thủ điều trị của người bệnh và cung cấp các thông tin chi tiết về việc uống thuốc của người bệnh.Tuy nhiên phương pháp này kinh phí quá đắt đỏ, công nghệ hiện đại, sử dụng phức tạp, không đếm được số lượng viên thuốc người bệnh uống do đó chỉ áp dụng được ở những quần thể nhất định [51]
Trang 23Theo dõi sự có mặt của người bệnh: Giám sát và ghi lại việc có mặt và lĩnh
thuốc thăm khám theo lịch hẹn cho phép các nhà cung cấp chăm sóc y tế xác định việc tuân thủ điều trị của người bệnh Người bệnh thường xuyên vắng mặt lấy thuốc không đúng hẹn là ngững người tuân thủ kém Tuy nhiên không phải người bệnh nào có mặt thường xuyên và lĩnh thuốc đúng hẹn đều tuân thủ tốt[51]
Đáp ứng lâm sàng: phương pháp này dễ thực hiện, chi phí thấp nhưng có
nhiều yếu tố khác gây ra đáp ứng trên lâm sàng ngoài tuân thủ điều trị tốt
Như vậy, phương pháp trực tiếp độ chính xác cao nhưng thường tốn kém, còn phương pháp gián tiếp chủ yếu dựa vào sự trả lời của người bệnh về việc uống thuốc và hành vi liên quan đến các chế độ điều trị của người bệnh trong một khoảng
thời gian nhất định Phương pháp này còn được gọi là hệ thống tự ghi nhận (Self –
report system) là phương pháp dễ thực hiện và ít tốn kém nhưng lại phụ thuộc vào
chủ quan của đối tượng nghiên cứu Lựa chọn phương pháp nào là tùy thuộc vào hoàn cảnh thực tiễn của người bệnh và các loại tuân thủ cần được đánh giá [23]
1.2.7 Một số biện pháp thúc đẩy tuân thủ điều trị
- Thúc đẩy sự giám sát của nhân viên - bao gồm các quá trình đào tạo và quản lý nhằm nâng cao cách thức mà các nhà cung cấp chăm sóc cho người bệnh lao
- Nhắc nhở thường xuyên để người bệnh không quên các cuộc hẹn được sắp xếp trước
- Giáo dục sức khỏe cho người bệnh: cung cấp các thông tin về bệnh lao và sự cần thiết phải tham gia để điều trị
- Giảm tối đa các chi phí thăm khám và điều trị cho người bệnh [51]
- Đơn giản hóa phác đồ điều trị: Các phác đồ quá phức tạp cho thấy rằng tỷ lệ người bệnh tuân thủ kém hơn Người bệnh uống thuốc 1 lần 1 ngày sẽ tuân thủ tốt hơn nhiều lần [29]
- Củng cố niềm tin và thay đổi hành vi: củng cố niềm tin cho người bệnh có thể thay đổi hành vi của người bệnh theo hướng tích cực Quá trình này phải trải qua 5 bước: người bệnh cảm thấy rằng mình có nguy cơ thiếu hành vi tích cực, nhận thức được mức độ quan trọng của vấn đề, tin vào những lợi ích khi thay
Trang 24đổi và duy trì hành vi, được truyền thông giáo dục để hạn chế những sợ hãi lo lắng và cuối cùng người bệnh thấy mình có những kỹ năng cần thiết để thực hiện hành vi lành mạnh [29], [46]
- Liệu pháp trực tiếp quan sát (DOT) - một nhóm người được đào tạo (nhân viên
y tế, cộng đồng tình nguyện viên hoặc thành viên gia đình) để giám sát trực tiếp giám sát người bệnh uống thuốc [51]
- Thay đổi cách thức giao tiếp, tư vấn giáo dục sức khỏe của nhân viên y tế đối với người bệnh Nhân viên y tế có thể giao tiếp trực tiếp, qua email, qua điện thoại hoặc thông qua người thân, người chăm sóc Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả giao tiếp, tư vấn người thầy thuốc nên chỉ tập trung 3-4 nội dung chính trong tư vấn không nói nhiều nói lan man, sử dụng đơn giản, ngôn ngữ hàng ngày, sử dụng thêm các tài liệu phát tay [30]
1.3 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe đối với tuân thủ điều trị lao
Giáo dục sức khỏe người bệnh được định nghĩa là "quá trình ảnh hưởng đến hành
vi của người bệnh và gây ra những thay đổi về kiến thức, thái độ và kỹ năng cần thiết để duy trì hoặc cải thiện sức khỏe"[45] Mục đích của giáo dục sức khỏe người bệnh là thực hiện nó như một quá trình toàn diện với mục tiêu thay đổi hành vi của người bệnh và người nhà người bệnh để cải thiện và đem lại lợi ích sức khỏe Giáo dục sức khỏe người bệnh là một nhiệm vụ mà tất cả các nhân viên y tế phải có trách nhiệm
