Chương 2 CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, VĂN HÓA ẨM THỰC
2.2.3. Chân dung các đồng nghiệp nhà văn
Kí của Vũ Bằng không chỉ dựng lại bức tranh hiện thực đời sống, về thiên nhiên về con người lao động, con người tha hương... Mà Vũ Bằng còn có
những trang viết rất độc đáo về những bạn văn, bạn báo cùng thời như: Nguyễn Văn Vĩnh, Phùng Tất Đắc, Ngô Tất Tố, Vũ Đình Bính, Tản Đà, Nguyễn Nhược Pháp, Tú Mỡ, Thạch Lam, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Trần Huyền Trân, Hữu Loan, và Nguyễn Tuân, Thâm Tâm, Tô Hoài, Nguyễn Vỹ, Xuân Diệu... Vũ Bằng đã viết rất thành công khi dựng các chân dung văn nghệ sĩ qua ngòi bút của ông, các chân dung đó hiện lên một cách sống động như đang hiển hiện trước mắt người đọc một con người có thật trong cuộc sống hàng ngày.
Đều khắc họa chân dung văn học trong tác phẩm hồi kí, nếu Tô Hoài thiên về mô tả những chi tiết đời tư có phần “nhếch nhác” của giới văn nghệ sĩ bằng con mắt tỉnh táo, tinh quáy, pha chút giễu cợt, dẫu rằng là giễu yêu, thì Vũ Bằng trình bày điều đó với tư cách là người cùng hội cùng thuyền, rất mực cảm thông, chia sẽ, để rồi phát hiện ra nhiều nguyên cớ thật đẹp bên trong tâm hồn những anh em bè bạn làng văn, làng báo ấy.
Các nhà văn, nhà báo trong hồi ức Vũ Bằng được soi chiếu trong các mối quan hệ đời thường. Với Vợ con, Gia đình, ông chủ, với bạn bè đồng nghiệp và đặc biệt là với cuộc sống cơm áo, gạo tiền.
Hình ảnh người trí tư sản trong mối lo cơm áo đã được nhiều nhà văn, nhà thơ đề cập đến. Xuân Diệu - một nhà thơ đã từng cay đắng thốt lên rằng: “Nỗi đời cơ cực giơ nanh vuốt, cơm áo không đùa với khách thơ”. Nguyễn Vỹ khi viết về đời sống của những nhà văn An Nam chuyên nghiệp đầu thế kỉ XX đã kết luận thành những câu chua chát: “Văn chương hạ giới rẻ như bèo”, “nhà văn An Nam khổ như chó”. Đến Vũ Bằng hình ảnh cơ cực, nghèo khổ của những chân dung anh em làng văn, làng báo được ông khắc họa chân thật sắc nét như hình ảnh của Thâm Tâm chẳng hạn “Anh Thâm Tâm lúc ấy ở nhà Diêm với đại gia đình, mấy em gái anh sống bằng nghề đóng sách mướn cho các nhà xuất bản kiếm ăn chật vật. Được đồng nào anh chỉ mang về cho gia đình một ít, còn lại phải thu xếp trả cho anh em nên trong nhà ít có khi đủ tiền tiêu. Thâm Tâm thường phải vay trước tiền của nhà báo” [29;152].
So với Thâm Tâm, Trần Huyền Trân và Nam Cao cũng chẳng khá hơn là bao. Trần Huyền Trân sống heo hút trong nhà đánh cá bắt trên sông để làm thơ và viết truyện. Theo lời kể của Vũ Bằng “Trần Huyền Trân viết truyện thì hay và làm thơ thì tuyệt, nhưng thông thường mỗi tháng phải chịu nhịn ăn ít nhất năm ngày”. Còn Nam Cao, “nghèo nhất Nam Định, bần cùng bất đắc dĩ lắm
ở với một người bà, có vợ nhiều con. Ngoài số nhuận bút hàng tháng, tất cả gia đình anh trông vào một giàn trầu mà bà anh bán lấy tiền thêm nuôi các cháu”
[29;160]. Vũ Trọng Phụng cũng vậy: nghèo khổ, túng quẩn, Vũ Bằng viết về
“Ông vua phóng sự đất Bắc” ấy với lòng cảm thông trắc ẩn sâu sắc. Trong hồi ức Vũ Bằng, Phụng hiện lên với bộ dạng “phủ phục xuống dường như con voi viết, mắt hiếng hẳn đi mà lưỡi thì lè ra như con lưỡi con thằn lằn,…vừa viết vừa chửi thề sao mình lại khổ đến thế này, cứ phải viết mới có tiền sinh sống”
[29;108]. Vũ Bằng còn nhớ như in câu nói của Vũ Trọng Phụng trước khi mất:
“Nếu mỗi ngày tôi có miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như vậy”
[29;100].
