1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT SỬ THI M’NÔNG

143 247 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 143
Dung lượng 208,66 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua những pho sử thi ấy, cả một nền văn hóa dân gian và đời sống tinh thần của tộc người M’nôngđược tái hiện và lưu giữ.. Với tư cách là một thể loại văn học dân gian độc đáo được nảy si

Trang 1

-PHẠM THỊ HƯƠNG

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHỆ THUẬT SỬ THI M’NÔNG

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số : 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS PHAN THỊ HỒNG

LÂM ĐỒNG - 2016

Trang 2

Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong thời gian học tập cũng như quá trình làm luận văn vừa qua Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Phan Thị Hồng đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi thực hiện nghiên cứu của mình Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong những năm học vừa qua

Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.

Tuy đã rất cố gắng trong thời gian thực hiện, tuy nhiên với kiến thức lí luận và kinh nghiệm thực tế còn hạn chế nên không tránh khỏi sai sót Kính mong nhận được sự cảm thông, những ý kiến đóng góp từ quý thầy cô giáo để

có thể hoàn thiện hơn.

Đà Lạt, tháng 12 năm 2016 Người thực hiện

Phạm Thị Hương

Trang 3

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập, tổng hợp tài liệucủa bản thân Những luận điểm khoa học trong luận văn, trích dẫn các nguồntài liệu trong nội dung luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bốtrong bất kỳ công trình nghiên cứu nào.

Đà Lạt, tháng 12 năm 2016

Người thực hiện

Phạm Thị Hương

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tây Nguyên là mảnh đất trù phú và đầy bí ẩn, nơi lưu giữ nhiều di sảnvăn hóa vật chất và tinh thần lâu đời của các tộc thiểu số Đặc biệt trong đó cóngười M’nông Cũng như các dân tộc bản địa khác (Êđê, Bahnar, Raglai, XơĐăng, Mạ, ), dân tộc M’nông là chủ nhân của kho tàng văn học dân gianphong phú, đặc sắc Sử thi M’nông (ot n’rong) là chiếc “cầu nối” giữa quákhứ và hiện tại – đây là sản văn hóa tinh thần quý giá của cộng đồng dân tộcnày Bằng hình thức hát kể, sử thi M’nông tồn tại qua trí nhớ của nghệ nhândiễn xướng phổ biến nơi các bon làng Đây là những thiên tự sự về sự hìnhthành của con người, sự ra đời của trời đất, tín ngưỡng, phong tục, tập quáncũng như các mối quan hệ trong đời sống cộng đồng Qua những pho sử thi

ấy, cả một nền văn hóa dân gian và đời sống tinh thần của tộc người M’nôngđược tái hiện và lưu giữ

Với tư cách là một thể loại văn học dân gian độc đáo được nảy sinh từthực tiễn sản xuất và chiến đấu, từ yêu cầu của cuộc sống trong bước chuyển

mình mạnh mẽ của dân tộc, sử thi M’nông có giá trị như là pho“bách khoa

thư” chứa đựng nội dung xã hội rộng lớn, phong phú của người M’nông Đây

là điều lý giải sức hấp dẫn mạnh mẽ của ot n’rong với không chỉ với giới sưutầm nghiên cứu mà còn cả với công chúng thưởng thức văn học

Trong bối cảnh hiện nay, hầu như không một cộng đồng, dân tộc nào cóthể đứng ngoài lề của quá trình toàn cầu hóa Quá trình đó tạo nên những yếu

tố tích cực, tiếp thu được những “chân trời mới” văn hóa và tri thức của nhân

loại, song cũng gây nên những ảnh hưởng tác động tiêu cực Do vậy, trongquá trình hội nhập, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quan hệ vănhóa với các nước khác là điều cần chú trọng Hiện nay, những giá trị văn hóa

tinh thần của người M’nông đang đứng trước nguy cơ bị “xói mòn” và biến

đổi thì việc tìm hiểu, nghiên cứu và bảo tồn là vấn đề cần thiết Là một người

Trang 6

con của Đăk Nông, sinh sống và lớn lên trên mảnh đất văn hóa của ngườiM’nông, chúng tôi luôn ý thức được rằng phải bảo vệ nền văn hóa của dân tộcnơi đây Sử thi chính là một trong những sáng tạo văn hóa quý giá mà chúngtôi xác định là đối tượng nghiên cứu Những giá trị đích thực của sử thi, củavăn hóa truyền thống như tính nhân văn, mối quan hệ tốt đẹp giữa con ngườitrong xã hội, con người với tự nhiên vẫn mang ý nghĩa lớn lao trong sự pháttriển chung các cộng đồng người Tây Nguyên Việc sưu tầm, nghiên cứu sửthi M’nông đến nay cũng được tiến hành và có nhiều kết quả, nhận được rấtnhiều sự quan tâm từ giới chuyên môn cũng như công chúng.

Sử thi là di sản quý giá với dân tộc M’nông nói riêng và của đất nướcnói chung Những giá trị nghệ thuật của ot n’rong luôn được giới nghiên cứuluận giải và quan tâm Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, với những pho sử thilớn, nảy sinh, tồn tại trăm năm thì vẫn còn rất nhiều câu hỏi vẫn chưa thể trả

lời một cách xác đáng Chính vì thế, chúng tôi chọn đề tài luận văn:“Một số

đặc điểm nghệ thuật sử thi M’nông” với mong muốn góp phần nghiên cứu để

bảo tồn và phát huy di sản văn hóa đặc trưng vùng của Tây Nguyên

2. M c đích, ý nghĩa đ tài ụ ề

Kế thừa thành tựu các nhà nghiên cứu đi trước, luận văn tiếp tục tìmhiểu thêm những giá trị nghệ thuật còn tiểm ẩn của sử thi ot n’rong Với đề tàinghiên cứu này, chúng tôi mong đi sâu vào tìm hiểu về một số khía cạnh nghệthuật trong sử thi M’nông, góp phần phát huy một phần nghiên cứu nghệ thuật

sử thi dân tộc M’nông

Khi thực hiện luận văn này, chúng tôi ý thức rằng đây là vấn đề nghiêncứu không hề đơn giản Ot n’rong không chỉ là một sản phẩm không chỉ manggiá trị văn hóa mà còn mang một ý nghĩa tinh thần không thể thiếu trong đờisống cộng đồng người M’nông Ot n’rong là bức họa tổng thể phản ánhnhững nét cơ bản trong đời sống xã hội, có nội dung phong phú, đa dạng Sửthi M’nông thể hiện khát vọng, ước mơ của cộng đồng dân tộc về một cuộc

Trang 7

sống ấm no, hạnh phúc Ot n’rong được xem là sáng tạo văn hóa ngôn từ, tồn

tại trong muôn vàn nguy cơ bị “bào mòn” cũng như sự “xâm nhập”của

những nền văn hóa ngoại lai Chúng tôi cho rằng không chỉ quan tâm đến việcsưu tầm, nghiên cứu mà việc giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy thêm nhữnggiá trị tinh thần như sử thi M’nông đó là điều rất ý nghĩa Mặc dù nỗ lực cao

độ, với việc thực hiện đề tài, chúng tôi hy vọng có một đóng góp nhỏ vềphương diện nghệ thuật sử thi M’nông trong bức tranh diện mạo ot n’rong màcác nhà nghiên cứu đi trước đã từng nỗ lực phác thảo

3. Đ i t ố ượ ng và ph m vi nghiên c u ạ ứ

Sử thi M’nông là “bức tranh toàn cảnh” về đời sống của người

M’nông, phản ánh nhiều vấn đề của xã hội cũng như lịch sử hình thành vàphát triển của cộng đồng dân tộc này Trong các tác phẩm tiêu biểu đã đượcsưu tầm, ot n’rong phong phú trong việc thể hiện cũng như thủ pháp nghệthuật Ở phạm vi giới hạn của công việc, chúng tôi chỉ đi sâu vào một số đặcđiểm nghệ thuật sử thi M’nông mà cụ thể là đặc điểm cốt truyện, vai trò củacốt truyện trong việc xây dựng nhân vật, một số motif, công thức và một sốbiện pháp nghệ thuật

Để thực hiện đề tài nghiên cứu của luận văn này, chúng tôi chọn một số

một số tác phẩm sử thi tiêu biểu đã được sưu tầm công bố là: Bông, Rõng và

Tiăng; Tiăng chết; Ndu thăm Tiăng; Tiăng lấy lại ché Rlung chinh phượng hoàng ở bon Kla; Yong, Yang lấy ống bạc tượng người; Kră, Năng cướp Bing, Kông con Lông; Thuốc cá ở hồ Bầu Trời, Mặt Trăng; Con diều lá cướp Bing con Jri; Ting, Rung chết; Bắt con lươn ở Dak Huch; Lấy hoa bạc, tượng đồng;

Trang 8

viết trên, tác giả bàn đến cốt truyện đơn và cốt truyện liên kết, phân tích đặcđiểm của cốt truyện, sự thể hiện của hành động nhân vật qua cốt truyện của sử

thi ot n’rong Nhà nghiên cứu viết: “Tóm lại, kết cấu cốt truyện sử thi nrong

là kết cấu theo kiểu liên hoàn Các cốt truyện đơn hợp lại với nhau thành cốt truyện liên kết Các cốt truyện đơn có mối liên hệ mật thiết với nhau, đồng thời ở một mức độ nào đó, chúng có tính độc lập tương đối của mình Đặc điểm này của sử thi nrong có điểm tương đồng với sử thi “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường”[40, 78].

Công tình Sử thi thần thoại M’nông (1996), Đỗ Hồng kỳ tiếp tục phân tích

nội dung ot n’rong với các vấn đề: sử thi M’nông nói về sự hình thành con người;thế giới ba tầng trong sử thi M’nông, hệ nhân vật, Về nghệ thuật, tác giả phântích những đặc điểm cấu trúc tác phẩm, các thủ pháp nghệ thuật và chức năng tưtưởng - thẩm mĩ của cấu trúc sử thi M’nông Cuối tập sách, Đỗ Hồng Kỳ chứng

minh ot n’rong là sử thi thần thoại trên các phương diện diễn xướng, chức năng

sinh hoạt, thi pháp, cơ sở xã hội và nội dung phản ánh.Trong công trình này, ĐỗHồng Kỳ đã đưa ra cái nhìn tổng quan về sử thi M’nông ở phương diện thi pháp

sử thi Khi bàn về cốt truyện, ông cho rằng: “Kết cấu cốt truyện sử thi M’nông là

kết cấu liên hoàn Các cốt truyện đơn hợp với nhau thành cốt truyện liên kết Các cốt truyện đơn có mối liên hệ mật thiết với nhau, đồng thời ở một mức độ nào đó, chúng có tính độc lập tương đối của mình” [41, 89].

Trong các nghiên cứu của mình, Đỗ Hồng Kỳ cũng phân tích hành

động của các nhân vật trong cốt truyện Tác giả nhận định “Hành động của

nhân vật trong sử thi M’nông được chắp đoạn với nhau tạo nên chuỗi hành động, các chuỗi hành động tạo thành hệ thống hành động” [41, 95].

Đồng thời, Đỗ Hồng Kỳ cũng nhắc đến biện pháp lặp và phóng đạitrong thi pháp sử thi M’nông Khi nói về biện pháp lặp, ta bắt gặp ông nhắc

về “khuôn mẫu lặp lại”,“y nguyên” và “ít nhiều thay đổi” trong ot n’rong Về

Trang 9

biện pháp phóng đại, tác giả gọi đó là “thủ pháp ngoa dụ”, “tuy các nhân vật

này được khắc họa bằng đôi ba nét, nhưng nhờ cách nói khoa trương, cường điệu về công việc họ làm mà ấn tượng họ giữ lại đậm nét trong tâm trí người nghe” [41, 110].

Trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian,(2005) số 3, nhà nghiên cứu Bùi Thiên Thai viết về tác phẩm Con đỉa nuốt bon Tiăng cho rằng đây là một sử

thi anh hùng, trong khi các sử thi khác của dân tộc M’nông (đã được biết đếntrước lúc công bố tác phẩm này) là sử thi thần thoại Tác giả còn cho rằng, các

sử thi M’nông là một chuỗi sử thi

Trong các bài giới thiệu, các nhà nghiên cứu đều nhắc đến những đoạnlặp mang tính khuôn mẫu trong sử thi M’nông với các cách gọi khác nhau

như : trình thức, công thức kể - tả, cấu kiện đúc sẵn Nguyễn Xuân Kính nhận xét: “Có lẽ không đâu như trong sử thi M’nông sự trùng lặp và các công

thức kể tả lại lặp với một tần số cao như vậy”[68, 7] Biện pháp phóng đại

cũng được đề cập đến nhưng chủ yếu là liệt kê cùng những thủ pháp nghệthuật khác tạo nên đặc trưng riêng biệt cả tác phẩm sử thi nhưng phần lớn cònchưa đi sâu, phân tích nhiều

Tác giả Ngô Đức Thịnh trong công trình: “Những mảng màu văn hóa Tây

Nguyên”(2007) nhận xét: “Ot n’rong của người M’nông là một chuỗi các chuyện kể được ghép lại nhằm tái dựng lịch sử dân tộc này từ khai thiên lập địa, sinh ra con người, tao dựng văn hóa, các cuộc chiến tranh bộ lạc ”[90, 108].

Năm 2008, ở Văn học dân gian Êđê, M’nông của Đỗ Hồng Kỳ, trong

sách này, tác giả dành cả chương 2 giới thiệu sử thi M’nông Có một vấn đề

mà chúng tôi rất quan tâm là xác định sử thi M’nông là sử thi phổ hệ, hay sửthi chuỗi, hoặc sử thi liên hoàn; thuộc tiểu loại nào (thần thoại hay anh hùng,sáng thế hay thiết chế xã hội hay sử thi) Về cơ bản, các nhận xét của ĐỗHồng Kỳ không thay đổi so với các công trình nghiên cứu trước đó

Trang 10

Trong luận án tiến sỹ với đề tài “Công thức truyền miệng trong sử thi –

Ot ndrong” của Nguyễn Việt Hùng đã tìm hiểu đặc điểm cấu trúc văn bản

truyền miệng (oral text) của ot n’rong trong mối quan hệ với bối cảnh

(context) của môi trường diễn xướng sử thi (performing envirement) Trong

luận án này, tác giả cũng đã đề cập phương diện thi pháp trong sử thi M’nông

Như vậy cho đến nay, những chuyên khảo và bài viết về sử thi M’nôngđều ít nhiều nhắc đến những đặc điểm nghệ thuật sử thi M’nông.Tuy nhiên chưa

có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu sâu về đặc điểm nghệ thuật mà chỉxem như là một trong số các vấn đề cần tìm hiểu chứ chưa trở thành một đề tàiriêng biệt Để góp một phần nhỏ công sức vào quá trình nghiên cứu, tìm hiểu sửthi M’nông chúng tôi mong muốn đi sâu về một số đặc điểm nghệ thuật sử thiM’nông và coi nó như là mối quan tâm chính của mình

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứuchính như : phương pháp liên ngành văn học và văn hóa học, phương phápphân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh và một số phương pháp khác

6. Đóng góp của luận văn

Trong xã hội ngày nay, sử thi vẫn đóng vai trò quan trọng trong đờisống của người M’nông Sử thi giúp cho thế hệ con cháu hiểu về nguồn gốc,

tự hào về truyền thống văn hoá độc đáo của dân tộc mình Chính vì vậy, việcsưu tầm gìn giữ và bảo tồn những giá trị sử thi càng thêm ý nghĩa Luận văngóp phần tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật xây dựng cố truyện và nhân vậttrong sử thi M’nông Qua đó, có thể thấy được các thủ pháp nghệ thuật,những quan niệm thẩm mỹ của người M’nôn g đã được thể hiện như thế nàotrong các tác phẩm sử thi

Mặt khác, luận văn khẳng định thêm những giá trị nghệ thuật về vănhọc, lịch sử, văn hoá, chức năng văn hoá - nghệ thuật và đặc biệt là vị trí, vai

Trang 11

trò của ot n’rong trong đời sống của cộng đồng người M’nông Đây cũngchính là cơ sở tin cậy cho công tác bảo tồn kho tàng sử thi nói riêng và vănhoá dân gian của dân tộc M’nông nói chung.

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn ngoài phần Phần mở đầu, Phần kết luận và Tài liệu tham

khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương I : Tổng quan về sử thi M’nông

Chương II : Đặc điểm xây dựng cốt truyện và khắc họa nhân vật

Chương III: Một số biện pháp nghệ thuật khác

Trang 12

CHƯƠNG I:

TỔNG QUAN VỀ SỬ THI M’NÔNG

1.1 Sơ lược về văn hóa truyền thống dân tộc M’nông

1.1.1 Về dân tộc M’nông ở Tây Nguyên

Dân tộc M’nông ở Việt Nam có khoảng hơn 100.000 người, tập trungchủ yếu ở các tỉnh như Đăk Nông, Đăk Lăk, Bình Phước và Lâm Đồng.Cùng với tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông được coi là địa bàn cư trú chính của ngườiM’nông ở Tây Nguyên (trên 40.000 người) Một bộ phận không lớn sống rảirác ở tỉnh Lâm Đồng (9.099 người), tỉnh Bình Phước (8.599 người) NgườiM’nông cũng là thành phần dân cư trên đất Campuchia (trên 20.000 người)

Theo các nhà nghiên cứu, tộc người M’nông “nằm trong phạm vi

nguồn gốc các dân tộc bản địa ở Việt Nam và Đông Nam Á” [18, 26] Các

nhà nhân chủng học và dân tộc học cho rằng người M’nông có vóc dáng thấp,nước da ngăm đen, môi hơi dày, mắt màu đen, tóc đen và thẳng, một số có tócxoăn tự nhiên

Dân tộc M’nông ở Việt Nam thuộc hệ ngôn ngữ Môn-Khmer Từ lâu,trong lịch sử cư trú phân tán và sự giao lưu giữa các vùng hạn chế, ngườiM’nông đã có sự phân chia thành nhiều nhóm địa phương, cụ thể: Gar, Nong,Chil, Kuênh, Đip, Bhiêt, Pơrâng, Preh, Rlâm, Dihbri, Kuanh Chính do sựphân chia này đã tạo nên nhiều phương ngữ riêng của cộng đồng ngườiM’nông, nhưng sự khác biệt là không đáng kể, vì vậy mà người M’nông ở cácđịa bàn khác vẫn có thể dễ dàng giao tiếp ngôn ngữ với nhau Tuy nhiên, dochưa có chữ viết và chưa tạo ra một văn hóa thành văn nên người M’nôngchưa ghi chép lại lịch sử

Trải qua tiến trình lịch sử, do cư trú phân tán và hạn chế sự giao lưugiữa các vùng miền, trước đây đã hình thành nên nhiều nhóm M’nông ở các

Trang 13

địa phương khác nhau Những nhóm địa phương này mặc dù có nền tảngchung về văn hóa tộc người nhưng đồng thời vẫn mang những nét riêng độcđáo Điều đó tạo nên sự đa dạng nhưng thống nhất trong văn hóa của cộngđồng tộc người này.

Về địa bàn cư trú, dân tộc M’nông sinh sống trên vùng rộng lớn ở phíaTây Cao Nguyên Đà Lạt và phía Nam Cao Nguyên Đăk Lăk, được ngăn cáchbởi sông Krông Nô Nơi đây được gọi là Cao nguyên M’nông Trong suốt haicuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ xâm lược của dân tộc ta, dân tộcM’nông đã luôn đoàn kết, anh dũng chống lại sự áp bức, bóc lột của giặcngoại xâm đóng góp nhiều công sức cho cách mạng

Trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của các tỉnh Tây Nguyên,cộng đồng dân tộc M’nông có một vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng Cuộcsống du canh, du cư, nay đây mai đó đã dần được thay thế bằng những làngđịnh cư Những năm gần đây, đời sống kinh tế, văn hóa của người M’nôngkhông ngừng được cải thiện Những tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan hầu hết đãđược bãi bỏ, những nét văn hóa truyền thống tốt đẹp phát huy trong đời sốngcộng đồng người M’nông Hiện nay, đồng bào người M’nông đang cùng các dântộc anh em khác ở địa phương cùng nhau đoàn kết xây dựng bon làng hòa nhịpchung vào một quốc gia thống nhất, phát triển và đậm đà bản sắc dân tộc

1.1.2 Văn hóa truyền thống dân tộc M’nông

Văn hóa kinh tế

Người M’nông có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống mang tính chất

tự cung tự cấp Trước đây, hoạt động sản xuất của đồng bào ở đây chủ yếu làtrồng lúa rẫy và các loại hoa màu như ngô, khoai, đậu Bên cạnh đó họ còntận dụng khai thác nguồn thức ăn từ mẹ thiên nhiên trao tặng như săn bắn cácđộng vật hoang dã, đánh bắt cá, mò cua, bắt ốc và hái lượm các loại rau rừng

để phục vụ cho các bữa ăn hằng ngày Kỹ thuật canh tác còn khá là thô sơ,

Trang 14

chủ yếu là đốt, phát nương rẫy, chọc lỗ tra hạt Nông cụ của người M’nôngkhá là phong phú như dao rừng dùng để phát cỏ, đốn cây; cuốc xới đất, gậytrọc lỗ tra hạt có đầu bịt sắt, hạt giống đựng trong lồ ô, trái bầu khô Họ làm

cỏ bằng vằng và cào, cắt lúa bằng liềm cho vào giỏ rồi dùng gùi chứa mang

về nhà Kho nông sản thường để ở nhà,trong sân hay lán trên nương

Bữa ăn hằng ngày của người M’nông là cơm tẻ nấu trong nồi đất Thức

ăn thường được tận dụng từ nguồn thiên nhiên sẵn có Người M’nông có thóiquen ăn bằng tay, bốc là chủ yếu Ngày nay, họ đã dần sử dụng bát, đũa và chếbiến thức ăn phong phú hơn Nước uống được đựng trong quả bầu khô Cũngnhư các dân tộc khác ở Tây Nguyên, rượu cần là thứ không thể thiếu đối vớingười M’nông Già trẻ, gái trai ai cũng thích uống rượu cần Bên cạnh đó, rượucần còn được dùng trong các buổi lễ cúng, khấn thần và mời khách quý

