Ẩm thực và tâm trạng, cảm xúc của nhà văn

Một phần của tài liệu Một số đặc điểm nghệ thuật kí vũ bằng (Trang 60 - 65)

Chương 2 CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, VĂN HÓA ẨM THỰC

2.4.4. Ẩm thực và tâm trạng, cảm xúc của nhà văn

Ẩm thực trong cái nhìn và cách phản ánh của nhà vănVũ Bằng không chỉ được khai thác ở mặt hiện thực với sự phong phú, cụ thể ở các món ăn và những ý nghĩa về mặt văn hóa, xã hội của nó mà còn là đối tượng để nhà văn gửi gắm cảm xúc, tâm trạng.

Từ trong sâu thẳm tâm hồn,Vũ Bằng luôn nghĩ về quê hương đất nước, con người Việt Nam. Dù viết về món ăn miền Bắc sâu sắc, nồng nàn hơn khi viết về các món ăn miền Nam nhưng với cả Miếng ngon Hà Nội, Món lạ miền Nam Thương nhớ mười hai Vũ Bằng không chỉ là người phát hiện ra cái ngon, cái hay của món ăn mà còn thấy ở đó có ý nghĩa tinh thần, cái hồn của dân tộc, là hương thơm của đất nước quê hương và là vẻ đẹp của đất nước quê hương. Do đó, ăn một miếng ngon, nhà văn thấy hạnh phúc “vì đã được ăn vào trong mình một chút gì của đất nước, một tinh túy truyền từ năm, tháng nọ sang năm, tháng kia” [28;14], “ăn vào thấy ngát mùi đất nước Việt Nam” [28;17].

Hay chỉ ăn một miếng cốm mà tác giả có cảm tưởng “nuốt cả hương thơm của những cánh đồng quê của ông cha ta vào lòng” [28;73]. Cũng chính vì vậy mà

những gì thuộc về Hà Nội quê nhà, những gì gắn bó với Bắc Việt quê hương, nặng lòng nhất là với những món ăn. Bởi lẽ, ông đã từng khẳng định: “Càng nhớ như vậy thì càng yêu Hà Nội biết bao nhiêu, lại càng say đắm Bắc Việt biết bao nhiêu!” [28;13]. Và cũng chính vì vậy mà Vũ Bằng ước được trở về cố hương để được “uống một chén rượu Tây Hồ với miếng cá anh vũ nướng vàng” [37;55].

Ngay cả ước vọng về ngày đất nước thanh bình cũng gắn với ẩm thực: “Ta mơ ước một ngày đất nước thanh bình, toàn dân sát cánh với nhau ăn mừng đại Nhật bằng một bữa tiệc vĩ đại có đủ hết cả miếng ngon Hà Nội” [28;177].

Nhưng trước những biến cố của thời cuộc, người nghệ sĩ Vũ Bằng rơi vào hoàn cảnh nghiệt ngã. Từng mang nỗi đau của người bị cho là quay lưng lại với kháng chiến, bất hợp tác với kháng chiến khi từ vùng kháng chiến quay về thành (1948), là người chạy vào Nam (1954), hơn ai hết, Vũ Bằng thấm thía nỗi cô đơn, lạc lõng.

Vào Nam, ông bỏ lại vợ con, bạn bè và bỏ cả quê hương với biết bao kỉ niệm yêu thương. Những day dứt, đau đớn của Vũ Bằng hiện ra trong hoài niệm da diết của nhà văn về cách miêu tả các món ăn đất Bắc với những liên hệ phong phú, về cách so sánh thời trân và món ăn của hai miền và về người vợ tấm mẳn ở miền Bắc xa xôi. Vũ Bằng bao giờ cũng kết luận hoa trái, thức ăn ở miền Bắc ngon hơn ở miền Nam dù tự nhân đôi khi có phần thiên vị. Đặc biệt, Vũ Bằng

