Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, sự góp mặt của các bài viết các công trình nghiên cứu về Vũ Bằng, cũng như việc tái bản liên tục nhiều tác phẩm của ông, đã trở thành sự kiện
Trang 1đại học quốc gia hà nội tr-ờng đại học khoa học xã hội và nhân văn
Mã số: 60.22.34
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS TS hà văn đức
Hà Nội - 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn học Việt Nam từng ghi nhận sự góp mặt của nhiều nhà văn, nhà thơ từ
cổ chí kim Tuy nhiên, xuất phát từ nhiều lí do, không phải tác phẩm nào ra đời cũng được người đọc yêu thích, đón nhận ngay Và không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng được tìm hiểu, nghiên cứu một cách đầy đủ, khách quan.Vũ Bằng là một trong những trường hợp như thế Chúng ta có thể cho thấy rõ tầm đón đợi của công chúng đối với tác phẩm của ông ở mỗi thời khác nhau như thế nào Có thể nói, những biến đổi của hoàn cảnh lịch sử, kinh nghiệm sống, nhận thức chính trị, vốn văn hóa, trạng thái tâm lí… đã có ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp nhận của người đọc và tạo nên sự khác biệt ấy
Đồng hành cùng thời cuộc của đất nước Từ những năm 30 của thế kỉ
XX, Vũ Bằng liên tục cho ra đời những tác phẩm với nhiều thể loại khác nhau Nhưng việc nghiên cứu, tìm hiểu về kí của Vũ Bằng cũng như việc xuất bản và tái bản tác phẩm của ông, đã có sự “chững lại” từ sau ngày đất nước thống nhất
Từ khi nhà văn được công nhận là chiến sĩ tình báo như một sự minh oan, xóa đi những định kiến bất thành văn, cuộc đời và sự nghiệp của ông đã thu hút mạnh
mẽ sự quan tâm của độc giả và các nhà nghiên cứu
Những năm cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI, sự góp mặt của các bài viết các công trình nghiên cứu về Vũ Bằng, cũng như việc tái bản liên tục nhiều tác phẩm của ông, đã trở thành sự kiện có ý nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại Điều đó cho thấy xã hội đã quan tâm và đánh giá công bằng, khoa học hơn những đóng góp thiết thực của nhà văn đối với nền văn học nước nhà
1.2 Là nhà văn, nhà báo, Vũ Bằng hiện diện trên văn đàn Việt Nam từ những năm 30 của thế kỉ XX, lúc còn rất trẻ Từ đấy, như con tằm nhả tơ, ông miệt mài sáng tạo, “dệt” cho đời những tác phẩm văn học có giá trị Ông viết nhiều thể loại, phản ánh nhiều vấn đề xã hội, con người trong nhiều bối cảnh khác nhau của cuộc sống với phong cách riêng biệt, góp những gam màu sống động cho nền văn học hiện đại nước nhà Gần hai phần ba cuộc đời chuyên tâm cho sáng
tác, Vũ Bằng đã để lại một văn nghiệp rất đáng chú ý Cai, Miếng ngon Hà Nội,
Thương nhớ mười hai, Món lạ miền Nam… là tác phẩm lớn, luôn được đón
nhận, đã thật sự neo đậu trong lòng người đọc, trong đời sống văn học, dù thời cuộc có đổi thay
Trang 31.3 So với những nhà văn cùng thế hệ, cuộc đời và sáng tác của Vũ Bằng quả có nhiều điểm không bình thường Vừa hoạt động tình báo vừa sáng tác văn chương, vừa viết báo, lại chịu nhiều khổ đau, oan ức trong cuộc đời, phải sáng tác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau… chúng làm nên nét đặc biệt, thôi thúc sự quan tâm, tìm hiểu của người đọc và của những người làm công tác nghiên cứu Không những thế, từ những năm sau đổi mới, khi những nghi vấn về cuộc đời và
về văn nghiệp được làm sáng tỏ, Vũ Bằng là một trong số ít nhà văn Việt Nam
có số lượng tác phẩm tái bản nhiều, lại có tác phẩm được chọn lựa đưa vào sách giáo khoa Song các công trình nghiên cứu tỉ mỉ, toàn diện về các sáng tác của
Vũ Bằng, đặc b iệt là ở thế kí chưa nhiều Vì vậy, mà chúng tôi quyết định chọn
đề tài Một số đặc điểm nghệ thuật kí Vũ Bằng làm đối tượng nghiên cứu cho
luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vũ Bằng là một trong những hiện tượng văn học mà ngay từ khi xuất hiện trên văn đàn đã thu hút sự quan tâm của công chúng cũng như các nhà nghiên cứu Trên rất nhiều sách, báo, tạp chí đã xuất bản trong và ngoài nước,
Vũ Bằng được nghiên cứu và giới thiệu về nhiều mặt, với nhiều góc độ khác nhau
Những sáng tác kí của Vũ Bằng là sự góp phần hiện đại hóa một thể loại không xa lạ với độc giả nói chung Đây cũng là sự so sánh đối chiếu với các tác giả cùng thời Đồng thời, những sáng tác kí của ông đã khắc phục được những hạn chế mà thơ ca hay văn xuôi không đáp ứng được trước những nhu cầu ngày càng đa dạng của cuộc sống con người
Mặc dù vậy, như đã nói, các sáng tác kí của Vũ Bằng còn xa lạ với bạn đọc
và các công trình nghiên cứu về các tác phẩm kí của ông còn rất ít và chưa có tính hệ thống Hầu hết chỉ là những bài báo mang tính chất giới thiệu, đánh giá
về các tác phẩm khi mới ra đời Chúng ta có thể kể ra một số bài báo tiêu biểu đánh giá về các tác phẩm kí của Vũ Bằng như:
Bài viết năm 1944 ở mục Phê bình sách mới trên tiểu thuyết thứ bảy
nguyệt san, (số 7) Thượng Sỹ có nhiều lời đánh giá, ngợi khen hồi kí Cai, vì lần
đầu được thấy một nhà văn Việt Nam kể về chuyện của chính mình một cách
hoàn toàn thành thật, “sự thực làm cho người đọc, ở lắm đoạn đến ghê sợ, và lắm đoạn cảm động đến rơi nước mắt” [97;7] Theo tác giả, trong những sách
Trang 4truyện nói về thuốc phiện trước đó, chưa có một cuốn nào ý thành thực phơi bày
tâm lí người nghiện thuốc phiện rành rẽ như cuốn Cai
Bài viết năm 1960 của Lô Răng sau khi đọc quyển hồi kí Bốn mươi năm
nói láo, Khởi hành, (số16), tác giả đã cảm nhận: “Khi gấp sách lại rồi tôi mới
nhận ra rằng cái chất Vũ Bằng đã dẫn mình đi – cái cảm khái, tàng tàng, cười cợt kia đã làm mình quyến rũ” [94;14]
Bài viết năm 1969 của Thượng Sỹ trong lời giới thiệu cuốn Bốn mươi
năm nói láo, khi cuốn sách được xuất bản lần đầu tiên Theo Thượng Sỹ, Bốn mươi năm nói láo là “lịch sử một kiếp sống lê thê của người viết báo chuyên
nghiệp xứ này” Đó là: “Lịch sử một kiếp sống gắn theo với nhiều kiếp sống, và
đó cũng là tâm tư của một người, của nhiều người, cùng đeo đuổi một nghề và thường cùng nuôi một hoài bão như nhau” [29;7]
Bài viết của Huy Hoàng về Miếng ngon Hà Nội: tác giả đã khẳng định
“Qủa tình chưa có một tác phẩm nào làm tôi rung động bằng Miếng ngon Hà
Nội Phải chăng vì tác giả đã viết ra bằng cả một tấm lòng tha thiết nhớ quê
hương?” Miếng ngon của Vũ Bằng được viết với một niềm say mê, đắm đuối đánh động đến cảm xúc tâm hồn, cảm xúc về quê hương đất nước của biết bao thế hệ bạn đọc Việt [42;233]
Bài giới thiệu Món lạ miền Nam năm 1972 của Châu Vũ trên Tạp chí ý
thức, (số 5), cho rằng Vũ Bằng viết tác phẩm là xuất phát từ tình cảm đối với
những người miền Nam mà lòng hiếu khách, tính nhẫn nại, chất phác, hiền hòa
đã làm ông xúc cảm Nhà phê bình thể hiện nhận thức về miếng ăn qua ý hướng
của Vũ Bằng: “miếng ăn là một cái gì có thể gọi là “linh thiêng” nối kết con
người với quê hương, với xóm giềng” [118;8] Theo tác giả, viết Món lạ miền
Nam, Vũ Bằng “muốn khơi dậy trong chính mình và những người xung quanh
cái tự hào dân tộc, niềm tin tưởng ở tiền đồ tổ quốc, đã từ lâu ốm o mòn mỏi và đôi khi giao động bàng hoàng trước những thực tế chát đắng, chua cay”
[118;8]
Bài viết về Thương nhớ mười hai của Giáo sư Hoàng Như Mai, tác giả đã
khẳng định, ngợi ca sức hấp dẫn của tác phẩm là tấm lòng và ngòi bút tài hoa
của tác giả “Dù phải thích nghi với hoàn cảnh chính trị như thế nào đấy, cuốn sách vẫn bày tỏ rất tâm sự của một người con miền Bắc nhớ da diết quê hương bên kia giới tuyến” Chính tấm lòng ấy đã cùng với ngòi bút tài hoa của Vũ
Trang 5dòng, từng trang” [37; 4] Giáo sư Hoàng Như Mai còn nhấn mạnh: cuốn sách
“có ý nghĩa như một nhịp cầu giao lưu văn hóa” vì nó giới thiệu những sản vật từng tháng ở miền Bắc nước ta, góp phần “làm cho bạn bè năm châu hiểu biết thêm một khía cạnh đặc sắc của nước mình” và “làm cho chúng ta có ý thức tôn trọng hơn đối với những giá trị của quê hương” [37; 5]
Sau Giáo sư Hoàng Như Mai, phải kể đến bài viết năm 1991 của Tô Hoài
“Vũ Bằng – Thương nhớ mười hai”, Tạp chí văn học, (số 1) Tô Hoài đã đánh giá rất cao Thương nhớ mười hai, coi đó là “một nét anh hoa của tấm lòng với
cuộc đời”, “từng câu tha thiết đã làm cho đến những người đương ở giữa Hà Nội những sành sỏi và sâu sắc toát ra từ ngòi bút sao mà nhớ đến não nùng”
[69;31- 16]
Vũ Quần Phương bằng sự cảm thụ tinh tế của một nhà thơ đã nêu bật được
một nét đặc sắc của tác phẩm trên nhiều phương diện: “Tình yêu quê hương đất
nước ấy là linh hồn của những trang viết hay nhất trong Thương nhớ mười
hai” [91;6] Bao hàm trong đó, còn có tình cảm gia đình truyền thống của người
dân Việt Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh còn nhìn thấy vẻ đẹp của cái tôi tác giả
thể hiện trên trang văn: “Một con người ham chơi, hiếu động, sành sỏi ẩm thực, tinh tế, tài hoa và rất có duyên Anh yêu tha thiết quê hương đất nước mình”
[82; 40]
Ngoài ra, còn một số bài viết nhỏ, lẻ bình phẩm vẻ đẹp tác phẩm qua đoạn
trích: Tháng ba rét nàng bân có giá trị như của Nguyễn Thị Thanh Xuân, Đặng
Anh Đào
Nguyễn Thị Thanh Xuân năm 1994 trong bài “Khúc ca cảm hoài của kẻ
tình nhân” lại đi sâu khám phá nhân vật trữ tình: “một chàng nhân tình hào hoa
lịch lãm, biết sống đẹp và cảm người yêu của mình đến từng chân tơ kẻ tóc”
Tác giả cũng chú ý nguồn mạch tạo nên cái đẹp của tác phẩm cái đẹp như ta đã
thấy qua “tháng ba rét nàng Bân – vốn có từ đời sống, nhưng cũng là phát hiện riêng của tâm hồn Vũ Bằng”
Còn Đặng Anh Đào năm 1996 với bài viết “Tháng ba đi tìm thời gian đã
mất”, Tiếng nói tri âm, T.2,Nxb.Trẻ,Tp.HCM Lại là lời ca ngợi cảnh sắc thiên
nhiên trong đoan văn coi đó là: “Cuốn phim ảnh màu tuyệt đẹp” về “Những biến động tinh tế nhất của cỏ cây, mây nước” và ngợi ca vẻ đẹp của người đàn bà có cái tên giản dị: Qùy: “Nàng là ánh sáng huyền diệu, kì ảo tỏa ra ngay từ đầu tác phẩm” Tác giả bài viết cũng là người đầu tiên nêu cụ thể nét đặc sắc trong nghệ
Trang 6thuật kí Vũ Bằng “nhân vật trữ tình và chủ thể hành động không được đặt ở một ngôi duy nhất như thường thấy trong thể hồi kí”
Nghiên cứu về kí của Vũ Bằng, đầy đủ và dành nhiều công sức, tâm huyết
có lẽ là Văn Gía năm 2000 với công trình: Vũ Bằng – Bên trời thương nhớ
Tác giả đánh giá cao về kí của Vũ Bằng: “Ngòi bút viết kí của ông lấp lánh tài hoa” Văn Gía đã dành khá nhiều trang để ca ngợi những tác phẩm kí của Vũ
Bằng như: Thương nhớ mười hai Theo anh thì Vũ Bằng đã “trãi gấm hoa” lên
những trang văn, và “ngay cả người đọc khó tính nhất cũng phải thừa nhận
Thương nhớ mười hai là một tác phẩm đặc sắc trong nền văn học Việt Nam
hiện đại [63;59] Mạnh dạn hơn, Văn Gía còn khẳng định: “Với những tác phẩm
kí trữ tình này, ông đã có một vị trí chắc chắn trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam Lịch sử thể loại kí trong lịch sử văn học Việt Nam sẽ phải khắc đến ông như một sự đóng góp quan trọng không thể thiếu được” [63; 85]
Tiếp theo còn có Lưu Khánh Thơ với bài viết năm (2000), “Vũ Bằng bên
trời thương nhớ”, Lao động (2/6/2000), Đỗ Hải Ninh năm (2006), “Kí trên hành trình đổi mới”, Nghiên cứu văn học (số 11)
Như vậy, có thể nói, các bài viết này đã nêu bật được những đặc trưng tiêu
biểu và quan trọng nhất trong các tác phẩm kí của Vũ Bằng là đã phản ánh một cách khách quan, chân thực về cuộc đời, thiên nhiên, con người, văn hóa, phong tục, và nắm bắt được bản chất của cuộc sống với lối viết giản dị, chân thực nhưng cũng giàu chất thơ Tuy nhiên, sự nhìn nhận, đánh giá còn chưa thật cụ
thể và hệ thống
3 Mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Với việc chọn đề tài Một số đặc điểm nghệ thuật kí Vũ Bằng, chúng tôi