Về trang phục truyền thống của người M’nông không khác biệt mấy sovới trang phục của người Êđê Phụ nữ M’nông thường tự dệt vải để may trangphục cho mình và gia đình Trang phục của người phụ nữ khá là đơn giản Họthường mặc váy chui đầu Quanh gấu áo, cổ áo, tay áo họ thường thêu hoavăn và chạy bằng những đường chỉ đỏ dài Trong những dịp đặc biệt, phụ nữM’nông mặc những chiếc váy có hoa văn mảng rộng chạy quanh váy áo Đànông thì thường đóng khố (troi), mặc áo có tua, vạt sau và hai bên vạt áo trước

có thêu chỉ đỏ Hiện nay, trang phục của đàn ông M’nông cũng giống nhưngười Kinh

Ngày nay, địa bàn cư trú của người M’nông chủ yếu là trên đất bazan –loại đất có màu nâu đỏ rất thích hợp với việc trồng cây có giá trị kinh tế caonhư cà phê, hồ tiêu, chè Địa hình ở Tây Nguyên chủ yếu là đồi núi và cáctriền dốc nên người M’nông thường canh tác ở trên đồi, bìa rừng, ven suối Hình thức trồng xen canh ở đây khá là phổ biến Cây ngắn ngày thường đượctrồng xen với cây dài ngày, lấy ngắn nuôi dài như đậu, bắp, mì trồng xen với

Trang 15

cà phê, tiêu, điều Hoặc cây ngắn ngày trồng xen với nhau như trồng xen lúavới bắp, khoai, bí Cùng với sự phát triển của thời đại, người M’nông pháttriển kinh tế nông nghiệp hộ gia đình theo hình thức gắn kết giữa tự cung tựcấp và sản xuất hàng hóa bằng việc trồng các loại cây nông nghiệp mang lạigiá trị cao như cà phê, hồ tiêu, điều

Một số ngành như nghề thủ công cũng đạt tới trình độ tinh tế như dệtthổ cẩm, thêu nhuộm hoa văn trên vải với những đường nét hoa văn tinh tế

và màu sắc hấp dẫn, được thể hiện qua đôi bàn tay khéo léo của người phụ nữ.Thổ cẩm của người M’nông là một trong những sản phẩm độc đáo của nềnvăn hoá đa dạng, phong phú thuộc vùng đất Tây Nguyên hùng vĩ

Bất cứ cô gái M’nông nào khi lớn lên đều được mẹ bày cho cách dệtvải để không chỉ dệt cho mình những bộ váy đẹp mà cho cả gia đình sau này.Những bộ váy đẹp nhất được dành cho những ngày lễ hội, cưới xin khi dânlàng tụ họp vui vẻ trong tiếng cồng chiêng Theo quan niệm của ngườiM’nông, nền vải màu đen là đặc trưng cho đất đai mà cả cuộc đời họ gắn bó.Màu đỏ biểu tượng cho sự đam mê, cho sự vươn lên, cho những khát vọng,tình yêu Màu xanh là màu của đất trời, cây lá Màu vàng là màu của ánhsáng, là kết hợp hài hòa giữa con người với thiên nhiên

Nghề đan lát chủ yếu sử dụng nguyên liệu từ tre, nứa, lồ ô, mây để đannên những chiêc gùi, rổ, rá, giỏ, thúng, mủng Từ những nguyên liệu mây,tre, nứa thô sơ, nhưng với bàn tay khéo léo của mình, những người thợ đã cho

ra đời nhiều loại vật dụng dùng trong sinh hoạt, sản xuất, phục vụ cộng đồng.Đặc biệt, họ có thể đan rất nhiều loại gùi, phù hợp với từng lứa tuổi, vớinhững công dụng và kiểu dáng khác nhau như: gùi vận chuyển lúa, gùi củi,gùi dành cho trẻ em Để tạo sức hấp dẫn cho mỗi sản phẩm, người M’nông

lên rừng tìm lá cây trum về giã nhuyễn để ngâm, tạo màu sắc (chủ yếu là màu

đen) cho những ống tre nứa, cây mây, đây là cách nhuộm tre nứa cổ truyền

Trang 16

của đồng bào M’nông với họa tiết cầu kì, đa dạng và rất đặc sắc, mang đậmdấu ấn của dân tộc của họ.

Ngoài ra, người M’nông còn phổ biến nghề rèn để tạo ra công cụ sảnxuất, sửa chữa hoặc cải tiến nông cụ Với các lò rèn ở đây, các sản phẩmđược tạo ra hoàn toàn thủ công; từ khâu cắt sắt, tạo hình, quai búa, làm taycầm hầu như tất cả đều chỉ bằng tay Nhưng chính vì thế mà những sản phẩm

ở đây làm ra có độ tinh xảo và bền hơn Chính vì làm thủ công nên đáp ứngđược mọi nhu cầu của người dân, từ làm mới các sản phẩm đến sửa chữanhững đồ dùng cũ bị hỏng hóc Nghề rèn là nghề đòi hỏi người thợ phải cósức khỏe, sự khéo léo, cũng như sự kiên trì và sáng tạo mới có thể cho ra lònhững sản phẩm tinh xảo vừa có giá trị làm vật dụng vừa thể hiện bản sắc vănhóa truyền thống độc đáo riêng của dân tộc M’nông

Trong các dân tộc ở Tây Nguyên, người M’nông nổi tiếng có nghề săn bắt

và thuần dưỡng voi rừng Đối với họ, voi không chỉ là một tài sản lớn của giađình, mà có vị trí quan trong đời sống vật chất, văn hoá tinh thần Voi được coi

như một thành viên trong cộng đồng Hình ảnh của voi được thuần dưỡng hiện

diện trong mọi sinh hoạt đời sống của con người ở đây Voi cùng bà con đi nương

rẫy, voi chở lúa gạo, kéo gỗ, giúp dân làm nhà… Bởi vậy mọi việc diễn ra xung

quanh đời sống của voi đều tuân theo tục lệ truyền thống của người M’Nông

Đến nay, đồng bào M’nông ở Buôn Đôn và tỉnh Đắc Lắk vẫn duy trì

việc thuần dưỡng voi Đối với người M’nông, voi ngoài giá trị vật chất, còn

có giá trị tinh thần, văn hoá mang tính tâm linh Đến Tây Nguyên hàng nămvào mùa mưa, người ta cúng cho voi, báo cho voi biết rằng trời đất bắt đầuchuyển mùa, nguồn cung cấp thức ăn bắt đầu dồi dào, sinh trưởng Còn vàocuối mùa mưa, đầu mùa khô, thì những tộc người M’nông cũng làm lễ cúngbáo cho voi biết rằng vào mùa khô thức ăn trong tự nhiên cạn, làm thế nhưđộng viên cho voi cố găng vượt khó khăn để tồn tại chờ mùa mưa đến Người

Trang 17

M’nông đồng hành với voi cả trong công việc cũng như các dịp lễ hội, thậm

chí chia sẻ cả vật chất mà gia đình có được

Văn hóa xã hội

Bon là tổ chức xã hội truyền thống của người M’nông Một bon nhỏ cókhoảng 20 đến 30 nóc nhà, bon lớn có thể đến 50 nóc nhà Thành viên củabon có thể là một hay nhiều dòng họ Đứng đầu là Bu ranh bon (Chủ bon)đứng ra giải quyết các công việc của bon Ngày nay, tham gia điều hành hoạtđộng của bon còn có già làng, thôn trưởng và các tổ chức, đoàn thể

Gia đình truyền thống và hiện nay vẫn theo chế độ mẫu hệ Người mẹ

có vai trò quan trọng trong điều hành mọi hoạt động của gia đình cũng nhưứng xử trong xã hội Chị em gái cùng anh em bên gia đình mẹ là những người

có quyền trực tiếp việc cưới chồng, cưới vợ cho con cái trong gia đình Việcchia tải sản do bên người mẹ quyết định Tài sản thừa kế thường được phânchia nhiều hơn cho người con gái út

Tuy rằng theo chế độ mẫu hệ, nhưng người M’nông vẫn phải đi hỏi vàcưới vợ Điều kiện lấy vợ là hai người phải khác huyết thống, hoặc có thểcùng nhưng phải cách ít nhất một đời trở lên Sau khi cưới hai người ở bênnhà chồng khoảng một tuần rồi chuyển hẳn sang nhà bên vợ Trong hôn nhân,tình trạng nối dây (ntrôk) cũng có nhưng không mang tính bắt buộc như tụcnối dây (chuê nuê) của người Êđê Tên riêng của mỗi người thường được đặtlại theo một người gần gũi trong họ mẹ đã khuất Vai trò của người vợ, người

mẹ trong gia đình M’nông được đề cao Đó là những người được tiến hànhcác nghi lễ, tế lễ quan trọng trong gia đình

Người M’nông thường cư trú trên những vùng đất tương đối bằngphẳng, nơi thung lũng có nhiều sông suối và hồ nước Chung quanh được baobởi núi rừng hùng vĩ Cuộc sống trước đây của người M’nông chủ yếu là dựa

Trang 18

vào rừng Trải qua bao thế hệ, người M’nông sống chết gắn bó với rừng, trởthành người bạn đồng hành không thể thiếu với cộng đồng tộc người này.

Người M’nông có hai hình thức kiến trúc nhà chính đó là nhà sàn vànhà trệt Những nhóm sống ở địa hình núi cao, triền dốc, làm nương rẫy nhưM’nông Gar, M’nông Nong, M’nông Prâng, M’nông Preh làm nhà trệt Cònlại những nhóm khác sống ở vùng thấp như thung lũng, làm lúa nước là chínhnhư M’nông Rlâm, M’nông Chil, M’nông Kuênh thì lại làm nhà sàn giốngkiểu của người Êđê Cả hai kiểu nhà đều có kết cấu đơn giản và chia làm haiphần rõ rệt: phần trước dùng để tiếp khách, phần sau dùng để ăn uống, nghỉngơi và các sinh hoạt phụ khác Hai đầu của ngôi nhà có cửa ra vào và lối lênxuống Theo các nhà dân tộc học, họ cho rằng các nhóm người M’nông ở nhàsàn vốn đã từng ở nhà trệt, sau mới chuyển sang xây dựng nhà sàn Do vậy, cóthể nói kiến trúc nhà trệt là kiến trúc đặc trưng nhất của người M’nông

Trong ngôi nhà của người M’nông chưa được trang trí gì nhiều Đáng

kể nhất là việc trang trí cột kho lúa theo kiểu “chày cối” Ngoài ra, họ cũng

chú ý đến việc trang trí mái của hình vòm sao cho tròn đều, rìa mái hơi vểnhlên, không chỉ có giá trị thẩm mỹ mà còn tránh được mưa, nắng

Vào những dịp lễ như Tết mừng lúa mới, người M’nông sẽ trang trí kho lúa

bằng những chiếc que vót nhành nhiều cành in hình bông lúa Theo quan niệm dângian, người M’nông cho rằng đó là những thứ hấp dẫn, lưu hồn lúa ở trong kho

Luật tục M’nông đề cao sự hòa giải song cũng có một hệ thống khá phongphú về các quy định hình phạt từ nhẹ đến nặng Tùy theo mức độ vi phạm màngười bị phạt có thể phải đền bằng các tài sản như nô lệ, chiêng ché, voi hay đơngiản hơn là thực hiện các nghi lễ có dâng cúng heo, gà…Luật tục là tập quánpháp sơ khai trên cơ sở nền tảng của phong tục, tập quán Giống như các tộcngười khác trong khu vực, việc xử phạt của đồng bào M’nông luôn tôn trọngchứng cứ và được thực hiện một cách chặt chẽ Luật tục bao quát toàn diện đời

Trang 19

sống con người và cộng đồng Ngày nay, bên cạnh luật pháp của Nhà nước thìluật tục vẫn tồn tại, phát huy vai trò trong đời sống của người dân.

