Chương 3 NGHỆ THUẬT KÍ VŨ BẰNG
3.6. Ngôn ngữ nghệ thuật kí
3.6.1. Ngôn ngữ kí đậm tính hiện đại
Sử dụng thuật ngữ “hiện đại” ở đây, chúng tôi mưốn nói đến việc nhà văn có ý thức thoát khỏi cách sử dụng ngôn ngữ quen thuộc trong văn chương truyền thống. Điều này có thể thấy rõ trong việc xây dựng đa dạng cấu trúc cú pháp, và sử dụng ngôn ngữ đậm chất tiểu thuyết trong kí của Vũ Bằng.
Về mặt cú pháp, trong các tác phẩm kí văn học và các bài kí báo chí, điều này thể hiện ở cách đặt nhan đề, tiêu đề cho tác phẩm. Trong các bút ký, tùy bút, các nhan đề được cấu tạo là một cụm từ như Miếng ngon Hà Nội, Thương nhớ mười hai, Món lạ miền Nam, Bốn mươi năm nói láo, Vườn xuân tơi bời lá gieo, Ngoảnh lại trông xuân… đặc biệt, trong các phóng sự Khúc ngâm trong đất Hà, cấu trúc câu được tinh giảm tối đa, mỗi tiêu đề chỉ còn lại hai từ - hoặc động từ, hoặc tính từ: “Nhẹ, béo; Khóc, hát; Chạy, hùng; Cao, rỗi;
To, đét; Bợm, trần; Ăn, chết...
Cấu trúc câu trong kí của Vũ Bằng đa dạng, biến hóa, linh hoạt với sự ra tăng những thành phần ngữ pháp mới, tạo nên sự thanh thoát, uyển chuyển. Có khi trong một đoạn văn, cùng tồn tại nhiều câu vốn chỉ là từ hoặc ngữ (câu đặc biệt) và những câu văn dài với nhiều thành phần. Chẳng hạn, trong tùy bút Người Hà Nội nhớ người Hà Nội, để thể hiện cảm xúc, bộc lộ những giằng xé nội tâm khi chứng kiến cảnh chiến tranh loạn lạc, chứng kiến những số phận bé mọn sống lầm than hoặc chết uất ức, nhà văn đã kết hợp linh hoạt các kiểu câu:
“Chết chóc. Lìa tan. Cơ cực.
Chết, không được. Sống, không xong!
Chao ôi, bao nhiêu uất hận, bao nhiêu nghẹn ngào, bao nhiêu huyết lệ.
Lên cao trông sắc mây nhớ đến người xa, mà không biết tiêu hao, còn khổ hơn là chết” [52;1342].
Hay một đoạn văn trong phóng sự Nhẹ, béo: “Hai năm khói lửa đã qua.
Chuyện tản cư chỉ còn là một cơn ác mộng mà chả ai buồn nghĩ đến. Các quan hưởng thái bình. Ăn một cái Tết thật ra đáng để trả thù lại những ngày vất vả,
điêu linh. Xong rồi. Nhưng vẫn chưa cho thế là thỏa dạ. Các quan muốn hưởng thái bình lâu hơn” [16;4].
Ở kí báo chí hay kí văn học, tác giả thường sử dụng những cú pháp mang tính „tự do hóa” như thế, nghĩa là giảm đi việc sử dụng các liên từ, để các câu liên kết với nhau bằng sự mạch lạc về ngữ nghĩa. Đây cũng là đặc điểm chung về sự đa dạng hóa cấu trúc trong sáng tác của các nhà văn theo hướng hiện đại hóa .
Vũ Bằng cũng thường dùng những câu văn dài theo mạch cảm xúc của nhà văn. Đó là những câu văn đầy ắp những cảm giác: cảm giác xót xa, nối tiếc cảnh lá dụng (Vườn xuân tơi bời lá gieo), cảm giác bi quan, bị ám ảnh bởi phải chứng kiến những sự việc làm buốt óc, bầm tim, xé ruột (Người Hà Nội nhớ người Hà Nội), cảm giác thẫn thờ, bơ vơ, chán nản, đau đớn khi hồi tưởng lại quá khứ (Thương nhớ mười hai)… đó là những câu văn mà các thành phần câu được mở rộng trong sự nhịp nhàng, uyển chuyển, tưởng trừng như khó tìm được ý tưởng, cảm xúc khiến ngôn ngữ mang nhiều thông tin và nhiều cảm xúc. Và có khi, nhà văn đã để lại những câu văn có sức lay động sâu sắc đến người đọc. Đó là những câu văn viết về tháng ba Hà Nội qua dòng tâm tưởng, hồi tưởng.“Người mắc bệnh lưu ly đã xa cách phần tử mấy chục năm rồi mà lạ thay sao cứ đến tháng ba; nhớ đến sầu đâu mình vẫn cảm thấy thoang thoảng đâu đây một mùi thơm mát mẻ, dịu dàng, mát mẻ còn hơn cả hương Cà Mau, mà dịu dàng có khi còn hơn cả mùi thơm hoa đá a mộc! mùi thơm huyền diệu đó hòa với mùi của đất ruộng cày vỡ ra. Mùi đậu đã gì mà người nông phu đi hái để đem về phơi nắng, mùi mạ non lên sớm xanh màu hoa lý và đẹp như những bức tranh lập thể, mùi khoai sắn, mùi rau cần ở các ruộng xâm xấp nước đưa lên…
bao nhiêu thức đó, bấy nhiêu thương yêu… có phải một lúc ảm ảnh thấy như ngây ngất, như nhức đầu, như say một thứ men gì phải không?” [34;65].