muốn đi vào tìm hiểu cuộc sống và con người, thiên nhiên, văn hóa ẩm thực được phản ánh trong các tác phẩm và nghệ thuật viết kí của ông Từ đó, đóng góp một phần nhỏ vào lĩnh vực nghiên cứu, phê bình văn học Đồng thời góp phần tìm hiểu một cái nhìn mới về thể loại kí trong cảm quan của một nhà văn, nhà báo Từ đó, có thể tìm hiểu một cách hoàn thiện và đầy đủ hơn về thể loại kí trong thời hiện đại
Trang 73.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các tác phẩm kí của Vũ Bằng Tuy nhiên, có sự so sánh, đối chiếu với các tác giả trước đây và tác giả cùng thời để có cái nhìn tổng thể và toàn diện hơn
Các tập kí của Vũ Bằng được khảo sát trong luận văn này:
- (1944), Cai , Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
- (1949), Bát cơm, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
- (1960), Miếng Ngon Hà Nội, Nxb Nam chi tùng thư, Sài Gòn
- (1969), Bốn mươi năm nói láo, Csxb Phạm Quang Khải, Sai Gòn
- (1970), Món lạ miền Nam, Nhà sách tân văn, Sài Gòn
- (1971), Thương nhớ mười hai, Nhà sách tân xuân, Sài Gòn
- (2000), Tuyển tập Vũ Bằng (tập 1), Nxb Văn học, Hà Nội
- (2003), Mười chín chân dung nhà văn cùng thời, Nxb ĐHQGHN
- (2004), Mười bốn gương mặt nhà văn đồng nghiệp, Nxb Hội nhà văn, Hà
Nội
- (2005), Vũ Bằng toàn tập – tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu
Khi tiến hành thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp
nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp lịch sử - xã hội
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn gồm có
ba chương
Chương 1 Khái lược kí và hành trình sáng tác của Vũ Bằng
Chương 2 Cuộc sống và con người, thiên nhiên, văn hóa ẩm thực trong các tác
phẩm kí của Vũ Bằng
Chương 3 Nghệ thuật kí Vũ Bằng
Trang 8PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 KHÁI LƯỢC KÍ VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA VŨ BẰNG 1.1.Khái lược kí
Theo Từ điển tiếng việt định nghĩa kí là “một thể văn tự sự viết về người
thật, việc thật, có ý nghĩa thời sự, trung thành với hiện thực ở mức độ cao nhất”
Theo Từ điển văn học xác định: “Kí là một loại hình văn học bên cạnh
thơ, tiểu thuyết và kịch, bao gồm nhiều thể loại như bút kí, hồi kí, du kí, nhật kí, phóng sự, tùy bút, tạp văn, tự truyện… Kí phản ánh sự việc và con người”
Cũng như tiểu thuyết, kí là một loại văn học vô cùng linh hoạt và năng động Từ thể loại này, nhiều nhà văn đã bộc lộ tài năng và trở nên nổi tiếng như:
Tư Mã Thiên, M.Gorki, I.Erenbua, JohnReed, Lỗ Tấn…
Trong Văn học Việt Nam, kí cũng là một trong những thể loại văn học được các nhà văn chuyên tâm sáng tác và các nhà lí luận phê bình quan tâm với nhiều ý kiến khá đa dạng và phong phú về việc xác định khái niệm và đặc trưng thể loại
Từ lí thuyết của các nhà nghiên cứu, từ thực tế sáng tác của các nhà văn
,chúng tôi xác định: kí là một loại thể mang tính thời sự, nhạy bén và giàu biểu cảm Nó phản ánh chính xác, linh hoạt hiện thực đời sống và thể hiện ý tưởng cảm xúc của nhà văn về hiện thực ấy Kí bao gồm các thể: bút kí, hồi kí, du kí, phóng sự, tùy bút, tạp văn…
Về việc phân biệt kí văn học và kí báo chí, đã từng có những quan niệm khác nhau, hoặc phân chia một cách cực đoan hoặc xóa nhòa ranh giới giữa kí văn học và kí báo chí Riêng chúng tôi thống nhất với quan niệm xem cả hai loại
kí đều tôn trọng tính xác thực và tính thời sự, song “kí báo chí đòi hỏi tính xác thực phải được bảo đảm ở mức tuyệt đối, và tính thời sự cũng mang tính chất cấp bách” và kí văn học thì “đề ra yêu cầu cao hơn chất suy nghĩ và tình cảm của chủ thể”
Trong văn học Việt Nam hiện đại, nhiều nhà văn dùng kí để phản ánh nhanh nhạy và trọn vẹn các thời đoạn, các sự kiện lịch sử chủ yếu của đời sống đất nước và con người Việt Nam như Nguyễn Đình Thi, Thép Mới, Nguyễn Khải, Nguyễn Trung Thành… cũng có nhà văn sử dụng kí như một loại tự truyện đó là Nguyên Hồng, Tô Hoài, Anh Thơ, Huy Cận…Tuy nhiên, có lẽ, trên
Trang 9Nguyễn Tuân, Vũ Bằng và sau này là Hoàng Phủ Ngọc Tường, với Nguyễn Tuân tùy bút là thể loại mà ông thủy chung và chính nó đã làm cho ngòi bút ông thăng hoa và để lại dấu ấn cá tính trên từng trang viết Điều đó thể hiện ở việc lựa chọn thể loại có chủ địch và việc đặt tên cho tác phẩm của Nguyễn Tuân
(Tùy bút I, Tùy bút II) Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, bút kí (Ngôi sao trên
đỉnh phu văn lâu, Rất nhiều ánh lửa, Hoa trái quanh tôi, Ai đã đặt tên cho dòng sông…) và nhà đàm, là thể loại nhà văn gắn bó và được xem là tài năng
Còn Vũ Bằng hồi kí và tùy bút được xem là thể loại nhà văn thành công nhất Tuy nhiên, Vũ Bằng không có sự gắn bó chuyên biệt với chúng như hai nhà văn nói trên mà ở tác phẩm của ông, ta thấy có sự giao thoa giữa các thể kí Điều này
đã tạo nên sự khác biệt của ông so với các nhà văn khác cùng viết thể loại này
Có thể nói, kí chiếm vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Vũ Bằng và cũng chính kí làm nên nét độc đáo, riêng biệt của ông Nghiên cứu kí
Vũ Bằng trong hành trình phát triển của nó trên cơ sở lí thuyết đề cập và nhằm làm rõ những đặc sắc mà kí của nhà văn này đã đạt được
1.2 Hành trình sáng tác của Vũ Bằng
Là một nhà văn, nhà báo Vũ Bằng không thể thoát ra được hoàn cảnh lịch sử xã hội mà mình đang sống để sáng tác Hơn nữa, ông lại là nhà văn có số phận khá đặc biệt, vừa sáng tác như một nhà văn chuyên nghiệp; lại vừa dùng văn chương như một vỏ bọc cần thiết để thực nhiệm vụ cách mạng với tư cách của một nhà tình báo Vì vậy, có thể nói, Vũ Bằng là một nhà văn có số phận đặc biệt mà cuộc đời luôn bị quy định bởi hoàn cảnh lịch sử Hoạt động sáng tác của ông chịu sự chi phối của lịch sử văn học và chịu ảnh hưởng từ những biến động của chính trị xã hội Và ngược lại, chính hoạt động nhiều mặt và số phận đặc biệt của ông đã là một dấu ấn đặc biệt trong lịch sử văn học hiện đại Đây là điểm mới mà luận văn cần hướng tới
1.2.1 Cuộc sống và hoạt động văn học những năm trước 1945
1.2.1.1 Cuộc sống những năm trước 1945
Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng Ông sinh ngày 03/ 06/ 1913 tại Hà Nội Bình tro thi hài ông ở chùa Vĩnh Nghiêm, ghi năm sinh là 1913 Trên thực
tế, ngoài công trình nghiên cứu của Thế Phong, Văn Gía và Từ điển văn học
xác định Vũ Bằng sinh năm 1913, còn lại các bài viết trên sách báo đều cho rằng
Vũ Bằng sinh năm 1914 Nhà giáo Vũ Hoàng Tuấn (con trai của nhà văn Vũ Bằng và bà Nguyễn Thị Qùy) cho biết 1913 là năm sinh chính xác theo gia phả
Trang 10và bài vị trên bàn thờ tổ Ông không biết vì sao lại có tài liệu ghi là 1914 Tờ trích lục hôn thú của Vũ Bằng và bà Lương Thị Phấn cũng ghi năm sinh của ông
là 1913
Sinh ra trong một gia đình nho học nổi tiếng ở phố Hàng Gai, Hà Nội
Cụ thân sinh là Vũ Đăng Tự, hiệu Ân học, xuất thân từ dòng họ túc nho Vũ hồn – một Dòng họ nổi tiếng truyền thống khoa bảng nhiều đời, thuộc xã Ngọc Thục, Huyện Luông Ngọc, tỉnh Hải Dương Hai cụ thân sinh Vũ Bằng làm nghề xuất bản, có nhà sách Quảng Thịnh ở số 115 phố Hàng Gai Hà Nội, chuyên in
ấn và phát hành những chuyện dân gian, chuyện Nôm, đáp ứng nhu cầu đọc cho
bà con ở các làng quê Và cũng chính từ nguồn sách này và từ kho sách riêng của gia đình, Vũ Bằng đã có được những hiểu biết về văn học Việt Nam và văn học Thế giới Niềm thích thú, say mê văn chương cũng từ đó nảy sinh Ông tâm
sự: “Tôi chỉ nhớ rằng thuở nhỏ tôi ưa đọc sách là vì nhà tôi là nhà bán sách, ngoài thời gian học bài tôi phải ngồi bán sách, xếp sách để gửi bán đi khắp nước Lúc rãnh tôi vồ lấy sách để đọc: từ đọc sách tôi thích đọc báo; đọc mãi thấy hay thì tôi làm thơ, tôi viết báo…” [29;13]
Là con thứ tư trong một gia đình có chín người con, Vũ Bằng không phải vất vả trong chuyện mưu sinh mà còn được mẹ và các anh chị tạo điều kiện học hành Lúc nhỏ, Vũ Bằng học tại trường tiểu học Hàng Vôi Lớn lên, ông
theo học trường Lycee Albertsarrau - một trường Pháp nổi tiếng ở Hà Nội vào
thời ấy Đó là ngôi trường dành cho con em người Pháp; con em người Việt phải thuộc hàng có thế lực hoặc khá giả mới vào được Vũ Bằng trở thành học sinh của trường nhờ vào sự giàu có của gia đình và mối quen biết của bà cụ thân sinh với một số người khách qua những lần mua bán
Gia đình và trường học là môi trường đầu tiên để Vũ Bằng thực hiện sở thích của mình – viết văn và làm báo Bà mẹ của Vũ Bằng dự định, sau khi ông tốt nghiệp, sẽ nhờ một người Pháp nhận ông làm con nuôi để đưa sang Pháp học
về nghề thuốc hoặc luật, để ra Làm tri huyện Nhưng những tính toán, dự định của bà đã không thành Vào năm cuối học tú tài, Vũ Bằng bỏ học để theo nghề viết báo
Thời thơ ấu của Vũ Bằng trôi qua khá êm đềm trong một gia đình đầm
ấm, cầu tiến Tuy thiếu thốn tình cảm của cha từ lúc bé nhưng ông lại may mắn
có được bà mẹ tháo vát, luôn vì con và đặt niềm tin vào các con Vũ Bằng cũng
Trang 11nâng đỡ nhau Vũ Bằng lớn lên, có điều kiện học hành và đến với văn chương, báo chí trong hoàn cảnh gia đình thuận lợi, không bị chi phối bởi khó khăn, trở ngại nào Tuy nhiên, cũng chính từ cuộc sống sung sướng trong gia đình giàu có,
từ tình yêu thương mù quáng của người cô, từ sự chiều chuộng hết mực của người mẹ và nhất là từ sự nông nổi của bản thân mà những ngày còn là học sinh
ấy, Vũ Bằng đã sa đà, nghiện hút, thích ăn chơi, rượu chè Ở tuổi đôi mươi, ông
đã nghiện thuốc phiện rất nặng Lại thêm những ngày đầu viết báo, ông suy nghĩ hết sức ngây thơ ( cũng có thể đây là một cách biện hộ cho sở thích nông nổi của ông): là một nhà báo thì phải khác người, phải lập dị Và để tỏ ra mình cũng là tay lão luyện như ai, ông hút dữ, uống dữ.Vũ Bằng đã bước vào đời bằng những bước đi chênh vênh như thế
Bằng ý thức vươn lên, bằng nghị lực mạnh mẽ, ông đã vượt thoát được vòng tay “nàng tiên nâu” Từ những cuộc trò chuyện với Nguyễn Văn Vỹ, Vũ Bằng nhận thức làm báo là nghĩa vụ lớn lao Nhìn lại mấy năm làm báo chí nhắm vào những tin tức lặt vặt, ông muốn làm khác đi, muốn tranh đấu Vũ
Bằng ý thức được tình trạng của ông: “Cứ nằm dài hút sách bê tha như thế này thì có hy vọng gì thoát khỏi sự chi phối của xã hội và chính trị của Pháp”
[29;76] Và Vũ Bằng quyết định cai nghiện
Năm 1935, kkhi mới ngoài 20 tuổi, Vũ Bằng kết hôn với bà Nguyễn Thị Qùy Bà Qùy trước đó đã có chồng và bốn con, nhưng bị chồng phụ Bà hơn Vũ Bằng 6 tuổi (có nhiều tài liệu nói bà hơn Vũ Bằng 7 tuổi), sinh năm 1907, quê ở
xã Tư Thế, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh Là con gái kinh Bắc chính gốc, bà
còn là người khéo tề gia nội trợ, lại thuộc nhiều ca dao, cổ tích, truyện kiều…
mối lương duyên của họ quả là lương duyên tiền định Sự chênh lệch nhau về tuổi tác, sự bàn tán ra vào của bạn bè, người thân cả hai bên và nhất là sự từ chối quyết liệt của bà mẹ… đã không có ý nghĩa gì trước tình yêu mãnh liệt của hai người Vũ Bằng đến với bà Qùy xuất phát từ sự thương cảm trước nỗi bất hạnh trong cuộc sống gia đình của bà Hơn nữa, điều đó cũng cho thấy quan niệm tiến
bộ trong hôn nhân của ông Sống với Vũ Bằng, Bà Qùy lo toan, vun thém mọi chuyện trong gia đình để ông yên tâm sáng tác Hai ông bà ăn ở với nhau chỉ có một người con chung duy nhất là anh Vũ Hoàng Tuấn (tên tục là Lạc, có khi còn gọi là Lăng) Khi về làm bạn với Vũ Bằng, bà Qùy có mang theo một người con riêng tên là Khoái Thế là cả hai anh cùng lớn lên dưới một mái nhà và cùng
Trang 12nhận được lòng yêu thương, chăm chút của hai ông bà Xem con riêng của vợ như là con mình Vũ Bằng quả là người có tấm lòng nhân hậu, bao dung
Gia đình ấy đã sống những tháng ngày hạnh phúc, vui buồn, sướng khổ