Thương mến vợ miền Nam xót xa người chồng Bắc xa nhà, nay làm món ăn này, mai làm món ăn khác, mong sao cho chồng khuây khỏa được nỗi buồn thiên lý tương tư” [30;8], nhưng hình ảnh người vợ miền Bắc hiện lên qua hồi ức vẫn thê thiết, mặn nồng hơn. Trong kí ức Vũ Bằng, bà Qùy là người vợ yêu thương chồng con hết mực. Dù hoàn cảnh vất vả, khó khăn đến đâu, bà cũng chẳng bao giờ nghĩ đến mình, lúc nào cũng chỉ lo lắng chồng buồn, chồng khổ, lúc nào cũng nghĩ đến cái ăn, cái mặc của chồng con. Vũ Bằng thấm thía những tình cảm thắm thiết cứ hiện ra trong những việc làm của vợ, trong những cử chỉ chăm sóc từng miếng ăn theo khẩu cái của chồng. Bà Qùy yêu chồng nên yêu cả sở thích của chồng, “mùa nào thức nấy, không bao giờ đợi cho chồng phải nói lên sự ước ” [37;48]. Biết chồng là người sành ăn, “bà cứ muốn làm nên một miếng ngon, cứ phải nghĩ cách để thay đổi món luôn luôn”. Với bà, “Công phu, vất vả đến đâu, vất vả đến chừng nào đi nữa mà thấy chồng sung sướng thì cũng đã thấy được đền bù đầy đủ lắm rồi”. Thế nên, ở phương xa, “cái bóng lưng thon nhỏ của vợ ngày xưa”, “những món ăn vợ nấu” cứ vương vấn hiện ra

trong trí óc và tâm hồn Vũ Bằng. Lắm lúc ăn món lạ mà lại rầu thêm, sầu thêm vì nhớ đến những món ăn ướp “cái hương vị trung tình, bùi ân nghĩa của người vợ vui cái vui của chồng buồn cái buồn của chồng”. Không ai khác, chính người phụ nữ ấy đã thể hiện ý thức giữ gìn, trân trọng bếp lửa, tổ ấm của gia đình. Là người phụ nữ hiếu khách, bao dung bà Qùy yêu chồng nên cũng qúy luôn bạn của chồng.

Những ngày tản cư, vợ chồng con cái mua những cái xa về kéo sợi, đến phiên chợ đem sợi bán. Bao giờ bán sợi rồi, bà cũng tất tả “tìm mua cho kì được một vài thứ để đem về nấu nướng cho chồng thưởng thức và thiết đãi các bạn hữu, miễn sao làm cho bạn chồng và chồng được vui vẻ là mãn nguyện!”

[37;134]. Trân trọng những ân tình của vợ, Vũ Bằng không thôi bày tỏ những yêu thương: “yêu người vợ tấm mẳn không biết trừng nào!” [37;134]. Yêu thương, gắn bó sâu nặng với quê hương, gia đình miền Bắc nhưng Vũ Bằng phải biền biệt sống xa quê hương và người thân.

Ẩm thực là mảng sáng tác thành công nhất của Vũ Bằng, được bạn đọc yêu mến và được các nhà nghiên cứu - phê bình đánh giá cao. Khi Miếng ngon Hà Nội ra đời, Thượng Sỹ cho rằng: “Chưa bao giờ, từ trước tới nay, có một nhà văn diễn tả được hết cái hay, cái đẹp của miếng ngon Hà Nội (hay Việt Nam cũng thế) như Vũ Bằng: thật là sâu sắc, tế nhị, thật là chan chứa tình cảm, chan chứa tình yêu đời, yêu nước” [42;219]. Hơn nữa, Thượng Sỹ còn khẳng định:

Đã lâu lắm, năm, mười năm nay, tôi mới lại được đọc một văn phẩm thích thú như Miếng ngon Hà Nội, đọc đến say mê, và tôi phải nói lại, có khi rung cảm đến muốn khóc” [42;225]. Huy Hoàng cũng kể lại cái cảm giác đọc Miếng ngon Hà Nội khi cho rằng đã đọc nhiều quyển sách của Vũ Bằng “nhưng quả tình chưa tác phẩm nào làm tôi rung động bằng Miếng ngon Hà Nội. Phải chăng vì tác giả đã viết ra bằng cả tấm lòng tha thiết nhớ quê hương?” [42;33]. Với Món lạ miền Nam, Châu Vũ cho rằng: Vũ Bằng “muốn khơi gợi trong chính mình và những người xung quanh cái tự hào dân tộc, niềm tin tưởng ở tiền đồ tổ quốc, đã từ lâu ốm ho mòn mỏi và đôi khi giao động bàng hoàng trước những thực tế chát đắng, chua cay” [118;,8]. Và Thương nhớ mười hai, Hoàng Như Mai cho rằng: “Tác phẩm đã góp phần làm cho bạn bè năm châu hiểu biết thêm một khía cạnh đặc sắc của đất nước mình, nó như một nhịp cầu giao lưu văn hóa. Cuốn sách cũng làm cho mỗi chúng ta có ý thức trân trọng hơn với những giá trị của

Nhận định chung về đề tài ẩm thực và cách thể hiện của nhà văn Vũ Bằng, Vương Trí Nhàn viết: “Qủa thật, ít thấy ở đâu nói về món ăn cũ một cách kỹ càng, tỉ mỉ, thậm chí thành kính, thiêng liêng như trong những trang sách của nhà văn họ vũ…” [84; 97- 98]

Nâng niu các món ăn và khai thác ý nghĩa, giá trị của nó, Vũ Bằng và những nhà văn cùng thời như Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã là những người đi đầu trong việc nâng ẩm thực lên tầm văn hóa. Để từ đó những nhà văn Sơn Nam, Băng Sơn, Tô Hoài, Hoàng Phủ Ngọc Tường,… lại tiếp tục nâng cao nền văn hóa ẩm thực Việt Nam. Tuy nhiên, các món ăn trong tác phẩm của Vũ Bằng phong phú và không gian ẩm thực trong tác phẩm của ông rộng hơn trong tác phẩm của Thạch Lam, Nguyễn Tuân và các nhà văn khác. Nhờ sống ở cả hai miền Bắc Nam nên Vũ Bằng có điều kiện khai thác, khám phá các món ăn ngon.

Sáng tác của Vũ Bằng vì vậy hội tủ đủ các đặc sản ẩm thực của các địa phương vùng miền trong cả nước.

So với nhà văn Thạch Lam và Nguyễn Tuân, Sơn Nam, Tô Hoài thì Vũ Bằng không viết về ẩm thực trong niềm tự hào của người đang sống vừa thừa hưởng vẻ đẹp của quê hương nên bày món ăn trong tâm trạng hào hứng như Thạch Lam. Vũ Bằng không viết về ẩm thực với phong thái ung dung, ngắm ngía như NguyễnTuân, mà ông viết về ẩm thực từ chính số phận đầy oan trái, oan ức và tình cảm xa xứ hết sức nghiệt ngã của mình. Hơn nữa, Vũ Bằng viết về ẩm thực với một quá trình, một niềm say mê từ trong tâm cảm, nhờ vậy mà thành công hơn .

Đất nước, quê hương, dân tộc Việt Nam qủa là giàu truyền thống văn hóa.

Tình yêu quê hương xứ sở, con người đã hòa vào máu thịt của nhà văn Vũ Bằng, làm nên những trang văn hội tụ, thăng hoa của cái đẹp, những trang văn nâng niu những giá trị tinh thần thấm nhuần trong văn hóa của dân tộc ta từ ngàn xưa.

