Thiên nhiên thành thị

Một phần của tài liệu Một số đặc điểm nghệ thuật kí vũ bằng (Trang 46 - 51)

Chương 2 CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI, THIÊN NHIÊN, VĂN HÓA ẨM THỰC

2.3.2. Thiên nhiên thành thị

Mỗi con người khi ra đều thuộc về một miền quê nào đó, Vũ Bằng cũng vậy, ông thuộc về Hà Nội - Bắc Việt. Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, Vũ Bằng đã có bốn mươi năm gắn bó thân thiết với mảnh đất này. Từng lá cây, ngọn cỏ, từng nóc nhà, góc phố lại trở nên thân thuộc, lắng sâu vào tiềm thức của ông.

May mắn được tắm mình trong bầu sữa ngọt ngào của không gian văn hóa Bắc Việt nói chung, đất kinh kì Hà Thành nói riêng và chính bầu sữa ấy đã trở thành nguồn sống giúp Vũ Bằng tồn tại. Cái hồn của văn hóa Bắc Việt – Hà Thành ùa vào và thấm đẫm trong ông tự nhiên như khí trời. Trong nỗi xa cách nhớ nhung hoài vọng, Vũ Bằng chỉ có thể trở về Hà Nội bằng tâm tưởng.

Hà Nội sông Hồng đã muôn trùng xa cách”. Những cảnh vật đã trở thành kí ức ấy cũng chính là hồn phố làm đậm thêm chất lãng mạn, đắm say của hồn người Hà Thành. Nói rộng ra, đó cũng chính là một phần của môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển đời sống văn hóa của con người.

Lóe sáng trong miền kí ức ấy là cái rét ngọt của tháng giêng. Đó là cái rét còn “vương trên những cành đào”, là cái rét giao mùa đánh thức vạn vật con người sau một mùa đông lạnh giá. Cái rét đó không khiến con người, vạn vật phải co ro xoa xuýt “chống đỡ” mà ngược lại, như gieo một chất “men tình” làm

cảnh vật tươi sáng hẳn lên vì chính nó là tiếng gọi đánh thức mùa xuân bừng dậy. Bao nhiêu yêu mến, bao nhiêu thương mến cũng bắt đầu từ đó, bởi mùa xuân này, người sầu xứ không có cái rét ngon ngọt ở xứ Bắc mà phải căng ra chịu đựng cái nắng nóng của phương Nam – xứ người: “Ở đây từ tháng một, trời nắng chói chang làm cho mắt mờ đau nhức” [37;29]. Cái nắng phương Nam trong những ngày tháng một không thể làm khuây khỏa hồn người xa xứ, “ trái lại, làm người rầu rĩ hơn, nhớ thương hơn những tháng giêng Bắc Việt qua rồi”.

Nỗi nhớ càng kéo dài ra bao nhiêu, hình ảnh thiên nhiên đầy tình tứ của tháng giêng Hà Nội, Bắc Việt càng hiện ra rõ nét bấy nhiêu. Cái trăng non tháng giêng ấy sao mà nhớ quá! “Cái trăng tháng giêng ấy, non như người con gái mơn mỡn đào tơ, hình như cũng đẹp hơn các tháng khác trong năm thì phải:

sáng nhưng không lộng lẫy như trăng sáng mùa thu, đẹp nhưng không đẹp héo úa như trăng tháng một. Cái đẹp của tháng giêng là cái đẹp của nàng trinh nữ thẹn thùng vén màu hoa nở ở lầu cao nhìn xuống để xem ai là tri kỉ” [37;30].

Viết về trăng có nhiều cách ví von “Trăng là cái liềm vàng”, “trăng là cái đĩa bạc giữa thảm nhung da trời”. (Nam Cao).

Khác với trăng non tháng giêng, Trăng tháng tám là trăng sáng nhất, lộng lẫy nhất: “Trong một năm, không có mùa nào trăng lại sáng và đẹp như trăng thu”. Trăng tháng tám “lung linh kì ảo. Vợ chồng dắt nhau đi trong ánh trăng, lúc ấy cảm thấy mình đi trên trần mà dường như có cánh ở dưới chân, không bước mà có cái gì đẩy chân đi nhè nhẹ vào cõi mê li, thần thoại” [37;161].