có nhau để rồi sau này, nó trở thành nỗi nhớ nhung, tiếc nuối khôn nguôi khi xa cách Và có thể nói, những ngày tháng hương lửa mặn nồng bên nhau cùng với hình ảnh người vợ chiều chồng, vén khéo ấy sau này đã trở thành một nguồn cảm hứng để nhà văn Vũ Bằng dệt nên những trang văn đẹp nhất của đời ông Với gia đình, Vũ Bằng đã không lo được và thậm chí đã không quan tâm đến những người thân như mẹ, cô và những anh chị em của mình Ông kính trọng, biết ơn và ăn năn khi lầm lỗi với mẹ, cô nhưng ông cũng đã là làm họ buồn lòng thật nhiều vì chuyện làm báo, chuyện hút thuốc phiện và chuyện lấy vợ…
Về chuyện làm báo, mẹ ông đã khóc hết nước mắt khi bao nhiêu hy vọng
đặt vào ông bị sụp đổ Ông đã bỏ qua lời van xin của mẹ: “Nếu ở đời có cái nghề
gì xấu nhất, tồi bạo nhất, bất nhân bạc ác nhất thì nhất định đó là nghề làm báo” [29;33]
Về chuyện nghiện hút của Vũ Bằng, nguyên nhân sâu xa là từ hiện thực
xã hội nhưng Vũ Bằng và nhiều nhà văn đã từng đề cập Sau này, Vũ Bằng thấu hiểu căn bệnh của cả một thế hệ thanh niên cùng thời, được gọi tên “bệnh thời đại” Đó là căn bệnh u uất, bế tắc, ngột ngạt trong xã hội loạn lạc Họ sống
không biết bám víu vào đâu, sống bấp bệnh Họ đã “sống một cuộc đời không tin tưởng Không có ngày mai Sa ngã Trụy lạc” [14;19] Chính Vũ Bằng và một số
nhà văn, nhà báo thời kỳ ấy là bằng chứng về lớp thanh niên sống không lý
tưởng, không niềm tin Nhiều lần, trong Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng nhắc
đến hiện thực này Khẳng định nguyên nhân biến thiên của xã hội, Vũ Bằng trực
tiếp và thẳng thừng kết tội chế độ thực dân: “Xã hội tràn đầy cảnh bất công bóc lột tạo ra vì chế độ thực dân tàn ác Đa số thanh niên hồi ấy, cũng như tôi, không biết dùng tiềm lực làm gì, buông theo một cuộc đời trác táng trong rượu chè, đỉ bợm” [29;56] Về nguyên nhân của căn bệnh này, Tạ Tỵ cũng đã từng khẳng định: “Cái tâm trạng chán đời của lứa tuổi thanh niên những năm 1930 -
1940, nó là mẫu số chung cho bài toán của một dân tộc bị đô hộ [115;109]
Tuy nhiên, thuở ấy, Vũ Bằng đã không vượt qua được những nông nổi của chính mình Trong lúc hút và trong thời gian cai nghiện, ông cũng nhiều lần
Trang 13mãi sau này, khi cô chết và khi đã cai được ông mới thực sự hối hận: “Bây giờ nghĩ đến, sao có một thời kỳ đã có thể tàn ác thế!” [29;57] Với người mẹ tất bật buôn bán nuôi con Ông cũng có lúc nghĩ lại biết thương mẹ vất vả “có khi đến mười một mười hai giờ đêm, mà nào đã được ngủ yên… đến một hai giờ sáng người mới được nghỉ lưng” [29;53] Nhớ lời mẹ khuyên, ông bỏ thuốc, thương
mẹ đau khổ khi biết mình nghiện hút, ông tự nhận mình là thằng con trời đánh Tuy nhiên, khi cơn nghiện đến thì dường như ông quên cả Về chuyện ông lấy
vợ, mẹ ông đã đau khổ biết nhường nào bởi vì bà Qùy không chỉ là người đang
có chồng, có con mà còn vì chồng bà Qùy là người có họ hàng với bên nội Vũ Bằng
Đành rằng Vũ Bằng yêu nghề báo nên bỏ học, đành rằng Vũ Bằng thương người nên lấy người đã có chồng, đành rằng Vũ Bằng chỉ có một giai đoạn bê tha, đành rằng Vũ Bằng hết lòng yêu thương vợ con… nhưng quả là ông
đã không làm tròn, làm tốt được trách nhiệm của người đàn ông trong gia đình Nhưng xét về phương diện cá nhân của một người có niềm đam mê, sáng tạo thì ông đã có một sự dấn thân hết mình cho sự lựa chọn đầy trách nhiệm Và chính
sự chọn lựa này như một dự báo cho số phận đặc biệt của ông trong hành trình sống và sáng tạo nghệ thuật mà có nhà nghiên cứu cho rằng đó là một “số phận” Khảo sát kí của Vũ Bằng trong hành trình sáng tạo, cũng là một vấn đề mà luận văn hướng tới
Việt Nam vì vậy, cũng đồng thời phản ánh, gắn bó với lịch sử hiện đại Việt Nam
Là cây bút chủ lực của nhiều tờ báo Vũ Bằng đến với văn chương không
phải là tình cờ Từ nhỏ ông đã thích đọc sách Trước hết vì nhà ông bán sách, sau nữa vì bản thân vốn thích sách Nhà văn Tô Hoài đã từng gọi Vũ Bằng là mọt sách Đọc thấy hay ông lại nghĩ đến chuyện làm thơ, viết báo như mọi người rồi lại mơ ước trong tương lai sẽ trở thành tên tuổi trong nền văn chương
Trang 14quốc tế Dẫu suy nghĩ nông nổi, có phần bốc đồng nhưng ước mơ trở thành nhà
văn trong tương lai của Vũ Bằng đã được nuôi lớn từ những ngày còn bé
Yêu văn chương và ôm mộng trở thành văn sĩ, ở trường Lycees Albert Sarraut, ông không buồn học các môn toán, vật lý, hóa học, chỉ học dòng về văn
chương Pháp, đọc chuyện Pháp Ở tuổi mười lăm Vũ Bằng bắt đầu học Ale
xandre Dumas, Andres Theuriet, Guy De Maupassant, Gustave Flaubert…
“Thoảng học có đến lớp thì thể xác thì ngồi đó mà hồn thì phiêu diêu tận đâu đâu: tôi nghĩ đến cuốn Cours de journalism pả corespondance và nung nấu một kịch ngắn hay một tiểu thuyết viết cho báo An Nam tạp chí của Nguyễn Khắc Hiếu” [29;29]
Thời kì đó, giữa không khí văn hóa Pháp, nói tiếng Pháp với nhau, hiểu văn học Pháp, những chàng thanh niên Tây học trong lớp thường đọc gì thì bảo cho nhau biết mà đọc Họ nghiền ngẫm rồi tấm tắc khen từng cách dùng từ, viết câu, kết cấu… mãi đến sau này, Vũ Bằng vẫn còn nhớ hai cuốn sách làm ông
rung cảm nhất là Lé feuilles mortes của Andres Theuriet do người bạn Trần Mai giới thiệu, còn cuốn Manon Lescaut thì do Lê Khắc Quyên giới thiệu,
Sự ra đời và phát triển của báo chí thời Pháp thuộc, việc du nhập văn hóa Phương Tây mà cụ thể là văn học Pháp chính là cơ sở thuận lợi cho những tài
năng văn chương, báo chí phát triển, trong đó có Vũ Bằng Mê đọc báo Đông Tây, thích những truyện ngắn trên báo và thán phục các tác giả, Vũ Bằng ước có
một bài đăng báo cùng họ Truyện ngắn Con ngựa già được đăng trên mục bút
mới báo Đông Tây năm 1930, lúc tác giả chưa tròn mười bảy tuổi, khiến ông
xúc động tưởng có thể ngất đi Cũng trong năm đó, Vũ Bằng trình làng tạp văn
châm biếm Lọ Văn khá nổi tiếng Những bạn cùng thời như Tô Hoài, Tạ Tỵ,
Thượng Sỹ… đều nhắc đến tạp văn này như lời ca ngợi tài năng của Vũ Bằng thời trẻ
So với nhiều bạn văn cùng thời, Vũ Bằng có nhiều thuận lợi từ hoàn cảnh gia đình, từ môi trường văn hóa xã hội Tuy nhiên, ý thức học hỏi, chịu khó trau dồi cùng niềm khát khao, say mê trở thành người viết văn của chính ông mới là động lực quan trọng đưa ông đến với nghề Ở Vũ Bằng, từ việc tiếp nhận văn chương phương Tây đến việc sáng tác là cả một quá trình học nghề và hành nghề
Thời kỳ văn học bước vào cuộc đổi mới, tuy không còn là một cây bút
Trang 15có tiếng vang Khoảng năm 1937 trở đi, khi Vũ Bằng cho in liên tiếp một loạt
truyện ngắn, truyện vừa trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy thì tiếng nói nghệ
thuật của ông mới nổi lên Từ đó, Vũ Bằng xuất hiện như một cây bút chuyên
nghiệp Sau Tạp văn Lọ Văn, Tiểu thuyết Một mình trong đêm tối được nhiêu
người biết đến, Vũ Bằng đã chủ tâm và mở rộng lối riêng Những sáng tác của
Vũ Bằng giai đoạn này cho thấy ông thực sự là một nhà văn chuyên nghiệp với nhiều sáng tác đa dạng về thể loại Và đặc biệt là thể loại kí, với các tác phẩm
như: Hội Lim (1931), Cái búa con (1931) (hai bài kí in trong mục xã hội Ba đào
kí trên tờ An Nam tạp chí ra tháng 3/193, thuộc loại những tác phẩm sớm nhất
của Vũ Bằng); và Cai (1944)
Vũ Bằng đã sáng tác đúng theo cái mạch của văn học giai đoạn
1932-1945 – thoát li thi pháp Trung Đại, khẳng định cái tôi Việc thử nghiệm loại truyện mới (hướng ngòi bút vào hiện thực đời thường, có cốt truyện đơn giản) với các hình thức nghệ thuật mới của Vũ Bằng (kiểu kết cấu tâm lí, hình thức viết thư…), là một cách khẳng định cái tôi trong sự tìm tòi, sáng tạo
Như vậy, ở giai đoạn này, con người nghệ sĩ Vũ Bằng hiện lên với cả mặt tốt và mặt xấu: nghiện hút và ham mê văn chương, báo chí Đó cũng là lối sống của nhiều văn nghệ sĩ thời tiền chiến (Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Tuân, Thâm Tâm…) Chất nghệ sĩ khiến Vũ Bằng sáng tác văn chương, không màng đến dự định của mẹ ông về việc nghề thuốc hay nghề luật Ông bất cần cuộc sống gia đình khá giả, chỉ quyết thực hiện đam mê Lòng yêu nước của Vũ
Bằng giai đoạn này tuy còn mơ hồ nhưng ông đã có ý thức cai nghiện để “làm một cái gì khác” Con người yêu nước thức tỉnh con người nghệ sĩ, từ một nghệ
sĩ không có phương hướng (nghiện hút), ông đã trở thành một nghệ sĩ có phương hướng (cai nghiện)
1.2.2 Cuộc sống và hoạt động văn học trong vùng Hà Nội tạm chiếm (1945 1954)
-1.2.2.1 Cuộc sống trong vùng Hà Nội tạm chiếm (1945 - 1954)
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, hầu hết dân chúng
Hà Nội đều tản cư về hết miền quê, tạm rời nơi đang ở đến xa nơi chiến sự hơn Cùng với bao người dân Hà Nội khác Vũ Bằng và gia đình đi tản cư Gia đình ông lần lượt đến vùng Hà Nam, Hòa Bình, thuộc khu ba Hội nhập và cảm nhận cuộc sống vùng tản cư, Vũ Bằng chú ý đến tâm trạng, tình cảm của con người, xem như đó là những biểu hiện chủ yếu để nhận ra tình hình thời cuộc Nhà văn
Trang 16không giấu diếm cảm xúc: “Tôi chưa hề được sống những giờ phút sội động và
ấm lòng như thế: đồng bào thương xót nhau như ruột thịt; người dân giúp đỡ nhau thực tình; anh lính ho thì tự dưng người dân thấy ngực mình đau nhói”
[29;163] Đó là nhận thức và cảm xúc mới mẽ của nhà văn về cuộc đời, về con người Trong những cảnh ngộ đặc biệt, nhà văn mới phát hiện ra những nghĩa cử đầy tình người mà trước đây, ở nội thành, họ chưa từng biểu lộ, bộc bạch Những ngày kháng chiến ở hậu phương ấy, Vũ Bằng cũng đã từng rưng rưng nước mắt khi nhiều bạn văn nghệ sĩ như Nguyễn Phổ, Nguyễn Kỳ, Doãn Kế Thiện, Nam Cao, Thượng Sỹ… từ những vùng kháng chiến xa xôi tìm đến thăm
Vũ Bằng chưa bao giờ tâm sự với bạn bè hay thể hiện trong sáng tác về việc ông không hài lòng hay bất mãn đối với cuộc sống vùng tản cư Thế nên, việc ông quay về thành sau đó là một bất ngờ
Ngày đó, vấn đề hồi cư vào thành hay trụ lại vùng tản cư chi phối dữ dội đến suy nghĩ và quyết định của bao người, khiến những người có bản lĩnh cũng lung lay, dao động Và rồi xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, nhiều người đã “ Dinh tê” Nhưng dù với lý do nào đi nữa thì những người hồi cư đều không được quần chúng nhân dân yêu nước chấp nhận Những người hồi cư thường chịu án
“dinh- tê”, mang tiếng xấu là quay lưng với kháng chiến, bất hợp tác với kháng chiến
Cuối năm 1948, nhà văn Vũ Bằng cùng gia đình “dinh –tê” vào Hà Nội Tất nhiên, ông và gia đình không thể tránh được sự phán xét nghiêm khắc của mọi người Với bà con, bạn bè và hàng xóm thì gia đình Vũ Bằng vốn thuộc hàng giàu có, từng sống phong lưu Do vậy, việc ông hồi cư được dư luận cho là không chịu nỗi cuộc sống khó khăn, thiếu thốn nơi vùng tản cư, không đồng cam cộng khổ với nhân dân Thực tế, chỉ có Vũ Bằng mới biết được động cơ nào
đã khiến ông chủ động chọn lựa tình thế hồi cư
Trong Bốn mươi năm nói láo, ông bày tỏ suy nghĩ của bản thân về đất
nước, về việc ông từ biệt kháng chiến để về Hà Nội: “Thế rồi tôi dinh – tê Tôi dinh nhưng không có một chút mặc cảm, là vì tôi quan niệm rằng Hà Nội là đất nước mình, mình có quyền ở đó, có vấn đề hèn hay không là tùy vào nhân cách từng người” [29;167] Nhưng ba năm sau (Năm 1971), những lời Tự ngôn trong
tập truyện kí Bát Cơm lại giải thích với lý do khác về hành động dinh – tê ngày
nào và tác giả tự nhận mình là kẻ kém bản lĩnh, đáng khinh: “Cuối năm 1948, tôi
Trang 17đãi ngộ, mà chỉ vì cơm áo Tôi tự biết là hèn” [47;385] Thật khó lý giải về
những mâu thuẫn trong những điều tác giả bộc bạch trên các trang viết
Sau này, Văn Lang - một nhà báo lão làng từng tham gia hoạt động cách mạng bằng hình thức hoạt động báo chí công khai ở Nội Thành năm 1948-1949
- cho biết là những ngày ấy (1948), ông đã biết Vũ Bằng vào Hà Nội hoạt động cho ta và là người của ta Cả hai cùng biết nhau hoạt động cách mạng nhưng