Thế mới biết, “quê hương mỗi người chỉ một” và hơn ai hết, Vũ Bằng thấm thía vô cùng về điều này. Ca ngợi vẻ đẹp của văn hóa dân tộc với những biểu hiện cụ thể, Vũ Bằng thể hiện ý thức bảo vệ văn hóa dân tộc mình. Những gì ông viết liên quan đến truyền thống, đời sống văn hóa dân tộc đáng trân trọng biết bao.

Đó còn là nỗi niềm của một người có nhãn quan sâu sắc, luôn muốn lưu giữ những nét đẹp của văn hóa dân tộc. Tất cả đã tạo nên cái tinh của văn chương trong kí của Vũ Bằng.

So với nhiều nhà văn, nhãn quan văn hóa của Vũ Bằng rộng hơn, viết về nhiều lĩnh vực hơn và có cái nhìn cả về hai miền Nam – Bắc. Viết về văn hóa Vũ Bằng thành công nhất ở lĩnh vực ẩm thực. Cảm hứng về ẩm thực được chắt chiu và trở thành tâm huyết nên lồng trong tình cảm tha thiết của tác giả còn là những kiến thức thực tế phong phú. Vũ Bằng viết về ẩm thực đa dạng và “lạ”.

Nhưng ý thức khai thác món ăn của Vũ Bằng dưới đây lại phù hợp với đời sống hiện đại.

Theo Nguyễn Văn Hạnh, “Nếu văn học truyền thống hết sức coi trọng việcchởđạo đức, đạo lý, thì văn học hiện đại lại thiên về trình bày cái đẹp, cái thẩm , cuộc sống muôn màu muôn vẻ” [67;248]. Thực tế cho thấy, sáng tác của các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn, các nhà thơ của phong trào Thơ Mới, các nhà văn hiện thực hay các nhà văn cách mạng… đều quan tâm và thể hiện một mặt nào đó cái đẹp trong cuộc sống: vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước, vẻ đẹp của con người Việt Nam trong chiến đấu, lao động và trong tình cảm… Nhưng viết về văn hóa dân tộc, Vũ Bằng đã khai thác cái đẹp tổng thể sống động trong đời sống tinh thần và vật chất của dân tộc.

Tóm lại, sáng tác kí của Vũ Bằng trong bối cảnh xã hội miền Nam giai đoạn 1954 - 1975, khi vấn đề bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc về một phương diện nào đó cũng là một cuộc đấu tranh cách mạng góp phần thức nhận lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc và tinh thần đấu tranh chống sự xâm lăng văn hóa của ngoại bang, việc lựa chọn viết về mảng đề tài này của Vũ Bằng cũng là một nhiệm vụ chính góp vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ bản sắc dân tộc, giành độc lập tự do cho đất nước. Do vậy, nhà văn không chỉ đơn thuần là viết về sự hoài niệm, nhớ thương quê hương xứ Bắc hay vì lòng quý mến món lạ miền Nam. Điều này cũng giống như Vũ Hạnh đã tạo bút danh A Pazzi khi viết người Việt cao quý để tôn vinh bản sắc văn hóa Việt, nhằm đề cao tinh thần dân tộc, chống tư tưởng sùng ngoại trong xã hội đô thị miền Nam lúc bấy giờ. Và từ góc nhìn này, ta cũng thấy rõ hơn sự đóng góp của nhà văn Vũ Bằng về thể loại kí nói riêng và trong nền văn xuôi hiện đại Việt Nam nói chung. Đồng thời, ta cũng nhận ra những cống hiến, những hy sinh thầm lặng của ông trong cuộc đấu tranh giành độc lập tự do của dân tộc. Và cũng chính đây, ta thấy rõ sự hòa quyện tuyệt vời giữa phẩm chất nghệ sĩ - chiến sĩ trong con người và sáng tác Vũ Bằng, một trường hợp khá hiếm trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam.

Một phần của tài liệu Một số đặc điểm nghệ thuật kí vũ bằng (Trang 60 - 65)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)