Giáo dục ở đây là cung cấp các thông tin về bệnh lao và điều trị bệnh lao, cũng như sự cần thiết và hậu quả của việc không tuân thủ điều trị Củng cố niềm tin vào điều trị cho người bệnh để họ hoàn thành việc uống thuốc theo đúng các nguyên tắc điều trị [43]
Giáo dục sức khỏe người bệnh là việc cung cấp thông tin đầy đủ và cập nhật về vấn đề sức khỏe của người bệnh với mục đích thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành để duy trì hoặc cải thiện sức khỏe của họ Tư vấn bao gồm một người hoặc nhóm tương tác giữa những người tham gia nghiên cứu và một nhân viên tư vấn
Trang 25Giáo dục, tư vấn sức khỏe cho người bệnh sẽ giúp củng cố niềm tin, tăng cường mối quan hệ giữa nhà cung cấp chăm sóc sức khỏe và người bệnh, thúc đẩy người bệnh tham gia vào việc chăm sóc sức khỏe Giáo dục và tư vấn người bệnh nhằm mục đích cung cấp cho người bệnh có đủ kiến thức, kỹ năng để hiểu biết và tham gia tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe”[39]
Có một số yếu tố góp phần làm giảm kết quả điều trị và các yếu tố đó là các dịch
vụ chăm sóc chưa phù hợp, chẳng hạn như thiếu giáo dục người bệnh WHO đã phát triển một số chiến lược điều dưỡng để cải thiện sự tuân thủ trong điều trị lâu dài, ví dụ như trong bệnh lao Họ thảo luận, giáo dục người bệnh về bệnh tật, tầm quan trọng của sự tuân thủ, tác dụng phụ có thể xảy ra và cách xử trí [49]
Nghiên cứu của Sanmarti, tại Tây Ban Nha về hiệu quả của tư vấn cho bà mẹ có con mắc lao sơ nhiễm với 2 nhóm can thiệp Phương pháp gọi điện tư vấn bởi các điều dưỡng 3 tháng một lần làm tăng hành vi tuân thủ điều trị 44% so với nhóm không được tư vấn Còn với phương pháp tư vấn tại nhà 3 tháng một lần giúp tăng hành vi tuân thủ điều trị 46 % so với nhóm không được tư vấn Nghiên cứu của White năm 2002 tại Mỹ với đối tượng là các tù nhân mắc lao thì cho kết quả là nếu
cứ 2 tuần có một buổi tư vấn thì tăng khả năng hoàn thành điều trị của người bệnh lao lên 94% [39]
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Alvarez Gordillo gdel C , Alvarez Gordillo
JF , Dorantes Jiménez JE [28] cho thấy những tác động tích cực của chương trình giáo dục sức khỏe về sự cải thiện liên tục hành vi chăm sóc và tuân thủ cho người bệnh lao phổi trên 15 tuổi, khi mà nhóm người bệnh có can thiệp giáo dục sức khỏe
tỷ lệ tuân thủ là 97,7% so với nhóm người bệnh không can thiệp giáo dục thì tỷ lệ tuân thủ là 81,4%
Nghiên cứu của các tác giả Clark PM và CS với đối tượng là những người bệnh lao mới điều trị lần đầu tiên Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa nhóm được can thiệp giáo dục về tuân thủ điều trị thuốc (n=56) bởi các dược sỹ lâm sàng và nhóm được chăm sóc thông thường thông qua quan sát sự có mặt của người bệnh tại
Trang 26phòng khám và những lần lĩnh thuốc, tái khám, đếm số thuốc còn lại và kết quả phân tích lượng các chất chuyển hóa của isoniazid trong nước tiểu người bệnh [31] Kết quả nghiên cứu gần đây của Lee và CS trên đối tượng những người bệnh lao
có thu nhập thấp trong xã hội tại Bangladesh, cho thấy nhóm can thiệp giáo dục có
tỷ lệ điều trị thành công là 78%; trong khi đó, nhóm đối chứng chỉ có 70% Từ đó các tác giả đưa ra kết luận: giáo dục trực tiếp từ các bác sĩ có thể cải thiện sự tuân thủ của người bệnh điều trị bệnh lao, ngay cả khi người bệnh kém học thức và thu nhập thấp [37]
1.4 Các nghiên cứu liên quan đến tuân thủ điều trị lao