Ngoài ra, cấu trúc câu trong kí Vũ Bằng còn thể hiện ở sự kết hợp tự nhiên hay mở rộng các thành câu (thành phần trạng ngữ, thành phần vị ngữ, dùng hình thức đảo ngữ…). Chẳng hạn, đây là câu văn có sự mở rộng thành phần vượt trạng ngữ “Đêm mưa sườn sượt nghe thấy tiếng van xin của những người ăn mày từ đằng xa vọng tới, hay tiếng guốc lê sền sệt trên đường khuya, hoặc tiếng dao buồn muốn chết của những người đi bán hàng khuya chưa về với gia đình, mình tự nhiên thấy chán trường cho kiếp sống và tự hỏi có nhiều người
Những câu văn, thành phần vị ngữ được mở rộng đầy ấn tượng: “Tiếc không biết bao đêm lạnh nằm chung một chăn đơn với vợ ăn hạt dẻ, nói đôi ba câu chuyện buồn vui thế sự; tiếc những buổi trưa mưa rơi hai đứa dắt nhau đi trên những con đường vắng ẩm ướt có hoa sấu rụng thơm lên trong không khí một mùi hương dìu dịu, man mát mà lại chua chua; tiếc những ngày tản cư cùng đứng trên con đê sông máng với con trai, nhìn về phía có đèn sáng ở đô thành ngâm bài thơ đi cày” [37;217].
Đặc biệt, những câu văn đảo trật tự vị ngữ và chủ ngữ được Vũ Bằng sử dụng khá thành công trong các tác phẩm kí. Chẳng hạn, “Càng đẹp hơn nữa là những ngày tháng ba…” và “Tài tình đáo để là người Việt” (Thương nhớ mười hai), “Bịp bợm vợ con là Tề Nhân xưa” (phóng sự Bợm, trần); “Má đào để là cái óc của mấy ông ái quốc trong thủ đô Hà Nội” (phóng sự To, đét).
Theo Nguyễn Thành Thi trong Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam, các nhà văn Thạch Lam, Nam Cao, Nhất Linh, Bùi Hiển đều chú ý sử dụng các dấu hai chấm (:), Chấm phẩy (;), ngang nối (- -) để ngăn cách thành phần chính của câu với các thành phần giải thích, phụ chú. Trong xu thế chung, để thể hiện sự hiện đại, Vũ Bằng cũng sử dụng hiệu quả các loại dấu câu. Điểm đặc biệt là trong những tác phẩm kí, rất nhiều lần nhà văn sử dụng dấu hai chấm nhưng không chỉ nhằm mục đích giải thích, liệt kê mà còn thể hiện một cảm nhận, một cảm xúc: “Người đàn ông oan khổ lưu ly ngửng lên nhìn trời thấy mây đỏ đòng đọc mà không khí đặc quánh lại như có thể lấy dao ăn để thái ra:
trời này còn nóng mà độc lắm đấy” [37;243]; “Thì ra đó là tiếng gieo của gió, của mây, của cây, của lá; chính trong khi ta đương mộng về Tây Phàm với mấy cô nàng sơn cước đã chuyển bất ngờ” [37;57], và “Ôi chao, người ta cứ đả kích các cái “sô” và khích động nhạc bây giờ; tội quá” [37;183].
Tính hiện đại trong ngôn ngữ kí của Vũ Bằng thể hiện rất rõ qua việc sử dụng ngôn ngữ mang tính chất tiểu thuyết. Theo Phan Cụ Đệ, thông thường, trong tiểu thuyết, các nhà văn sử dụng ba hình thức ngôn ngữ chủ yếu: ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ cá thể hóa của nhân vật, ngôn ngữ nửa trực tiếp (chuyển lời của tác giả vào nhân vật một cách kín đáo). Tùy theo quan niệm thẩm mĩ, khả năng vận dụng ngôn ngữ, ý thức tiếp cận hiện thực… mà mỗi nhà văn có sự xử lý linh hoạt các hình thức nghệ thuật ấy để tạo nên nhiều tiếng nói khác nhau trong tác phẩm (tính đa thanh, đa âm của tiểu thuyết). Khác với tiểu thuyết, ngôn ngữ nghệ thuật trong kí thường là ngôn ngữ “đơn âm” (chỉ có ngôn
ngữ của người kể chuyện). Tuy nhiên, qua khảo sát một số tác phẩm kí Vũ Bằng, chúng tôi nhận thấy, ngôn ngữ nghệ thuật trong kí của ông mang tính chất của ngôn ngữ tiểu thuyết. Trong điều kiện cho phép, luận văn chỉ khảo sát tính tiểu thuyết của ngôn ngữ kí Vũ Bằng qua nghệ thuật sử dụng lời kể của nhà văn.