không ai nói với ai về điều đó Ông nói: “Anh Vũ Bằng hoạt động kín lắm, không ồn ào và nông nổi như cánh chúng tôi đâu” [63;16]
Ông Văn Sáu (tức Nguyễn Văn Thu), người được phân công đặc trách mạng lưới AS9, liên lạc viên giữa chiến khu với các đơn vị tình báo ở nội thành
từ năm 1948, về sau cùng cho biết từ 1948 -1951, lần nào về Hà Nội ông cũng
ghé nhà Vũ Bằng để truyền đạt chỉ thị của trên: “Giữa anh Vũ Bằng và tôi ngoài cái tình đồng chí với nhau, tôi lại ít tuổi hơn, được coi như đứa em” [63;15]
Theo ông Trần Văn Hội, nguyên cán bộ ở đơn vị 1752 bộ tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam, thì năm 1952, ông được phân công vào nội thành Hà Nội để kiểm tra các cơ sở, và rà soát lại lực lượng cán bộ, quần chúng có cảm tình với cách mạng… Ông đã được tổ chức giao cho bản danh sách mạng lưới hoạt động của ta ở nội thành, trong đó có nhà văn Vũ Bằng Ông cũng cho biết
là vào những năm1952 - 1953, ông thường xuyên lui tới nhà Vũ Bằng ở số 11 Hàng Da để liên lạc
Đến cuối những năm 90, qua những người đã từng hoạt động với Vũ Bằng, qua những bạn văn cùng thời với ông, công chúng mới biết được từ năm
1948 đến 1954, ngôi nhà số 11 Hàng Da của nhà văn Vũ Bằng đã từng là cơ sở của các cán bộ hoạt động bí mật Đó là nơi mà các nhà văn nổi tiếng, các nhà báo sành tin và các nhà trí thức có vị trí trong xã hội thường xuyên hội tụ trò chuyện và bàn luận thời thế Chính vì thế mà các tình báo cán bộ có thể khai thác được nhiều loại tin Ngoài tổ chức, không ai biết việc ông làm
Điều đó khẳng định, Vũ Bằng tham gia cách mạng trong vai trò của một nhà văn, một trí thức yêu nước Vũ Bằng đã lặng lẽ gánh lấy nỗi oan ức chịu tiếng tham cuộc sống đầy đủ, quay lưng với cuộc kháng chiến của dân tộc Ông
âm thầm hoạt động và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Trong hoàn cảnh Hà Nội tạm chiếm ấy, công tác hoạt động tình báo đòi hỏi ông phải
hy sinh bản thân và bao quyền lợi chính đáng khác Đó là cách nhập cuộc có ý
Trang 18nghĩa của Vũ Bằng vào cuộc cách mạng của dân tộc Một sự nhập cuộc trong thầm lặng
1.2.2.2 Hoạt động văn học
Cũng như ở giai đoạn trước, trong thời kì này, hoạt động trên lĩnh vực văn học của Vũ Bằng và hành trình sáng tạo của ông lại gắn liền với lịch sử xã hội của đất nước Phát triển gắn liền với những bước đi của lịch sử, văn học Việt Nam từ 1945-1975 vươn lên trong một hoàn cảnh lịch sử có những khó khăn và thuận lợi nhất định Đó là nền văn học thống nhất về khuynh hướng tư tưởng, thống nhất về tổ chức và về quan niệm nhà văn kiểu mới: nhà văn – chiến sĩ Hiện thực cách mạng phong phú và sinh động – nổi bật là cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc kéo dài suốt 30 năm - đã trở thành nguồn sáng tạo phong phú, là đối tượng phản ánh của nhiều tác phẩm văn chương, đặc biệt
là văn xuôi Văn học chặng đường từ 1946 -1954 phát triển với nhiều thể loại đã phản ánh trọn vẹn không khí, hiện thực của một giai đoạn lịch sử hào hùng – cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp vẻ vang của dân tộc Thể kí có ý nghĩa
mở đầu cho văn xuôi thời kì kháng chiến chống Pháp với dấu ấn của nhiều lớp nhà văn do hoàn cảnh lịch sử tạo nên Đó là những nhà văn tiền chiến theo cách mạng, tham gia kháng chiến và nỗ lực thay đổi cách viết như Nam Cao, Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Kim Lân, Nguyên Hồng… đó còn là những nhà văn trẻ tài năng, đầy nhiệt huyết như Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Thành Long… mà trong số họ, có những người ban đầu vốn là những người lính Vũ Bằng không nằm trong những số nhà văn trên bởi ông chọn lựa hoạt động gắn với những môi trường sống thành thị Nhưng cũng chính ở môi trường này, ông
đã có điều kiện khai thác cuộc sống đời thường trong chiến tranh Đó cũng là một sự bổ sung cho việc nhận thức đầy đủ hơn về hiện thực hết sức khắc nghiệt này
Nói về vai trò của nhà văn trong xã hội có chiến tranh, nhà văn Pháp
Romain Rolland nêu quan điểm: “Số phận của chúng ta đã khiến chúng ta sinh
ra giữa cuộc chiến tranh vĩ đại Nó không cho phép chúng ta tách rời cuộc chiến
[106;12] Vũ Bằng không là nhà văn - chiến sĩ trực tiếp cầm súng tham gia cuộc kháng chiến của dân tộc nhưng ông không tách rời cuộc kháng chiến Ở giai
đoạn này, Vũ Bằng viết phóng sự Khúc ngâm trong đất Hà lúc này, ngòi bút
của ông không ưu tiên cho những thử nghiệm kĩ thuật tự sự nữa, mà hướng vào
Trang 19vấn đề hồi cư và con người hồi cư… viết về hiện thực thời chiến, Vũ Bằng
không mô tả sự khốc liệt, dữ dội của đạn bom, máu lửa, chết chóc; không đi sâu
mô tả diễn biến của các biến cố mà chủ yếu là phô bày thái độ căm phẫn cùng những ưu tư, trăn trở bằng sự nhận thức về nỗi đau, nỗi bơ vơ của con người
trong nhưng hoàn cảnh đặc biệt Ở phần Tự ngôn tập truyện kí Bát cơm, Vũ
Bằng cho biết là ông ghi những điều mà ông đã nhìn thấy và nghe thấy trong
thời gian quằn quại trong khói lửa xâm lăng với ước muốn: “Tôi mong gì hơn là đánh dấu lại một thời kì đau khổ của dân ta hai mươi ba, hai mươi bốn năm về trước đây” [47;266] Trong nhiều tác phẩm, những đau thương, tang tóc của đất
nước, đã được Vũ Bằng đề cập và phát biểu khi trực tiếp, khi gián tiếp trong cái nhìn u uất, trong nỗi đau mất nước: Với Vũ Bằng, chiến tranh cắt đứt hạnh phúc, niềm vui, phá vỡ hy vọng, niềm tin và sự sinh sôi nảy nở, chiến tranh gây nên những cảnh chia lìa
Giai đoạn quân đội Pháp thua hết trận nọ đến trận kia, xã hội bất an,
Vũ Bằng vẫn theo dõi tâm trạng, nỗi lòng của quần chúng nhân dân, vẫn nhìn
hiện thực bằng cái nhìn đánh giá, khái quát; “Dân tình mỗi ngày một chán nản, một mặt vì rối ren ở trong nước quá nhiều, mặt khác thì kinh tế lại bắt đầu suy sụp dữ… cùng lúc ấy, Mỹ bắt đầu đến Việt Nam” [29;177]
Bị đặt vào một hoàn cảnh lịch sử - xã hội biến động, hoàn toàn khác với giai đoạn trước, Vũ Bằng đã sống và sáng tác với tư cách là một nghệ sĩ yêu nước Hoạt động văn học của Vũ bằng vẫn tiếp tục và sôi nổi, có những đóng góp tích cực cho văn học Vũ Bằng đã có nhiều tìm tòi, sáng tạo về đề tài, về nghệ thuật thể hiện Và chính những sáng tác về cuộc sống, con người hồi cư mang đậm dấu ấn Vũ Bằng là những mảng đề tài hiếm hoi và độc đáo trong văn học Việt Nam Mảng đề tài này góp phẩn phản ánh đầy đủ, đa dạng hiện thực cuộc sống những năm 1945-1954 Nó cũng là một minh chứng cho tính lịch sử -
xã hội của quan niệm nghệ thuật nói chung và quan niệm nghệ thuật kí nói riêng
về cuộc đời nhà văn Vũ Bằng Và hôm nay nhìn lại, ta càng trân trọng hơn với những gì ông đã đóng góp cho mảng đề tài khá nhạy cảm này để góp phần hoàn thiện bức tranh hiện thực về những năm kháng chiến chống Pháp Hiện thực kháng chiến phải được tiếp cận từ nhiều hướng, được đông đảo nhà văn phản ánh nếu thiếu những tác phẩm viết về đề tài hồi cư của Vũ Bằng thì hiện thực ấy
là một bức tranh chưa hoàn thiện Vì thế, có thể nói, vị trí của Vũ Bằng trong văn học hiện đại Việt Nam rất quan trọng và cần thiết
Trang 201.2.3 Cuộc sống và hoạt động văn học đô thị miền Nam (1954 - 1975)
1.2.3.1 Cuộc sống đô thị miền Nam những năm (1954 – 1975)
Tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève được kí kết, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền Cũng trong thời gian này, do chiến dịch tuyên truyền của Pháp và Mỹ, nhiều người dân miền Bắc đã lên tàu di cư vào miền Nam Vũ Bằng cũng nằm trong số đó Một ngày đầu tháng 10 -1954, ông quyết định xa
Hà Nội, xuống Hải Phòng để vào Nam Nhiều bạn bè thân thiết khuyên ông
đừng đi Tô Hoài, Phùng Bảo Thạch viết thư dài khuyên ông ở lại, “có anh giận quá, dùng những lời lẽ không nhẹ nhàng, nhưng hầu hết đều tỏ ra chí tình”
[29;196], nhưng không một ai ngăn được ông Vũ Bằng bước vào cuộc hành trình đã định với mục đích, lí do riêng Từ đó cho đến mãi sau này, nhiều người nghĩ ông là kẻ phản bội Và cũng vì điều này mà vợ con nhà văn ở miền Bắc đã phải chịu bao thiệt thòi cả về đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần Nhà giáo
Vũ Hoàng Tuấn kể: “Chúng tôi sống trong sự nghi ngờ suốt hai mươi năm trời đằng đẳng” vì mang tiếng có người cha “phản bội tổ quốc” Bà Nguyễn Thị
Qùy âm thầm chịu nỗi đau riêng của người phụ nữ còn xuân sắc mà phải sống
xa chồng suốt mười ba năm, biết việc chồng làm nhưng không được phép nói ra
sự thật Ôm nỗi niềm riêng tư, lại bị bệnh lao, bà mất 1967 trong cảnh vợ Bắc chồng Nam Số phận lại đặt Vũ Bằng trước những thách thức mới, oan nghiệt mới mà chỉ ông mới thấu hiểu được
Vào Nam, năm 1960, Vũ Bằng lấy người vợ thứ hai là bà Lương Thị Phấn, nhỏ hơn ông hai mươi hai tuổi Bà Phấn là người Tân Phú, xã Tân Phước, huyện Lai Vung, tỉnh Vĩnh Long Tuy là con gái vùng ruộng đồng, sông nước nhưng bà có vẻ đẹp dịu dàng, thanh thoát, nhẹ nhàng như gái thị thành Bà Phấn lên Sài Gòn học may và lo luôn cả việc cơm nước cho Vũ Bằng Từ lòng thông cảm, họ đã đến với nhau, rồi thành vợ chồng Bên Vũ Bằng, mạnh mẽ, từng trải, già dặn, bà Phấn hồn nhiên, trong trẻo và có phần yếu đuối Bà Phấn đã một lần gẫy gánh, về làm vợ Vũ Bằng, bà dắt theo đứa con riêng tên Lê Văn Long lúc này vừa bốn tuổi Và cũng như trước kia đã từng nuôi nấng con riêng của người
vợ đầu, giờ Vũ Bằng đã chăm sóc dạy dỗ Long như chính con ruột mình Người con gái đầu lòng của họ ra đời 1961 và sau đó lần lượt thêm năm người con nữa
- tổng cộng ba gái, ba trai Cả Vũ Bằng và vợ đã cũng gồng mình để gánh cả gia đình, lo cho đàn con có được cái ăn, cái mặc Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Vũ
Trang 21Bằng viết để chạy bài và viết về những sách về hôn nhân gia đình là vì lý do gia
cảnh này
Từ 1954 - 1975, hơn hai mươi năm sống ở Sài Gòn, Vũ Bằng được công chúng biết đến trong vai trò là một nhà văn, nhà báo tự do, công khai giao du với nhiều thành phần trong xã hội, cộng tác với nhiều cơ quan báo chí, trong đó có Việt tấn xã - cơ quan thông tấn của chính quyền Ngô Đình Diệm Năm 1969,
trong Bốn mươi năm nói láo, ông nói về chuyến vào Nam của mình với cách lý giải rất chung và cũng rất riêng “… Nhưng Nam, Bắc cũng là đất nước, sao cứ
phải coi chuyến đi này là một cuộc di cư mà không là một vụ đi chơi bậy bạ để tiêu sầu khiển ứng?” [29;196] Có nhà nghiên cứu cho rằng: “Ông luôn công khai tự đấm vào ngực mình, tự sỉ vả, buộc tội mình Rõ ràng đây không chỉ là một cách đơn thuần bồi dầy thêm cho cái vỏ bọc ngày càng chắc chắn để che mắt kẻ thù, mà chắc chắn còn là một tâm lý tự vệ có thật của Vũ Bằng trước mọi lời đồn đại” [63;21] Nhưng chúng tôi không nghĩ như thế Nếu nói rằng về mặt
tâm lý, ông vẫn có khuynh hướng muốn thanh minh, muốn khẳng định phẩm chất chân chính của minh thì hóa ra trong quá trình hoạt động cách mạng, tâm lý ông không yên ổn, tinh thần ông không vững vàng trước thử thách Nếu thế thì hành động dấn thân của ông là không trọn vẹn Vũ Bằng đã chủ động dấn thân vào một hoạt động đầy khó khăn, khắc nghiệt, tự nguyện hy sinh cả vật chất lẫn tinh thần Không có lẽ sau hai mươi năm, ông lại sợ bị hiểu nhầm! Tác phẩm
Thư cho người mất tích (1950) đã được viết trong lập trường nhà văn ở thành
vẫn ủng hộ kháng chiến, tin vào phong trào giải phóng dân tộc TheoTạ Tỵ, Vũ
Bằng thường nói với ông là “ước mong viết một quyển truyện dài Trường giang nói về chiến tranh Việt Nam bắt đầu từ lúc ta đánh Pháp đề là “Xóm Mả Đỏ”, câu chuyện lồng trong một gia đình di cư giữa bối cảnh lịch sử đấu tranh mấy chục năm trời của toàn dân Việt Nam” [115;119]