Từ năm 1993, WHO đã đề nghị một chiến lược, qua đó chính phủ các nước có thể nhìn nhận trách nhiệm để điều trị người bệnh và ngăn chặn sự lây lan của bệnh lao Bốn trong số các yếu tố chính của chiến lược đó là DOTS, cam kết của các chính phủ, cải thiện các dịch vụ phòng thí nghiệm, cung cấp liên tục các loại thuốc
có chất lượng tốt và một hệ thống báo cáo để ghi lại sự cải thiện cũng như thất bại trong điều trị cho từng người bệnh
Không tuân thủ điều trị của người bệnh lao đang là vấn đề nhức nhối và đáng báo động Năm 2013 Kulkarni P.Y và CS [36] nghiên cứu về không tuân thủ điều trị của người bệnh lao phổi mới tại một phường của thành phố Mumbai Ấn độ Họ tiến hành theo dõi và phỏng vấn 156 người bệnh thì có đến 78 người (50%) là không tuân thủ điều trị Yếu tố nguy cơ độc lập cho người không tuân thủ được xác định là nam giới (p = 0,035) và thiếu hiểu biết về tầm quan trọng của điều trị thường xuyên (p = 0,001) Nữ mại dâm cũng là một yếu tố nguy cơ tuyệt đối cho người không tuân thủ Những lí do không tuân thủ được đưa ra là quên đến trung tâm 19,2% (15/78), bận công việc 19,2% (15/78), tác dụng phụ của thuốc 16,7% (13/78) Từ
đó họ đưa ra kết luận: cần giáo dục sức khỏe liên tục, hiệu quả và củng cố cho người bệnh Nhóm đặc biệt là nam giới trong độ tuổi từ 15-49 tuổi, những người bệnh không có bất kỳ hỗ trợ gia đình như những người di cư, phụ nữ mại dâm cần đặc biệt chú ý để đảm bảo tuân thủ điều trị thuốc chống lao
Trang 27Nghiên cứu của Akilew A.A và CS năm 2013 về không tuân thủ điều trị lao và xác định các yếu tố ảnh hưởng giữa người bệnh lao tại vùng tây bắc Ethiopia [27] Nghiên cứu điều tra cắt ngang bằng bộ câu hỏi phỏng vấn được tiến hành trên 280 người bệnh lao Kết quả cho thấy tỷ lệ không tuân thủ chung cho một tháng trước
và bốn ngày cuối cùng trước khi cuộc khảo sát lần lượt là 10% và 13,6% Không tuân thủ là cao nếu người bệnh có sự lãng quên (OR 7,04, CI 95% ), giai đoạn điều trị củng cố của hóa trị liệu (OR: 6.95, CI 95%), có triệu chứng của bệnh lao trong cuộc phỏng vấn (OR: 4.29, CI 95%), và có đồng nhiễm với HIV (OR: 4.06, CI 95%)
Năm 2006, Bam T S và CS [30] phỏng vấn 234 người bệnh lao phổi mới đờm dương tính về các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị lao tại Nepal cho kết quả: Lý do đưa ra bởi người bệnh không tuân thủ bao gồm 61% người do không đủ kiến thức về sự cần thiết để có điều trị hàng ngày, đặc biệt là sau khi họ cảm thấy bệnh tốt hơn Tuổi trẻ, kiến thức về bệnh lao và giáo dục sức khỏe hàng ngày có liên quan với tăng sự tuân thủ
Nghiên cứu mức độ tuân thủ điều tri của người bệnh lao phổi dương tính trong đờm được chăm sóc tại Bệnh viện trung tâm Zomba, miền Nam Malawi từ năm
2007 đến năm 2008 của Tobias C và CS (2013) [49], trong số 524 người bệnh được nghiên cứu có 184 (35,1%) người bệnh không hoàn toàn tuân thủ điều trị lao Trong
số này, 159/184 (86,4%) đã bỏ ít hơn 15 ngày điều trị và 43 (23,4%) người bệnh đã
bỏ ít nhất một ngày điều trị trong cả hai giai đoạn điều trị tấn công và củng cố Kết luận được đưa ra là: không tuân thủ điều trị tỷ lệ cao và ngay cả khi đã được quan sát trong 2 tháng đầu điều trị Vì vậy, những nỗ lực về tư vấn tuân thủ điều trị nên tập trung vào tư vấn tăng cường để cải thiện sự tuân thủ trong giai đoạn điều trị tích cực
Nghiên cứu của Ying T và CS năm 2015 [57] cho kết quả: Tỷ lệ người bệnh đã
bỏ một ngày thuốc trong vòng hai tuần là 93/794 (11,71%) và những người đã bỏ ít nhất hai ngày thuốc trong vòng hai tuần là 167/794 (21,03%), với tổng số 33,74 % người bệnh không tuân thủ điều trị lao Thiếu kiến thức về điều trị lao và thời gian