Thiên nhiên Bắc Việt lộng lẫy tinh khôi đến ngay cả hương của phố phường với hoa sen Linh Đường “thơm ngào ngạt cả bầu trời”, “hương hoa sữa ngan ngát, hoa lan tây thoang thoảng, hoa sầu đâu dịu dàng mà thậm chí, dù là trong cơn rét, tác giả vẫn cảm nhận đó là” cái rét của một trời đầy hương và ngát hoa”.

Hà nội và xứ Bắc có những lúc nắng nóng hay giá buốt, mưa dầm, tuy không phải lúc nào cũng hòa thuận, ve vuốt con người nhưng khi đi vào nỗi nhớ của nhà văn, tất cả hiện lên toàn những cái đẹp vô cùng hấp dẫn và quyến rũ, Vũ Bằng viết về thiên nhiên đất nước với mối quan hệ gắn bó nồng nàn, tha thiết, với một cảm giác tận hưởng đến tận cùng… từng mùa xuân, hạ, thu, đông cũng ánh lên sắc màu lung linh, rạng rỡ, nguyên khôi. Mùa xuân ánh lên sông xanh, màu đào ửng hồng… Mùa hạ đem theo những màu ấm nóng: màu đỏ chói của hoa gạo bắt đâù nở bên hồ Hoàn Kiếm, màu đỏ của những buổi bình minh nạm

vàng, màu đỏ chói của gạch cua, màu trái nhót chín giữa hè, màu khoanh dứa vàng… Mùa thu trong biếc với “lá vàng xoay trong gió, đậu trên những cái vành trắng muốt của các pho tượng mĩ nhân, màu cốm xanh biêng biếc”. Mùa đông thơm nguyên, nồng nàn trong màu của “quýt chín tươi lạ lùng, hồng nhung, đỗ quyên nở hoa đỏ chói, màu áo nâu non, màu muôn sắc trong phiên chợ tết”.

Quả là một niềm hoài niệm lung linh sắc màu. Và, ở đâu đó trong các trang kí ức Vũ Bằng, sức màu thiên nhiên Hà Nội – Bắc Việt còn bị nhòe đi, bàng bạc, mơ hồ, huyền ảo với “làn nước hồ gươm xanh mơ”, lung linh ánh đèn

“rung động trong lòng nước hồ, màu trời thu bàng bạc, nhạt nhòa trong nắng mưa...”. Tóm lại, thiên nhiên Hà Nội Bắc Việt hiện lên vừa gần gũi vừa xa xôi, vừa rạng rỡ vừa nguyên khôi… Trong nỗi nhớ thăm thẳm đau đáu của nhà văn.

Trong kí ức của Vũ Bằng, thiên nhiên Hà Nội Bắc Việt còn đặc biệt quyến rũ bởi hương thơm nồng nàn của nó. Đó là mùi hương của con đường Thảo Bách “ thơm nức mùi lan lây” của đêm đêm khắp các phố phường “hoa sấu rụng thơm lên trong đêm xanh mùi hương dìu dịu, man mát chua chua”. Đó còn là hương cỏ ở mạn Láng đã đi vào kí ức ngọt ngào của tình vợ chồng. “Nhớ những buổi tối cùng vợ đi xe giờ về nạm Láng, nằm trên nệm cỏ thơm, ngửa mặt lên trời xem mây bay cùng ăn trái vải đầu mùa”. Đó là hương cốm làng vòng “thơm ngào ngạt hương của trời nước, hoa đào bây giờ ngồi nghĩ lại hình ảnh xa xưa ấy, tôi vẫn còn thấy đời ngọt ngào như có vị đường và tưởng như không bao giờ quên hương thơm quyến rũ của trời nước, của hoa đào” [37;45].

Tóm lại, thiên nhiên Hà Nội - Bắc Việt là “người tình trong mộng” của Vũ Bằng – gắn bó, chia sẽ nỗi lòng với tác giả; thanh lọc tâm hồn người sầu xứ và cũng là cái tĩnh để người ta hướng tới. Thiên nhiên ấy đã làm nên linh hồn kí Vũ Bằng!.