Trong kí Vũ Bằng, lời kể được nhà văn vận dụng rất linh hoạt: lời văn nữa trực tiếp với chức năng tự bộc lộ. Lời nội tâm, lời đối thoại. Đó là khi nhân vật xuất hiện ở ngôi thứ ba nhưng đột ngột chuyển thành ngôi thứ nhất đối thoại.
Chẳng hạn, trong dòng hoài niệm miên man “tháng hai - tương tư hoa đào”
(Thương nhớ mười hai), nhân vật trữ tình kể về những kỉ niệm êm đềm của người chồng, người vợ trong một thời quá vãng: “Trầm ở trong cái lư đồng vừa lúc có lụi dần, tỏ ra một mùi thơm nhẹ hòa lẫn với hương trà làm cho hai vợ chồng cùng bâng khuâng… người vợ xõa tóc, đi lại nằm dài trên nệm trắng. Mở mắt trong bóng tối nhìn mây bay và nghe thấy hình như có tiếng nhạc từ trên trời rơi xuống” [37;41]. Lời kể đột chuyển thành lời đối thoại:
- Này mình, có phải mùa này là mùa đào bói quả không?
- Sao tự nhiên anh hỏi như vậy? [37;41]
Rồi tiếp tục mạch trần thuật: “Người chồng lại im một lát không nói gì. Ba phút sau, nghe hơi thở, biết là vợ đã ngủ rồi y nằm yên nhắm mắt và tiếp tục nối lại giấc mộng vừa qua: giấc mộng hoa đào, nước suối” [37;41]
Ngược lại, có khi nhân vật xuất hiện ở ngôi thứ nhất trong đoạn kể nhưng đột chuyển thành ngôi thứ ba, lời đối thoại tiếp theo lời kể nhưng về hình thức thì không có dấu hiệu của lời đối thoại (dấu ngoặc kép, dấu gạch ngang hay lời dẫn): “Nhớ quá chừng là nhớ, thương không biết ngần nào là thương. Thương nhất là người vợ bé nhỏ yêu chồng, mùa nào thức nấy, không bao giờ đợi cho chồng phải nói lên sự ước mơ. Này mình, em đố vào tháng hai này, xứ sở mình còn có gì đặc biệt nữa nào? Người chồng chịu, không biết trả lời sao” [37;48].
Đó là khi nhân vật để nỗi nhớ thương tuôn trào và kỉ niệm tự nhiên ùa ra .
Cũng có khi nhà văn sử dụng hình thức đối thoại nhưng thực chất là độc thoại với chính mình;
“Gió lay động bức màn mỏng nơi cửa sổ (…). Im để mà nghe! Anh có thấy gì không?
- Anh chỉ nghe thấy có tiếng thở của trăng và tiếng tim đập mạnh như một con chim bé nhỏ.
- Không. Còn gì nữa, anh không thấy à? Thỉnh thoảng cùng với gió mây ở bên kia sông đưa lại, có tiếng hát trống quân (…). Đã lâu lắm em không được nghe thêm một đêm trống quân nào “gia dụng”, thể nào tối dằm này, chúng ta cũng phải sang gia Quất xem hát, anh có chịu không?
- Chịu nhớ. Và anh chịu luôn các cụ nhà ta sao mà tâm lý thế, lại khéo biết lấy mùa này làm mùa cưới vợ, lấy chồng… [37;185].
Tất cả được kể với giọng điệu rất riêng; Tự bạch mà hướng ngoại. Đó là đoạn đối thoại tình tứ trong quá khứ giữa đôi vợ chồng được hồi tưởng qua nhà văn. Chính việc sử dụng linh hoạt lời kể như vậy khiến cho câu chuyện, sự việc được “hiện đại hóa” dù với hiện tại, tất cả đã cách xa diệu vời. Đây là một trong những nét đặc trưng trong nghệ thuật trần thuật của Tiểu thuyết.
Vì vậy, khi khảo sát về những vận động đổi mới của ngôn ngữ văn xuôi thời kì này (từ những biểu hiện của sự trau truốt, hoàn thiện về ngôn ngữ trong sáng tác của các nhà văn Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nhất Linh, Khái Hưng… đến biểu hiện của “một thứ văn xuôi thuộc cái mạch hiện đại” trong sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Nam Cao…), Vương Trí Nhàn, cho rằng: “… chỉ những người có đọc và thấm thía những A.France, M.Proust, A.Gide… mới viết nổi” [85;224].