Vì vậy, theo chúng tôi, đã bao nhiêu năm qua, Vũ Bằng im lặng, không thanh minh thì giờ không có lý do gì lại sỉ vả mình, vì như thế cũng là một cách gián tiếp phủ nhận nhiệm vụ mình đang làm Và nếu cho rằng đó cũng là cách tạo vỏ bọc thì điều này không cần thiết, bởi Vũ Bằng đã có mối quan hệ với chính khách làm bằng Theo người bạn thân thiết của Vũ Bằng là Hồ Nam, những ngày cuối đời, Vũ Bằng đã giải thích cho ông và Tam Lang nghe lý do vì sao Vũ Bằng giao du với Mai Đen (đại tá Thanh Tùng) - người một thời làm
giám đốc Trung ương tình báo của tướng Nguyễn Cao Kỳ Vũ Bằng thổ lộ “cái
Trang 22thứ tình báo tôi làm là thứ tình báo chiến lược nên phải tiếp cận cỡ Mai Đen mới “moi” được tin tức Những ngày chưa móc nối với Mai Đen thì tôi làm báo với ông Trần Nguyên Anh, chú của Bộ Trưởng thông tin Trần Tuấn Thành Ở đó
có một kho tin mật, bởi vì ông anh chơi thân với anh em Ngô Đình Diệm”
[83;32] Việc tổng cục II thuộc Bộ Quốc Phòng chính thức công nhận Vũ Bằng
là chiến sĩ tình báo cách mạng là bằng chứng về ý nghĩa hy sinh thầm lặng của
Vũ Bằng Việc ông là thành viên trong mạng lưới hoạt động tình báo cách mạng trong thời gian ấy cho thấy ông luôn ở trong tình thế đặc biệt – vừa phải tạo vỏ bọc để hoàn thành công tác được giao, vừa phải làm thế nào để không bị biến chất
Vào Sài Gòn từ 1954, đến1969, Vũ Bằng mới nói về chuyến vào Nam của
mình trong cuốn hồi kí Bốn mươi năm nói láo Với cách nói “Hà Nội là đất
nước mình” mới đúng là cách nói của Vũ Bằng – một người dân yêu quê hương
đất nước, một nhà văn viết về quê hương đất nước Hơn nữa, nó cũng phù hợp với vai trò của người chiến sĩ tình báo Lý do ấy thật đơn giản nhưng thuyết phục Nó vừa thể hiện tâm hồn, vừa thể hiện phẩm chất và bản lĩnh của nhà văn – chiến sĩ Mặt khác, những lời giải thích lại được viết trong hồi kí – một thể
loại được xem là nói thật, viết thật Hai tập kí dày dặn Miếng ngon Hà Nội,
Thương nhớ mười hai viết trong hoàn cảnh Bắc Nam đôi ngã đã gửi trọn niềm
thương nỗi nhớ của ông về đất Bắc, với ước mong Nam Bắc một nhà là bằng
chứng thiết thực về lòng yêu nước của ông Tự ngôn trong tập truyện kí Bát
Cơm đúng là những lời của chính nhà văn nhưng thiết nghĩ, đó là một cách nói
để giới thiệu những truyện kí theo tác giả là được viết từ những năm 1948, bị mất trong thời gian dài và giờ đã lần lần tìm lại được Tất nhiên, chúng ta không tuyệt đối hóa con người Vũ Bằng và cũng hiểu rằng, trong cuộc đời mình về mặt tâm lí, con người có những lúc do dự, lo âu…
Trong hai cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ, nhiều nhà văn, nhà thơ đã thành liệt sĩ như Nam Cao, Trần Đăng, Hồng Nguyên, Nguyễn Thi, Lê Anh Xuân, Lê Vĩnh Hòa… được tổ chức ghi công và nhân dân ca ngợi Vũ Bằng không để xương máu ở chiến trường mà hy sinh trong thầm lặng hoạt động tình báo, chịu những phán xét nặng nề, những đau đớn về mặt tinh thần, tình cảm Trong số các nhà văn từ miềm Bắc đi vào miền Nam, có nhà văn chuyên tâm với nghề dạy học và nghề viết, không tham gia
Trang 23gia quân đội Sài Gòn Riêng Vũ Bằng vẫn tiếp tục con đường hoạt động tình báo cách mạng trong vỏ bọc của một nhà văn di cư với bao oan ức mà gia đình ông phải gánh chịu Hoạt động thầm lặng này không chỉ khẳng định lòng yêu nước, tinh thần hy sinh, bản lĩnh của Vũ Bằng mà còn cho thấy sự nhất quán trong con đường cách mạng mà ông đã chọn lựa để dấn thân Sự hy sinh của Vũ Bằng vì vậy càng có ý nghĩa lớn lao
1.3.1.2 Về hoạt động văn học
Vũ Bằng cũng thuộc lớp nhà văn di cư Suốt hai thập kỉ di cư, lĩnh vực hoạt động chính của ông vẫn là báo chí và văn học Đến giai đoạn 1945 - 1975, văn và báo vẫn gắn bó khăng khít như giai đoạn 1930 - 1945 Những tác phẩm
kí thời kì này: Miếng ngon Hà Nội (1960), Bốn mươi năm nói láo (1969), Món
lạ miền Nam (1970), Thương nhớ mười hai (1971)
Trong giai đoạn này, tác giả dựng chân dung văn học về Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Tuân, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Tú Mỡ, Thạch Lam, Nguyễn Văn Tố… ngoài ra, nhà văn cũng viết nhiều trên tạp văn đăng trên các tạp chí, tuần san… về văn học, văn hóa nghệ thuật và các hiện tượng xã hội… và điều đáng quý ở Vũ Bằng là dù trong hoàn cảnh nào ông cũng say mê sáng tác Do hoàn cảnh hoạt động không công khai nên tiếng nói, cách thể hiện của Vũ Bằng khác với các nhà văn khác Những
biến động xã hội cùng với sự phát triển của khuynh hướng văn học yêu nước và
nhu cầu phản ánh, giãi bày là những nguyên cớ khiến Vũ Bằng gắn với thể loại
kí Sáng tác của Vũ Bằng ở giai đoạn này thể hiện sự khát khao tìm về dân tộc, cội nguồn; phê phán thực trạng xã hội – chính trị của miền Nam và phản ứng nền văn minh đô thị Những sáng tác mang sắc thái riêng ấy của nhà văn cũng nằm trong mạch nguồn chung của chủ đề yêu nước trong dòng văn học yêu nước, cách mạng
Nhất quán trong cách nhìn, cách đánh giá hiện thực khi quan tâm đến đời sống và số phận của con người Nhà văn nghe ra được “Tiếng nguyền rũa não
nề” của dân chúng vì chế độ tự do bị nhà Ngô bóp chẹt; chú ý đến chính sách
độc tài, những hành động tàn ác của chế độ Ngô Đình Diệm đối với phong trào biểu tình, tự thiêu của Tăng ni, Phật tử, Học sinh, Sinh viên Vũ Bằng bày tỏ tâm
trạng của mình: “Trên tất cả, tôi cảm thấy sỉ nhục vì quốc gia bị hết quân này, nước kia đến xâm chiếm, lại thêm một bọn người đắc thế vì được ngoại quốc tin dùng cưỡi lên đầu lên cổ mà khống chế” [29;281]
Trang 24Từ 1954 - 1975, Vũ Bằng ở trong hoàn cảnh đặc biệt: tên tuổi không còn trẻ, lại phải xa quê hương, xa gia đình mà ông vô cùng yêu thương và gắn bó Bao điều cần nói, muốn nói ông đều đem gửi gắm trong các sáng tác của mình
Và hơn hết, những tác phẩm kí là tiếng lòng của ông
Hoạt động công khai trong lòng Hà Nội tạm chiếm, rồi sau này trong lòng đô thị Sài Gòn thời kì Mỹ và chế độ Việt Nam cộng hòa, Vũ Bằng đã nắm bắt được hiện thực xã hội ở hai vùng đô thị này Đó là cái đời thường của cuộc sống con người trong thời buổi nhiễu nhương, nhưng qua nó người ta biết và hiểu hơn về hậu quả của chiến tranh, hình dung đầy đủ hơn về đời sống xã hội
và con người trong những giai đoạn lịch sử hào hùng và bi thương của đất nước Hầu hết những sáng tác của Vũ Bằng ở hai chặng đường 1945 - 1954 và 1954 -
1975 đều thể hiện đề tài này Tác phẩm gây tiếng vang được Vũ Bằng hoàn
thành vào cuối năm 1969 là cuốn hồi kí Bốn mươi năm nói láo Những ai muốn
hiểu cuộc sống của lớp người cầm bút trước 1945, có thể tìm thấy ở đây những chi tiết thú vị Kể lại những trò ngang ngược mà đám viết văn viết báo như mình đã làm thời còn trai trẻ, Vũ Bằng dùng lối nói đùa bỡn, nghịch ngợm, song đằng sau những chuyện có vẻ như đùa đó, người đọc vẫn bắt gặp ở tác giả một tình yêu nghề nghiệp sâu nặng Đó chính là lí do khiến cho người đọc cảm động Tóm lại, Sáng tác của Vũ Bằng, dù trực tiếp hay gián tiếp, đều bày tỏ một thái độ phê phán, bất mãn trước một thực trạng xã hội hỗn loạn, đảo lộn hết thảy những giá trị nhân sinh đích thực Và con người yêu nước của Vũ Bằng ở giai đoạn này hiện sự hy sinh hạnh phúc riêng tư, nhận lấy trách nhiệm nặng nề: hoạt động tình báo vùng nội thành Sài Gòn Con người nghệ sĩ Vũ Bằng hoài niệm về văn hóa truyền thống dân tộc với cảm xúc mãnh liệt, làm nên những tác phẩm kí neo đậu trong lòng người đọc
1.3 Quan niệm về văn học của Vũ Bằng
Văn học Việt Nam giai đoạn 1932 - 1945 làm thay đổi diện mạo của cả nền văn học nhờ ở những thành tựu mà nó đạt được trong quá trình hiện đại hóa Cùng với sự cách tân mới mẽ đa dạng về thể loại, sự xuất hiện những nhà lí luận, phê bình văn học chuyên nghiệp là thành tựu tiêu biểu của văn học giai đoạn này Tuy nhiên, không chỉ các nhà nghiên cứu phê bình chuyên nghiệp như Thiếu Sơn, Trương Chính, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Đặng Thai Mai, Trần Thanh Mại… viết lý luận phê bình mà một số nhà văn như Thế Lữ, Thạch Lam,
Trang 25luận về văn học Và đây cũng là một trong những trường hợp không nhiều lắm của văn học hiện đại Việt Nam khi nhà văn đồng thời cũng là nhà nghiên cứu phê bình văn học, những điều họ viết ra dù ý thức hay không ý thức đã hình thành một quan niệm trong sáng tác văn học Vũ Bằng là một trong những nhà văn như thế Quan niệm ấy cũng thể hiện rõ trong tác phẩm của ông và có thể khái quát thành những vấn đề sau:
1.3.1 Quan niệm về nhà văn, nghề văn
Có thể nói, tư duy lý luận văn học tiền hiện đại, nhất là khoa học thực chứng, luôn quan tâm đến mối quan hệ nhân quả, đề cao yếu tố môi trường, tác giả trong nghiên cứu các hiện tượng văn học Vì vậy, họ rất đề cao vai trò của nhà văn, xem đây là yếu tố trung tâm của quá trình sáng tạo văn học Chịu ảnh hưởng tư tưởng Phương Tây trong những năm 1930 - 1945, khi văn học Việt Nam bước vào thời kì hiện đại hóa, Vũ Bằng cũng rất quan tâm đến vai trò của nhà văn trong sáng tạo văn học Và đấy chính là cơ sở tư tưởng để hình thành quan niệm của ông về nhà văn và nghề văn
Đến với nghề văn, bắt đầu từ sự yêu thích, say mê từ thưở nhỏ Sau này đối với nghề văn hay là nghề báo, Vũ Bằng đều xem đó là nghiệp dĩ - có nghĩa
là phần họa phúc, sướng khổ của nghề dành riêng cho cuộc đời mỗi người đã được định sẵn từ trước Đây cũng là quan niệm của nhiều nhà văn cùng thời Vũ Bằng như Trần Huyền Trân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Khổng Dương, Cuồng Sỹ… Tam Ích trong bức thư cuối cùng gửi cho Vũ Bằng trước khi chết năm
1948 ở miền Nam cũng khẳng định: “Đối với tôi, văn chương là cái nghiệp Đã
là cái nghiệp thì phải trả” [49;134] Với nghề văn, Vũ Bằng trải lòng: “Nếu quả viết văn là dại, tôi cứ muốn dại cho đến khi nhắm mắt và sang đến kiếp sau vẫn
cứ dại luôn” [45;758] Đó là một sự dấn thân với nghề dù trong bất cứ hoàn
cảnh nào cũng chẳng đổi thay Coi văn chương như là một thứ nghiệp nhưng trong thực tế, ý thức, quan niệm và hoạt động sáng tạo của Vũ Bằng lại là những
biểu hiện của một người đã xem văn chương như là nghề Và sống chết với nghề
nên nhà văn cũng đặt vấn đề một cách nghiêm túc về vai trò và trách nhiệm của nhà văn trong sáng tác Theo Vũ Bằng, tính chân thực, ý thức trách nhiệm có tiếng nói riêng… là những phẩm chất quan trọng của nhà văn Khi dự định in lại
Cai (với tên sách mới Phù Dung ơi vĩnh biệt), nhà xuất bản Lửa Sống đã yêu
cầu Vũ Bằng viết lại 32 trang mà thợ in bất cẩn đánh mất nhưng tác giả từ chối:
“Tôi không viết lại vì nghĩ rằng viết lại thì giọng văn khác hẳn mà tình cảm, ý
Trang 26nghĩa cũng như sự việc nêu ra sẽ không “thành thực” Đó là điều tối kỵ, cái lối nhà văn bao giờ cũng thế: túng thiếu một tí thì chịu khó làm điều gì không vừa ý thì không bao giờ làm” [45;310] Quan điểm của Vũ Bằng trong sáng tác là
“thành thực” Hơn thế nữa, đó còn là sự tự ý thức về tư cách nghề nghiệp của
nhà văn Cái khát vọng “thành thực” ấy đã được Hoài Thanh nói đến trong Thi
nhân Việt Nam Theo ông, điều làm nên diệu kì của Thơ Mới chính là khát vọng
“thành thực”, nhà văn không sống thực với cuộc đời nhất định sẽ không viết nên những tác phẩm văn học giá trị, có thể sống mãi với thời gian Vì vậy, nếu nhà văn không dốc tâm, dốc sức cho văn chương, nhất định họ sẽ sinh ra những đứa con dị dạng và tất nhiên nó sẽ yểu mệnh Quan niệm của Vũ Bằng có sự gặp gỡ với quan niệm của các nhà văn cùng thời như Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng,
Nam Cao và Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân “tin sự “thành thực” là một đức tính,
là một quan điểm của nghệ sĩ chính hiệu” [109;364] Nguyễn Khải, Nguyễn
Minh Châu… ở giai đoạn sau cũng có quan niệm như thế
Quan niệm về phong cách của nhà văn, Vũ Bằng cho rằng, mỗi người nhận xét một kiểu, mỗi người có một cái hay riêng, chưa chắc ai đã hơn ai Và