Khi viết chân dung về họ, Vũ Bằng ý thức một cách sâu sắc họ là những con người của đời thường, của gánh nặng cơm áo, nhưng đồng thời họ cũng là những nhà văn, nhà báo – mang trong mình tố chất nghệ sĩ không giống ai. Cho nên, các chân dung được Vũ Bằng cảm nhận và khắc họa thường hiện lên một lúc hai phương diện: người thường và nghệ sĩ. Người đọc cảm thấy thích thú, hồi hộp với những câu chuyện của Vũ Bằng khi kể về chất thường nhân hòa quyện với chất nghệ sĩ của những nhà văn, nhà báo như Ngô Tất Tố và Nguyễn Tuân…
Ngô Tất Tố có phong cách trang nghiêm, đạo mạo của một nhà nho nhưng lại quá thật thà, và dễ bị tổn thương khi có người đùa ác, đùa dai, Vũ Bằng nhớ rất rõ kỷ niệm về một lần đùa rỡn với Ngô Tất Tố trong buổi học mà bác Tố dạy Vũ Bằng chữ nho. Vũ Bằng dạy Ngô Tất Tố tiếng Pháp, bác lẫm nhẫm học “bambou hítralô” là cây mía, cây mía là “bambou hítralô”, “lơ sơ rơ” là anh sợ vợ”… sau đó bác Tố biết mình bị lỡm, cầm cái gối ném vào mặt tôi và ngay lúc đó mặc áo the, chụp cái khăn vào đầu, lê đôi giày Gia Định một cách thểu não đến nhà Mai Lĩnh nằm nhai hối hân” [29;115].
Đặc biệt, có một Nguyễn Tuân lập dị, tai ách, khinh bạc: “mang những hành động lẩm cẩm, dớ dẫn, lộn ruột” [29;147]. Kiểu như “đúng lúc tôi đang ngon giấc, lay dậy, bảo mặc quần áo đi có việc cần. Trời thì rét mà ở ngoài còn tối om như mực tôi không đi, nhưng không được. Anh bắt tôi đi bộ, vòng hết đường này sang đường khác, rồi rủ đi ăn bánh ướt ở một căn nhà lá mà anh bảo là ngon nhất Thang Mộc Ấp. Riêng một cái việc ngồi chờ bà cụ bán hàng thắp đèn lên, tráng bánh và rán đậu đã mất hai tiếng đồng hồ” [29;147]. Hay chuyện hôm Thanh Châu – Ngô Hoan cưới vợ, anh em nghệ sĩ đến mừng, ăn uống
nhưng riêng Nguyễn Tuân không thấy đâu. Một tiếng sau, Nguyễn Tuân xuất hiện khều ngón tay “cháu rễ” khe khẽ, vay năm đồng rồi đi. Một lát sau, Tuân trở về với “đầu bù tổ quạ, nhón hai ngón tay cầm một cành la – dơn thực đẹp như trẻ con đi rước đèn tháng tám mừng Thanh Châu. Thì ra anh mượn tiền là để mua bông hoa đó” [29;148]. Vấn đề ở chỗ “một cành la dơn giá cao lắm độ hai hào, nhưng sau này có người biết tin anh đã mua tới bảy hào, và biếu bà bán hoa thêm một đồng, còn lại bao nhiêu thì xe đi, xe về hết nhẵn, không còn xu nhỏ” [29;148]. Qủa là một Nguyễn Tuân khác người, ngông nghênh khinh bạc “đến điều”.