Trang 28đi lại lâu hơn để các trung tâm y tế cộng đồng gần nhất là yếu tố dự báo quan trọng cho không tuân thủ
Theo Mekde K.G và CS [40] các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị lao là niềm tin chữa khỏi bệnh lao, tác dụng phụ, gánh nặng thuốc, khó khăn kinh tế, thiếu thức ăn, sự kỳ thị và thiếu thông tin liên lạc đầy đủ với các chuyên gia y tế Ngoài ra nghiên cứu của Salla A.M 2007 [47] thì vấn đề tổ chức chăm sóc điều trị không hợp
lý, người bệnh thiếu tự tin, kiến thức về điều trị, luật nhập cư các đặc điểm cá nhân như tuổi, nghề nghiêp… cũng là các rào cản tuân thủ
Ở Việt Nam theo nghiên cứu của Lê Thành Tài tại Hậu Giang [21] tỷ lệ người bệnh không tuân thủ tiêm thuốc tại trạm chiếm 88,4%, người bệnh tuân thủ uống thuốc tại trạm chiếm 70,5%, số uống thuốc đúng theo hướng dẫn lúc đói chiếm 63,2%, số tuân thủ việc nghỉ ngơi hoàn toàn trong điều trị chỉ có 48,4%, số uống thuốc trong giai đoạn củng cố đúng theo qui định chiếm 87,4%
Trong nghiên cứu Nguyễn Xuân Tình năm 2013 tại phòng khám ngoại trú Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Bắc Giang [23] thì tỷ lệ người bệnh biết tất cả các nguyên tắc điều trị là 11,6% Tỷ lệ người bệnh tuân thủ tất cả các nguyên tắc của điều trị là 36,4% Những yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị gồm: Người bệnh trên 60 tuổi, người dân tộc thiểu số, không sống cùng vợ/chồng, thuộc diện nghèo hoặc cận nghèo và có tác dụng phụ của thuốc
Nghiên cứu của Uông Thị Mai Loan, Hồ Thị Hiền và Lưu Thị Liên năm 2009 [16], thì tỷ lệ người bệnh lao phổi không tuân thủ điều trị còn cao Nhìn chung trong giai đoạn tấn công tỷ lệ không tuân thủ cao hơn giai đoạn duy trì Tỷ lệ không tuân thủ các nguyên tắc ở 2 giai đoạn tương ứng là 88,5% và 66,7% Tỷ lệ không tuân thủ 3 nguyên tắc trở lên cao, chiếm 30% và 22,4%; nguyên tắc không được tuân thủ nhiều nhất là uống thuốc đều đặn chiếm 90% và 86,2 % ở 2 giai đoạn tấn công và duy trì Nghiên cứu đưa ra những yếu tố liên quan đến việc tuân thủ điều trị như trình độ học vấn, hiểu biết về nguyên tắc điều trị, nhận thức tuân thủ, được người thân giám sát nhắc nhở Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, định
Trang 29lượng kết hợp nghiên cứu định tính và sử dụng số liệu thứ cấp Có 174 người bệnh thu nhận điều trị tại phòng khám lao Hai Bà Trưng từ tháng 1/2009 đến hết tháng 12 năm 2009 được phỏng vấn trực tiếp Số liệu được thu thập trên người bệnh lao phổi,
sử dụng bộ câu hỏi định lượng có cấu trúc đã được thiết kế sẵn Ngoài ra, số liệu định tính bao gồm phỏng vấn sâu 5 CBYT và 6 người bệnh lao cũng đã được thực hiện nhằm tìm hiểu kiến thức, thực trạng tuân thủ điều trị cũng như DOTS từ góc nhìn của CBYT và người bệnh
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Cư và Nguyễn Thị Ngọc Đảnh năm 2009 [12] thực hành chung đúng trong tuân thủ điều trị chỉ chiếm tỷ lệ 5,5%, 86% người bệnh
bỏ thuốc, uống thuốc không đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc
Tuy có nhiều nghiên cứu về tuân thủ điều trị bệnh lao nhưng hầu hết các đề tài chỉ tập trung vào khảo sát thực trạng và các yếu tố liên quan; từ đó, đưa ra khuyến nghị là tăng cường hơn nữa công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh và cộng đồng Trong khi đó, rất ít đề tài nghiên cứu đánh giá hiệu quả của công tác giáo dục sức khỏe cho người bệnh lao và cộng đồng để từ đó củng cố, bổ sung cho chương trình5 giáo dục sức khỏe đạt hiệu quả tốt hơn
1.5 Tình hình bệnh lao trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Tình hình bệnh lao trên thế giới
