Thiên nhiên làng quê

Một phần của tài liệu Một số đặc điểm nghệ thuật kí vũ bằng (Trang 43 - 46)

Chương 2 CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, VĂN HÓA ẨM THỰC

2.3.1. Thiên nhiên làng quê

Nếu “Nhật kí trong tù” là một cuộc vượt ngục bằng thơ thì Thương nhớ mười hai, Miếng gon Hà nội là cuộc vượt ngục bằng hồi ức của Vũ Bằng.

Không có cuộc vượt thoát bằng tinh thần ấy để trở về với cố hương, chắc chắn Vũ Bằng khó đứng vững nơi đất khách quê hương. Ban ngày Vũ Bằng sống trong thực giới, còn khi màn đêm buông xuống, ông lại sống trong mộng – mộng về với làng quê – Bắc Việt dấu yêu. Có thể gọi đây là đoạn đời “Ngày Nam đêm Bắc” của Vũ Bằng.

Bằng hồi ức, Vũ Bằng đưa ta đến với những vẻ đẹp của đất trời trong sự huy động của hầu như tất cả các giác quan – thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác. Nhà văn không chỉ say ngắm mà còn say ngửi, say nghe và say cảm nhận để không chỉ thấy được đường nét, màu sắc mà còn nghe được âm thanh, ngửi thấy hương vị và cảm thấy bao điều lạ lẫm từ cảnh sắc của đất trời một cách tinh tế. Hoạt động vận dụng các giác quan khi thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên này phù hợp với quan điểm của Mieke Bal: “Có ba giác quan liên quan đặc biệt đến sự tái hiện tiếp nhận không gian: thị giác, thính giác và xúc giác” [68;178].

Cùng đi theo nhịp của thời gian, ngòi bút Vũ Bằng lần lượt khơi dậy bao vẻ đẹp của thiên nhiên làng quê Bắc Việt. Đó là một thiên nhiên diễm tình (Văn Giá) tràn đầy sức sống, hòa thuận với con người. Thiên nhiên ấy chuyển biến theo mùa, theo tháng song gắn liền với hồi ức, nỗi niềm của một người xa quê.

Cho nên được kết tinh thành những ấn tượng trong miền kí ức của Vũ Bằng.

Hình ảnh thiên nhiên làng quê – Bắc Việt đầy tình tứ của tháng giêng càng hiện rõ nét bấy nhiêu. Cái trăng non của tháng giêng sao mà thương mà nhớ? Đúng là vầng trăng chỉ có riêng ở Bắc. Nhưng khác với trăng non tháng giêng, trăng non tháng tám là trăng sáng nhất, lộng lẫy nhất: “Trong một năm không có mùa nào trăng lại sáng và đẹp như trăng thu”. Không gian thiên nhiên của tháng tám tràn ngập ánh sáng của trăng. “Trăng dãi trên đường thơm, trăng cài trên tóc ngoan ngoan của những khóm tre xào xạc, trăng thơm môi mời đón các dòng sông chảy êm đềm, trăng ôm lấy bộ ngực xanh của những trái đồi ban đêm ngập tràn mùi sim chín” [37;158].

Cũng là mùa rét ở xứ Bắc, nhưng cái rét ngọt của tháng giêng. Đó là cái rét còn “vương trên những cành đào”, là cái rét giao mùa đánh thức vạn vật con người sau một mùa đông lạnh giá. Trong nỗi nhớ của người xa quê, cái rét đó mơ hồ, huyền ảo lắm, “Bảo là nóng ư? Không. Bảo là rét ư? Không!thời tiết lúc

đó kì lạ lắm. Rét vẫn còn vương trên ngọn xoan đào, nhưng đất ở ngoài vườn khô ráo, sạch bóng, mịn màng như thể đất rừng Đà Lạt sau một đêm sương và qua những kẻ lá chòm cây, có những bông hoa nắng lung linh trong bể nước

[37;9]. Và cái rét nàng Bân cuối xuân gọi mùa hoa sầu đâu trở về: “Cũng vào khoảng cuối tháng ba, các cây sầu đâu mọc ở những vùng quê Bắc kì đơm hoa và người ta thấy sầu đâu nở như cười. Hoa nhỏ bé, lấm tấm mấy chấm đen, nở từng chùm đu đưa võng mỗi khi có gió" [37;60].

