Danh mục các bảng 4.1 Thành phần côn trùng trong kho không chuyên bảo quản lạc ở 4.2 Sự phân bố côn trùng trong kho không chuyên bảo quản lạc ở 4.4 Sự phân bố sâu mọt trong kho chuyên bả
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp I
-
Nguyễn thị diệu thư
Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại lạc và một số
đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr tại vùng Nghệ An
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành: bảo vệ thực vật Mã số: 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: GS.ts Hà quang hùng
Hà Nội, 2007
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực
và ch−a từng đ−ợc sử dụng và công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này, đ6 đ−ợc cảm
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Diệu Th−
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy hướng dẫn GS.TS Hà Quang Hùng đ6 dành nhiều thời gian quí báu giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí l6nh đạo và các cán
bộ nhân viên Chi cục Kiểm dịch thực vật vùng VI - Nghệ An, đ6 tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, điều kiện thí nghiệm trong suốt quá trình tôi thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo Bộ môn Côn trùng - Khoa Nông học, Khoa Sau đại học Trường Đại học Nông Nghiệp I, đ6 tạo mọi điều kiện giúp đỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian học tập và thực hiện đề tài
Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn những người thân trong gia đình, bạn bè đ6 động viên khích lệ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Diệu Thư
Trang 43 Thời gian, địa điểm, vật liệu, nội dung và phương pháp
4.1.1 Thành phần sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc ở
4.1.2 Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo
Trang 54.1.3 Thành phần sâu mọt hại kho lạc trên kho chuyên bảo quản lạc
4.1.4 Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc 3
4.1.5 Mức độ phổ biến của các loài sâu mọt trong kho chuyên bảo
4.2.1 Triệu chứng gây hại của mọt đục hạt nhỏ Rhzopertha dominica F 39
4.2.3 Triệu chứng gây hại của mọt thóc đỏ Tribolium castaneum L 42
4.2.5 Triệu chứng gây hại của ngài thóc ấn Độ Ephestia cautella W 434.3 Một số đặc điểm hình thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 44
4.5.1 ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến diễn biến quần thể mọt
4.5.2 ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt
4.6 Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ mọt Carpophilus
Trang 64.6.1 BiÖn ph¸p phi ho¸ häc 60
Trang 7Danh mục các bảng
4.1 Thành phần côn trùng trong kho không chuyên bảo quản lạc ở
4.2 Sự phân bố côn trùng trong kho không chuyên bảo quản lạc ở
4.4 Sự phân bố sâu mọt trong kho chuyên bảo quản lạc ở Thanh Hoá,
4.5 Mức độ phổ biến của các loài sâu mọt gây hại chủ yếu trên lạc
4.6 Kích thước các pha phát dục của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 44
4.8 Khả năng sinh sản trung bình của mọt Carpophilus dimidiatus
4.9 Tỷ lệ trứng nở trung bình của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 544.10 ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến quần thể mọt Carpophilus
4.11 ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến tỷ lệ thiệt hại do mọt
4.12 ảnh hưởng của nhiệt độ đến mật độ mọt Carpophilus dimidiatus
4.13 Hiệu lực của thuốc Phosphine đối với mọt Carpophilus dimidiatus
Trang 84.10 H×nh th¸i s©u non tuæi 1 cña mät Carpophilus dimidiatus Fabr 474.11 H×nh th¸i s©u non ®Éy søc cña mät Carpophilus dimidiatus Fabr 47
4.14 DiÔn biÕn quÇn thÓ mät Carpophilus dimidiatus Fabr ë thuû phÇn 8% 564.15 DiÔn biÕn quÇn thÓ mät Carpophilus dimidiatus Fabr ë thuû phÇn
Trang 91 Mở đầu
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các mặt hàng nông sản xuất khẩu của nước ta, lạc có giá trị kinh
tế cao Hàng năm, riêng mặt hàng này đ6 giúp nước ta thu về hàng 100 triệu USD trong xuất khẩu Bên cạnh giá trị dinh dưỡng của chúng, lạc còn là cây
được sử dụng để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, làm tăng độ phì của đất và phát triển nông nghiệp bền vững
Theo nhận định của các nhà khoa học, tiềm năng để nâng cao năng suất
và sản lượng lạc ở nước ta còn rất lớn cần được khai thác Từ năm 1990 trở lại
đây, diện tích gieo trồng, năng suất, sản lượng lạc không ngừng tăng lên, từ 201.400 ha năm 1990 lên 243.900 ha năm 2000 (tăng 21,1%) và đến năm
2004 là 258.700 ha (tăng 28,45 %) [21]
Theo Tổng cục thống kê (2004) [42], tổng diện tích lạc của cả nước đạt 258,7 nghìn ha, năng suất trung bình 17,4 tạ/ha, tổng sản lượng đạt 451,1 nghìn tấn Dự kiến trong giai đoạn 2005 – 2010 đưa diện tích trồng lạc lên 330 nghìn ha, sản lượng đạt 550-560 nghìn tấn
Nghệ An được coi là vùng trồng lạc có truyền thống lâu đời ở nước ta
Nó đóng vai trò là cây công nghiệp ngắn ngày chủ yếu của vùng đất cát ven biển, đất b6i và đất đồi Hiện nay Nghệ An là địa phương có diện tích gieo trồng lạc lớn nhất trong cả nước (24,1 nghìn ha và sản lượng là 48,5 nghìn tấn) chủ yếu tập trung tại một số huyện ven biển như Nghi Lộc (4300 ha), Diễn Châu (3800 ha), và chủ yếu được sản xuất trong vụ xuân [5]
Theo Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An, trong thời gian tới sẽ tiếp tục đầu tư thâm canh, mở rộng sản xuất lạc để đến năm 2010 sẽ đưa diện tích gieo trồng lạc của tỉnh lên đến 35 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 20 tạ/ha [50]