Những năm đầu của thế kỷ 21, tỷ lệ mắc lao ở một số khu vực trên thế giới, sự bùng phát lao đồng nhiễm HIV và sự xuất hiện lao kháng thuốc đã báo động chính phủ các nước trên toàn cầu có những giải pháp chống lại bệnh lao là một
ưu tiên Riêng trong thập kỷ qua, với những nỗ lực toàn cầu, tỷ lệ mắc bệnh lao,
tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ tử vong đã giảm Tuy nhiên, bệnh lao vẫn là vấn đề y tế cộng đồng của toàn cầu Hiện nay, khoảng một phần ba dân số thế giới nhiễm vi khuẩn lao, khoảng 9 triệu người trong số đó phát triển thành bệnh hàng năm [53]
Trang 30Bảng 1.1 Ước tính của WHO công bố về số người bệnh mắc lao mới và tử
vong do lao trên Thế giới năm 2013 [ 52]
Khu vực
Số người mắc lao mới Số người tử vong
số lượng (nghìn)
Tỷ lệ (/ 100000 dân)
số lượng (nghìn)
Tỷ lệ (/ 100000 dân)
nữ trong độ tuổi 15-44 Trong năm 2014, ước tính có khoảng 1 triệu trẻ em bị bệnh lao và 140000 trẻ em đã chết vì căn bệnh này Lao cũng là nguyên nhân gây
tử vong hàng đầu của người nhiễm HIV, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [56] Trong năm 2013, ước tính có khoảng 1,1 triệu của 9.000.000 trường hợp mắc lao mới có HIV dương tính và trong số 1,5 triệu người chết vì bệnh lao ước tính có khoảng 360.000 là HIV dương tính [54] Năm 2015, 1 trong 3 trường hợp
tử vong HIV là do bệnh lao Trên toàn cầu trong năm 2014, ước tính có khoảng 480.000 người phát triển bệnh lao đa kháng thuốc Năm 2014, số lượng các trường hợp lao mới mắc tại khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương chiếm 58% các trường hợp mới mắc trên thế giới Tuy nhiên, châu Phi mang gánh nặng nề nhất, với 281 trường hợp trên 100000 dân vào năm 2014 (so với
Trang 31mức trung bình toàn cầu là 133) Khoảng 80% các trường hợp lao báo cáo xảy ra tại 22 quốc gia (trong đó có Việt Nam) Sáu quốc gia có số lượng lớn nhất các trường hợp lao trong năm 2014 là Ấn Độ, Indonesia, Nigeria, Pakistan, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Nam Phi Các mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ là ngăn chặn và đẩy lùi dịch bệnh lao vào năm 2015 đã được đáp ứng trên toàn cầu Tỷ lệ lao đã giảm trung bình 1,5% mỗi năm kể từ năm 2000 và bây giờ là thấp hơn so với mức của năm 2000 là 18% Tỷ lệ tử vong do lao đã giảm 47% từ năm 1990 đến năm 2015 Ước tính có khoảng 43 triệu người đã được cứu sống nhờ chẩn đoán và điều trị lao từ giữa năm 2000 đến năm 2014 [56]
Mức độ nặng nề của bệnh lao đã ảnh hưởng tới thu nhập quốc dân và chỉ số phát triển con người của các quốc gia Các nghiên cứu về kinh tế y tế cho thấy, mỗi người bệnh lao sẽ mất trung bình 3-4 tháng lao động, làm giảm 20-30% thu nhập bình quân của gia đình và làm cho họ càng nghèo hơn Những gia đình có người chết sớm vì bệnh lao có thể sẽ mất tới 15 năm thu nhập Bệnh lao đã tác động mạnh tới 70% đối tượng lao động chính của xã hội, làm lực lượng sản xuất
bị giảm sút, năng suất lao động giảm và sẽ không tham gia lao động được Diễn đàn các đối tác chống lao lần thứ nhất diễn ra năm 2001 tại trụ sở của Ngân hàng thế giới ở Washington D.C với sự có mặt của đại diện cấp Bộ trưởng từ các quốc gia có tình hình bệnh lao nặng nề đã nhận định, bệnh lao là nguyên nhân chủ yếu làm nghèo đói dai dẳng và là trở ngại đối với sự phát triển kinh tế xã hội Bệnh lao là bệnh của người nghèo, lây lan nhanh trong cộng đồng có điều kiện sống chật chội, thiếu vệ sinh, thông khí và dinh dưỡng kém Trên 95% số người bệnh lao, 98% số chết do lao trên toàn cầu thuộc các nước có thu nhập vừa và thấp, 75% số người bệnh bệnh lao ở các lứa tuổi 14-55, là tuổi đang ở độ tuổi lao động làm ra nhiều của cải nhất cho xã hội Người nghèo mắc lao cao hơn 2,5 lần so với người không nghèo Người mắc bệnh không có khả năng lao động, gia đình phải nuôi và chạy chữa từ 3-4 tháng, thu nhập giảm khoảng 30% Hơn nữa, nếu mắc lao kháng thuốc, đa kháng thuốc thì việc chạy chữa còn kéo dài và tốn kém rất nhiều tiền của người bệnh, gia đình và xã hội Bệnh lao là kết quả của nghèo