Những nghi lễ, phong tục, tập quán của người M’nông đều liên quanđến việc cầu khấn thần linh Từ niềm tin, tín ngưỡng đa thần, đồng bào cónhiều hình thức kiêng cữ phức tạp và nhiều nghi lễ, cúng bái, ngưỡng vọngthần linh, cầu mong giúp đỡ cho cuộc sống của con người, cộng đồng Hệthống nghi lễ của dân tộc M’nông phản ánh rõ thế giới quan sơ khai về thiênnhiên và xã hội Lễ nghi liên quan đến con người diễn ra theo chu kỳ vòng đờingười, từ khi mang thai, sinh ra, lớn lên, trưởng thành, về già cho đến khi từgiã cuộc đời Lễ hội vòng đời người mang tính nhân văn cao đẹp, đặc biệt là

lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ chúc phúc, lễ mừng thọ… Trong lễ cưới, hai bêngia đình nam nữ phải tổ chức kể gia phả (ro giao) để tránh trường hợp lấynhau cận huyết thống

Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề canh tác nương rẫy, trồng lúanên lễ hội nông nghiệp cũng bám theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa rẫy.Những nghi lễ cúng bái, xin phép thần linh trong phát rẫy, tra hạt, gieo trồng,cầu mong cây lúa lên tốt tươi, trổ đòng chắc hạt, trĩu bông cho vụ mùa bộithu Họ tin rằng nhờ cúng bái nên thần lúa, mẹ lúa phù hộ, chẳng những cholúa gạo, hoa màu để ăn mà còn mang đến sự bình an, khỏe mạnh cho gia đình

Lễ đâm trâu của đồng bào M’nông nói riêng và của đồng bào các dântộc Tây Nguyên nói chung là một lễ hội truyền thống được lưu truyền từ đờinày sang đời khác Lễ hội mang đậm màu sắc phong tục, tín ngưỡng của đồngbào dân tộc M’nông – xuất phát từ niềm tin vào thế giới thần linh Con ngườimuốn nhờ vào các vị thần che chở, tha thứ thì phải có vật tế thần và con trâuchính là con vật quý giá để hiến tế thần linh Đến nay, ở nhiều nơi đồng bàocác dân tộc Tây nguyên vẫn giữ nguyên tục lệ này Và lễ hội đâm trâu trong

sử thi M’nông được nhắc tới như một nét văn hóa đầy tự hào: “Bon Tiăng ăn

Trang 20

trâu không sót một năm/ Bon yang ăn trâu không sót một năm/ Dựng cây nêu không thiếu một tháng/ Tiếng Tiăng, Yang vang khắp nơi/ Con cá sấu dưới nước cũng phải khen/ Dù có núp trong ống mọi người cũng biết.”

Ngoài ra, còn nhiều loại lễ hội khác như: Lễ hội kết bon, lễ hội kếtnghĩa anh em, lễ hội cầu mưa, lễ hội xuống giống Mỗi lễ hội đều có mangmột ý nghĩa riêng thể hiện bản sắc độc đáo của cộng đồng dân tộc M’nông

* Văn hóa tinh th n ầ

Về tín ngưỡng dân gian: Tín ngưỡng của người M’nông là tín ngưỡng

vạn vật hữu linh Xưa kia, người M’nông cũng như các dân tộc khác sốngtrong môi trường thiên nhiên hùng vĩ, trình độ sản xuất thô sơ, lạc hậu Họkhông lý giải được những điều bí ẩn trong cuộc sống Chính vì vậy, họ thầnthánh hóa các thế lực siêu nhiên Đây chính là tiền đề để lí giải những quanniệm về trời, thần và con người của dân tộc M’nông Họ cho rằng vũ trụ rộnglớn được chia thành ba tầng: tầng trời (nklang trôk), tầng đất (nklang neh) vàtầng âm phủ (nklang bri phan) Mỗi tầng đều có các vị thần chia nhau trú ngụ

và cai quản Con người và thần linh có mối liên hệ mật thiết và bình đẳng vớinhau Ngoài các vị thần thiện thì cũng tồn tại những vị thần ác Thần thiện tìmcách giúp đỡ con người thì các vị thần ác lại tìm mọi cách để hãm hại conngười Cộng đồng người M’nông cúng cả hai loại thần này với hi vọng có thểnhận được sự giúp đỡ và tránh gặp xui xẻo

Ngoài ra, người M’nông còn tin rằng có một lực lượng siêu hình ghêgớm là hồn ngải Hồn ngải tồn tại trong một loại củ được gọi là củ ngải, cósức mạnh và khả năng sai khiến, gieo rắc bệnh tật, chết chóc cho con người.Cùng với bùa ngải, ma lai cũng được coi là một thế lực đáng sợ, một dạngquỷ đội dưới lốt là con người Chúng trà trộn và hãm hại con người

Trang 21

Quan niệm về thần linh, bùa ngải, ma lai, phù thủy đã chi phối mạnh tớiđời sống tâm linh của người M’nông Chính vì kiêng sợ trước những thế lực

đó mà dần hình thành nên những lễ tế cúng thần rất phong phú và đa dạng

Về nghệ thuật dân gian: Tây Nguyên là vùng đất hội tụ và giao thoa

của văn hóa nghệ thuật trong đó có người M’nông Nơi đây còn lưu giữ nhiềuthành tố văn hóa tinh thần đặc trưng thể hiện qua dân ca, truyện cổ, truyềnthuyết, truyện cổ tích, sử thi, sinh hoạt cồng chiêng, các điệu múa dân gian Nội dung các hình thức nghệ thuật gắn liền với đời sống muôn vàn biến độngcủa cộng đồng, kết tinh nhiều giá trị nghệ thuật, lối diễn đạt sinh động, nhiềumàu sắc

Trong quá trình sinh sống và phát triển, người M’nông đã sáng tạo ramột hệ thống âm nhạc phong phú với nhiều loại nhạc cụ độc đáo Mỗi loạinhạc cụ đều được chế tác bằng những chất liệu riêng biệt, có hình dáng, âmthanh khác nhau nên được sử dụng trong nhiều trường hợp cũng khác nhau

Âm nhạc dân gian chứa đựng tâm tư, tình cảm của con người với ước vọng vềtương lai tươi sáng hơn

Với người M’nông, âm nhạc vừa là phương tiện bồi bổ đời sống tinh

thần vừa là “cầu nối” giữa con người với thế giới thần linh Mỗi loại nhạc cụ

đều có một vị thần trú ngụ nên việc chơi và chế tạo nhạc cụ cũng tuân theomột số quy định riêng biệt Điều dễ nhận thấy nhất là nhạc cụ của ngườiM’nông tuy thô sơ, được chế tạo từ những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiênnhư đá, tre nứa, lồ ô nhưng không kém phần phong phú về chủng loại

Với người M’nông, cồng chiêng là nhạc cụ thiêng,“linh hồn” của dân

tộc nên chỉ được sử dụng trong lễ hội lớn của cộng đồng như lễ mừng lúa

mới, lễ sum họp cộng đồng, lễ kết nghĩa Tiếng chiêng là “linh hồn” làm

nên buổi lễ, là phương tiện giúp con người giao tiếp, thỉnh cầu thần linhchứng giám lòng thành và ban cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, bội

Trang 22

thu… Mỗi khi tiếng chiêng ngân lên thì mọi người lại tề tựu đông đủ để cùngnhau chung vui với các sự kiện của bon làng.

Bên cạnh đó, nghệ thuật điêu khắc, trạm trổ của người M’nông cũnghết sức đa dạng và mang giá trị nghệ thuật cao Các sản phẩm văn hóa dângian này chính là kết tinh của sự thông minh và khéo léo, sáng tạo khôngngừng của cộng đồng dân tộc này

1.2 Một số đặc điểm văn học dân gian M’nông

Xuất hiện từ rất sớm, văn học dân gian M’nông đã mang đến cho chúng

ta những hiểu biết vô cùng lớn lao và phong phú về sự hình thành và pháttriển của cộng đồng dân tộc này Những nghệ nhân dân gian đã dựng lại bứctranh toàn cảnh về mối quan hệ của con người trong xã hội, mối quan hệ củacon người với tự nhiên và mối quan hệ của con người với con người Theo

Đỗ Hồng Kỳ: “M’nông cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên còn ở

trình độ phát triển trong giai đoạn tiền Nhà nước và tiền chữ viết nên toàn bộ nền văn hóa cơ bản là nền văn hóa dân gian”[90, 107] Tộc người M’nông đã

sáng tạo và lưu truyền lại một kho tàng văn học dân gian quý giá bao gồmnhững truyện thần thoại, cổ tích, sử thi, tục ngữ, ca dao, dân ca

Quá trình lao động động sản xuất, sinh hoạt cộng đồng, văn học dân gian M’nông lưu truyền qua hình thức truyền miệng và diễn xướng trong lễ hội Môi trường sinh hoạt tập thể tạo điều kiện cho văn học dân gian tồn tại như hát sử thi, kể truyện cổ, hát dân ca, kể truyện gia phả Ở đó, mọi người

có thể tham dự một cách hào hứng, sinh động tạo điều kiện cho loại hình văn học này hình thành, bổ sung, hoàn thiện và lưu truyền từ thế hệ này sang thế

hệ khác trong cộng đồng người M’nông

Bên cạnh đó, văn học dân gian M’nông mang tính cộng đồng khá cao.Trong môi trường sinh hoạt văn hóa cộng đồng, văn hóa dân gian luôn đóngvai trò trung tâm, thu hút tất cả mọi người cùng tham gia, không phân biệt đó

Trang 23

là người có chức có quyền hay là người bình thường, càng không phân biệt đó

là người sáng tác hay là người hưởng thụ tác phẩm Trong sinh hoạt văn hóacộng đồng dù đó là việc của một cá nhân hay của cả bon làng thì tất cả mọingười đều phải chung sức, cùng nhau tổ chức, góp rượu thịt để tổ chức Đôikhi cũng trong quá trình hát đối đáp, cùng lúc nhiều người vừa trình diễn vừa

có thể sáng tác ngay tại chỗ Trong thời gian hát kể sử thi, nghệ nhân cùngngười nghe cùng hòa mình chung vào cảm xúc của câu chuyện Không gian

hát kể sử thi trở thành “thế giới riêng” không chỉ người kể mà còn cả người

nghe Mọi người đều tin rằng những điều kể trong truyện là quá khứ của dântộc mình Các nghệ nhân trong lúc diễn xướng sử dụng và kết hợp nhuầnnhuyễn cùng lúc nhiều yếu tố: Ngôn ngữ (lời hát) + nhạc (hát) + cử chỉ, điệu

bộ, nét mặt Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh:“Trong các loại hình dân

ca khác của người M’nông cũng diễn ra quá trình tương tự như vậy Đó chính là tính “tổng thể nguyên hợp” một đặc trưng tiêu biểu trong văn hóa dân gian M’nông, chính điều này “đã thể hiện tương đối nguyên vẹn đặc trưng tiêu biểu ấy Văn hóa dân tộc này phản hợp từ nhiều yếu tố: từ thần thoại, truyện cổ, luật tục, sử thi, lời nói vần đến các hình thức dân ca ” [90,

112]

Văn hóa dân gian cũng như văn học dân gian rất đỗi gần gũi với đờisống sinh hoạt thường ngày của con người Tính truyền miệng và tính cộngđồng là một trong những đặc điểm cơ bản, chi phối xuyên suốt trong quá trìnhsáng tác và lưu truyền Những tác phẩm văn học dân gian M’nông thể hiện sựgắn bó chặt chẽ của văn học dân gian với sinh hoạt văn hóa khác trong đờisống cộng đồng

Ngoài những đặc điểm trên, chúng tôi cũng như các nhà nghiên cứu đitrước đều khẳng định rằng văn học dân gian M’nông là một kho tàng tri thứcdân gian vô cùng phong phú về mọi mặt Đó là quan hệ ứng xử giữa con

Trang 24

người với con người (quan hệ giữa cha mẹ - con cái, anh chị - em, vợ chồngtrong gia đình, rộng hơn là mối quan hệ trong dòng họ, bon làng ), giữa conngười với tự nhiên (kinh nghiệm lao động sản xuất trồng tỉa, kinh nghiệm sănbắn, hái lượm ) Văn học dân gian M’nông còn thể hiện tri thức về đời sốngtinh thần (văn hóa, lễ hội, phong tục, tập quán ), về đời sống vật chất (ăn, ở,mặc, trang trí ), về tính cách, lối sống, phẩm chất con người Các tri thứcnày tạo nên các loại hình văn học dân gian và nhanh chóng xâm nhập vào mọimặt của đời sống cộng đồng Tuy nhiên, những hiểu biết này còn có nhữnghạn chế nhất định về mặt khoa học, song có những nhân tố phản ánh cuộcsống đã qua và trở thành những kinh nghiệm có giá trị trong cuộc sống tinhthần cũng như vật chất của tộc người M’nông.