Trang 10Tuy nhiên, công tác xuất khẩu lạc nhân của nước ta thời gian qua còn gặp rất nhiều khó khăn, do sản phẩm lạc nhân của ta chưa có đủ tính cạnh tranh cao về kích cỡ hạt, phẩm chất, màu sắc, hàm lượng dầu…Sâu bệnh hại là một trong những nguyên nhân làm giảm phẩm chất lạc nhân của nước ta Các loài sâu mọt trên lạc ngoài tác hại làm giảm khối lượng, phẩm cấp…còn tạo
điều kiện cho nấm mốc phát triển, đặc biệt là nấm Aspegillus flavus sinh ra
độc tố Aflatoxin rất nguy hiểm cho người và gia súc
Trong những năm qua, nhiều nhà khoa học đ6 tập trung nghiên cứu sâu, bệnh hại lạc và tổn thất do chúng gây ra, đồng thời đưa ra các biện pháp phòng trừ hợp lý Các kết quả nghiên cứu được áp dụng trong sản xuất đ6 góp phần nâng cao năng suất và sản lượng lạc ở nước ta Riêng việc nghiên cứu sâu, bệnh hại lạc mới chỉ được quan tâm ở ngoài đồng ruộng còn tình hình sâu, bệnh hại lạc sau thu hoạch hầu như chưa được các nhà khoa học quan tâm nhiều
Cho đến nay, tài liệu được công bố về sâu mọt hại lạc trong bảo quản sau thu hoạch của nước ta cũng như trên thế giới còn rất hạn chế Vì vậy, việc điều tra xác định chính xác danh mục dịch hại, nhằm phát hiện kịp thời các đối tượng dich hại kiểm dịch thực vật (KDTV) và các loài sâu mọt trong kho bảo quản lạc sau thu hoạch và trên lạc nhân xuất khẩu, đồng thời tìm các biện pháp phòng trừ kịp thời, đảm bảo uy tín chất lượng hàng hoá nông sản của nước ta trên thị trường quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng của ngành kiểm dịch thực vật
Kết quả nghiên cứu chắc chắn là những dẫn liệu góp phần làm cơ sở cho việc xây dựng các quy trình kiểm tra, xác định danh mục dịch hại kiểm dịch thực vật của nước ta, giúp ích việc phân tích, đánh giá nguy cơ dịch hại của ngành và các đối tác xuất nhập khẩu với Việt Nam
Nghiên cứu sâu mọt hại trên lạc nhân, nhằm hạn chế tác hại của chúng, nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng này trên thị trường quốc tế là việc làm cần thiết của thực tế hiện nay
Trang 11Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên, thực hiện nhiệm vụ của Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 6 - Nghệ An và của ngành Kiểm dịch thực vật, dưới sự hướng dẫn của GS.TS.Hà Quang Hùng, trong thời gian từ 12/2006
đến 9/2007, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thành phần sâu mọt hại lạc và một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái học của mọt Capophilus dimidiatus Fabr tại vùng Nghệ An”
1.2 Mục đích và yêu cầu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Trên cở sở xác định thành phần sâu hại lạc đồng thời tìm hiểu đặc
điểm sinh học, sinh thái của loài mọt chủ yếu; Bước đầu đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hợp lý
1.2.2 Yêu cầu đề tài
- Điều tra thu thập xác định thành phần sâu mọt trong bảo quản lạc xuất khẩu trên loại hình kho chuyên và không chuyên bảo quản lạc
- Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái học của Carpophilus dimidiatus Fab hại lạc trong bảo quản lạc xuất khẩu
- Bước đầu đề xuất biện pháp phòng trừ quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr tại Nghệ An
1.3 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 ý nghĩa khoa học
- Những kết quả nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiên địch trên lạc bảo quản sau thu hoạch, góp phần bổ sung vào danh mục thành phần sâu mọt hại lạc nhân đ6 công bố ở nước ta
- Bổ sung một số dẫn liệu về đặc điểm sinh học, sinh thái của loài mọt Carpophilus dimidiatus Fabr
Trang 121.3.2 ý nghĩa thực tiễn
- Cung cấp các dẫn liệu về tình hình gây hại, biến động mật độ và một
số đặc tính sinh học của sâu mọt hại lạc làm cơ sở cho công tác phân tích,
đánh giá nguy cơ dịch hại trên lạc nhân xuất khẩu đồng thời làm căn cứ khoa học quan trọng phục vụ công tác kiểm dịch thực vật lạc nhân xuất khẩu tại Nghệ An; Giúp cán bộ kiểm dịch thực vật phát hiện nhanh, chính xác các đối tượng sâu hại trên lạc nhân, từ đó có các biện pháp xử lý kịp thời
- Kết quả nghiên cứu về hình thái, sinh học, sinh thái của loài Carpophilus dimidiatus Fabr thuộc họ Nitidulidae, bộ Coleoptera,góp phần xây dựng biện pháp phòng chống sâu mọt hại lạc trong bảo quản, đặc biệt sử dụng thuốc hợp lý và tránh ô nhiễm môi trường
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thành phần sâu mọt hại trong kho chuyên và không chuyên bảo quản lạc xuất khẩu
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trong phạm vi tỉnh Nghệ An và vùng phụ cận như Thanh Hoá, Hà Tĩnh
Trang 132 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
2.1.1 Nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản
Hầu như, ở đâu có sự dữ trữ và lưu trữ hàng hoá, nông sản ở đó xuất hiện các loài sinh vật gây hại Nhiều khi chỉ cần sau vài tuần, sinh vật gây hại
đ6 phát triển thành quần thể số lượng lớn và gây ra những vụ cháy ngầm, tiêu huỷ một phần hoặc hoàn toàn hàng hoá bảo quản trong kho (Dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [14] Sự phá hại của côn trùng đối với sản phẩm bảo quản thật đa dạng Trước hết phải kể đến việc làm giảm phẩm chất hoặc phá huỷ làm cho vật chất dữ trữ hay lưu trữ bị giảm hoặc mất hoàn toàn giá trị sử dụng Trong nhiều trường hợp, thiệt hại có thể là rất lớn và thậm chí là vô giá
Theo thống kê của Matheson và Ross (1941), trên thế giới ước tính có khoảng 1.000.000 loài côn trùng, trong đó có 900.000 loài đă biết tên, chiếm 78% trong tổng số 1.150.000 loài động vật đ6 biết (Dẫn theo Vũ Quốc Trung,1978) [37]
Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo vệ thực vật ở Cộng hoà dân chủ Đức trước đây (1986), tại các nước Đông Âu có 20 loài côn trùng hại chủ yếu trên nông sản cất giữ trong kho (Dẫn theo Nguyễn Thị Minh Nguyệt, 1989) [25]