Dưới ngòi bút của Vũ Bằng, Nam Cao hiện lên thật nghèo khổ, quê mùa;
“ngoài vợ ra, không hề biết đến một người đàn bà nào khác” [49;163], “giữa thế kỉ văn minh đi ăn nhà hàng, lại có thể có một thanh niên chừng hai mươi bốn, hai mươi lăm tuổi không biết món này là cái gì và hỏi cơm chiều đã có lạp xườn và trứng rồi. Cả cớ lại phải ăn vậy?” [49;162]. Song trong mắt Vũ Bằng, Nam Cao còn là; “một nhà văn rí rỏm, chua chát nhưng chân thật và hồn nhiên đến mức không có nhà báo, nhà văn nào sánh được” [49;162-163]. Rõ ràng là,
“Từ kho kí ức sống động và phong phú, cái chất liệu được hồi sinh, tạo thành xương thịt, khí huyết cho chân dung hiện lên trước mặt giấy” [49;393].
Viết về anh em bè bạn nghề báo, nghề văn Vũ Bằng tâm thế của người trong cuộc, nên hơn bao giờ hết, Vũ Bằng ý thức được tính chất hai mặt của những người làm nghề văn, nghề báo. Tác giả dường như rất hứng thú khi miêu tả những thói chơi bời, quậy phá của giới văn nghệ sĩ mà tựu trung lại ở ba thứ rượu chè, hút sách và hát cô đầu: “một đêm khuya chúng tôi đi hát ở Khâm Thiên tôi nhớ ngoài anh em quen biết ra, có ông Ba Mai Lĩnh, ông Ba, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân và tôi, mỗi người ngồi xếp bằng tròn, dưới đất ở một góc nhà cô đầu, tu mỗi người một chai Văn Điển” [29;149].
Vũ Bằng cũng không quên kể giây phút “quá khích” của anh em
“khoảng đến ba giờ sáng, cả phố Khâm Thiên nhao lên như có loạn: ở trên nóc nhà Nguyễn Tuân đi lại như một anh hát xiếc, giơ hai tay lấy thăng bằng, nhún nhảy trên nóc một chân, thỉnh thoảng lại ngoay ngoắt người trở lại, bao nhiêu hồn ví cô đầu và quan viên đều bay lên mây” [29;149]. Mỗi khi sự “quá khích”
lên đến mức dồ dại, Vũ Bằng thôi không tán thưởng nữa. Cái đáng quý trong ngòi bút Vũ Bằng chính là ở chỗ dừng lại đúng lúc ấy.
Tô hoài, trong một số hồi kí của mình như “Chiều chiều, Cát bụi chân ai”… luôn chứng tỏ một cây bút hiện thực, bám chặt “chất văn xuôi‟ của đời sống. Trong khi đó, Vũ Bằng là một cây bút trữ tình, đậm đà chất trữ tình. Cho nên, các chi tiết sinh hoạt đời thường của chân dung các nhà văn nhà báo hiện lên dưới ngòi bút của Vũ Bằng đều được nội tâm hóa.
Viết về các nhà văn, nhà báo, Vũ Bằng còn nhiệt tình khẳng định công sức, tài năng của họ đóng góp cho làng văn, làng báo; “Anh em văn nghệ sĩ góp công vào việc xây dựng ba tờ báo đó thật đông và thật kì lạ, y như một mảnh vườn có trăm hoa đua nở” [50;171]. Hãy nghe bài Vũ Bằng nhận xét về Thanh Châu; “Thanh Châu vừa viết “tiểu thuyết thứ bảy” vừa học thêm, lúc nào cũng cầu tiến, lúc nào cũng phục thiện, và có một cái tính đáng khen là không có tiền không sao chớ phàm đã viết thì phải thích, chớ không viết miễn cưỡng”
[29;156]. Ông khâm phục Thanh Châu đọc nhiều và có tâm hồn thi sĩ: “Sự việc gì cũng dũng cảm mà lại viết rất nhanh, rất khỏe” [29;156].