Văn học góp sức mình vào nền văn hóa của người M’nông, mang tínhnhân văn, giáo dục rất lớn Chính điều này làm cho con người sống trong xãhội đó có ý thức tránh nhiệm với bon làng về việc bảo vệ cộng đồng, xâydựng, phát triển gia tộc, đấu tranh chống lại các biểu hiện, hay những người

có tư tưởng xấu muốn phá hoại bon làng Các tác phẩm sử thi, truyện cổ haythần thoại đều hướng đến mục đích cao cả, cùng đưa bon làng đến với ước mơcuộc sống tốt đẹp, bon làng giàu mạnh, mọi người đoàn kết một lòng

Không chỉ vậy, các thể loại văn học dân gian còn mang ý nghĩa khác,với mong muốn con người hình thành nên nhân cách sống, đạo đức, lối sốngcủa con người trong cộng đồng Ngoài giáo dục, răn dạy, văn học dân giancòn có giá trị thẩm mỹ cao Nghệ thuật phong phú mang đậm dấu ấn truyềnthống, từ nội dung tác phẩm, ngôn ngữ sử dụng, cách thức biểu đạt hay diễnđạt, tạo dựng nhân vật, các đề tài khác nhau đó là điều đặc biệt của văn họcdân gian M’nông

Ngoài ra, văn học dân gian M’nông đã góp phần giáo dục con người vềtrách nhiệm xây dựng và bảo vệ cộng đồng, gia tộc, đấu tranh chống lại sự

Trang 25

xâm chiếm và cướp phá của các thế lực thù địch Những câu truyện cổ,những tác phẩm sử thi, truyền thuyết, cổ tích, ca dao, tục ngữ vừa mang ýnghĩa giáo dục con người, vừa là sự đúc kết kinh nghiệm chiến đấu và sảnxuất của tổ tiên để lại Văn học dân gian hướng con người tới cuộc sống tốtđẹp và hành động cao cả, từ đó hình thành nên đạo đức và nhân cách conngười Văn học dân gian chứa đựng nhiều yếu tố nghệ thuật truyền thốngdân tộc, từ cách xây dựng hình ảnh, cốt truyện, đề tài, nhân vật Đó là sựsáng tạo vô cùng quý giá của các thế hệ nghệ nhân dân gian M'nông Họ đãlàm nên bản sắc văn hóa đặc thù để phục vụ đời sống tinh thần và được lưutruyền theo thời gian Có thể nói rằng, văn hóa dân gian M’nông rất phong phú

và đa dạng đã hiện diện trên khắp các mặt của đời sống xã hội truyền thống vàđương đại, là một giá trị văn hóa vô giá cần phải bảo tồn và phát huy giá trị

Văn học dân gian M’nông có nhiều thể loại khác như: thần thoại,truyền thuyết, cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, dân ca, văn vần Văn học dân gian M’nông đã phát triển mạnh mẽ, hội tụ đầy đủ các yếu tố củamột nền văn học dân gian điển hình Đặc biệt, trong các thể loại đó phải kểđến các tác phẩm sử thi đồ sộ trường thiên của dân tộc này

1.3 Sử thi - thể loại tiêu biểu trong văn học dân gian dân tộc M’nông

Sử thi M’nông có nhiều cách gọi khác nhau như ot ndrong hay ot

n’rong, nhưng trong luận văn nghiên cứu này chúng tôi chọn theo cách gọi otn’rong theo nhà nghiên cứu Đỗ Hồng Kỳ Đây được xem thể loại đặc trưng vàphong phú về cả mặt số lượng tác phẩm cũng như về phương thức thể hiện

của người M’nông Nhiều công trình sưu tầm sử ot n’rong như: Sử thi cổ sơ

M'nông,Cây nêu thần, Mùa rẫy bon Tiăng, Sử thi thần thoại M'nông, Kể dòng con cháu mẹ Chếp, Cướp chiêng cổ bon Tiăng, Lêng nghịch đá thần của Yang, Bắt con lươn ở suối Dak Huch, Con đỉa nuốt bon Tiăng, Cướp chăn

Trang 26

lêng của Jrêng, Lêng con Ôt, Kră, Năng cướp Bing, Kông con Lông, Lấy hoa bạc, hoa đồng, Thuốc cá ở hồ Bầu Trời, Mặt Trăng, Yơng, Yang lấy ống bạc tượng người, Tiăng cướp Djăn, Dje, Tiăng lấy gươm tự chém, Tiăng lấy lại ché rlung chim phượng hoàng ở bon Kla, và nhiều tác phẩm khác được

chúng tôi đề cập ở mục Tài liệu tham khảo

Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, sử thi ra đời từ cuộcsống, quá trình lao động sản xuất cộng đồng Sử thi gắn liền với ngườiM’nông, thể hiện mong ước, khát vọng lớn lao Người M’nông gọi sử thi

là “ot n’rong”, là “dòng thơ” trường thiên, tự sự và được coi là bộ “bách

khoa toàn thư” của người M’nông Sử thi phản ánh khát vọng, ước mơ vươn

tới một cuộc sống hạnh phúc, ấm no, thịnh vượng, thanh bình của tộc ngườinày Ot n’rong là thể loại tác phẩm tự sự, được lưu truyền theo phương thứctruyền miệng, một hình thức hát kể các câu chuyện xa xưa của dân tộc Đâyđược xem là thể loại văn học đồ sộ nhất của dân tộc M’nông, lưu giữ chứađựng nhiều mặt tri thức của dân tộc Ot n’rong lấy các nhân vật trong thế giới

ba tầng làm trung tâm cho cốt truyện, tiêu biểu là hệ thống các nhân vật anhhùng văn hóa, anh hùng chiến trận

Những ot n’rong của người M’nông thuộc loại sử thi thần thoại, ra đờitrong thời kỳ đã hình thành nhà nước, còn sử thi cổ sơ M’nông về cơ bản rađời vào giai đoạn tiền giai cấp, tiền nhà nước Đó là thời kỳ xã hội thị tộc và

bộ lạc, chưa hình thành giai cấp, đặc tính xã hội mẫu hệ còn hưng thịnh Trảiqua quá trình lịch sử lâu đời không thể tránh khỏi những xung đột, tranh chấpgiữa các bon và giữa các thủ lĩnh Đó là điều kiện xã hội để sử thi M’nôngphản ánh cuộc sống và ước mơ chinh phục tự nhiên của con người, chiếntranh và người anh hùng.Trải qua hàng thế kỷ, ot n’rong được xem là thể loạigắn bó mật thiết với người M’nông hơn cả Ot n’rong được tạo dựng từ hàngnghìn câu văn có vần điệu, một thể loại văn học truyền miệng qua lời kể của

Trang 27

các nghệ nhân, với những câu chuyện đậm nét thần thoại về các hiện tượng tựnhiên, nhân vật lịch sử tiêu biểu của dân tộc, về vũ trụ quan, về đời sống vậtchất và tinh thần Những câu chuyện đó đứng tương đối độc lập nhưng liên

kết lại với nhau theo kiểu liên hoàn “Sử thi M’nông phản ánh vừa chân thực

vừa hư ảo những hoạt động của xã hội thị tộc, bộ lạc Nó là kết quả của sự kết hợp và nâng cao những câu chuyện thần thoại lại với nhau Những câu truyện thần thoại đó được bổ sung thêm nhiều câu dân ca nghi lễ - phong tục, sinh hoạt, các câu tục ngữ về những hiện tượng tự nhiên và xã hội Sử thi M’nông là sự tổng hòa một cách nguyên hợp các thủ pháp nghệ thuật của văn học nghệ thuật dân gian với các hình thái khác của ý thức xã hội như triết học suy nguyên, tôn giáo nguyên thủy dưới dạng ma thuật”[47, 192]

Sự hình thành sử thi M’nông trải qua một qúa trình lâu dài cũng như sựhình thành sử thi của các dân tộc trên thế giới, mà công đầu tiên và lớn nhấtphải kể đến hoạt động sáng tạo của nghệ nhân sử thi Đặc biệt, trong hát kể sửthi M’nông có hát cúng thần, hát khóc và phổ biến nhất là hát nói dân gian.Người M’nông cho rằng, người có tài diễn xướng sử thi là người được thầnlinh (Yàng) ban cho cái môi, cái miệng để hát kể sử thi cho con cháu nghe.Khi hát kể, nghệ nhân thể hiện cảm xúc của mình ngay trên nét mặt, cử chỉ,điệu bộ để thể hiện tính cách của nhân vật một cách hiệu quả nhất Hầu hết

các nghệ nhân hát kể sử thi đều là những người có thể “nhập thân” vào các

nhân vật Vì vậy, nghệ nhân hát kể sử thi phải là một người thông minh, có trínhớ tốt, trí tưởng tượng phong phú Khi biểu diễn là lúc nghệ nhân sống trongmột thế giới riêng biệt, tùy theo từng nội dung, cảm hứng thẩm mỹ của mình

mà trình bày tiết tấu, âm điệu phù hợp

Ở đây, nghệ nhân hát kể sử thi được coi là “báu vật sống” của dân tộc,

một nghệ sỹ tổng hợp, vừa là người sáng tạo tác phẩm, đạo diễn các tìnhhuống, vừa là diễn viên tài năng có thể diễn giọng nữ, giọng nam, giọng con

Trang 28

quỷ, giọng thần tiên Nghệ nhân hát kể ot n’rong được coi là những người cótrí nhớ rất tốt và có niềm đam mê không ngừng với sử thi dân tộc mình Họ cóthể thuộc đến hàng ngàn câu ot n’rong trong trí nhớ của mình mà không cầnphải ghi chép Tuy không phải là những nghệ nhân chuyên nghiệp nhưng họdiễn xướng theo nhu cầu thưởng thức của cộng đồng và xuất phát từ niềmđam mê của bản thân Những nghệ nhân hát kể ot n’rong chính là những

người giữ “hồn thiêng”, nét văn hóa truyền thống riêng của cộng đồng dân

tộc M’nông

Bên cạnh đó, hát kể sử thi mang tính cộng đồng rất lớn, thường diễn ratrong không gian tĩnh lặng của nhà trệt hay khung cảnh náo nhiệt của lễ hội.Mỗi khi giọng nghệ nhân hát kể sử thi cất lên thì mọi người lại quây quần bênnhau để được nghe và đắm chìm vào thế giới đầy huyền bí Môi trường diễnxướng trong ot n’rong rất phong phú, không chỉ trong các dịp lễ hội, sinh hoạtchung của cộng đồng mà còn ở cả những buổi đi nương rẫy, đi rừng Hát kểchính là con đường ngắn nhất để cho ot n’rong tồn tại và đi vào trong cuộcsống của cộng đồng Do đó, diễn xướng sử thi đã trở thành một nhu cầu vănhóa không thể thiếu trong đời sống tinh thần của dân tộc M’nông