Các tác giả trong vùng Đông Nam á đ6 phát hiện được 122 loài thuộc
28 họ của bộ cánh cứng (Coleoptera) và 17 loài thuộc 6 họ của bộ cánh vảy (Lepidoptera) (Sukparakarn (1985) [75], Sukparakarn và Tauthong (1981) [76], Nilpanit(1991) [73], Nakakita(1991) [72]
Cotton và Wilbur (1974) đ6 thống kê được số lượng loài côn trùng gây hại hạt dữ trữ trong kho trên thế giới gồm 43 loài, trong đó có 19 loài thuộc
Trang 14nhóm gây hại chủ yếu và 24 loài thuộc nhóm côn trùng gây hại thứ yếu (Dẫn theo Snelson, 1987) [78]
Flinn và Hagstrum (1990) [68], Freeman Paul (1980) [69] đ6 ghi nhận
được 41 loài côn trùng trong sản phẩm lương thực dữ trữ ở một số nước trên thế giới
Hill D.S 1983 [63] đ6 thu thập và xác định được 38 loài côn trùng gây hại sản phẩm kho vùng nhiệt đới
Bengstong 1997 [57] chỉ rõ các loài côn trùng gây hại kho chủ yếu là Sitophilus spp, Rhizopertha dominica, Tribolium castaneum, Sitotroga cerealella và Ephestia cautella phân bố khắp thế giới và đặc biệt các vùng khí hậu ấm áp, trong đó 200 loài dịch hại ngũ cốc cất giữ trong kho
Theo Bolin P 2001 [58] kết quả điều tra cơ bản của Trường đại học Oklahoma vào đầu và cuối thập kỷ 80, chỉ ra các loại côn trùng chiếm ưu thế gây hại kho là Rhizopertha dominica, Cryptolestes spp, mọt bột đỏ Tribolium castaneum và ngài ấn Độ
Tổ chức C.A.B.I, 2002 [83] nêu rõ các loài côn trùng Acanthoscelides obtectus, Callosobruchus spp, Rhizopertha dominica, Sitophilus spp, Tribolium castaneum là loài gây hại nguy hiểm đôi với kho thóc và đậu
Việc thay đổi kỹ thuật bảo quản nông sản sau thu hoạch, nguồn thức ăn của côn trùng hại kho, các điều kiện sinh thái cũng có nhiều thay đổi, do vậy thành phần, mật độ các loài côn trùng cũng luôn có sự biến đổi Cho đến nay việc nghiên cứu thành phần côn trùng gây hại trong kho bảo quản nông sản vẫn đang được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm
Thiệt hại do sâu hại kho gây ra là rất lớn về nhiều mặt: Nó làm giảm số lượng sản phẩm, chất lượng, giá trị thương phẩm như làm giảm protein, lipit, vitamin biến tính, màu sắc không bình thường
Trang 15Làm nhiễm bẩn, nhiễm độc nông phẩm, do đó làm ảnh hưởng đến sức khoẻ người tiêu dùng hoặc trực tiếp truyền bệnh cho người
Con người phải thêm chi phí khắc phục hậu quả
Mất uy tín hàng hoá trên thương trường
Mất mát hạt giống cho mùa vụ sau
Từ những thiệt hại to lớn đó mà đ6 có chiều công trình nghiên cứu để
Báo cáo của Pawgleg (1963) cho thấy tổn thất hạt bảo quản hàng năm
được công bố ở Mỹ là khoảng 15-23 triệu tấn (trong đó khoảng 7 triệu tấn do chuột, 8-16 triệu tấn do côn trùng) ở Châu Mỹ La Tinh người ta đ6 đánh giá rằng ngũ cốc và đậu đỗ sau thu hoạch bị tổn thất khoảng 25 - 50 % ở một số nước Châu Phi, khoảng 30% tổng sản lượng nông nghiệp bị mất đi hàng năm (Dẫn theo Vũ Quốc Trung, 1991) [37]
Theo công bố của FAO [65, 66] kết quả nghiên cứu của các tác giả Mỹ
về mất mát ngũ cốc sau thu hoạch vào năm 1967 ở các nước công nghiệp phát triển đ6 lên tới 42 triệu tấn, tức bằng 95% tổng sản lượng thu hoạch của Canada hay gấp đôi sản lượng lương thực của nước ta năm 1992
Bakal (1963) đánh giá sự mất mát lương thực hàng năm do chuột, côn trùng và nấm mốc gây ra là 33 triệu tấn, lương thực này đủ để nuôi sống người dân nước Mỹ trong 1 năm (Dẫn theo Snelson), 1978) [78]
Trang 16Năm 1973, tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hiệp quốc (FAO) đ6 thông báo rằng không lâu nữa, nguồn cung ấp lương thực của Thế giới sẽ không đủ để chống lại thiệt hại mùa màng và nạn đói ít nhất 10% lương thực sau thu hoạch bị mất do dịch hại trong kho và thiệt hại tới 30% là phổ biến ở các nước trên thế giới (Dẫn theo Snelson), 1978) [78]
Mọt cứng đốt (Trogoderma granarium) là một trong những loài mọt cực kỳ nguy hiểm Nó được nhiều nước trên thế giới đưa vào danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật như: Algeria, Angola, Bangladesh, Trung Quốc, Indonesia, Thailand, Malaysia, Zambia (Bank, 1977)…Chúng đ6 gây thiệt hại trên 100 mặt hàng, đặc biệt là hàng nông sản như bột mỳ, lúa mạch, thóc…và
ở môi trường thức ăn trên chúng phát triển rất nhanh (Monschel, 1971) (Dẫn theo Dobie, P.Haines; 1989) [62]
Lam My –Yen, 1993 [70] đ6 cho biết tổn thất sau thu hoạch đối với gạo cất giữ trong kho ở Châu á khoảng 2 - 6%
Tổn thất sau thu hoạch đối với thóc và gạo tại một số nước Châu á như Malai là 17%, Nhật Bản là 5% và ấn Độ là 11 triệu tấn / năm
Walterr V.E công bố thiệt hại do dịch hại gây ra khoảng 10% ở Minnesota, thậm chí tới 50% ở một số quốc gia đang phát triển (Mallis A.1990) [71]
Theo Kunper (1939), ở Cộng hoà liên bang Đức, riêng loài mọt thóc (Sitophilus granarius) đ6 gây thiệt hại hơn 100 triệu mác hàng năm ở nước này riêng tổn thất của ngũ cốc nhập khẩu trong 3 năm (1949-1952) là 162 triệu mác (Schulze, 1964) Theo Justen (1960), ở Cộng hoà liên bang Đức năm
1957 đ6 có 379.919 tấn ngũ cốc, 1.382 tấn quả khô và 19.641 tấn hạt có dầu
đ6 bị thiệt hại do côn trùng gây ra không thể sử dụng được
Hall (1970) cho biết, ở các nước Mỹ la tinh, thiệt hại được đánh giá vào
Trang 17khoảng 25-50% đối với riêng các mặt hàng ngũ cốc và đậu đỗ Tại Châu Phi, thiệt hại vào khoảng 30% ở khu vực Đông Nam á, những năm qua đ6 xảy ra
vụ dịch hại lớn do côn trùng gây ra đối với ngũ cốc, làm tổn thất tới 50% (Dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [15, 16]
Theo đánh giá của FAO, hàng năm tổn thất về ngũ cốc dự trữ trên toàn thế giới vào khoảng 10%, có nghĩa bằng 1,3 triệu tấn ngũ cốc đ6 bị mất do côn trùng và khoảng 100 triệu tấn đ6 bị mất giá trị (Wolpent, 1967) Theo Snelson, (1987), sự tổn hại ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới cao hơn vùng ôn