do đó, theo ông, các nhà văn cần phô bày cái mà “họ tự cho là nhận xét lạ” – vừa để bộc lộ khả năng của chính mình, vừa để độc giả biết đến mình Bởi vì, bất cứ nhà văn nào muốn khẳng định sự hiện hữu của mình trong đời sống văn học, phải tạo cho mình được một phong cách riêng vì đây là một chuẩn giá trong sáng tạo nghệ thuật để “xác định nhà văn này với nhà văn kia” Quan niệm của
Vũ Bằng về cá tính sáng tạo và phong cách nhà văn có sự tương hợp với Tam
Ích khi ông cho rằng: “Nhà văn có cá tính sáng tạo và phong cách là phải làm nên sự khác biệt nhằm tạo cho mình “một cõi không giống ai” [70;150]
Từ cách nghĩ trên,Vũ Bằng tỏ thái độ phê phán quan niệm chọn con đường sáng tác đơn giản, không chú tâm, không sống hết lòng với cuộc đời hoặc
dễ dãi với văn chương nghệ thuật Theo nhà văn, “cái quan niệm ngồi khểnh chơi nhìn đời không thể dung thứ được Cái quan niệm cho nghệ thuật là một trò chơi không thể đứng được” [45;757] Và đây cũng chính là quan niệm của Vũ
Bằng về vai trò vốn sống của nhà văn trong sáng tạo nghệ thuật Từ thành công của Tô Hoài trong việc phản ánh hiện thực và xây dựng nhân vật điển hình mà
Vũ Bằng rất trân trọng, ông đã chỉ ra một vấn đề có tính nguyên tắc trong quá trình sáng tạo của nhà văn Đó là vốn sống Theo ông, các nhà văn cần phải có ý
Trang 27nhiên là phải sống thật sâu xa và hòa mình sống cùng với những người mình muốn hiểu chớ không hời hợt được” [52;996] Quan niệm này của Vũ Bằng cũng có những điểm tương đồng với Nhật Tiến khi cho rằng: “Kinh nghiệm sống
là điều kiện tất yếu để cấu tạo nên một tác phẩm hay”.[107;68]
Những quan niệm về nhà văn, về nghề văn của Vũ Bằng tuy chưa đầy
đủ, toàn diện nhưng cho thấy ông là nhà văn có trách nhiệm với nghề, sống hết mình với nghề Cả cuộc đời làm kiếp tằm nhả tơ của Vũ Bằng là một minh chứng sinh động cho những quan niệm ấy
1.3.2 Quan niệm của Vũ Bằng về kí
Vũ Bằng không nêu quan niệm, bàn luận riêng về thể loại kí là do đặc điểm của thời đại Bởi những năm 30 - 45, tiếp xúc với văn xuôi Phương Tây, các nhà văn chủ yếu đọc tiểu thuyết Hơn nữa, giai đoạn này, Vũ Bằng lại chủ tâm tìm tòi và sáng tạo ở thể loại tiểu thuyết Tuy nhiên, dùng quan niệm của các nhà nghiên cứu ngày nay về kí để đối chiếu, ta có thể nhận thấy quan niệm của
Vũ Bằng về tiểu thuyết có những điểm tiếp cận về kí hiện đại
Theo Hà Minh Đức, “Kí văn học chủ yếu là những hình thức ghi chép nguyên tắc phải tôn trọng tính xác thực và chú ý đến tính chất thời sự của đối tượng miêu tả” [61;18] Nguyễn Văn Hạnh cho rằng: “Kí là ghi chép, về nguyên tắc là viết về sự thật mắt thấy tai nghe, do vậy, không chấp nhận hư cấu, bịa đặt” [67;216] Trần Đình Sử, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Văn Sĩ, Hoàng Phủ Ngọc
Tường… cũng có những quan niệm riêng nhưng về cơ bản, các ý kiến có nhiều
điểm tương đồng ở việc “lấy sự việc làm mục đích và nội dung thông tin cơ bản,
ở việc bộc lộ ý nghĩ và cảm xúc của nhà văn”
Như vậy, quan niệm của Vũ Bằng về loại truyện Gần đời thiết thực, tả chân cuộc sống, về nhân vật sống, về nghệ thuật tả chân ngôn ngữ, nghệ thuật
tả chân tư tưởng của nhân vật… gần gũi với những đặc điểm của thể loại kí nên
cũng có thể xem những sáng tác kí của Vũ Bằng chịu sự chi phối của những
quan niệm này
Trong quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam 1900 – 1945 thể loại
truyện gần đời, thiết thực Giáo sư Mã Giang Lân đã cho rằng: “Cái mới của truyện là miêu tả những sự việc trong cuộc sống hàng ngày” [78;46] Cái mới ấy
được thể hiện ở quan niệm và thực tế sáng tác của nhiều nhà văn Nam Cao từng
bộc bạch với Vũ Bằng: “Tôi quan niệm cuộc đời giản dị lắm Đời không có nhiều khe như người ta vẫn viết trong tiểu thuyết trữ tình Đói thì ăn khát thì
Trang 28uống Tôi thấy thế nào cứ viết in như thế, không thêm bớt Thế cũng đủ rồi, lọ là
phải bày đặt thêm ra làm gì” [49;39] Trong hồi kí Bốn mươi năm nói láo, Vũ
Bằng kể lại việc trao đổi vói ông chủ bút Tiểu thuyết thứ bảy Vũ Đình Long:
“Cuộc đời, theo tôi nghĩ, thường bình dị, xuôi đuột, không có khúc mắc như các
tiểu thuyết gia thường tả Bịa đặt, phóng đại hay phiền phức hóa cuộc đời không
phải là hiện thực” [29;117] Với Vũ Trọng Phụng thì “tiểu thuyết là sự thực ở
đời” Vũ Bằng cho rằng: “Ý niệm về tiểu thuyết về đời người như Nam Cao có
nhiều chỗ giống tôi nên chúng tôi có nhiều chỗ tương đồng” [49;39]
Thực tế cho thấy trong sáng tác của Vũ Bằng Quan niệm về loại truyện
gần đời, thiết thực dù là gián tiếp xác định đối tượng phản ánh của văn học
Theo ông truyện gần đời, thiết thực là truyện mà nhà văn phải bày tỏ cho độc
giả thấy những cái mắt thấy hàng ngày Cách phân loại của Vũ Bằng tuy mang
tính chất đại thể, tùy hứng nhưng có điểm mới so với truyền thống và phù hợp
với yêu cầu cách tân của văn xuôi lúc ấy, cụ thể là hướng tiếp cận của văn xuôi
hiện đại Và cũng có thể nói, nó được cụ thể hóa từ quan niệm của tác giả, trùng quan niệm với các nhà văn cùng thời như Nguyễn Công Hoan,
Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng… Vũ Bằng đã đề cập đến nội dung
phản ánh của tác phẩm, cũng như là cách lựa chọn nội dung phản ánh của nhà
văn Nó đòi hỏi ở nhà văn cái nhìn hiện thực vừa chân xác, vừa bao quát, vừa
sâu sắc, tinh tế…
Trang 29
Chương 2 CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, VĂN HÓA ẨM THỰC
TRONG TÁC PHẨM KÍ CỦA VŨ BẰNG 2.1 Cuộc sống
Văn học bao giờ cũng là tấm gương phản ánh hiện thực đời sống Song không phải hiện thực nào cũng được nhà văn phản ánh vào tác phẩm mà chỉ có những hiện thực gây ấn tượng sâu đậm trong tiềm thức của nhà văn khiến họ phải nghiền ngẫm, trăn trở, mới trở thành đối tượng sáng tạo Là một nhà văn, hơn ai hết, Vũ Bằng nhận thức một cách sâu sắc vấn đề này Chính vì vậy, ở mỗi giai đoạn sáng tác, các tác phẩm kí của Vũ Bằng bao giờ cũng chứa đựng những rung cảm, hứng thú và niềm say mê về một mảng hiện thực mà ông quan tâm
2.1.1 Những lễ hội thường niên
Trong từng cuộc sinh hoạt lớn, nhỏ ở làng quê Việt Nam, lễ hội xuất hiện, chủ yếu là lễ hội dân gian với những quy cách, nghi thức nhất định Vì lễ
hội là thời điểm thăng hoa của mọi sinh hoạt văn hóa dân gian ở một vùng miền
Tác dụng của hội làng, của sinh hoạt diễn xướng dân gian về phương diện giáo dục rõ ràng là để bồi dưỡng mỹ cảm cho các thành viên và do đó lại đạt thêm nhiều hiệu quả giáo dục khác nữa
Vũ Bằng đã gắn bó và chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa dân tộc, nên khi viết về lễ Tết, lễ hội dân tộc Ông khởi nguồn từ cảm xúc đối với quê hương, đất nước, con người, thêm vào đó là vốn kiến thức phong phú về văn hóa, là khả năng khám phá và những suy ngẫm về cảnh quan môi trường, đến chùa cổ kính, thời trân bốn mùa… vốn là những biểu hiện trên bề nổi, gắn với biểu tượng vật chất, vật thể Và đi sâu vào vẻ đẹp văn hóa dân tộc, Vũ Bằng chú trọng đến những biểu hiện mang giá trị tinh thần Đó là những sinh hoạt văn hóa dân gian của từng vùng, miền những phong tục, tập quán ngày đầu xuân, những nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của hai miền Nam Bắc…
Hội lim, Hội lim đã mất, Thương nhớ mười hai là những hồi ức đầy
tự hào về những lễ Tết, lễ hội tưng bừng quanh năm Là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian mang tính dân tộc sâu sắc, lễ hội cổ truyền là vốn di sản văn hóa dân tộc truyền thống Tìm về với quá khứ, nhớ về nguồn cội, nhà văn nhớ như in những lễ Tết, lễ hội của từng mùa, từng tháng Ở một lễ hội gồm có hai
hệ thống đan quyện và giao thoa với nhau: hệ thống lễ và hội Thông qua các nghi lễ của tín ngưỡng dân gian và Tôn giáo, con người được giao cảm với thế
Trang 30giới siêu nhiên là các thần thánh do con người tưởng tượng ra và cầu mong thần thánh bảo trợ Bằng phương pháp liệt kê, Vũ Bằng cho thấy sự phong phú của các lễ hội miền Bắc, hầu như tháng nào cũng có lễ hội, mà nhiều nhất là hội với các cuộc thi, trò chơi Từ tháng giêng, người người đi lễ chùa, trước là lễ Phật, sau là lễ tiên tổ ông bà Những ngày cuối cùng trong một năm cũng có bao nhiêu
là lễ: lễ tiễn ông Táo, sau đó hai ngày là ngày tiễn ông Vải, lễ tạ trường, lễ tất niên Những lễ Tết hầu như được phân bố đều theo thời gian trong năm: Tết Nguyên Đán, Tết Hàn Thực, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu, Tết Trùng Cửu Nói
về các ngày lễ Tết Vũ Bằng bày tỏ sự trân trọng nếp sống cộng đồng với sự sum họp của gia đình, làng xóm…
Riêng về hội thì không biết bao nhiêu mà nói: tháng ba thì làng nào cũng có hội hè đình đám, đèn chăng lá kết rợp trời, Hương án, quạt cờ la liệt
Đó là mùa tế thần, tế thánh, mùa rước kiệu, là mùa đánh cờ người, cờ bỏi, mùa rước sắc mùa chọi gà, chọi cá và đặc biệt là những cuộc đấu vật ở Hạ Lạng, Trà
Lũ, Hoành Nha, Mai Động… đặc biệt, những ngày Tết là những ngày hội náo nức, “ở đâu cũng có hát ví, kéo co, đánh cờ người, đá cầu; ở Phủ Quỳ (Nghệ An), Lang Chánh (Thanh Hóa), Bảo Lạc (Hưng Hóa), trai gái dắt nhau đi chơi một đêm một ngày ở trong hang, thổi khèn, hát đúm, uống rượu, tung còn, tìm nơi thanh vắng để tỏ tình yêu đương mùi mẫn; ở Vĩnh Yên có thi vật; ở Bắc Ninh, Phú Thọ có món đánh phết; ở Tích Sơn (Hưng Hoá) làng Yên Đỗ (Hà Nam) có trò đuổi lợn, đuổi cuốc trong ngày Tết; có thổi cơm thi, thổi xôi thi; ở Thanh Hóa có “Tết cơm cá” Dường như nhà văn nặng tình quê, chân trọng truyền thống này không quên bất kì lễ hội độc đáo nào
Viết về lễ hội Vũ Bằng viết với niềm háo hức, tự hào, kể ra cho thỏa lòng, tưởng trừng như ông tham dự hết tất cả các lễ hội đó Nhà văn không mô
tả cảnh người tấp nập trẩy hội, không mô tả trình tự của mỗi lễ hội, không giải thích ý nghĩa của các lễ hội nhưng từ cách liệt kê liên tục hàng loạt tên gọi các lễ hội ở các địa phương, từ cách thỉnh thoảng liên tưởng rất cụ thể nhưng cũng rất hình ảnh và cũng rất trữ tình các trò vui đã cho thấy được sự phong phú, ý nghĩa, giá trị đẹp, cái chất và cái hồn của lễ hội Từ trò dún đu, tác giả nhận ra cái nét
đáng yêu, tình tứ của trò vui này; “Đu lên bổng, chiếc áo nâu non của cô gái dan díu với chiếc áo the thâm của chàng trai, đôi giải yếm lụa quấn quít lấy chiếc quần hồ trắng bốp… hai lá cờ đuôi nheo cũng phải rung lên một cách đa
Trang 31tình” [37;315] Ngoài ra còn biết bao nhiêu hội hè mà hội hè nào cũng có ý vị,
cũng nên thơ, cũng hấp dẫn người ta như thế
Rất thâm trầm, Vũ Bằng để những tính cách tốt đẹp – vốn đã trở thành cốt cách của người Việt – xuất hiện rất tự nhiên, rất bình thường Có thể mới thấy đó là những cốt cách đã thuộc về bản chất, thuộc về truyền thống dân tộc Nói đến lễ hội, Vũ Bằng không quên bản sắc của chúng ta là những điệu hát
Đây cũng chính là hình thức nghệ thuật của dân tộc “Nói đến hát thì có không biết bao nhiêu thứ: Phú Thọ có hát xoan, hát ghẹo,Vĩnh Phúc có hát hội rô, Bắc Ninh có hát quan họ và có biết bao nhiêu miền còn bao nhiêu điệu hát mê ly nữa, như hát cửa đình có màu sắc Tôn giáo, hát nhà trò ở các đám khao vọng, hát ca trù, hát văn, hát xẩm…” [37;187] Nghe tác giả nói về hát trống quân,
người đọc tưởng chừng như đây là một nghệ nhân thực sự: về nguồn gốc: “Có từ
thế kỉ thứ XIII, phổ biến lúc quân ta chống quân Nguyên” Về nội dung: “Đối đáp giao duyên, đề cao tình bạn, ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên đất nước”
Nhạc cụ: “Một cái hố sâu, có cái thùng bằng thiếc úp trên thùng có một cái sợi dây kẽm dài chừng năm sáu thước căng giữa hai cái cọc” Yêu cầu đối với người hát: “Phải biến báo, mau trí, sáng tác đột xuất để hát trả lời lại bên kia, có khi nghiêm nghị, có khi trào phúng, nhưng bao giờ cũng phải giữ thái độ thanh nhã, khiêm nhường”