Không gian diễn xướng sử thi M’nông là không gian lễ hội Trong lễhội, không khí cộng đồng rất phù hợp cho việc diễn xướng sử thi Bởi chủ đềchính của sử thi là những con người kỳ vĩ, những anh hùng văn hóa của dântộc được nhân dân sùng bái như Tiăng, những anh hùng chiến trận như Lêng,Mbong Họ là niềm tự hào của dân tộc M’nông, điều đó ăn sâu vào tâm thứccủa mọi người dân Lễ hội hội tụ đầy đủ mọi điều kiện về không gian, thờigian, vật chất, tinh thần của người tham dự và đó cũng là những yếu tố vôcùng quan trọng cho diễn xướng sử thi Khi nói về sử thi dân tộc mình, đồng

bào M’nông đã nói: “Càng nghe càng thích, nghe từ sáng đế tối không chán,

có khi mải nghe quên cả ăn, nghe từ chập tối cho đến lúc gà gáy sáng cũng

Trang 29

chưa buồn ngủ” Trong thời điểm này không gian trở nên yên tĩnh, mọi người

ăn uống đã no say Nghệ nhân và người nghe hòa mình vào từng câu chuyện,nhân vật trong quá trình thưởng thức

Cũng tại nhà trệt, theo yêu cầu của dân làng, nghệ nhân kể lại các sử thi

của dân tộc mình cho mọi người nghe tại ngôi nhà của họ “Người đến nghe

có đủ đàn ông, đàn bà, già trẻ, trung niên Khi nghệ nhân diễn xướng, những người ngồi nghe đều im lặng; muốn trao đổi với nhau điều gì, người ta chỉ dùng ám hiệu Người nào có việc bận đi đâu cứ lẳng lặng ra đi, người mới đến cũng lẳng lặng tìm chỗ ngồi Trong không gian im lặng, chỉ có tiếng nghệ nhân vang lên, nghe như tiếng thuở xa xưa nào đó vọng về.” [47,195] Đây là

nhu cầu sinh hoạt văn hóa nghe kể sử thi không thể thiếu được trong đời sốngcộng đồng của người M’nông

Nhìn chung, trong các dịp hay trong các hoạt động, nơi nào có điềukiện thuận lợi là các nghệ nhân có thể tổ chức hát kể sử thi cho mọi ngườinghe Khi đi tìm hiểu về sử thi M’nông, người ta sẽ bị không gian, âm hưởngthần thoại chi phối Có những chương đoạn miêu tả con người khi đánh nhau

có thể hóa ra trâu bò, hóa thành chim bay lên trời, thành cá bơi dưới nước đểchiến đấu đậm đặc một thế giới thần thoại Điều đó cho thấy sự tưởng tượng

kỳ diệu của cộng đồng dân tộc này Những cảnh uống rượu, săn bắn, tiếpkhách… đều rất gần gũi với đời thực Nội dung của ot n’rong phản ánh vũ trụquan và nhân sinh quan của người M’nông Ot n’rong chứa đựng những quanniệm sơ khai về vũ trụ, về nguồn gốc con người, về cuộc sống xã hội và là

“bách khoa thư” của người M’nông thời Cổ đại

Ot n’rong vừa là thế giới hiện thực vừa là thế giới tưởng tượng Con

người có thể mặc “áo lông chim” để bay lên bầu trời hay đi xuống âm phủ.

Thần linh trong sử thi M’nông cũng có thể xuất hiện mọi nơi, sống đan xentrong cuộc sống của con người Trong thế giới đó, con người, thần linh cùngchung sống, có khi mâu thuẫn gay gắt nhưng cũng có khi hoà hợp, thân thiện

Trang 30

với nhau Thế giới được miêu tả gồm có ba tầng: âm phủ - mặt đất - bầu trời.

Ở mặt đất có các nhân vật là con người và thần linh sinh sống Ở tầng trời vàtầng âm phủ là thế giới của các vị thần Ba tầng của vũ trụ có sự tác động qualại, giống như một xã hội thu nhỏ mà ở đó có người tốt, kẻ xấu; thiện và áccùng chung sống và nhìn chung tất cả các nhân vật đều quen biết nhau

Như vậy, có thể thấy rằng, các nhân vật trong ot n’rong được nâng lênmột tầm cao mới, sánh ngang với vũ trụ, thần thánh Con người được sinh ra

từ sức mạnh của thiên nhiên và có thể quay lại chinh phục thiên nhiên mộtcách kỳ diệu Tất nhiên, đó cũng chính là ước mơ, khát vọng của có thể làmchủ được tự nhiên, mở rộng địa bàn cư trú của chính cộng đồng ngườiM’nông Người M’nông tôn trọng những nhân vật như Bông, Rông và gọibằng cái tên thân thiết như Mẹ Bông, Mẹ Rông, đây chính là những hìnhtượng nhân vật mang ý nghĩa biểu trưng tạo nên đất nước và dân tộc mình.Tiếp nối vai trò của mẹ Rông, Bông đó chính là Tiăng – người anh hùng văn

hóa của người M’nông Qua cuộc hành trình “xuyên vũ trụ” của nhân vật Tiăng ta bắt gặp sự “nhận đường” của nhân loại trên con đường đi đến “

ngưỡng cửa của thời đại văn minh” Trên con đường đó, có lúc nhân vật phân

vân, lo sợ nhưng với ý chí mà lòng quyết tâm trở thành một người hùng danhtiếng, giàu có thì luôn không thay đổi

Ngoài ra, trong sử thi M’nông còn ca ngợi cuộc sống giàu có, trù phú

và hạnh phúc của cộng đồng mình Tộc người M’nông có ý thức tập thể rấtcao, đó như là sợi dây cố kết liên kết cộng đồng này lại với nhau Trong cuộcsống gia đình, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng, họ có tài dệt vải, háilượm, giã gạo; người đàn ông thì đi rừng, săn bắt, rèn đúc Khi có chiến tranhhay xung đột thì họ cùng nhau tham gia chiến đấu bảo vệ bon làng

Ot n’rong của người M’nông được xem là “mang trong lồng ngực mình

hơi thở của thần linh” Trong sử thi, các thần tham gia vào hầu hết các biến

Trang 31

cố trong tác phẩm Thế giới thần linh và cuộc sống của con người đan cài vàonhau như trong một vũ trụ đang còn ở tình trạng hỗn mang Điều đó chứng tỏcác quan niệm sơ khai còn tồn tại và chi phối mạnh mẽ các nghệ nhân khi họsáng tạo nên các tác phẩm ot n’rong

Sử thi M’nông ra đời khi xã hội còn ở vào thời kỳ công xã nguyên thuỷ

và phản ánh xu hướng các bon làng nhỏ hẹp vận động tiến tới liên kết thànhnhững liên minh lớn hơn Ot n’rong chứa đựng nhiều phong tục tập quán vàtín ngưỡng nguyên thuỷ Những phong tục, sùng bái tô tem, kiêng kị, nghi lễ

cổ xuất hiện để lại dấu ấn rất rõ qua những câu hát kể của nghệ nhân Bêncạnh đó, ot n’rong không chỉ đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần mà còn phảnánh khá sâu sắc đời sống tín ngưỡng, phong tục, tập quán của dân tộcM’nông Đó chính là cách ứng xử với thần linh và các thế lực siêu nhiên như:thần linh, ma lai, bùa ngải đáp ứng nhu cầu tinh thần, tình cảm, tâm lí củacon người và cầu mong sự chỉ dẫn, giúp đỡ, phù hộ những vấn đề trong cuộcsống Trước khi làm bất cứ việc gì quan trọng, họ thường cúng thần linh đểthần linh phù hộ Đặc biệt, trong các trận đánh hay đi xa, các nhân vật đềutiến hành nghi lễ Điều này đã được miêu tả một cách chi tiết và hết sức tỉ mỉtrong các sử thi M’nông Chúng tôi cho rằng, không quá khi nói rằng otn’rong giống như những thước phim tư liệu nghệ thuật về tộc người M’nông

Mặt khác, trong sử thi M’nông những cuộc chiến tranh giữa các bộ tộc,những cuộc xâm chiếm, phá hoại của những thế lực thù địch diễn ra khá làphổ biến Chiến tranh không đơn giản chỉ là những cuộc giao tranh, đánhnhau nhằm giải quyết những mâu thuẫn nội bộ như: một thành viên trongcộng đồng bị lăng nhục, bị chiếm đoạt tài sản, nghi oan là ma lai mà đó còn

là những cuộc chiến giành lại vật quý và trả thù Hình ảnh chiến tranh vàngười anh hùng chiến trận là nội dung quan trọng không thể thiếu trong otn’rong Đối với người M’nông thì Tiăng chính là biểu tượng cao nhất về

Trang 32

người anh hùng của họ Sự xuất hiện của Tiăng trong sử thi được miêu tảbằng sức mạnh, tầm vóc của vũ trụ:

Trang 33

Lúc đầu dòng nước phun lên trời Lửa mặt trời phun xuống nước Hai bên gặp nhau giữa không trung Cuối cùng rớt xuống một quả trứng to.

[41, 32]

Vẻ đẹp của người anh hùng sử thi Tây Nguyên nói chung và người anhhùng sử thi M’nông là vẻ đẹp trong niềm tự hào của cộng đồng, của thời đại.Không chỉ miêu tả tỉ mỉ vẻ đẹp của cơ thể, người nghệ nhân còn chú trọngđến phong thái của người anh hùng Họ là những người có thể làm chỗ dựavững chắc cho cộng đồng Vì thế vẻ đẹp của các anh hùng luôn nhanh chóngchinh phục trái tim những người yêu sử thi

Tóm lại, ot n’rong chính là bức tranh rộng lớn và sinh động về đời sốngcộng đồng dân tộc, phản chiếu một cách toàn vẹn đời sống xã hội của ngườiM’nông thời cổ xưa Đây được xem là kho tàng tri thức về kinh nghiệm sảnxuất, sinh hoạt xã hội, về công cuộc đấu tranh để cải tạo, chinh phục tự nhiêncủa cộng đồng tộc người này Dân tộc M’nông có nền văn hoá dân gian vôcùng sinh động, độc đáo cũng như đời sống văn hóa vật chất, tinh thần rấtphong phú và đa dạng Trong kho tàng văn hoá dân gian ấy, nổi trội hơn cả là

ot n’rong (sử thi) Ot n’rong không chỉ là gia tài văn hoá vô giá của ngườiM’nông mà còn của dân tộc Việt Nam và thế giới Những pho sử thi này đãlưu giữ nhiều tư liệu quý về dân tộc học, ngôn ngữ học và văn hoá dân gian

mà chúng ta khai thác chưa hết Tiếp cận và “giả mã” những vấn đề xung

quanh cộng đồng người M’nông cũng như trong sử thi của họ là một vấn đềquan trọng, hết sức cần thiết để lưu giữ cũng như bảo tồn một nét văn hóa đặcsắc dân tộc