đới (Dẫn theo Bùi Công Hiển, 1995) [15,16]
Tại Liên Xô(cũ), đ6 thí nghiệm nuôi 10 đôi mọt thóc (Sitophilus granarius) trong lúa mỳ ở điều kiện thích hợp Sau 5 năm, các thế hệ mọt này
đ6 ăn hết 406.205 kg [18]
ở Mỹ, riêng mặt hàng thuốc lá bị thiệt hại do ngài Ephestia elutella gây
ra hàng năm là 2 triệu USD (Keed và Living Stone, 1937) và thiệt hại riêng cho ngô bảo quản do các loại mọt (Tribolium spp) gây ra vào khoảng 28 triệu USD và mất mát hàng năm trong kho dự trữ ngũ cốc thường dao động từ 15-
23 triệu tấn, trong đó khoảng 8-16 triệu tấn do côn trùng phá hoại [15,16]
Theo Bengston M, 1997 [57] cho rằng côn trùng là một trong những dịch hại lương thực và sản phẩm lương thực cất giữ Thiệt hại do dịch hại gây
ra cho lương thực là rất lớn khoảng 10%
2.1.2 Nghiên cứu về thành phần, thiệt hại của sâu hại lạc
Lạc là một trong những cây trồng khá giàu dinh dưỡng vì vậy trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển nó bị khá nhiều loài gây hại, đây cũng là nguyên nhân quan trọng làm giảm năng suất, tăng chi phí đầu tư cho sản xuất
và là lý do hạn chế việc tăng năng suất lạc [52]
Hàng năm thiệt hại cho sâu hại gây ra cho lạc lên tới 15-20% sản lượng
Trang 18Để hạn chế thiệt hại do sâu gây ra cho lạc, trên thế giới, trong những năm gần
đây đ6 có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về sâu hại lạc
Theo Smith and Barfield (1982) [77], các loài sử dụng cây lạc làm thức
ăn gồm 360 loài, trong đó có 6% là những loài gây hại quan trọng
Kết quả nghiên cứu của các tác giả Hill và Waller (1985) [64] đ6 chỉ ra rằng trên cây lạc ở vùng nhiệt đới có 8 loài sâu hại chính và 40 loài gây hại thứ yếu Những loài gây hại đặc biệt nguy hiểm như rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), ban miêu (Epicauta impresicornic Pic) và các loài (Epicauta spp) Các loài sâu hại này được mô tả chi tiết về ký chủ, phạm vi phân bố, triệu chứng tác hại, một số đặc điểm hình thái, sinh học
và biện pháp phòng trừ
Còn theo nghiên cứu của tác giả Wallis E S và ctv (1986) [80], trên cây lạc chỉ tính riêng sâu đục củ và hại rễ đ6 có tới 15 loài, thuộc 12 họ, 9 bộ côn trùng Trong đó các họ như kiến (Focmicidae), họ bọ hung (Scarabacidae), họ ngài đèn (Actiidae), họ ngài độc (Lymantridae), họ ngài đục lá (Phyllocnistidae), họ ngài cuốn lá (Tortricidae), họ ngài sáng (Pyralidae), rầy nhảy (Cicadelliae), mỗi họ có một loài, còn các họ ngài đêm (Noctuidae), bọ trĩ (Thripidae), mối (Termitidae) mỗi họ có hai loài
ở vùng Tây Nam Thái Bình Dương, theo tác giả Waterhouse (1997) [81] đ6 xác định được 157 loài sâu hại trên lạc trong số 160 loài thu được Trong đó có 46 loài quan trọng và có ít nhất 25 loài đ6 được đầu tư nghiên cứu
tỷ mỷ và một số loài đ6 áp dụng biện pháp phòng trừ có hiệu quả Còn tại vùng Đông nam châu á có 37 loài sâu hại trên lạc trong đó 19 loài có mức độ phổ biến cao [81]
Trang 19Tại Trung Quốc, tác giả Ching Tieng Tseng (1991) [60] cho biết các loài gây hại ảnh hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của sản xuất lạc bao gồm sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu keo da láng (Spodoptera exigua Hiib), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib) Tổng giá trị phòng trừ các loài sâu này ước tính vào khoảng 5 tỷ nhân dân tệ
Theo đánh giá của tác giả Ranga Rao and Wightman (1994) [74], tại ấn
Độ các loài sâu gây hại nguy hiểm gồm nhóm sâu ăn lá như sâu vẽ bùa, sâu róm (Amsacta sp.), bọ trĩ (Thrips palmi), sâu khoang, sâu xanh và một số sâu hại trong đất Thiệt hại kinh tế do chúng gây ra vào khoảng 15 – 20% năng suất
Kết quả nghiên cứu trên lạc tại vùng Hyderabad, ấn Độ trong mùa khô
1980 - 1981 và 1981 - 1982 cho thấy bọ trĩ gây hại có thể là giảm đến 17% năng suất lạc quả và 30% năng suất chất xanh Tuy nhiên điều này còn phụ thuộc vào tình hình thời tiết [67]
Còn tác giả Smith and Barfield (1982) [77] cho biết nhờ phòng trừ được
bọ trĩ gây hại mà năng suất lạc tại Brazin tăng thêm từ 35 - 50%
Tác giả Wightman, J A [79] cho biết trên lạc tác hại của sâu khoang phụ thuộc vào mật độ và giai đoạn sinh trưởng của cây Nếu sau gieo 10 ngày, mật độ sâu là 1 con/cây, diện tích lá bị ăn là 47% thì năng suất sẽ giảm 22% Nhưng nếu với mật độ 10 con/cây thì năng suất sẽ giảm là 56% Song ở giai
đoạn cây hình thành củ, cũng với mật độ như trên thì năng suất giảm ít hơn nhiều (9% và 16% tương ứng với mật độ) Do đó việc phòng trừ sâu khoang trên lạc là rất cần thiết
Nhìn chung, trong thời gian qua các nhà khoa học mới chỉ tập trung nghiên cứu về thành phần, thiệt hại của côn trùng trên cây lạc ở ngoài đồng ở giai đoạn sau thu hoạch còn ít được các nhà khoa học quan tâm
Trang 202.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
2.2.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu mọt và thiệt hại của nông sản
Các kết quả điều tra về thành phần loài côn trùng gây hại trong kho ở Việt Nam không nhiều và ít được điều tra cập nhật
Nguyễn Công Tiễu (1936) là người đầu tiên quan tâm đến vấn đề này
Ông cũng là tác giả dịch cuốn “Cho được có hoa lợi nhiều và tốt hơn” của P.Braemen, trong đó chủ yếu giới thiệu vắn tắt các đặc điểm hình thái, đặc tính gây hại của một số loài mọt kho thông thường (Dẫn Bùi Công Hiển, 1995) [14]
Gần ba mười năm sau, tức là vào khoảng năm 1960, việc nghiên cứu côn trùng hại kho mới lại được tiếp tục Bắt đầu bằng những kết quả điều tra thành phần loài côn trùng gây hại ở một số kho lương thực ở tỉnh Thanh Hoá (Trường ĐHTH Hà Nội và Tổng cục lương thực 1962) [26]