So với các nhà văn cùng thời viết về lễ hội Cũng có người nhắc đến thành công của Sơn Nam khi viết về văn hóa Nam Bộ nhưng thực chất, Sơn Nam viết khảo cứu, còn Vũ Bằng thiên về sáng tác
2.1.2 Những phong tục dân tộc
Phong tục làng quê cổ truyền Việt Nam thể hiện sức sống và bản sắc dân tộc của làng xã Đó là những giá trị văn hóa nghìn đời do ông cha ta giữ gìn qua bao biến cố lịch sử chống lại sự đồng hóa, hòa tan vào văn hóa phương Bắc
thời Bắc thuộc “Tâm lí hướng về cội nguồn, tự hào về dòng giống của mình là tâm lí chung của tất cả các dân tộc trên trái đất này” [72;352]
Vũ Bằng lớn lên ở vùng đất của những đền chùa, của những tín ngưỡng thờ phụng, lại sống trong môi trường gia đình với những người phụ nữ giàu đức tin, ông cũng thấm nhuần ý thức cội nguồn qua những tập tục của dân tộc Từ tập tục thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Việt, Vũ Bằng cho thấy ý thức về cội
nguồn của dân tộc ta không chỉ là tự hào về dòng giống của mình đó còn là lòng
biết ơn tổ tiên, ông bà – một đạo lí làm người Thể hiện đạo lí làm người, những
Trang 32người đi trước, những người trong mối quan hệ gắn bó lại nhắc nhở nhau giữ gìn, vun bồi cho những hành động hợp lẽ với đạo đức truyền thống của ông cha
“Tháng giêng ở Bắc là tháng người ta chỉ danh ra để trước là lễ phật, sau là lễ
tổ tiên ông bà Người sống thông cảm với người chết trong tháng ấy, lấy tâm tư
mà nói chuyện với nhau, lấy đạo lí mà khuyên bảo, dạy dỗ nhau cách nào cho vẹn đạo làm người, chớ có thấy giàu mà ham, chớ vì sang mà bỏ nghĩa, chớ vì cầu an mà làm tôi mọi cho người ngoài” [37;27] Đó cũng chính là cốt cách của
người Việt Nam
Trong phong tục, Tín ngưỡng cũng là một dấu ấn về văn hóa trong tâm thức làng quê của người Việt từ bao đời Đó là một niềm tin có phần huyền bí
mà rất cụ thể, có phần thiết thực mà rất thiêng liêng Những vấn đề của phong tục dân gian như nếp sống, sinh hoạt tinh thần, sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tâm linh… đều có thể thấy ở nhiều nơi Có nhiều sinh hoạt cụ thể gắn bó với phong tục như chuyện kiêng kị trong tín ngưỡng, cưới xin, ăn uống…Trong hoài niệm của Vũ Bằng về quê hương, về văn hóa dân tộc, nhà văn đặc biệt nhớ đến những
phong tục, tập quán gắn liền với tín ngưỡng của dân tộc “Đó là những thói quen
đã ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số mọi người thừa nhận
và làm theo” [99;234] Nhiều bài viết của Vũ Bằng quan tâm đến Tết của dân
tộc như Ngoảnh lại trông xuân và Thương nhớ mười hai, đặc biệt là Thương
nhớ mười hai, tháng mười hai được đặt tên là tháng chạp, nhớ ơi chợ Tết
Phong tục của nhân dân ngày Tết được tác giả nhắc đến với thái độ trân trọng và xem đó là những thói quen hiển nhiên gắn với niềm tin, gắn với những ước muốn tốt đẹp: viết câu đối dán ở cột trước cửa và ngoài sân, mua trầm để đốt trên bàn thờ, treo tranh gà lợn trên tường, thăm mộ gia tiên nội ngoại, trồng nêu,
vẽ vôi bột, gói bánh chưng, dọn cửa lau nhà, chúc tụng nhau ngày tết cầu trời khấn Phật…
Nêu ý nghĩa của một phong tục, Vũ Bằng thể hiện quan niệm rất mới và
có giá trị về mối quan hệ giữa phong tục với dân tộc, gia đình Về tục thờ cúng
ông Táo và tiễn đưa ông Táo về trời 23 tháng chạp, theo ông, nó “chứng tỏ rằng người mình lúc ấy đã tổ chức thành gia đình nhỏ, mà cái bếp của ông Táo là tượng trưng cho gia đình, cái bếp là đơn vị nhỏ nhất của xã hội Cái gia đình
ấy, cái đơn vị ấy, đồng nhất từ Bắc vào Nam cho nên không có kẻ nào chia rẽ được Nam với Bắc” [37;286] Ông Táo ở Bắc lên trầu trời “cỡi một con cá
Trang 33trong Nam thì được đồng bào “cúng một cặp giò – cặp hia để cho ông đi lên Thiên Đình cho lẹ”
Tóm lại, dù Bắc hay Nam, dù tiễn ông Táo về trời bằng hình thức nào, người Việt Nam vẫn hiểu rõ giá trị của mái ấm gia đình Trong cuộc sống hiện đại, khi bữa cơm gia đình ngày càng thiếu vắng, chúng ta càng trân trọng những suy nghĩ có ý nghĩa về tổ ấm của Vũ Bằng Và những ngày lễ Tết, Vũ Bằng cho thấy không khí gia đình, tình chồng vợ, tình cha con thật ấm áp
Nhắc đến những tập tục Vũ Bằng đã thể hiện những phần sâu kín trong tâm hồn con người, gắn với tâm linh nhưng lại thiết thực, cụ thể Người miền Nam có tục xin xăm, “xin một quẻ đầu năm để biết kiết hung” Người Việt Nam
có tục cầu trời khấn Phật, “xin các sức huyền bí viện trợ cho mình” Mọi nhà làm lễ cúng bái, tháng bảy đại lễ Vu Lan Bồn, xá tội vong nhân ở nơi âm phủ cho những người quá cố… “trông vào một đấng tối cao trong cõi vô hình”, theo
Vũ Bằng, đó là niềm tin của ông cha xuất phát từ một nhu cầu thực tế: ý thức
được tồn tại, bình yên: “Từ bao nhiêu đời nay tổ tiên mình, rồi đến ông cha mình tin tưởng, rồi đến mình đây tin tưởng…” [37;273]
Vũ Bằng biết và nhớ nhiều những phong tục gắn với những kiêng kị,
nhất là những kiêng kị ngày Tết: Kiêng cữ chửi mèo mắng chó, “không được quét nhà vì sợ đuổi thần tài ra cửa, không được đánh vỡ chén bát để tránh đổ vỡ suốt năm, không được khâu vá vì kim chỉ tượng trưng cho công việc làm ăn vất vả” [37;307] Việc kiêng gọi tên con khỉ, con chó, con lợn vì sợ nói đến chúng
thì không may mắn; kiêng nói đến tên “cày” trước khi cúng bái cày, kiêng viết lách trước khi làm lễ khai bút; kiêng buôn bán hàng trước khi làm lễ tiên sư ở quầy hàng, hay “Tết Hàn Thực kiêng dùng lửa, chỉ ăn dòng đồ lạnh”… tất cả những tục lệ ấy đều xuất phát từ nguyện vọng có cuộc sống tốt đẹp, như ý Với nhà văn, phong tục, kiêng cữ “là để chứng tỏ tính chất đồng nhất của xã hội” Trong cách nhìn, cách nghĩ của nhà văn Vũ Bằng, những thói quen đã thành nếp, đã ăn sâu vào đời sống xã hội của mọi người không phải là sự cả tin
mù quáng đáng phê phán mà là những mong muốn, ước ao đáng trân trọng “Cứ tin như thế, người ta thấy đời đẹp hơn, đáng yêu hơn” [37;311] Tất cả cho thấy
mối quan hệ mật thiết giữa con người với cuộc sống vật chất và với đời sống tinh thần Thế mới thấy, Vũ Bằng am hiểu tường tận những biểu hiện của văn hóa trong đời sống dân tộc biết bao Thế mới thấy, Vũ Bằng nghĩ và hiểu sâu sắc
về truyền thống văn hóa của dân tộc biết bao!
Trang 342.2 Con người
Trong sáng tác của Vũ Bằng thể hiện ở những suy nghĩ của ông về con người trong cái nhìn đầy khám phá, qua những năm tháng sống trong nhiều nghịch cảnh khác nhau cùng với nhiều số phận
2.2.1 Hình ảnh con người lao động
Nói về dòng văn học hiện thực giai đoạn 1930 - 1945, thì không chỉ riêng các nhà văn hiện thực như Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam… với những tác phẩm thành công
về mảng đề tài người nông dân – người lao động Trong đó, còn phải kể đến một nhà văn, nhà báo với thể loại kí như Vũ Bằng cũng viết rất thành công về mảng
đề tài này
Cuộc đời hoạt động và sáng tác của nhà văn Vũ Bằng gắn với nhiều giai đoạn biến động của đất nước, dân tộc Đồng hành cùng thời cuộc, kí của Vũ Bằng áp vào đời sống, phát hiện những hiện tượng, cảnh ngộ bi kịch và cả
những phi lí trong cuộc đời…“Đất nước lầm than”, “dân nước oán Tây vô cùng” [29;30], “một sự chán trường mông mênh tràn lan trên đất nước” [29;21],
“xã hội Việt Nam lúc ấy mắc một cái bịnh mà người ta gọi là bịnh thời đại”
[29;26] Thời kỳ ấy, từ những năm 30 truyện kí Bát cơm cũng phản ánh về đời
sống vật chất với những thảm cảnh bi đát: chết vì đói nghèo, sống phải nhờ vào
“Bát cơm cứu tế”, phải đi làm thuê…
Nhận thức về hiện thực xã hội và tội ác của chế độ thực dân là nhận thức của người có ý thức dân tộc Vũ Bằng viết về hoàn cảnh đất nước có chiến tranh,
về số phận con người lao động trong chiến tranh thông qua những đoạn trữ tình ngoại đề và thông qua nhân vật trong tác phẩm Trong cách nhìn của Vũ Bằng,
đất nước có chiến tranh “y như thể nước đại dương: bên trên thì êm ả, nhưng sóng ngầm bủa giăng ở dưới” [29;243] Tiếp xúc với những cảnh đời khốn khổ
vì chiến tranh, hoặc chết vì bom đạn, hoặc kiếm chẳng đủ ăn, hoặc không chỗ
trú thân, nhà văn kết luận: “Thời chiến tranh, cái khổ cũng nhiều màu” [17;23]
Như bao người dân gánh chịu những hậu quả nặng nề do chiến tranh gây ra, Vũ Bằng nhìn thấy thân phận mỏng manh của con người trong chiến tranh để nhận
định: “Thời buổi chiến tranh này, sự sống của con người ta như ngọn đèn cháy lúc này mà chưa biết tắt lúc nào” [35;4], “kiếp người như cái bèo” [52;130], chiến tranh tàn bạo và khốc liệt: “Chết chóc quá nhiều, bắn giết quá nhiều, đau
Trang 35đau thương, Vũ Bằng nhận ra thực tế phũ phàng từ những cuộc đàn áp của chính
quyền Sài Gòn đối với Phật tử, Sinh viên…
Trong Thương nhớ mười hai là một nhận thức sâu sắc về sự ảnh hưởng
của xã hội loạn lạc nên cuộc sống với những khát khao hạnh phúc đời thường
của con người lao động: “Cái thời buổi loạn ly tạo nên bao nhiêu là ly biệt” [37;193] “Chiến tranh lại làm cho bao nhiêu gia đình tan nát, bao nhiêu lứa đôi chia lìa, bao nhiêu lệ rơi máu chảy” [37;54],
Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam, Thương nhớ mười hai và các phóng sự như Khúc ngâm trong đất Hà, béo, chạỵ, hùng v.v.v là những
chuyện viết về hình ảnh người lao động, con người nghèo khổ ở vùng hồi cư Những con người ấy luôn sống trong những trăn trở, nghĩ suy, băn khăn về sự hồi cư của mình Người đọc cuốn vào hiện thực tâm lí của nhân vật, theo dõi băn khoăn với những điều mà nhân vật không yên lòng, cứ suy đi nghĩ lại khi lâm vào hoàn cảnh nào đó Vũ Bằng đã tỏ ra nhanh nhạy nắm bắt thực tế với những trạng thái, trạng huống của đời sống, những mối quan hệ nảy sinh trong xã hội Bằng ngòi bút của mình Vũ Bằng đã viết về hình ảnh những con người lao động, những cuộc đời xã hội như vốn có, và được xây dựng một cách đơn
giản, rõ ràng Là những con người có mảng đời rất éo le “sống cũng không
được, chết cũng không song” (Vườn xuân tơi bời lá gieo) Với Vũ Bằng chiến
tranh khiến người ta túng thiếu, khắc khổ, rơi vào bi kịch, “khó mà sống lâu được, đời sống khó mà vui tươi được” [52;131]
So với Nguyễn Công Hoan (Bước đường cùng), Thạch Lam (Hai đứa
trẻ), cũng viết rất thành công về mảng đề tài này Thì cái mới trong sáng tác của
Vũ Bằng được nhà văn Tô Hoài nhận xét: “Cái mới của Vũ Bằng là “miêu tả nhân vật hoạt động và nội khăng khít với quãng cảnh, có ý nghĩa là cuộc sống con người lẫn lộn, quấn quít, giằng co giữa tâm trạng và hình thức, giữa tất cả với xung quanh, đẩy gần hơn nữa nhân vật với sự thật cuộc sống…” [69;64] Trong khi đó, “Nguyễn Công Hoan vẫn tuân thủ nghiêm ngặt cách dựng nhân vật bằng một số thủ pháp cổ điển như sau: ý nghĩa nhân vật không lẫn lộn xen với tả cảnh; nhân vật nghĩ dứt rồi mới hành động…” [69;64] Nhưng nhân vật
trong truyện kí của Vũ Bằng là nhân vật được nhìn bằng cái nhìn đời thường của cuộc sống hàng ngày, được xây dựng theo quan niệm riêng và có tính chất thể nghiệm của ông Nhân vật của Vũ Bằng thường là những nhân vật không có tính cách đầy đặn như những nhân vật của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam
Trang 36Cao… mà là nhân vật xuất hiện bình thường trong một hoàn cảnh nhất định và
có những cách ứng xử trong từng hoàn cảnh ấy như là sự thích ứng hay không
thích ứng của con người với đời sống xã hội Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Con người lao động trong tác phẩm kí của Vũ Bằng cũng giống như con người lao động của Nguyễn Công Hoan dù họ ở vào hoàn cảnh nghèo khổ, hay giàu sang, bao giờ Vũ Bằng cũng tả ngọn bút dí dỏm, nhạo đờ, hơi đá giọng hoạt kê”
2.2.2.Con người tha hương
Từ hiện thực cuộc sống của chính mình và bao người dân ở vùng tản cư
Vũ Bằng đã viết về những vấn đề thời sự mà nhiều người quan tâm khi ấy – số phận con người trong chiến tranh Nhà văn chú trọng đến những con người ở vùng tản cư và cuộc sống của họ - bằng thái độ quan tâm và xót thương, chia sẻ Chính vì vậy, đọc kí Vũ Bằng, người ta thấy hiện lên hình tượng của một thân phận “lạc loài”, “đơn côi” Và cảm giác cô đơn, lạc loài ấy được chính tác giả