Trang 34

CH ƯƠ NG II:

Đ C ĐI M XÂY D NG C T TRUY N VÀ KH C H A NHÂN V T Ặ Ể Ự Ố Ệ Ắ Ọ Ậ

2.1. Khái ni m c t truy n và nhân v t ệ ố ệ ậ

2.1.1. Khái ni m c t truy n và c t truy n s thi M’nông ệ ố ệ ố ệ ử

S thi M’nông là lo i hình t s ử ạ ự ự có n i dung hàm ch a nh ng b cộ ứ ữ ứtranh r ng và hoàn ch nh v đ i s ng nhân dân v i ộ ỉ ề ờ ố ớ nhân v t trungậtâm là nh ng anh hùng, dũng sĩ đ i di n cho m t c ng đ ng Chính vìữ ạ ệ ộ ộ ồthu c lo i hình t s nên s thi bao gi cũng có c t truy n V y c tộ ạ ự ự ử ờ ố ệ ậ ốtruy n là gì? ệ

Theo T đi n Ti ng Vi t (1999 – 2000) ừ ể ế ệ : “C t truy n là toàn th ố ệ ể

nh ng s vi c có quan h nhân qu v i nhau t o ra m t quá trình di n ữ ự ệ ệ ả ớ ạ ộ ễ

bi n trong m t tác ph m văn h c, bao g m ph n trình bày, ph n bu c ế ộ ẩ ọ ồ ầ ầ ộ nút ( các s vi c tác đ ng l n nhau) và, ph n cu i cùng g nút ( các s ự ệ ộ ẫ ầ ố ỡ ự

vi c k t thúc do tác đ ng đó, m t cách t nhiên, ho c có khi do m t s ệ ế ộ ộ ự ặ ộ ự

ki n b t ng ,trngh Tình ti t)” ệ ấ ờ ế [15, 185].

T đi n Ti ng Vi t (2009) ừ ể ế ệ c a Hoàng Phê đ nh nghĩa: ủ ị “C t truy n là ố ệ

h th ng s ki n làm nòng c t cho s di n bi n các m i quan h và s phát ệ ố ự ệ ố ự ễ ế ố ệ ự tri n c a tính cách nhân v t trong tác ph m văn h c lo i t s ho c ể ủ ậ ẩ ọ ạ ự ự ặ

Trang 35

Nh v y, c t truy n là m t h th ng c th nh ng s ki n, bi nư ậ ố ệ ộ ệ ố ụ ể ữ ự ệ ế

c , hành đ ng trong tác ph m t s và tác ph m k ch th hi n m i quanố ộ ẩ ự ự ẩ ị ể ệ ố

h qua l i ệ ạ gi a các tính cách trong m t hoàn c nh nh t đ nh nh m thữ ộ ả ấ ị ằ ể

hi n ch đ t tệ ủ ề ư ưởng c a tác ph m Nhìn chung, c t truy n thu c vủ ẩ ố ệ ộ ề

phương di n ngh thu t, nó ch l p bi n c c a hình th c tác ph m Chínhệ ệ ậ ỉ ớ ế ố ủ ứ ẩ

nh ng bi n c này (t c c t truy n) đã t o ra s v n đ ng c a n i dungữ ế ố ứ ố ệ ạ ự ậ ộ ủ ộ

cu c s ng độ ố ược miêu t trong tác ph m.ả ẩ

Có th th y qua m t c t truy n có hai phể ấ ộ ố ệ ương di n g n bó h uệ ắ ữ

c : m t m t, c t truy n là phơ ộ ặ ố ệ ương di n b c l nhân v t, nh có c tệ ộ ộ ậ ờ ốtruy n mà ch th sáng t o th hi n s tác đ ng qua l i c a tính cáchệ ủ ể ạ ể ệ ự ộ ạ ủnhân v t; m t khác, c t truy n v a góp ph n b c l có hi u qu s ki nậ ặ ố ệ ừ ầ ộ ộ ệ ả ự ệ

ph n ánh qua các xung đ t xã h i Tuy nhiên,ả ộ ộ xung đ t xã h i m i ch làộ ộ ớ ỉ

c s khách quan c a c t truy n cũng là đ i tơ ở ủ ố ệ ố ượng nh n th c, ph n ánhậ ứ ả

vì v y không th đ ng nh t xung đ t xã h i v i c t truy n Nh ng xungậ ể ồ ấ ộ ộ ớ ố ệ ữ

đ t xã h i ph i độ ộ ả ược đ ng hóa m t cách có ngh thu t nh m lo i trồ ộ ệ ậ ằ ạ ừ

nh ng y u t ng u nhiên, th y u đ xây d ng c t truy n theo hữ ế ố ẫ ứ ế ể ự ố ệ ướng

đi n hình hóa Quá trình xây d ng c t truy n là m t quá trình lao đ ngể ự ố ệ ộ ộ

ph c t p và gian kh Ch c năng quan tr ng c a c t truy n là b c l cácứ ạ ổ ứ ọ ủ ố ệ ộ ộmâu thu n c a đ i s ng, t c là các xung đ t Nh ng xung đ t xã h i gi aẫ ủ ờ ố ứ ộ ữ ộ ộ ữ

nh ng thành viên trong c ng đ ng, gi a nh ng ngữ ộ ồ ữ ữ ười th lĩnh hay chínhủ

nh ng xung đ t v i k thù trong s thi M’nông là ví d c th ữ ộ ớ ẻ ử ụ ụ ể

Các th lo i văn h c dân gian nh th n tho i, c tích, truy n cể ạ ọ ư ầ ạ ổ ệ ười,

s thi thu c lo i hình t s nên bao gi cũng có c t truy n và luônử ộ ạ ự ự ờ ố ệ

được các tác gi t p th chú tr ng M c dù trong ot n’rong không cóả ậ ể ọ ặ

nh ng ph n th t nút cao trào rõ ràng, d nh n di n nh s thi Êđê màữ ầ ắ ễ ậ ệ ư ử

ph n l n là s k t n i k ti p c a nh ng s c , s ki n khác nhau Cầ ớ ự ế ố ế ế ủ ữ ự ố ự ệ ơ

Trang 36

b n, có th hình dung c t truy n chung c a nhi u thiên s thi theo ti nả ể ố ệ ủ ề ử ếtrình sau:

Ph n m đ u ầ ở ầ → Ph n th t nút ầ ắ → Ph n phát tri n ầ ể → Ph n caoầtrào → Ph n k t thúc.ầ ế

Ph n m đ u: ầ ở ầ Ph n này trong s thi M’nông có th gi i thi u khôngầ ử ể ớ ệgian, th i gian, hoàn c nh c a nhân v t Ph n m đ u này đờ ả ủ ậ ầ ở ầ ược v n t tắ ắ

mà mang tính ch t thông báo, gi i thi u là ch y u Ph n m đ u c a otấ ớ ệ ủ ế ầ ở ầ ủ

n’rong Bông, Rõng và Tiăng được gi i thi u t th i đi m nh ớ ệ ừ ờ ể ư “t th i xa ừ ờ

x a ” ư s xu t hi n và s phân tán c a con ngự ấ ệ ự ủ ườ ếi đ n nh ng vùng đ t khácữ ấnhau Trong m đ u ở ầ Chàng Lêng, b t đ u t ngắ ầ ừ ười anh hùng đ ng trênứ

t ng đá t gi i thi u v mình M đ u trong ả ự ớ ệ ề ở ầ Ndu thăm Tiăng là gi i thi uớ ệhoàn c nh gia đình Ndu ả

Trong ph n m đ u c a s thi M’nông thầ ở ầ ủ ử ường là hoàn c nh tĩnh,ảcác nhân v t ch a th c hi n hành đ ng, ch a tham gia vào các s ki nậ ư ự ệ ộ ư ự ệ

và các xung đ t c a c t truy n Có th nói r ng, ph n m đ u chính làộ ủ ố ệ ể ằ ầ ở ầ

n n t ng đ nhân v t b t đ u bề ả ể ậ ắ ầ ước vào hành đ ng, t o c s cho cácộ ạ ơ ởhành đ ng cũng nh bộ ư ước phát tri n ti p theo c a các h nhân v t ể ế ủ ệ ậ

Ph n th t nút: ầ ắ S ki n chính là nguyên nhân d n đ n ph n th tự ệ ẫ ế ầ ắnút c a s thi M’nông S xu t hi n c a các s ki n đánh d u đi m kh iủ ử ự ấ ệ ủ ự ệ ấ ể ở

đ u c a nh ng m i quan h t t y u sẽ ti p t c phát tri n Ph n th tầ ủ ữ ố ệ ấ ế ế ụ ể ầ ắnút trong ot n’rong không ph i lúc nào cũng rõ ràng nh trong s thi Êđêả ư ửhay Bahnar nh ng khi x y ra xung đ t l i căng th ng và quy t li t Đôiư ả ộ ạ ẳ ế ệkhi nh ng s ki n tữ ự ệ ưởng nh nh nh t, không quan tr ng cũng đ làmư ỏ ặ ọ ủcho cái “nút” c a c t truy n đủ ố ệ ược th t l i, làm cho di n bi n tr nênắ ạ ễ ế ở

ph c t p b t đ u căng th ng.ứ ạ ắ ầ ẳ

Trang 37

Trong s thi M’nông, đ d n đ n ph n th t nút thử ể ẫ ế ầ ắ ường có hai sự

ki n ệ đ c bi t quan tr ng đó là s cặ ệ ọ ự ướp đo t ph n và truy n ma lai choạ ụ ữ ềnhau gi a các nhân v t Khi hai s ki n này x y ra thì t c là đ nh đi m ữ ậ ự ệ ả ứ ỉ ể “nút

th t” ắ c a truy n b t đ u Tuy nhiên, n u s ki n t o nên ph n th t nútủ ệ ắ ầ ế ự ệ ạ ầ ắ

c a c t truy n là củ ố ệ ướp đo t ph n , thì ph n th t nút đạ ụ ữ ầ ắ ược chuy n sangể

ph n phát tri n ngay Còn n u s ki n t o nên ph n th t nút c a c tầ ể ế ự ệ ạ ầ ắ ủ ốtruy n là truy n ma lai thì ph n th t nút l i ch a chuy n sang ph n phátệ ề ầ ắ ạ ư ể ầtri n Lúc này c t truy n để ố ệ ược chuy n sang m t hể ộ ướng khác, ch m t đi uờ ộ ề

ki n nào đó thúc đ y thì m i chuy n sang ph n phát tri n Trong quá trìnhệ ẩ ớ ể ầ ểnghiên c u và tìm hi u v s thi M’nông, chúng tôi th y r ng do đ c tr ngứ ể ề ử ấ ằ ặ ư

là c t truy n đ n liên k t v i nhau t o thành c t truy n liên hoàn nên đôiố ệ ơ ế ớ ạ ố ệkhi ph n th t nút c a c t truy n này nh ng ph n phát tri n l i n m c tầ ắ ủ ố ệ ư ầ ể ạ ằ ở ốtruy n khác Tuy v y, ngệ ậ ười nghe v n có th n m b t và hi u đẫ ể ắ ắ ể ược n iộdung câu chuy n dài đó là nh có s ch p đo n c a các c t truy n đ n.ệ ờ ự ắ ạ ủ ố ệ ơ

Ph n phát tri n ầ ể : Ph n phát tri n c a s thi M’nông có khá nhi uầ ể ủ ử ề

s ki n, nh ng l i ít bi n c Các s ki n, bi n c này n i ti p nhau t oự ệ ư ạ ế ố ự ệ ế ố ố ế ạ