Đinh Ngọc Ngoạn (1965) [24] có kết quả kiểm tra côn trùng gây hại trong kho ở miền Bắc Việt Nam và Phạm Xuân Hương (1963) có cuốn sách
“Côn trùng phá hoại kho và cách phòng trừ” [11]
Năm 1962-1963, Cục bảo vệ thực vật và Kiểm dịch thực vật đ6 điều tra côn trùng trên 50 loại cây trồng ở 32 tỉnh thu thập và giám định được 266 loại côn trùng
Đối với hàng hoá xuất nhập khẩu và bảo quản trong kho, Viện bảo vệ thực vật - Bộ nông nghiệp năm 1966-1969 điều tra trên 113 mặt hàng để trong kho ở các tỉnh phía Bắc đ6 thu thập được 78 loài côn trùng, trong đó có 51 loài gây hại kho, có 5 loài côn trùng và một số loài nhện có ích, số còn lại chưa rõ [51,52]
Hoàng Văn Thông - Nguyễn Thị Giáng Vân 1986 [31] đ6 công bố kết quả điều tra trong hơn 80 kho trên 20 loại nông lâm sản phẩm cất giữ ở các tỉnh phía bắc đ6 thu thập được 42 loài côn trùng
Trang 21Kết quả điều tra (1995) của cục Bảo vệ thực vật về thành phần côn trùng hại kho ở Việt Nam thu thập được 76 loài thuộc 37 họ của 6 bộ (Dẫn theo báo cáo khoa học Cục bảo vệ thực vật – 1995) [43]
Kết quả điều tra thành phần côn trùng hại ở Việt Nam năm 1996 của Cục Bảo vệ thực vật đ6 thu thập và giám định được 110 loài côn trùng trong kho thuộc 43 họ của 8 bộ khác nhau, trong đó có 32 loại côn trùng gây hại chủ yếu và gây hại trên nhiều nhóm nông sản khác nhau (Theobáo cáo khoa học Cục Bảo vệ thực vật
Điều tra cơ bản côn trùng hại kho bảo quản nông sản còn được tiếp tục vào những năm gần đây Kết quả điều tra thành phần côn trùng hại kho của ngành Kiểm dịch thực vật từ 1996-2000 [29] cho thấy, tổng số loài côn trùng trong kho là 115 loài của 44 họ, thuộc 8 bộ và 1 lớp nhện
Ngoài ra còn có một số nghiên cứu khác như: Kết quả điều tra côn trùng hại kho là đối tượng của kiểm dịch thực vật (Dương Quang Diệu, Nguyễn Thị Giáng Vân, 1976) [7]; Thành phần hại côn trùng hại dược liệu bảo quản (Nguyễn Thị Lương Vân, 1982) [46]
Các nghiên cứu về thành phần sâu mọt trên hàng nông sản xuất nhập khẩu còn rất nhiều hạn chế Mới chỉ có một số nghiên cứu như kết quả theo dõi thành phần côn trùng trong các mặt hàng xuất nhập khẩu trong 30 năm (từ 1960-1990) của Nguyễn Thị Giáng Vân, 1991) [44] Kết quả đ6 thu thập, phát hiện được 130 loài, thuộc 9 bộ, 46 họ côn trùng hại trên hàng hoá xuất nhập khẩu và bảo quản
Theo Hoàng Văn Thông (1997) [32], thành phần côn trùng hại trên hàng nông sản nhập khẩu ở khu vực phía Bắc Việt Nam từ 1991- 6/1997 có 40 loài, phân bổ trong 4 bộ Trong đó 36 loài thuộc bộ cánh cứng Coleoptera,10 loài xuất hiện ở mức phổ biến Trên hàng nông sản xuất khẩu có 40 loài côn trùng hại, nằm trong 29 họ, thuộc 5 bộ.Trong đó có 30 loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera) và chỉ có 14 loài xuất hiện ở mức tương đối phổ biến
Trang 22Kết quả nghiên cứu thành phần dịch hại trên giống côn trùng nhập nội tại khu vực Hà Nội (Quách Viết Do, 1997) [9] đ6 điều tra, thu thập được 10 loài côn trùng, nhện hại trên giồng cây trồng nhập nội 10 loài này đều là những loài nguy hiểm, có ảnh hưởng lớn đến năng suất, phẩm chất của nhiều loại cây trồng
Kết quả điều tra thành phần loài côn trùng gây hại thóc dữ trữ ở quy mô
hộ nông dân vùng Hà Nội cho thấy chỉ có 5 - 7 loài côn trùng gây hại, số lượng loài côn trùng gây hại ít hơn rất nhiều so với trong kho thóc dữ trữ đổ rời (Nguyễn Minh Màu, 1998) [22]
Báo cáo về thành phần loài về côn trùng hại thóc dữ trữ tại Hà Nội của Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [55] cho thấy tác giả đ6 ghi nhận được 9 loài côn trùng gây hại thuộc 8 họ của 3 bộ, trong đó có 3 loài thuộc nhóm gây hại sơ cấp và 6 loài nhóm gây hại thứ cấp
Thành phần loài côn trùng gây hại trong các kho thóc dữ trữ đóng bao ở
đồng bằng sông Cửu Long ít hơn rất nhiều so với trong các kho thóc dữ trữ đổ rời và mới ghi nhận được 7 loài côn trùng là mọt gạo, mọt đục hạt nhỏ, mọt bột nhỏ, mọt thóc Thái Lan, mọt râu dài, mọt răng cưa và mọt gạo dẹt (Vũ Quốc Trung, Bùi Minh Hồng và cộng sự (1999) [37]
ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Nguyễn Tứ Hải (2000) [13] đ6 điều tra thành phần côn trùng trên giống cây trồng nhập nội là 53 loài, tập trung trong
10 bộ, chủ yếu là bộ Coleoptera 15 loài, Lepidoptera 14 loài
Theo Hoàng Trung (1999) [39], thành phần côn trùng hại kho ở 9 tỉnh phía bắc Việt Nam có 60 loài của 30 họ thuộc 7 bộ Trong số này tập trung chủ yếu ở bộ cánh cứng 45 loài thuộc 22 họ
Đặng Việt Yên (2002) [56] đ6 thu thập được 16 loài sâu mọt trên mặt hàng tỏi củ nhập từ Trung Quốc tại cửa khẩu Móng Cái Trong số đó bộ cánh
Trang 23cứng có 7 họ, bộ hai cánh (Diptera) có 1 họ, bộ cánh vảy (Lepidoptera) có 1
họ, lớp nhện Acarina có 1 họ Những loài gây hại chính là Plodia interpunctella, Ephestia cautella, Aracerus faciculatus Trong số này thì P.interpunctella là nguy hiểm nhất
Phòng kiểm dịch thực vật (Cục bảo vệ thực vật) đ6 thống kê từ 1998 đến năm 2002 toàn ngành đ6 phát hiện 40 loài côn trùng, gần 30 loài nấm bệnh,
58 loài cỏ dại,…Trong đó có 10 đối tượng kiểm dịch thực vật của Việt Nam trên hàng hoá nhập khẩu Trong những năm qua sinh vật gây hại trên hàng nhập khẩu ngày càng nhiều, đa dạng về loài Đặc biệt các đối tượng kiểm dịch thực vật bị phát hiện tới gần 800 lần [28, 29]
Số liệu công bố gần đây về thành phần côn trùng trong kho thóc dữ trữ
đổ rời ở vùng Hà Nội và phụ cận của Bùi Minh Hồng và Hà Quang Hùng (2004) [17] cho thấy đ6 ghi nhận được 15 loài côn trùng thuộc 11 họ của 3 bộ
Thành phần loài côn trùng trong kho thóc dữ trữ đổ rời ở miền bắc Việt Nam (Dương Minh Tú, 2004) [41] đ6 thu thập được 32 loài côn trùng thuộc 20