Trang 32đói và nghèo đói lại là nguyên nhân làm cho bệnh lao phát triển đó là vòng luẩn quẩn giữa bệnh lao và đói nghèo [7]
Chiến lược thanh toán bệnh lao được thông qua bởi Tổ chức Y tế Thế giới tháng 5 năm 2014, là một kế hoạch chi tiết cho các nước chấm dứt dịch bệnh lao bằng cách giảm nhanh số người tử vong vì lao, tỷ lệ mắc và chi phí điều trị Và vạch ra mục tiêu tác động toàn cầu để giảm 90% tử vong do bệnh lao và giảm 80% các trường hợp lao mới giữa năm 2015 – 2030, đảm bảo rằng không có gia đình nào phải gánh chịu chi phí quá tốn kém do điều trị lao
Thanh toán bệnh lao vào năm 2030 là một trong những mục tiêu phát triển bền vững mới được thông qua, WHO đã đi một bước xa hơn và thiết lập một mục tiêu đến năm 2035 là giảm 95% tỷ lệ tử vong và giảm 90% tỷ lệ nhiễm lao, tương
tự như mức hiện nay ở các nước có tỷ lệ mắc lao thấp
Chiến lược vạch ra 3 biện pháp cần được thực hiện để kết thúc một cách hiệu quả bệnh lao:
- Chăm sóc và phòng chống bệnh là trung tâm tích hợp
- Tăng cường chính sách và hệ thống hỗ trợ
- Tăng cường nghiên cứu và đổi mới
Sự thành công của chiến lược sẽ phụ thuộc vào các nước tôn trọng 4 nguyên tắc chính sau khi họ thực hiện các biện pháp can thiệp được nêu trong mỗi biện pháp trên:
- Tăng cường quản lý, trách nhiệm nhà nước, với sự giám sát và đánh giá
- Liên minh mạnh mẽ với các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng
- Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, đạo đức và công bằng
- Chiến lược và mục tiêu ở cấp quốc gia phải gắn kết với sự hợp tác toàn cầu [56]
1.5.2 Tình hình bệnh lao tại Việt Nam
Việt Nam bắt đầu triển khai các hoạt động chống lao từ năm 1957 với việc thành lập Viện Chống Lao Trung ương (nay là Bệnh viện Phổi Trung ương) Chương trình Chống lao Quốc gia Việt Nam được thành lập năm 1986 và đạt được độ bao phủ toàn bộ về địa lý vào năm 2000 Chương trình Chống lao Quốc gia Việt Nam là một
Trang 33trong những chương trình thành công nhất về kết quả điều trị, với tỷ lệ điều trị thành công các ca bệnh lao có AFB dương tính mới liên tục đạt trên 90% từ năm
1998 [24]
Mặc dù đạt được kết quả này nhưng theo báo cáo WHO, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc lao cao trên thế giới và khu vực Tây Thái Bình Dương; đứng thứ 14 trong số 27 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất thế giới; đồng thời đứng thứ 3 sau Trung Quốc và Philipines về số lượng người bệnh lao lưu hành cũng như người bệnh lao mới xuất hiện hàng năm Trong năm 2012, tỷ
lệ lao ước tính (bao gồm cả các người bệnh HIV dương tính) là 147 trên 100.000 dân; tỷ lệ tử vong (không bao gồm HIV) là 20 trên 100.000 dân [54] Báo cáo của WHO năm 2015, phát hiện và quản lý 102.087 trường hợp lao; tỷ lệ lao hiện mắc các thể ước tính (bao gồm cả các người bệnh HIV dương tính) là 198 trên 100000 dân; tỷ lệ lao mới mắc là 140 trên 100000 dân và tỷ lệ tử vong (không bao gồm HIV) là 18 trên 100.000 dân Tỷ lệ mắc bệnh lao trong số các trường hợp HIV dương tính được ước tính là 7.6 trên 100.000 dân Trong đó, có 3.000 (4%) trường hợp lao mới kháng thuốc và 2.100 (23%) ca lao phổi điều trị tái phát kháng thuốc [55]
1.6 Khung lý thuyết
Yếu tố liên quan Trước can thiệp Sau can thiệp
Giáo dục Sức khỏe
Nhân khẩu học
Nhận thức về tuân thủ điều trị
- Các nguyên tắc điều trị
-Lợi ích của tuân thủ
-Hậu quả nếu không tuân thủ