Và như vậy, mỗi nhà văn thường có một không gian, một xứ sở để mình ngưỡng vọng. Nguyễn Tuân, Tô Hoài có Hà Nội, Tây Bắc; Nguyễn Văn Xuân, Phan Tứ với xứ Quảng; Nguyên Ngọc với Tây Nguyên; Hoàng Phủ Ngọc Tường với Huế; Đoàn Giỏi, Sơn Nam, Nguyễn Quang Sáng với Cà Mau và sông nước miền Tây… Riêng về Hà Nội, nhiều nhà văn tiền chiến đã từng ngợi ca và mãi mãi vẫn xem đó là miền dấu yêu, là miền đánh thức cảm xúc. Trong đó, có Tản Đà, Thạch Lam, Nguyễn Tuân (trước 1945); Vũ Bằng, Tô Hoài, Nguyễn

Cũng chọn vẹn thủy chung với Hà Nội, cũng đi tìm cái đẹp của Hà Nội xưa, nhưng mỗi nhà văn có một cách thể hiện khác nhau. Các tác giả thường ghi lại một nét đẹp văn hóa ở một địa danh cụ thể hoặc một cảnh vật. Có lẽ, chỉ có Vũ Bằng là chọn không gian rộng nhất, cảnh thiên nhiên phong phú và sinh động nhất với những địa danh, những cảnh đẹp làm nên cái đẹp mộc mạc thần tiên của xứ Bắc.

So với Nguyễn Tuân, Vũ Bằng viết về thiên nhiên trong phạm vi không gian hẹp hơn. Nguyễn Tuân dành nhiều đất cho thiên nhiên Hà Nội và Tây Bắc nhưng cũng quan tâm đến vẻ đẹp của Huế, Quảng Ninh, Quảng Trị, Cà Mau…

theo bước chân xê dịch của nhà văn. Thiên nhiên thâm trầm, buồn bã trước cách mạng trong sáng tác của Nguyễn Tuân mang dấu ấn của thời cuộc và thể hiện nhận thức của nhà văn về xã hội. Thiên nhiên tươi đẹp và quyến rũ trong sáng tác của Vũ Bằng mang dấu ấn tình cảm nhớ thương, hoài niệm của nhà văn và cũng là thiên nhiên văn hóa. Thiên nhiên của Nguyễn Tuân gần với những yếu tố lịch sử. Thiên nhiên của Vũ Bằng gắn với cuộc sống đời thường của thành thị, của phố phường .

Là nhà văn hoài niệm của “làng” của “phố”, là nhà văn của những mùa vườn Hà Nội, Thạch Lam có nhiều trang văn ngắn với cảnh mùa vườn và cũng đủ các loài hoa ngào ngạt hương thơm. Tuy nhiên, hầu như cảnh đẹp, hương thơm của Thạch Lam đều xuất phát từ cách nhìn, cách cảm nhận của các nhân vật trong các tác phẩm, không giống như trường hợp Vũ Bằng – xuất phát từ cách nhìn cách cảm nhận của chính nhà văn. Có lẽ, vì Vũ Bằng viết về Hà Nội và miền Nam trong hoàn cảnh li biệt, xa xứ đã hơn mười năm, viết bằng tình hoài niệm cố hương quay quắt và viết trong quãng thời gian dài nên Hà Nội miền Bắc trong Vũ Bằng phong phú, đa dạng, lãng mạn và da diết hơn. Vũ Bằng xa quê và không bao giờ có thể về lại chốn xưa nên mới cảm nhận hết vẻ đẹp của quê bằng niềm thương nỗi nhớ da diết ấy.

2.4 . Văn hóa ẩm thực

Nói về hiện thực đời sống trong kí Vũ Bằng, chúng ta không thể không nói đến văn hóa ẩm thực.

Ẩm thực, theo Hán việt từ điển của Đào Duy Anh, có nghĩa là “uống và ăn”. Với người Việt Nam, ăn uống không phải là một nhu cầu của bản năng, mà còn là một nhu cầu văn hóa. Các nhà nghiên cứu văn hóa như Phan Ngọc. Vũ Ngọc Khánh, Đinh Gia Khánh, Trần Ngọc Thêm… đều khẳng định “Ẩm thực là

một nét văn hóa của người Việt. Ăn uống cùng với mặc, ở, tập quán sản xuất…

thuộc về văn hóa vật chất. Còn Băng Sơn cho rằng: “Ẩm thực đã vượt khỏi tầm vật chất mà trở thành yếu tố văn hóa, một mảng văn hóa đậm đà, duyên dáng và cốt cách” [95;6]. Và theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, nét bản sắc của văn hóa Việt Nam là “văn hóa ngôn từ” kế đó là “văn hóa ăn uống”.