Trong hồi ức Vũ Bằng nhà báo Vũ Đình Long là người, chịu khó, năng động, quán xuyến mọi công việc “bếp núc‟, “nội trợ” của tòa báo; “tự tay làm hết các công việc của báo: từ việc đọc các bài của độc giả… đến cách sắp đặt trang báo, trình bày tranh vẽ, và chọn lựa tiểu thuyết Tàu, Tây để dịch”
[29;154]. Ông chịu khó đọc báo, sách của Pháp để tìm sáng kiến, có sáng kiến hay ông nghiên cứu, khai thác rất sâu, rất kỹ lưỡng và ghi ra giấy” [29;154].
Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh cũng được Vũ Bằng tái hiện trong sự khen ngợi ngưỡng mộ hết mực: “Thú thực cho đến bây giờ, tôi sợ nhiều người nhưng chưa sợ cái gì như sợ cái tài viết của Nguyễn Văn Vĩnh… tôi vẫn chưa thấy có ai viết báo nhiều loại khác nhau một cách tài tình và nghĩa lí như Nguyễn Văn Vĩnh” [29;32].
Có thể khẳng định rằng, với lối diễn tả đơn giản, thân mật, chan chứa tính cách trào lộng, Vũ Bằng đã phác họa lại thật độc đáo, thật linh động, những khuôn mặt của mấy thế hệ làm báo, nhà văn nổi danh một thời, đã làm lịch sử và đi vào lịch sử, hoặc chết đi, hoặc còn sống, hiện có mặt ở đây hay nơi khác.
Những nhà văn này lần lượt xuất hiện mỗi người hiến cho độc giả một vài mẫu chuyện vui có, buồn có, nhưng thật mới lạ… Trong đó có quá trình ra đời và phát triển Báo chí ở Bắc, Trung, Nam trong những chế độ chính trị khác nhau, là ý thức, thái độ của người làm báo. Bốn mươi năm nói láo là hồi kí sống động và chân thật mà điểm nổi trội của nó là thể hiện chất sống, lòng yêu nghề và lối
viết khi chua chát, xót xa, lúc vui vẻ, hào hứng của tác giả mà không phải nhà văn nào cũng có thể viết được.
Thượng Sỹ kết luận: Bốn mươi năm nói láo chẳng khác đọc lịch sử báo chí xứ này trong vòng già nữa thế kỉ XX và nếu như ta thường hiểu: báo chí phản ảnh sinh hoạt xã hội, thì Bốn mươi năm nói láo đã phản ánh phần nào, ở những khía cạnh nào, qua nhiều giai đoạn, nhiều biến cố của xứ sở chúng ta.
“Nói láo”, mà là “nói thật”, sự thật phũ phàng với niềm chua chát, xót xa. “Nói thật”, cũng để lại là nói chuyện vui vẻ, hào hứng và bổ ích” [29;7]. Cùng với đề tài về cai thuốc phiện, đề tài về lịch sử báo chí Việt Nam là điểm riêng biệt, độc đáo trong phản ánh những vấn đề của kí Vũ Bằng. Thêm hai mảng đề tài này, đề tài trong kí Việt Nam thế kỉ XX cũng đầy đặn hơn. Góp thêm một cách nhìn, cách phản ánh sinh động và dồi dào cảm xúc về chân dung các nhà văn, nhà thơ hiện đại, đặc biệt là những nhà văn nhà thơ tiền chiến, Vũ Bằng đã làm phong phú thêm cho thể tài chân dung văn học. Cùng với các công trình nghiên cứu và phê bình tác giả như Văn thi sĩ tiền chiến (Nguyễn Vỹ), Mười hai khôn mặt văn nghệ (Tạ Tỵ), trước năm 1975, Nhà văn, tư thưởng và phong cách (Nguyễn Đăng Mạnh), Văn chương tài năng và phong cách (Hà Minh Đức), Chân dung và tác phẩm (Hoàng Như Mai), Chuyện văn chuyện đời (Nguyễn Văn Hạnh), Chân trời có người bay (Đỗ Lai Thúy)… Sau này, chân dung văn học của Vũ Bằng đã giúp người đọc mở rộng hiểu biết về văn học, về lao động của người làm văn học – đời sống phía sau của tác phẩm.