họ của 5 bộ Trong đó có 25 loài côn trùng gây hại (4 loài gây hại sơ cấp, 21 loài gây hại thứ cáp) 7 loài côn trùng có ích (4 loài bắt mồi, 3 loài ong ký sinh) 3 loài côn trùng lần đầu tiên được bổ sung vào danh sách côn trùng trong kho thóc dữ trữ là Liposcelis entomophila E, Lipocelis bostrychophila B và Cortcaria japonica R
2.2.2 Nghiên cứu sinh học, sinh thái của sâu mọt hại nông sản
Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh thái học côn trùng gây hại trong kho không nhiều, chỉ có một số công trình được công bố như:
Đặc điểm sinh học và sinh thái học của mọt đậu xanh (Callosobruchus chinensis) của Nguyễn Vân Đình (1964) [10]
Đặc điểm sinh học sinh thái học của mọt gạo (Sitophilus oryzae L.) của Bùi Công Hiển (1965) [16]
Trang 24Theo tài liệu của Vũ Quốc Trung (1978) [38], thuỷ phần gạo thích hợp nhất cho sự phát sinh và gây hại của mọt gạo và mọt bột đỏ là 15 -20%.Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học quần thể của các loài côn trùng gây hại trong kho thóc ngoại thành Hà Nội của Bùi Công Hiển và Lê Trọng Trải (1980) [35]
Đặc điểm phát triển của mọt bột mỳ (Tribolium castanium Herbst) của
Vũ Huy Tiếu (1986) [34]
Theo Nguyễn Thị Bích Yên (1998) [55] vòng đời trung bình của mọt
đục hạt nhỏ khi nuôi trên gạo gi6 nhỏ có thuỷ phần là 10,3% ở nhiệt độ 25o C
là 96,61 ngày và 30o C là 67,2 ngày
Theo Dương Minh Tú (1997) [40] vòng đời của mọt bột vàng Tenebrio molitor nuôi trên bột mỳ ở 24,6o C, độ ẩm không khí tương đối 78% là 336 ngày ở 25,8o C, độ ẩm không khí tương đối 75% là 257 ngày
Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và sinh thái hoặc của quần thể mọt bột đỏ ở miền bắc Việt Nam của Hà Thanh Hương (2002) [12] cho biết vòng đời trung bình của mọt bột đỏ (Tribolium castaneum Herbst) trong
điều kiện nhiệt độ 25o C là 99,62 ngày và 30o C là 70,9 ngày với ẩm độ 70% 2.2.3 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại lạc và thiệt hại của chúng
Cho đến nay, sâu hại là một trong những nguyên nhân hạn chế năng suất
và sản lượng lạc, chất lượng lạc của nước ta Mặc dù vậy những nghiên cứu về sâu hại lạc chưa có nhiều, nhất là sâu hại lạc trong bảo quản sau thu hoạch
Trong năm 1967-1968, kết quả điều tra ở một số tỉnh trồng lạc thuộc miền Bắc Việt Nam, ban điều tra cơ bản sâu bệnh hại cây trồng của Bộ nông nghiệp đ6 công bố có 45 loài côn trùng hại lạc [47]
Trong những năm 1995-1996, các chuyên gia ICRISAT 1993) [67] đ6 phối hợp với các cán bộ trong nước tiến hành điều, tra giám định thành phần
Trang 25sâu hại lạc và nghiên cứu các biện pháp phòng trừ ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở miền Bắc có tới 51 loài sâu hại được phát hiện trên lạc, trong
đó có 47 loài hại trên đồng ruộng và 4 loài trong kho Các loài sâu hại quan trọng, gây tác hại đáng kể nhất ở miền Bắc là sâu khoang (Spodoptera litura), sâu đục hoa, đục quả đậu (Macura testulalis), sâu xanh (Helicoverpa armegara), bọ phấn, bọ trĩ (Scirtothrip dorsalis), rệp (Aphis craccivora) và
đục lá (Aproaerema modicella) Ngoài ra, sùng trắng (Lepidiota sp) cũng gây hại đáng kể ở một số vùng đất b6i ven sông
Bốn loài hại trong kho là: Tribolium castaneum, Corcyra cephanonica, Ephestia cautella, Mites
ở miền Nam có 30 loài sâu hại khác nhau, trong đó 28 loài gây hại trên
đồng ruộng và 2 loài gây hại trong kho đ6 được xác định Các loài sâu hại lạc quan trọng nhất ở các tỉnh phía Nam là sâu khoang (S.litura), sâu xanh (H armigera), sâu róm (Plusia sp), sâu keo da láng (S exiqua), sâu đục lá (A.modicella) và sâu đục hoa và quả đậu (M.testulalis)
Hai loài trong kho là: Tribolium castaneum, Corcyra cephanonica Theo tác giả Lương Minh Khôi và ctv (1991a) [33], vùng Hà Nội có 21 loài thường xuyên xuất hiện gây hại trên lạc Trong đó 10 loài gây hại có ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế bao gồm: sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr), bọ trĩ (Caliothrips inducus Baynall), rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr), sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh (Hellicoverpa armigera Hiib), ban miêu sọc trắng (Epicauta gorhami Marseul), rầy xanh lá mạ (Empoasca flavescens Fabr), câu cấu và sâu róm chỉ
đỏ (Euproctis sp.)
Tác giả Ngô Thế Dân và ctv [6] cũng đ6 ghi nhận trên cây lạc ở Miền Nam có 30 loài sâu hại khác nhau Các loài quan trọng nhất là sâu khoang,
Trang 26sâu xanh, sâu đục lá (Aproaerema modicella) và sâu đục quả đậu đỗ (Maruca testulaslis Geyer)
Tại Hà Tĩnh tác giả Nguyễn Đức Khánh (2002) [19] cho biết trong 36 loài sâu hại thu được trên lạc thì chỉ có 4 loài gây hại chính là sậu đục quả đậu
đỗ, sâu cuốn lá (Archips asiaticus Walsingham), sâu khoang, sâu xanh
Trong vụ lạc xuân tại Thanh Hoá tác giả Lê Văn Ninh (2002) [23] đ6 ghi nhận được 24 loài sâu hại lạc
Như vậy qua nghiên cứu cho thấy thiệt hại về năng suất lạc do sâu hại gây
ra là rất lớn nhưng ở nước ta cũng như các nước khác, việc nghiên cứu côn trùng hại lạc sau thu hoạch còn rất ít được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu
Trang 27
3 Thời gian, địa điểm, vật liệu, nội dung
và phương pháp nghiên cứu
3.1 Thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ tháng 12/2006 đến 9/2007
3.2 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm điều tra thành phần, thu thập mẫu được tiến hành chủ yếu ở Nghệ An và phụ cận (Thanh Hoá, Hà Tĩnh)
- Địa điểm phân tích giám định mẫu và các thí nghiệm về sinh học,
đánh giá thiệt hại được tiến hành tại phòng kỹ thuật Chi cục kiểm dịch thực vật vùng 6 Nghệ An (Trực thuộc Cục bảo vệ thực vật.)