Thay đổi nhận thức
và thực hành về tuân thủ điều trị
Trang 341.7 Đôi nét về địa bàn nơi thực hiện nghiên cứu
Viện lao và bệnh phổi tỉnh Nam Định là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng
3, với chức năng, nhiệm vụ thực hiện Chương trình chống lao Quốc gia trong toàn tỉnh, cùng với công tác khám, điều trị cho người bệnh lao và các bệnh phổi khác Là
cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo Chương trình chống lao của tỉnh, Bệnh viện đã tham mưu cho UBND tỉnh, Sở Y tế chỉ đạo các huyện, thành phố kiện toàn mạng lưới chống lao, duy trì hoạt động mạnh đều khắp cả 3 tuyến tỉnh, huyện, xã, phường, với 413 cán bộ chuyên trách cùng 2.780 cộng tác viên chống lao y tế thôn, xóm Với quy mô 160 giường bệnh và 102 cán bộ y tế, hàng năm bệnh viện tiếp nhận khoảng 3.000 người bệnh, trong đó có khoảng 1.000 người bệnh lao, còn lại là các bệnh phổi ngoài lao khác, trong số bệnh phổi ngoài lao thì số liên quan đến thuốc lá, lào chiếm khoảng 60 %, chủ yếu là người bệnh COPD Hơn 50 năm qua, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định luôn luôn là điểm sáng của ngành y tế trên cả 2 mặt công tác: điều trị nội trú và phòng chống lao, được Ban điều hành Chống lao Quốc gia đánh giá là một địa phương có hoạt động chống lao mạnh toàn quốc Năm 2015 toàn tỉnh đã phát hiện 1.951/1.645 trường hợp đạt 118,6% trong đó
1116 là lao phổi AFB (+) chiếm 57,3 %, tỷ lệ lao phổi AFB (+) là 58.4/100.000 dân, lao phổi AFB (-), lao ngoài phổi 835/1.951 trường hợp chiếm 42,8%, lao trẻ em 75 trường hợp và tỷ lệ lao các thể 100/ 100.000 Riêng bệnh viện lao và bệnh phổi tỉnh phát hiện 723 trường hợp với tỷ lệ bỏ trị là 2,4% và 0,9% thất bại trong điều trị Bệnh viện cũng đa tiến hành khám sàng lọc lao cho 206 lượt người bệnh HIV, phát hiện 21 trường hợp mắc lao chiếm 10,2% Ngoài tình hình lao/HIV thì lao kháng đa thuốc cũng đang diễn biến phức tạp Được sự quan tâm của Bệnh viện phổi Trung ương - Dự án phòng chống lao năm 2015 tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định tiếp tục triển khai quản lý điều trị người bệnh lao đa kháng thuốc và được triển khai máy Gene-Xpert để chẩn đoán lao và lao kháng đa thuốc trong vòng 2 giờ và
đã phát hiện 58 người bệnh MDR [2]
Trang 35Quy trình tiếp nhận, quản lý điều trị người bệnh tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định
Người bệnh khi đến bệnh viện, họ được các nhân viên (CBYT) hướng dẫn, làm thủ tục khám tại Phòng tiếp đón khoa khám bệnh Sau khi hoàn thành thủ tục đăng
ký, người bệnh đến Phòng khám để Bác sỹ khám và chẩn đoán bệnh, chỉ định làm các xét nghiệm, chụp X- quang hay làm những thăm dò cận lâm sàng khác Khi có các kết quả người bệnh trở lại phòng khám để Bác sỹ phân loại bệnh, tư vấn và đưa
ra kết luận cuối cùng
Người bệnh không cần nằm điều trị nội trú sẽ được Bác sỹ tư vấn, kê đơn thuốc điều trị tại nhà, điều trị hết đợt người bệnh trở lại tái khám Những người bệnh cần điều trị nội trú, sau khi hoàn thành các thủ tục nhập viện, sẽ được đưa về các khoa điều trị nội trú Người bệnh lao sau khi hoàn thành điều trị tấn công, được Bác sỹ tư vấn, hướng dẫn trước khi xuất viện, người bệnh có hộ khẩu tại huyện chuyển về quản lý, theo dõi và điều trị tiếp ở tuyến huyện Người bệnh trên địa bàn thành phố Nam Định tiếp tục được quản lý tại khoa khám bệnh của bệnh viện ( tương đương với tuyến huyện) Hàng tháng nhân viên y tế phường, xã thuộc thành phố sẽ đến họp, báo cáo và lĩnh thuốc tại khoa khám bệnh của bệnh viện để phát cho người bệnh tại trạm y tế Khi có lịch hẹn người bệnh phải đến phòng khám bệnh viện xét nghiệm, tái khám định kỳ