đi u ki n cho s phát tri n c a tính cách nhân v t Nhân v t đề ệ ự ể ủ ậ ậ ược đ tặvào nh ng hoàn c nh, bi n c khác nhau Qua đó, chúng ta có th th yữ ả ế ố ể ấ

được thái đ , tính cách nhân v t độ ậ ược th hi n và ph m ch t c a nhânể ệ ẩ ấ ủ

v t đậ ược kh ng đ nh Các nhân v t chính trong s thi M’nông bao giẳ ị ậ ử ờcũng mang trên mình các ph m ch t t t đ p nh tinh th n, ý chí và lòngẩ ấ ố ẹ ư ầ

qu c m và h không bao gi ch u s khu t ph c c a k thù trả ả ọ ờ ị ự ấ ụ ủ ẻ ước b tấ

kì tình hu ng nào.ố

Thông thường, ph n phát tri n chi m “th i lầ ể ế ờ ượng” dài nh t trongấ

c t truy n s thi M’nông, th m chí còn có th nói là dài dòng Vì v n dĩố ệ ử ậ ể ố

ph n phát tri n này đã dài, nh ng v i nhi u chi ti t, nhi u đo n c a tácầ ể ư ớ ề ế ề ạ ủ

ph m đẩ ược đ a vào m t cách tùy h ng và rư ộ ứ ườm rà l i làm cho n i dungạ ộ

Trang 38

c a nó l i càng dài thêm Bên c nh đó ủ ạ ạ “l i trì hoãn s thi” ố ử cũng được coi

là m t trong nh ng nguyên nhân làm kéo dài ph n phát tri n trong sộ ữ ầ ề ửthi M’nông V v n đ này, chúng t i sẽ đi sâu trình bày trong ph n sauề ấ ề ố ầ

c a chủ ương ba

Ph n đ nh đi m (hay cao trào): ầ ỉ ể Đây được xem là s ki n thự ệ ửthách cao nh t và t t cùng đ i v i nhân v t Cao trào c a ot n’rong đấ ộ ố ớ ậ ủ ượcxem nh là đi m d n đ n bư ể ẫ ế ước ngo t cao nh t trong s phát tri n c aặ ấ ự ể ủ

c t truy n Ph n này trong s thi M’nông chúng tôi th y r ng khá khóố ệ ầ ử ấ ằxác đ nh và có s phân đ nh m t cách r ch ròi Nguyên nhân là do s thiị ự ị ộ ạ ửM’nông g m nhi u c t truy n đ n t o thành, chính vì th nh đã đ c pồ ề ố ệ ơ ạ ế ư ề ậ trên thì ph n phát tri n c a c t truy n đ n này nh ng ph n đ nh

đi m l i có th n m c t truy n đ n khác Nh ng nhìn chung, ph nể ạ ể ằ ở ố ệ ơ ư ầ

đ nh đi m c a c t truy n k t thúc đ chuy n sang ph n k t thúcỉ ể ủ ố ệ ế ể ể ầ ế

thường được gi i quy t b ng các tr n đánh nhau gi a hai bên thù đ ch.ả ế ằ ậ ữ ị

Ph n k t thúc (hay ph n m nút): ầ ế ầ ở Là ph n có s ki n th tháchầ ự ệ ửcao nh t đ i v i nhân v t Đây là đi m d n đ n bấ ố ớ ậ ể ẫ ế ước ngo t l n laoặ ớtrong s phát tri n c a c t truy n Trong ph n này, ngh nhân sẽ k v nự ể ủ ố ệ ầ ệ ể ắ

t t k t qu c a m t s xung đ t chính, s ph n c a nhân v t trung tâm,ắ ế ả ủ ộ ố ộ ố ậ ủ ậ

cu c s ng c a c ng đ ng sau nh ng bi n c c quan tr ng c a c tộ ố ủ ộ ồ ữ ế ố ố ọ ủ ốtruy n.ệ

K t thúc c t truy n s thi M’nông thế ố ệ ử ường là k t thúc có h u Đóế ậ

thường là c nh ngả ười ch t s ng l i, ngế ố ạ ười anh hùng th ng tr n tr v ,ắ ậ ở ề

v t quý đậ ược đòi l i S thi đạ ử ược sáng tác theo ý ni m k v nh ng câuệ ể ề ữchuy n có th t, m c dù chúng ta v n bi t r ng có r t nhi u chi ti tệ ậ ặ ẫ ế ằ ấ ề ếtrong đó không h t n t i K t thúc m t ph n có h u trong s thiề ồ ạ ế ộ ầ ậ ửM’nông có th nói là ể “k t thúc ch a tr n v n” ế ư ọ ẹ (không ph i đ i v i m iả ố ớ ọtác ph m) Chúng tôi cho r ng, s thi M’nông có k t thúc v a đóng v aẩ ằ ử ế ừ ừ

Trang 39

m Đây đở ược coi nh là m t bi n pháp ngh thu t c a các ngh nhânư ộ ệ ệ ậ ủ ệ

t o ra có ch đích nh m kéo dài nh ng câu chuy n xa x a c a c ngạ ủ ằ ữ ệ ư ủ ộ

đ ng dân t c mình.ồ ộ

2.1.2 Khái ni m nhân v t và nhân v t s thi M’nông ệ ậ ậ ử

Theo T đi n thu t ng văn h c ừ ể ậ ữ ọ nhân v t là: “Thu t ng ch hình ậ ữ ỉ

t ượ ng ngh thu t v con ng ệ ậ ề ườ i, m t trong nh ng d u hi u v s t n t i ộ ữ ấ ệ ề ự ồ ạ toàn v n c a con ng ẹ ủ ườ i trong ngh thu t ngôn t Bên c nh con ng ệ ậ ừ ạ ườ i, nhân v t văn h c có khi còn là các con v t, các loài cây, các sinh th hoang ậ ọ ậ ể

đ ườ ng đ ượ c gán cho nh ng đ c đi m gi ng con ng ữ ặ ể ố ườ [24, 1254] i”

Nh v y, nhân v tư ậ ậ trong tác ph m t s là nhân v t ẩ ự ự ậ văn

h cọ và được miêu t trong tác ph m b ng phả ẩ ằ ương ti n văn h c Nh ngệ ọ ữcon người này có th để ược miêu t kỹ hay s lả ơ ược, sinh đ ng hay khôngộ

rõ nét, xu t hi n m t hay nhi u l n, thấ ệ ộ ề ầ ường xuyên hay t ng lúc, gi vaiừ ữtrò quan tr ng nhi u, ít ho c không nh họ ề ặ ả ưởng nhi u l m đ i v i tácề ắ ố ớ

ph mẩ Nhân v t chính là ngậ ười d n d t đ i tẫ ắ ố ượng ti p nh n vào m tế ậ ộ

th gi i riêng c a đ i s ng trong m t th i kì l ch s nh t đ nh Vì g nế ớ ủ ờ ố ộ ờ ị ử ấ ị ắ

v i sáng tác ngôn t c a nh ng th i đ i khác nhau nên nhân v t văn h cớ ừ ủ ữ ờ ạ ậ ọ

in d u nh ng xu hấ ữ ướng ti n hóa c a nh ng t duy ngh thu t khácế ủ ữ ư ệ ậnhau Tiêu bi u cho s thi đây chính là nh ng nhân v t để ử ở ữ ậ ược lý tưởnghóa

Ð i tố ượng chung c a văn h c là cu c đ i nh ng trong đó conủ ọ ộ ờ ư

người luôn gi v trí trung tâm Nh ng s ki n, bi n c c a m t c ngữ ị ữ ự ệ ế ố ủ ộ ộ

đ ng góp ph n t o nên s phong phú, đa d ng cho tác ph m nh ng cáiồ ầ ạ ự ạ ẩ ưquy t đ nh ch t lế ị ấ ượng tác ph m văn h c chính là vi c xây d ng nhânẩ ọ ệ ự

v t Chính vì v y chúng tôi nh t trí cao cho r ng nhânậ ậ ấ ằ v t là n i t pậ ơ ậtrung, gi i quy t h t th y các bi n c trong m t tác ph m văn h c.ả ế ế ả ế ố ộ ẩ ọ

Trang 40

Nhân v t văn h c là con ngậ ọ ười được nhà văn miêu t trong tácả

ph m b ng phẩ ằ ương ti n văn h c Nh ng con ngệ ọ ữ ười này có th để ượcmiêu t kỹ hay s lả ơ ược, sinh đ ng hay không rõ nét, xu t hi n m t hayộ ấ ệ ộnhi u l n, thề ầ ường xuyên hay t ng lúc, gi vai trò quan tr ng nhi u, ítừ ữ ọ ề

ho c không nh hặ ả ưởng nhi u l m đ i v i tác ph m.ề ắ ố ớ ẩ

Nhân v t văn h c có th là con ngậ ọ ể ười có tên nh ng cũng ư có th làể

nh ng ngữ ười không có tên V ch t lề ấ ượng: dù nhà văn miêu t th n linh,ả ầ

ma qu , đ v t nh ng l i gán cho nó nh ng ph m ch t c a con ngỉ ồ ậ ư ạ ữ ẩ ấ ủ ười.Nhân v t văn h c là m t hi n tậ ọ ộ ệ ượng ngh thu t có tính ệ ậ ướ ệc l , có nh ngữ

d u hi u đ nh n bi t: tên g i, nh ng d u hi u v ti u s , ấ ệ ể ậ ế ọ ữ ấ ệ ề ể ử tính cách,

nh ng đ c đi m riêng Nh ng d u hi u đó thữ ặ ể ữ ấ ệ ường được gi i thi u ngayớ ệ

t đ u và thông thừ ầ ường, s phát tri n v sau c a nhân v t g n bó m tự ể ề ủ ậ ắ ậthi t v i nh ng gi i thi u ban đ u đó.ế ớ ữ ớ ệ ầ

Căn c vào vai trò c a nhân v t trong tri n khai c t truy n s thiứ ủ ậ ể ố ệ ửM’nông chúng tôi chia thành hai nhóm:

Nhân v t trung tâm: ậ đóng vai trò ch đ o xu t hi n nhi u trongủ ạ ấ ệ ềtác ph m, trong câu chuy n liên quan đ n các s ki n ch y u c a tácẩ ệ ế ự ệ ủ ế ủ

ph m, là c s đ tác gi tri n khai đ tài, t tẩ ơ ở ể ả ể ề ư ưởng hay nh ng v n đư ấ ềtrung tâm c a mình.ủ Nhân v t ậ trung tâm trong s thi M’nông ử là nhân v tậ

đ i di n cho l c lạ ệ ự ượng chính nghĩa trong xã h i, cho cái thi n, cái ti nộ ệ ế

b Khi nhân v t ộ ậ trung tâm xây d ng v i nh ng ph m ch t hoàn h o, cóự ớ ữ ẩ ấ ảtính ch t tiêu bi u cho tinh hoa c a m t ấ ể ủ ộ c ng đ ng, ộ ồ m t dân t c có thộ ộ ể

được coi là nhân v t lí tậ ưở đng ược xây d ng trong các ot n’rong ự Đây làcác nhân v t xu t hi n t đ u đ n cu i câu chuy n V m t ý nghĩa, đâyậ ấ ệ ừ ầ ế ố ệ ề ặ

là n i quy t m i mâu thu n c a tác ph m th hi n v n đ chính c a sơ ụ ọ ẫ ủ ẩ ể ệ ấ ề ủ ửthi M’nông

Ngày đăng: 29/11/2018, 08:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w