thổ lộ, như “ khúc gỗ bị mối ăn mục nát từ lúc nào không biết… con tim của người tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục” [37;9] Những câu hỏi về
một ngày được trở về Hà Nội lúc nào cũng dội lên, âm vang trong tâm khảm vũ
Bằng “Bao giờ trở về? “Bao giờ trở về?”, “ngày ấy bây giờ ở đâu?” và “bao giờ con người ấy” Dầu không nguôi hy vọng và cầu trời khấn phật: “Lạy trời đất qủy thần xin phù hộ cho chúng con mạnh khỏe chân tay để một ngày kia trở về với nơi chôn rau cắt rốn” [37;324], nhưng hy vọng nhiều khi trở thành thất vọng
“Em ơi, sống là tin tưởng và chờ đợi, nhưng biết rằng mái tóc người ta có xanh mãi được chăng?” [37;35] Cảm giác cô đơn, lạc loài ấy cắt cứa, gặm nhấm hồn
người xa xứ Vũ Bằng đau đớn hơn nữa khi chững kiến nỗi khổ về đời sống vật chất với những thảm cảnh bi đát: nỗi đau về tinh thần của những con người tha hương với nỗi nhớ quê không ngớt dày vò
Trong thực tế, một mặt Vũ Bằng được xem là người tài hoa, sắc sảo,
nhưng mặt khác, ông cũng là người sống và viết phóng túng, dễ dãi bởi có lúc
ông viết theo cảm xúc, có lúc viết để “chạy bài” Tuy nhiên, mảng đề tài quan
tâm nhất trong kí văn học của Vũ Bằng là đời sống hiện thực và vấn đề con người ở vùng tản cư Trong các tác phẩm kí, Vũ Bằng đã viết bằng tâm trạng, nỗi niềm qua ngòi bút rất đỗi tài hoa Qua những trang văn hồi ức đong đầy kỷ niệm, nhà văn đã bộc bạch, giãi bày biết bao tâm trạng, nỗi buồn thương, mong nhớ và cả sự cô độc của nhà văn
Trang 37Chẳng hạn, khi nói về người chồng xa nhà, người con xa quê hương,
trong Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai, Vũ Bằng đã thể hiện hình
ảnh quen thuộc như (người xa nhà, người nhà quê, người ly hương, người lữ khách), Vũ Bằng đã gọi nhân vật trữ tình ấy là: người khách tương tư cố lý, người bạn phương trời, người thiên lý tương tư, người sầu xứ, người đàn ông lạc phách, người khách thiên lý tương tư, người du khách đa xuân tứ, người mắc bệnh lưu ly, người mắc bệnh tương tư, người đàn ông oan khổ lưu ly, người chồng lạc phách, người khách đi đêm, người chồng phiêu bạt, người tương tư Bắc Việt, người đàn ông sầu nhớ, người chồng cô chích… cách gọi ấy, những
ngữ danh từ ấy, ẩn chứa lượng thông tin đáng kể Bởi người đọc cảm nhận được
ở đó hình ảnh người đàn ông trong hoàn cảnh ly hương và ly nhân, sống phiêu bạt nơi đất khách quê người Đó là người đàn ông mang tâm trạng cô đơn, lẻ loi, thiếu người cùng hội cùng thuyền để chia sẻ tâm sự; là con người không hòa nhập được hoàn cảnh, mãi mãi vẫn xem mình là khách vãng lai Và đó còn là người đàn ông ôm nặng mối sầu, giằng dặc những buồn thương, nhớ tiếc Tất cả
đã kết hợp lại trong sự đa dạng của ngôn ngữ, khắc họa sâu sắc tâm trạng và hoàn cảnh của nhà văn Nghệ thuật sử dụng những hình ảnh so sánh để khắc họa
tậm trạng nỗi sầu đau của người cô chích trong Thương nhớ mười hai: “Lòng
người xa nhà y như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết” [37;9], “con tim của người khách tương tư cố lý cũng đau ốm y như là gỗ mục”[37; 9], “cảm như có hàng vạn con mọt nhỏ li ti vừa rung cánh vừa đục khoét con tim bệnh tật” [37;10]… đó là nỗi sầu, nỗi đau triền miên, tích tụ, hanh
hao, dễ vỡ Những so sánh của tác giả không chỉ đánh đọng mà còn đánh hỗ vào
cảm xúc của người đọc, khiến người đọc cũng cảm thấy nhức nhối, xót xa Khúc
ngâm trong đất Hà – Bợm, trần, to, béo, chạy, hùng lại là những truyện phản
ánh hiện thực về sự tha hóa, đánh mất nhân cách của không ít những người tản
cư
Viết vấn đề này, Vũ Bằng cho thấy sáng tác của ông đã chuyển theo dòng chảy của Văn Học Nó góp phần tích cực vào việc hình thành, phát triển một nhánh nhỏ nhưng độc đáo của nền văn học kháng chiến – dòng văn học yêu nước trong vùng tạm bị Pháp chiếm (Hà Nội – Sài Gòn) giai đoạn 1945 -1954
2.2.3 Chân dung các đồng nghiệp nhà văn
Kí của Vũ Bằng không chỉ dựng lại bức tranh hiện thực đời sống, về
thiên nhiên về con người lao động, con người tha hương Mà Vũ Bằng còn có
Trang 38những trang viết rất độc đáo về những bạn văn, bạn báo cùng thời như: Nguyễn Văn Vĩnh, Phùng Tất Đắc, Ngô Tất Tố, Vũ Đình Bính, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Tú Mỡ, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Trần Huyền Trân, Hữu Loan, và Nguyễn Tuân, Thâm Tâm, Tô Hoài, Nguyễn Vỹ, Xuân Diệu Vũ Bằng đã viết rất thành công khi dựng các chân dung văn nghệ sĩ qua ngòi bút của ông, các chân dung đó hiện lên một cách sống động như đang hiển hiện
trước mắt người đọc một con người có thật trong cuộc sống hàng ngày
Đều khắc họa chân dung văn học trong tác phẩm hồi kí, nếu Tô Hoài thiên về mô tả những chi tiết đời tư có phần “nhếch nhác” của giới văn nghệ sĩ bằng con mắt tỉnh táo, tinh quáy, pha chút giễu cợt, dẫu rằng là giễu yêu, thì Vũ Bằng trình bày điều đó với tư cách là người cùng hội cùng thuyền, rất mực cảm thông, chia sẽ, để rồi phát hiện ra nhiều nguyên cớ thật đẹp bên trong tâm hồn những anh em bè bạn làng văn, làng báo ấy
Các nhà văn, nhà báo trong hồi ức Vũ Bằng được soi chiếu trong các mối quan hệ đời thường Với Vợ con, Gia đình, ông chủ, với bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt là với cuộc sống cơm áo, gạo tiền
Hình ảnh người trí tư sản trong mối lo cơm áo đã được nhiều nhà văn, nhà
thơ đề cập đến Xuân Diệu - một nhà thơ đã từng cay đắng thốt lên rằng: “Nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt, cơm áo không đùa với khách thơ” Nguyễn Vỹ khi
viết về đời sống của những nhà văn An Nam chuyên nghiệp đầu thế kỉ XX đã
kết luận thành những câu chua chát: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”, “nhà văn
An Nam khổ như chó” Đến Vũ Bằng hình ảnh cơ cực, nghèo khổ của những
chân dung anh em làng văn, làng báo được ông khắc họa chân thật sắc nét như
hình ảnh của Thâm Tâm chẳng hạn “Anh Thâm Tâm lúc ấy ở nhà Diêm với đại gia đình, mấy em gái anh sống bằng nghề đóng sách mướn cho các nhà xuất bản kiếm ăn chật vật Được đồng nào anh chỉ mang về cho gia đình một ít, còn lại phải thu xếp trả cho anh em nên trong nhà ít có khi đủ tiền tiêu Thâm Tâm thường phải vay trước tiền của nhà báo” [29;152]
So với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Nam Cao cũng chẳng khá hơn là bao Trần Huyền Trân sống heo hút trong nhà đánh cá bắt trên sông để làm thơ
và viết truyện Theo lời kể của Vũ Bằng “Trần Huyền Trân viết truyện thì hay
và làm thơ thì tuyệt, nhưng thông thường mỗi tháng phải chịu nhịn ăn ít nhất năm ngày” Còn Nam Cao, “nghèo nhất Nam Định, bần cùng bất đắc dĩ lắm
Trang 39ở với một người bà, có vợ nhiều con Ngoài số nhuận bút hàng tháng, tất cả gia đình anh trông vào một giàn trầu mà bà anh bán lấy tiền thêm nuôi các cháu”
[29;160] Vũ Trọng Phụng cũng vậy: nghèo khổ, túng quẩn, Vũ Bằng viết về
“Ông vua phóng sự đất Bắc” ấy với lòng cảm thông trắc ẩn sâu sắc Trong hồi
ức Vũ Bằng, Phụng hiện lên với bộ dạng “phủ phục xuống dường như con voi viết, mắt hiếng hẳn đi mà lưỡi thì lè ra như con lưỡi con thằn lằn,…vừa viết vừa chửi thề sao mình lại khổ đến thế này, cứ phải viết mới có tiền sinh sống”
[29;108] Vũ Bằng còn nhớ như in câu nói của Vũ Trọng Phụng trước khi mất:
“Nếu mỗi ngày tôi có miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như vậy”
[29;100]
Khi viết chân dung về họ, Vũ Bằng ý thức một cách sâu sắc họ là những con người của đời thường, của gánh nặng cơm áo, nhưng đồng thời họ cũng là những nhà văn, nhà báo – mang trong mình tố chất nghệ sĩ không giống
ai Cho nên, các chân dung được Vũ Bằng cảm nhận và khắc họa thường hiện lên một lúc hai phương diện: người thường và nghệ sĩ Người đọc cảm thấy thích thú, hồi hộp với những câu chuyện của Vũ Bằng khi kể về chất thường nhân hòa quyện với chất nghệ sĩ của những nhà văn, nhà báo như Ngô Tất Tố và Nguyễn Tuân…
Ngô Tất Tố có phong cách trang nghiêm, đạo mạo của một nhà nho nhưng lại quá thật thà, và dễ bị tổn thương khi có người đùa ác, đùa dai, Vũ Bằng nhớ rất rõ kỷ niệm về một lần đùa rỡn với Ngô Tất Tố trong buổi học mà bác Tố dạy Vũ Bằng chữ nho Vũ Bằng dạy Ngô Tất Tố tiếng Pháp, bác lẫm
nhẫm học “bambou hítralô” là cây mía, cây mía là “bambou hítralô”, “lơ sơ rơ” là anh sợ vợ”… sau đó bác Tố biết mình bị lỡm, cầm cái gối ném vào mặt tôi và ngay lúc đó mặc áo the, chụp cái khăn vào đầu, lê đôi giày Gia Định một cách thểu não đến nhà Mai Lĩnh nằm nhai hối hân” [29;115]
Đặc biệt, có một Nguyễn Tuân lập dị, tai ách, khinh bạc: “mang những hành động lẩm cẩm, dớ dẫn, lộn ruột” [29;147] Kiểu như “đúng lúc tôi đang ngon giấc, lay dậy, bảo mặc quần áo đi có việc cần Trời thì rét mà ở ngoài còn tối om như mực tôi không đi, nhưng không được Anh bắt tôi đi bộ, vòng hết đường này sang đường khác, rồi rủ đi ăn bánh ướt ở một căn nhà lá mà anh bảo
là ngon nhất Thang Mộc Ấp Riêng một cái việc ngồi chờ bà cụ bán hàng thắp đèn lên, tráng bánh và rán đậu đã mất hai tiếng đồng hồ” [29;147] Hay chuyện
hôm Thanh Châu – Ngô Hoan cưới vợ, anh em nghệ sĩ đến mừng, ăn uống
Trang 40nhưng riêng Nguyễn Tuân không thấy đâu Một tiếng sau, Nguyễn Tuân xuất hiện khều ngón tay “cháu rễ” khe khẽ, vay năm đồng rồi đi Một lát sau, Tuân
trở về với “đầu bù tổ quạ, nhón hai ngón tay cầm một cành la – dơn thực đẹp như trẻ con đi rước đèn tháng tám mừng Thanh Châu Thì ra anh mượn tiền là
để mua bông hoa đó” [29;148] Vấn đề ở chỗ “một cành la dơn giá cao lắm độ hai hào, nhưng sau này có người biết tin anh đã mua tới bảy hào, và biếu bà bán hoa thêm một đồng, còn lại bao nhiêu thì xe đi, xe về hết nhẵn, không còn
xu nhỏ” [29;148] Qủa là một Nguyễn Tuân khác người, ngông nghênh khinh
bạc “đến điều”
Dưới ngòi bút của Vũ Bằng, Nam Cao hiện lên thật nghèo khổ, quê mùa;
“ngoài vợ ra, không hề biết đến một người đàn bà nào khác” [49;163], “giữa thế kỉ văn minh đi ăn nhà hàng, lại có thể có một thanh niên chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi không biết món này là cái gì và hỏi cơm chiều đã có lạp xườn và trứng rồi Cả cớ lại phải ăn vậy?” [49;162] Song trong mắt Vũ Bằng, Nam Cao còn là; “một nhà văn rí rỏm, chua chát nhưng chân thật và hồn nhiên đến mức không có nhà báo, nhà văn nào sánh được” [49;162-163] Rõ ràng là,
“Từ kho kí ức sống động và phong phú, cái chất liệu được hồi sinh, tạo thành xương thịt, khí huyết cho chân dung hiện lên trước mặt giấy” [49;393]
Viết về anh em bè bạn nghề báo, nghề văn Vũ Bằng tâm thế của người trong cuộc, nên hơn bao giờ hết, Vũ Bằng ý thức được tính chất hai mặt của những người làm nghề văn, nghề báo Tác giả dường như rất hứng thú khi miêu
tả những thói chơi bời, quậy phá của giới văn nghệ sĩ mà tựu trung lại ở ba thứ
rượu chè, hút sách và hát cô đầu: “một đêm khuya chúng tôi đi hát ở Khâm Thiên tôi nhớ ngoài anh em quen biết ra, có ông Ba Mai Lĩnh, ông Ba, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân và tôi, mỗi người ngồi xếp bằng tròn, dưới đất ở một góc nhà cô đầu, tu mỗi người một chai Văn Điển” [29;149]
Vũ Bằng cũng không quên kể giây phút “quá khích” của anh em
“khoảng đến ba giờ sáng, cả phố Khâm Thiên nhao lên như có loạn: ở trên nóc nhà Nguyễn Tuân đi lại như một anh hát xiếc, giơ hai tay lấy thăng bằng, nhún nhảy trên nóc một chân, thỉnh thoảng lại ngoay ngoắt người trở lại, bao nhiêu hồn ví cô đầu và quan viên đều bay lên mây” [29;149] Mỗi khi sự “quá khích”
lên đến mức dồ dại, Vũ Bằng thôi không tán thưởng nữa Cái đáng quý trong ngòi bút Vũ Bằng chính là ở chỗ dừng lại đúng lúc ấy