Trang 36CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh mắc bệnh lao và hồ sơ người bệnh đang được quản lý điều trị tại khoa khám bệnh, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Người bệnh mắc lao từ 18 tuổi trở lên đang điều trị lao giai đoạn củng cố + Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
- Tiêu chuẩn loại trừ
+ Người bệnh đồng nhiễm lao/HIV
+ Người bệnh lao kèm theo bệnh cấp tính khác
+ Người bệnh lao không có khả năng giao tiếp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 4/2016 đến 10/2016
- Địa điểm: Khoa khám bệnh, Bệnh viện Lao và Bệnh phổi tỉnh Nam Định 2.3 Thiết kế nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp can thiệp giáo dục sức khỏe có so sánh trước sau
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Công thức tính cỡ mẫu được áp dụng như sau:
Trang 37- Z(1-) là giá trị Z thu được từ bảng Z tương ứng với giá trị Với lực mẫu là 90% ( = 0,1), mức ý nghĩa 95% ( = 0,05), tương đương với Z(1-) = 1,65 và
- p0 là tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị tốt trước can thiệp Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Tình [23] năm 2014 tại Bắc Giang, tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị tốt đạt 36,4% Do đó lấy p0= 0,364
- p1 là tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị tốt sau can thiệp Theo nghiên cứu của Alvarez Gordillo gdel C và CS [28] sau can thiệp giáo dục thì tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng lên 18% Ước tính nghiên cứu của chúng tôi tăng lên 20% Do đó lấy P1= 0,564
Thay vào công thức trên tính được n = 51 Theo sổ quản lý điều trị ngoại trú của phòng khám hiện có 61 người bệnh mắc lao ( không bao gồm 15 người nghiên cứu thử trước đó) đang được quản lý điều trị tại phòng khám trong thời gian nghiên cứu và đáp ứng tiêu chuẩn nghiên cứu Để loại trừ trường hợp người bệnh không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc bỏ cuộc, nên chúng tôi chọn toàn bộ người bệnh mắc lao điều trị sau giai đoạn tấn công 1 tháng và trước khi kết thúc phác đồ 1 tháng, đang được quản lý và điều trị tại phòng khám bệnh viện lao và bệnh phổi Nam Định, hồ sơ bệnh án của những người bệnh này và các báo cáo thống kê của phòng khám Tuy nhiên, trong quá trình thu thập số liệu chỉ có 55 đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu Đây là những người bệnh có hộ khẩu tại thành phố Nam Định, sau khi điều trị nội trú tại bệnh viện sẽ được về lĩnh thuốc và theo dõi giám sát tại các phường, xã khi đến lịch hẹn tái khám, làm xét nghiêm thì được thực hiện tại phòng khám bệnh viện
2.5 Biến số nghiên cứu :
Được chia thành 4 nhóm biến số
- Nhóm 1: Thông tin chung về ĐTNC
Trang 38- Nhóm 2: Kiến thức của ĐTNC về những NTĐT bệnh lao
- Nhóm 3: Thực hành về việc tuân thủ các NTĐT của ĐTNC
- Nhóm 4: Thông tin liên quan đến việc thực hiện NTĐT
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
TT Biến số Định nghĩa biến - Các chỉ số
nghiên cứu
Phân loại biến số
PP, Kỹ thuật thu thập TT
Tính tròn theo năm dương lịch, lấy năm 2016 trừ đi năm sinh của ĐTNC
Là giới tính của ĐTNC lao,
Trang 39II Kiến thức về tuân thủ điều trị của người bệnh
đúng liều lượng
Là liều lượng thuốc đúng được sử dụng cho mỗi người bệnh cụ thể
Nhị phân Phỏng vấn
9 Dùng thuốc đều
đặn
Là dùng thuốc đều đặn hàng ngày theo một giờ nhất định Nhị phân Phỏng vấn
đúng cách
Là dùng thuốc hàng ngày (tiêm, uống) cùng một lúc xa bữa ăn
Là thời gian cần thiết ít nhất
để điều trị khỏi bệnh lao theo
Nhị phân Phỏng
vấn
Trang 40IV Thông tin các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị
Phỏng vấn
Danh mục Phỏng
vấn