Lần theo nỗi nhớ sâu sắc nên hồi ức gọi về những gì viết cụ thể, tỉ mỉ tưởng như người xa xứ đang sống lại thêm một lần nữa những giây phút trên làng quê đất Bắc Thương nhớ mười hai là mười hai tháng nhớ thương. Mỗi tháng đều có những cảnh sắc thiên nhiên đặc trưng, chở hồn của tháng.

Hồn tháng năm kéo về với cái “Nắng có vẻ cũng nên thơ” của những ngày Tết Đoan Ngọ. Hồn tháng tám không chỉ ở trăng rằm mà còn trong chiếc lá, bởi tháng tám giữa mùa thu là thời điểm cây tiễn lá về với đất.

Ngô đồng nhất diệp lạc Thiên hạ cộng tri thu

Và mỗi khi thấy lá tre rụng vèo xuống các ao, nằm yên ả trong những lớp bèo ong, bèo tấm, tôi nhớ”…[37;92]

Hồn tháng hai “Tương tư hoa đào”, gọi về một miền sơn cước với” Ngút ngà bát ngát rừng đào”, “với một đoàn ba cô người Thổ cưỡi ngựa đi như dưới trận mưa hoa”, “con ngựa đi thồ khẽ từng bước một”, “nước suối trong văn vắt, bóng các cô sơn nữ chiếu xuống nước làm cho một người hóa hai, y như thể các cô tiên đi hái hoa trong vườn của nhà trời” [37;41].

Hồn tháng tư “Sực tỉnh” vào“một buổi trưa tiền kiếp, chúng ta đang dựa gốc cây thiêm thiếp, sực nghe thấy tiếng chim tu hú kêu ở đâu mà to như thể ở chính bên tai ta vậy?” [37;45].

Hồn tháng bảy kéo về những cơn mưa ngâu “mưa thối đất, mưa lai rai, mưa dầm dề, mưa lê thê,”, “cái mưa gì mà buồn không chịu được! Nó lai dai như muốn cứa vào thần kinh ta, nó tạnh một lát rồi lại mưa, mưa đều đều trên mái nhà, mưa đều đều trên bụi cây đồi cỏ, có lúc im phăng phắc, nhưng có lúc lại trút xuống rào rào, rồi lại mưa đều đều, và cứ mưa như thế hết ngày ấy sang ngày khác, hết đêm nọ sang đêm kia, chấn không để đâu cho hết” [37;130].

Nói về mưa mỗi tháng lại có một thứ mưa khác nhau. Tháng chín - mưa cuối thu có mưa rơi, đó là những cơn mưa bất thần nối tiếp nhau. Tháng mười đầu đông có mưa phùn nhỏ nhưng lai dai…

Thiên nhiên làng quê trong sáng tác kí của Vũ Bằng là thiên nhiên của cảnh sắc sinh động, tươi nguyên và lắm lúc lung linh, huyền ảo, là hương thơm tỏa lan, trải rộng khắp đồng bằng, trung du đến miền núi đều giàu sức vẫy gọi.

Với hương thơm của “lúa ba giăng”, của “những bông thóc thơm”, của “Đào, của Vải, của hoa trái, cỏ cây, núi non, sông suối và ao hồ. Mặt đất, bầu trời, ánh trăng… cứ trào dâng sức sống”. Vũ Bằng cảm nhận thấu đáo và tinh tường từng thay đổi của mỗi mùa, từng vùng...Trong Thương nhớ mười hai có nhiều trang thật đẹp về thời tiết và cảnh vật thiên nhiên bốn mùa. “Bầu trời từ tháng giêng đến tháng chạp, dù ngày hay đêm, là bầu trời trong và sáng, tỏa sắc màu, không một chút vẩn đục, khi “xanh ngăn ngắt một màu”, có lúc “trắng như sữa, nhẹ như bông”, có những lúc “sáng lung linh như ngọc” [37;30]. Còn trăng tháng giêng “non như những người con gái mơn mởn đào tơ, có thể ví trăng tháng giêng ấy với một cô gái sắc đẹp nghiêng nước, nghiêng thành, lá xanh ôm lấy những quả bàng như vòng tay ôm lấy người thương, trăng ôm lấy bộ ngực xanh của những trái đồi” [37;30].