3.3 Vật liệu nghiên cứu
3.3.1 Dụng cụ nghiên cứu
* Dụng cụ điều tra gồm có:
- Túi đựng mẫu, xiên mẫu
- Lọ độc KCN, ống tuýp đựng mẫu côn trùng, bút lông, panh, ống hút côn trùng
- Vợt côn trùng(Đường kính 30cm), túi nylon đựng mẫu
- Kính lúp cầm tay, đèn pin, dao, kéo
* Dụng cụ trong phòng gồm:
- Tủ sấy, tủ kính nuôi sâu mọt
- Kính lúp 2 mắt soi nổi
- Hộp nhựa nuôi sâu mọt
- Khay phân tích mẫu, hộp petry
- Máy đo thuỷ phần hạt, ôn kế, ẩm kế, cân điện tử
- Các hoá chất dùng để xử lý mẫu côn trùng
Trang 283.3.2 Vật liệu nghiên cứu
- Các kho chuyên và không chuyên bảo quản lạc
- Lạc vỏ, lạc nhân các loại
- Các loại côn trùng hại kho lạc
3.4 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Điều tra thành phần sâu mọt trong kho lạc
- Thực hiện theo quy trình tiêu chuẩn ngành với lô hàng hạt xuất khẩu: Kiểm dịch thực vật phương pháp kiểm tra các loại hạt xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh (10TCN 337-98) [2]
- Phương pháp lấy mẫu theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) kiểm dịch thực vật phương pháp lấy mẫu TCVN 4731-89 [1]
- Thu thập mẫu: Chủ yếu thu bắt trưởng thành, sâu non, nhộng qua quan sát bằng mắt nơi chúng thường tập trung như nền kho, góc kho, kẽ nứt, chân tường Các vật dụng làm kệ, kê lót hàng, nơi lưu trữ tập trung bao bì, nơi ẩm thấp, nơi có nhiều hàng tồn đọng lâu, hàng mục nát…
- Khi thu bắt mọt cánh cứng: Dùng ống hút côn trùng, hoặc bút lông, kẹp gạt côn trùng rơi vào miệng ống nghiệm rồi dùng nút bông bịt ống nghiệm lại Nơi có nhiều sản phẩm bị hại, vật phẩm mục nát thì dùng rây nhiều cỡ để rây, tách côn trùng
- Đối với trưởng thành cánh vảy khi thu bắt cần chú ý chúng có tính bay ngược lên phía trên Do vậy khi đặt ống nghiệm cần đón đầu rồi dùng bút lông gạt nhẹ vào ống nghiệm Ngoài ra còn có thể dùng vợt để thu bắt trưởng thành khi chúng đang bay hoặc ở vị trí cao
- Đối với sâu non, nhộng: cần lưu ý các kẽ nứt, chân tường, nơi có các vật phẩm mục nát…thu thập các mẫu hàng bị hại mang về phòng bóc, tách để tìm chúng
Trang 293.4.2 Tìm hiểu đặc điểm nhận biết một số loài sâu mọt gây hại trên lạc
Các mẫu thu thập được đem về phòng thí nghiệm giám định, theo dõi, chụp ảnh, mô tả (mẫu lạc bị hại và mẫu sâu mọt)
Các mẫu sâu mọt trưởng thành được bảo quản để giám định Các mẫu nhộng, sâu non tiếp tục được nuôi theo dõi các pha tiếp theo Mẫu lạc bị hại dùng để quan sát các triệu chứng gây hại chủ yếu, các đặc điểm gây hại của từng loài sâu hại
3.4.3 Nghiên cứu đặc điểm hình thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr
Quan sát, mô tả, đo đếm kích thước từng pha của mỗi quần thể mọt Carpophilus dimidiatus Fabr
- Pha trứng: Đo chiều dài và chiều rộng
- Pha sâu non: đo chiều dài và độ rộng đầu
- Pha nhộng và pha trưởng thành: đo chiều dài và phần rộng nhất của cơ thể Kích thước trung bình tính theo công thức:
i
XX
- Thời gian phát dục trung bình của cá thể:
Trang 30i
X nX
N
=∑
Trong đó:
X: Thời gian phát dục trung bình
xi: Thời gian phát dục của cá thể thứ i
ni: Số cá thể lột xác trong ngày thứ i N: Tổng số cá thể thí nghiệm
3.4.4.2 Nghiên cứu khả năng sinh sản của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr
Bố trí thí nghiệm với 1 cặp trưởng thành mới vũ hoá (n = 30), theo dõi:
- Khả năng đẻ trứng trung bình của một cá thể cái (Đẻ trứng(ĐT)/ con cái)
Tổng số trứng đẻ (quả) ĐT/ con cái =
Tổng số con cái (con)
- Số trứng đẻ trung bình trong một ngày của một con cái (Số trứng (ST) / ngày)
Tổng số trứng đẻ (quả/ con) ST/ ngày =
Tổng thời gian đẻ (ngày) 3.4.5 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr 3.4.5.1 ảnh hưởng của thuỷ phần hạt lạc đến diễn biến quần thể mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm đối với loài mọt Carpophilus dimidiatus Fabr ở các công thức có thuỷ phần hạt lạc là 8%, 14% và 20%, nhằm tìm ra thuỷ phần hạt thích hợp và không thích hợp cho sự phát triển của mọt Từ đó
có các biện pháp hạn chế sự phát sinh, phát triển của chúng trên lạc nhân Sau thời gian 30, 45, 60, 75, 90 ngày, chúng tôi bóc tách hạt để kiểm tra sức tăng
Trang 31mật độ quần thể của mỗi loài ở các công thức ở mỗi thuỷ phần chúng tôi bố trí mọt các mật độ 10 con /hộp, với tỷ lệ đực/cái là 50/50 Các công thức nhắc lại 3 lần Các chỉ tiêu theo dõi là: Tổng số cá thể, tỷ lệ mọt chết, tỷ lệ sâu non
Thiệt hại do sâu mọt gây ra trên lạc nhân thể hiện ở nhiều mặt Trong
điều kiện nghiên cứu còn hạn chế, chúng tôi chỉ đánh giá thiệt hại của chúng
về mặt trọng lượng hạt Chúng tôi tiến hành thí nghiệm đánh giá thiệt hại của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr trên lạc nhân có ba thuỷ phần khác nhau là 8%,14% và 20% Trên mỗi thuỷ phần của lạc, chúng tôi tiến hành bố trí các mật độ quần thể khác nhau là10 cặp/ kg, với tỷ lệ đực cái là 50/50
Các công thức được nhắc lại 3 lần
Các thí nghiệm được tiến hành kiểm tra định kỳ sau 30,45, 60,75, 90 ngày Từ đó chúng tôi xác định khả năng gây hại của mọt Carpophilus dimidiatus Fabr ở từng thời điểm trên các thuỷ phần khác nhau của lạc nhân
và sự liên quan giữa tỷ lệ % hao hụt với mật độ quần thể mọt ban đầu
Lạc nhân sử dụng trong thí nghiệm được chọn lựa kỹ, loại bỏ những tạp chất cơ học, những hạt bị sâu bệnh Sau đó hạt lạc được xử lý ở nhiệt độ 45-50 oC
đưa về thuỷ phần 8%,14% và 20% Để đảm bảo cho mọt có thể sống bình thường trong khoảng thời gian 3 tháng, chúng tôi bố trí mỗi thí nghiệm 1 kg lạc nhân Sau khi gây nhiễm mọt, các mẫu này được đặt trong tủ kính, theo
Số sâu non
- Tỷ lệ sâu non (%) =
Trang 32dõi hàng ngày về nhiệt độ, ẩm độ của môi trường, cũng như quá trình gây hại của mọt đối với lạc nhân
- Công thức tính trọng lượng hao hụt:
0 c 0
DC: Trọng lượng khô tại thời điểm kiểm tra
3.4.6 Phương pháp nghiên cứu một số biện pháp phòng trừ mọt
Carpophilus dimidiatus Fabr
3.4.6.1 Phươngpháp xử lý nhiệt
Chúng tôi tiến hành thí nghiệm đối với loài mọt Carpophilus dimidiatus Fabr ở các công thức có độ phơi dày khác nhau: 15, 20, 25, 30 cm ở điều kiện nhiệt độ 30 - 35 và 40 - 450C nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển của mọt.Từ đó có biện pháp khuyến cáo phòng trừ mọt Carpophilus dimidiatus Fabr ở mỗi điều kiện nhiệt độ chúng tôi bố trí mọt 100 con/ 1 kg lạc với thời gian phơi 5 giờ, thuỷ phần lạc trước khi phơi là 14%, số lần đảo xới là 10 lần Các công thức được nhắc lại 3 lần.Chỉ tiêu theo dõi:
- Đo thuỷ phần lạc sau khi phơi ở các mức phơi có độ dày khác nhau
Số lần bắt gặp mẫu
- Tần suất bắt gặp (%)=
3.4.6.2 Phương pháp nghiên cứu hiệu lực thuốc Phosphine (PH3)
Mọt Carpophilus dimidiatus Fabr được nhân nuôi trong các hộp nhựa (chiều cao 40cm, đường kính 20cm) có nắp lưới ngăn côn trùng.Nhộng có cùng ngày tuổi thu thập được từ các hộp nuôi côn trùng sẽ được chuyển sang các hộp nuôi mới vũ hoá và giao phối Sử dụng các cá thể trưởng thành để
Trang 33đưa vào thí nghiệm Chúng tôi sử dụng 100 cá thể trưởng thành /công thức/lần lặp lại Thí nghiệm -gồm 8 công thức, lặp lại 3 lần
2 giờ và 7, 14 ngày Dùng công thức Abbottđể tính hiệu quả
Ca - Ta
- H (%) =
Trong đó:
H (%): hiệu quả của thuốc
Ca: số lượng côn trùng sống ở công thức đối chứng sau xử lý
Ta: số lượng côn trùng sống ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Trang 344 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Thành phần sâu mọt hại kho lạc
Trong thời gian nghiên cứu từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 9 năm
2007 chúng tôi đ6 thu đ−ợc kết quả nh− sau:
4.1.1 Thành phần sâu mọt hại kho không chuyên bảo quản lạc ở Nghệ An
Chúng tôi đ6 tiến hành điều tra trên các kho ở Nghệ An Kết quả điều tra thành phần sâu mọt hại đối với kho không chuyên dùng bảo quản lạc đ−ợc trình bày tại bảng 4.1
Qua phân tích kết quả điều tra, chúng tôi có nhận xét: Thành phần sâu hại trong các kho không chuyên dùng bảo quản lạc tại vùng điều tra có tổng
số 23 loài nằm trong 16 họ của 04 bộ có mặt trong kho Trong số 23 loài chúng tôi thu thập đ−ợc thì có tới 19 loài nằm trong Bộ Coleoptera, 02 loài nằm trong Bộ Lepidoptera, 01 loài nằm ở Bộ Psocoptera và 01 loài thuộc Bộ Hemiptera
Nh− vậy, dù thành phần loài có ít hơn các loại kho nông sản khác, nh−ng số loài của bộ Coleoptera vẫn chiếm tỷ lệ lớn nh− các kết quả điều tra kho của các tác giả khác
Qua theo dõi, quan sát chúng tôi thấy phần lớn các côn trùng có mặt và gây hại trên lạc ở những kho không chuyên dùng là từ các vật phẩm khác xếp chung trong kho Có những mặt hàng nh−: gạo, ngô, đạu đỗ… nhất là thức ăn gia súc bị các côn trùng gây hại đ6 lây lan sang lạc rất nhanh
Căn cứ vào đặc điểm, tính chất gây hại của các loài trong kho lạc, chúng tôi phân các đối t−ợng thành ba nhóm nh− sau:
- Nhóm gây hại sơ cấp gồm 02 loài chiếm 8,5% Trong đó có các loài rất phổ biến ở các kho nông sản khác nh−: Sitophilus oryzae, Rhizopertha dominica
Trang 37- Nhóm gây hại thứ cấp gồm 19 loài, chiếm 83%.Trong nhóm này chúng tôi phát hiện 02 loài thuộc giống Carpophilus, Tribolium castaneum và Ephestia cautella có trên lạc nhân, lạc vỏ và trên bao bì Loài Oryzaephilus surinamensis
có trên lạc vỏ… Nhưng tác hại của các loài này đối với lạc chưa được rõ ràng
- Nhóm có ích gồm 2 loài, chiếm 8,5% Trong đó 01 loài Thorictodes sp thuộc họ Dermestidae, bộ Coleoptera và 01 loài Xylocoris flavipes R thuộc họ Anthocoridae, bộ Hemiptera
Về mức độ phổ biến của từng loài chúng tôi thấy có sự khác nhau Trong
đó có các loài xuất hiện với tần suất cao như mọt đục hạt (Rhizopertha dominica), mọt gạo (Sitophilus oryzae), mọt răng cưa (Oryzaephilus surinamensis) mọt râu dài (Latheticus oryzae) mọt thóc đỏ (Tribolium castaneum) thuộc Bộ cánh cứng (Coleoptera) và ngài bột điểm (Ephestia cautella Walker) thuộc cánh vảy (Lepidoptera) Số lượng loài có mức độ xuất hiện ít như Lasioderma serricorne Fabr, Typhaea stercorea L…Bên cạnh đó đ6 xuất hiện loài có ích như bọ xít bắt mồi (Xylocoris flavipes R) có mức độ phổ biến ở mức trung bình Theo nhận xét của chúng tôi thì những loài hại thứ cấp thường xuất hiện nhiều ở các kho vệ sinh không thường xuyên sạch sẽ
Các loài gây hại sơ cấp thường xuất hiện nhiều ở các kho lạc có lẫn nhiều các nông sản khác như ngô, sắn…đ6 để lâu ngày
Trong kho lạc, chúng tôi nhận thấy có những loài rất phổ biến như Ahasverus advena, Sitophilus oryzae… nhưng hầu như không có tác hại trực tiếp gì đối với lạc hoặc tác hại của chúng trên lạc không biểu hiện rõ ràng Tuy nhiên trên phương diện kiểm dịch thực vật, các loài có mật độ cao đều được coi là nguy hiểm Vì sự có mặt của chúng với mật độ cao đều khó được các nước nhập khẩu chấp nhận (Mặc dù các loài này không phải là đối tượng KDTV của nước nhập khẩu) Mặt khác, nếu để kho bẩn, các loài này phát sinh với số lượng lớn cũng có
Trang 38khả năng gây hại cho lạc nhân Bởi vì các loài này tuy không gây hại trực tiếp đối với lạc nhân, nh−ng sự có mặt của chúng nhiều sẽ làm tăng độ ẩm của hạt lạc dẫn đến lạc
dễ bị mốc, thay đổi màu sắc hoặc bị lên men Với các thay đổi này, lạc nhân đều không có giá trị xuất khẩu
So sánh số liệu điều tra của chúng tôi với thành phần loài sâu mọt kho của ngành Kiểm dịch thực vật chúng tôi thấy: Thành phần này rõ ràng là ít hơn nhiều
so với thành phần sâu mọt hại kho của nghành KDTV đ6 điều tra từ năm
1998-2002 là 115 loài [43] Hoặc so với kết quả điều tra năm 1999 tại 9 tỉnh phía Bắc của Hoàng Trung là 60 loài.[39]
So sánh thành phần loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc với thành phần loài sâu mọt trong kho nói chung ở Việt Nam của Nguyễn Thị Giáng Vân và cộng sự (1996)[45] thì số loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc chỉ chiếm 21% (23 loài so với 110 loài)
Trong quá trình điều tra này, chúng tôi không phát hiện thấy loài sâu mọt nào là đối t−ợng kiểm dịch thực vật của Việt Nam
4.1.2 Sự phân bố của các loài sâu mọt trong kho không chuyên bảo quản lạc
3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh
Bên cạnh điều tra thành phần chúng tôi đ6 tiến hành điều tra sự phân bố của các loài về mức độ xuất hiện ở 3 tỉnh Kết quả đ−ợc ghi nhận ở bảng 4.2
Qua Bảng 4.2 chúng tôi nhận thấy tại các địa điểm số l−ợng loài xuất hiện với mức độ sự phân bố của các loài ở 3 tỉnh là khác nhau
- Tại Thanh Hoá chúng tôi đ6 thu thập đ−ợc 16 loài thuộc 12 họ của 2 bộ
- Tại Nghệ An: chúng tôi thu thập đ−ợc 23 loài trong đó có 21 loài gây hại
và 02 loài có ích Thuộc 16 họ của 04 bộ
- Tại Hà Tĩnh: thu thập đ−ợc 19 loài Trong đó có 18 loài gây hại và 01 loài có ích Thuộc 14 họ của 03 bộ