Trong thế giới huyền diệu ấy, có ánh sáng, có hương thơm, và có cả một miền thanh âm trong trẻo – lắng đọng. Đó là tiếng chim tu tú, chim chào mào, chích chèo, khuyên, sâu, sẻ gọi bình minh tỉnh dậy. Và không chỉ có tiếng chim, thanh âm của thiên nhiên còn là “Tiếng ve sầu lột cánh đã kêu rền rền vào buổi trưa trên các cây me, cây sấu, cây xoan, cây gạo”…, đó còn là tiếng lá rụng ngoài vườn, tiếng lá xào xạc, tiếng gió đuổi lá, tiếng mưa rơi lộp độp, tí tách, tiếng nước, tiếng suối vọng qua khe núi…. Âm thanh của không gian thiên nhiên làng quê Bắc Việt vọng vào hoài niệm nhiều nhưng không hỗn tạp mà rõ ràng, trong trẻo, ngân vang. Phải biết sống biết yêu, biết nhập hồn mình vào linh hồn của quê hương xứ sở thì mới có thể nghe thấy tiếng “đồi núi chuyển mình, tiếng trăng thủ thỉ, thì thầm, tiếng ve như tiếng nhạc từ trên trời rơi xuống”… Vũ Bằng như khơi dậy “khúc nhạc hồn non nước” trong kí ức của mình.

Hiện thực đời sống thiên nhiên của làng quê trong tác phẩm kí thật đa dạng và phong phú khi được đặt trong mối quan hệ với con người. Vũ Bằng đã từng lang thang trên các nẻo đường; “Từ Hà Nội, Bắc Giang, Hà Nam… đến đỉnh núi vùng Hoàng Su Phì, thung lũng Ngẫu Châu, Lang Chính, Quảng Hóa,

Bái Thượng “để sống cái đời lý tưởng” [37;78]. Trong kí ức Vũ Bằng, ở cố hương Bắc Việt, từ tháng giêng, khắp nơi cây cối bắt đầu nảy lộc rồi đến tháng hai, là non nhú và hoa cũng bắt đầu hé mở nhụy thơm. Nhiều vùng núi đi vào kí ức Vũ Bằng với một vẻ đẹp đầy sức ám ảnh. Đó là “Một thứ thiên thai nơi trần thế rực rỡ hoa đào, mênh mông nước suối ở vùng biên thùy BắcViệt” [37;42].

Nói về sở trường của các nhà văn khi miêu tả thiên nhiên, người ta thường nhắc đến Nguyên Hồng với sở trường miêu tả “nắng”, Nguyễn Tuân với

gió”, Kim Lân với làng quê Bắc Bộ, Đoàn Giỏi với thiên nhiên Nam Bộ, Nguyễn Minh Châu với thiên nhiên nhuốm màu tâm trạng… thực ra, trước Nguyễn Minh Châu khá lâu, Vũ Bằng, Thạch Lam, Hồ Dzếch, Thanh Tịnh là những người đã có ý thức đem tình cảm, nỗi lòng của con người trải nên cảnh vật. Điều khác biệt là thiên nhiên trong sáng tác của các nhà văn thường thể hiện các tâm trạng của các nhân vật, còn trong kí Vũ Bằng thiên nhiên làng quê Bắc Việt nhuốm màu tâm trạng của chính nhà văn.

Một phần của tài liệu Một số đặc điểm nghệ thuật kí vũ bằng (Trang 43 - 46)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)