Ẩm thực là nguồn sống, cũng là một nhu cầu văn hóa, là thành tố của văn hóa nên đã có rất nhiều nhà văn hóa viết khảo cứu; nhiều nhà dinh dưỡng giới thiệu về chất dinh dưỡng của mỗi món thực phẩm; nhiều chuyên gia ẩm thực viết về kỹ thuật chế biến, thưởng thức… riêng trong văn học Việt Nam, ẩm thực trở thành nguồn đề tài xuyên suốt từ văn học dân gian đến văn học hiện đại.

Văn học dân gian có biết bao câu ca dao, tục ngữ ca ngợi các món ăn đặc trưng và nổi tiếng của các địa phương từ Bắc chí Nam. Trong văn học viết, đã có nhiều cuốn sách viết về văn hóa ẩm thực còn nguyên giá trị đến hôm nay như Vũ Trung Tùy bút của Phạm Đình Hổ, Nữ công thắng lãm của Hải Thượng Lãn Ông, Hà Nội 36 phố phường của Thạch Lam, các bài viết của Nguyễn Tuân và các sáng tác của Vũ Bằng… đó là những sáng tác góp phần khẳng định bản sắc và giá trị của văn hóa ẩm thực của dân tộc.

Trong văn học giai đoạn 1930 -1945, khi các nhà văn Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Nam Cao viết về cái đói, miếng ăn với ý nghĩa phản ánh hiện thực xã hội, số phận và nhân cách con người thì việc Thạch Lam, Vũ Ngọc Phan viết về các món ăn với ý nghĩa đề cao giá trị cái đẹp của văn hóa ẩm thực đã thể hiện ý thức, quan niệm mới mẻ, hiện đại. Tiếp nối Thạch Lam, trong giai đoạn 1954-1975, Nguyễn Tuân, Vũ Bằng trở thành những nhà văn tiêu biểu khám phá, nghiên cứu về các món ăn. Tuy nhiên, so với các nhà văn viết về ẩm thực, Vũ Bằng là người viết nhiều, viết có quá trình, viết say mê với các đề tài này. Và để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc nhất. Trong các lĩnh vực về văn hóa dân tộc truyền thống thì ẩm thực là lĩnh vực mà Vũ Bằng có cảm hứng sâu sắc và viết thành công nhất. Năm 1970, Vũ Bằng viết bài Văn hóa ăn của ta đang tiến về đâu trên tuần báo khởi hành. Nhà văn khẳng định: “Ăn là một bộ môn văn hóa mà ăn ngon là dấu hiệu của văn minh” [33;40a]. Theo ông, “Cái ăn, cái uống ngon lành cũng phải do một nền văn hóa lâu đời, lành mạnh và tiến bộ, đẻ ra và nuôi dưỡng” [33;40b].

Là người sành ăn, lại đã thưởng thức các món của Nhật, Tây, Tàu, Vũ

của nước đó” [28;14]. Đồng thời, đó cũng là một cách khẳng định quan niệm khá hiện đại của nhà văn trước đó khi viết Miếng ngon Hà Nội: “Ai đã bảo ăn uống là một nghệ thuật? hơn thế, ăn uống là cả một nền văn hóa đấy” [28;14].

Từ hiện thực văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa ẩm thực nói riêng, từ nhận định của những nhà văn hóa về văn hóa ẩm thực ta có thể khẳng định là những nhận định của Vũ Bằng về ẩm thực đến hôm nay vẫn có ý nghĩa. Cảm hứng về ẩm thực và nhận thức hiện đại về ẩm thực của Vũ Bằng thể hiện nhất quán ở việc nhà văn chọn ẩm thực làm đề tài tâm huyết trong sáng tác của ông.

Văn hóa ẩm thực trong sáng tác của Vũ Bằng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực:

thời trân đất nước, nghệ thuật ẩm thực mối quan hệ của ẩm thực với hiện thực đất nước, tâm trạng nhà văn .

Một phần của tài liệu Một số đặc điểm nghệ thuật kí vũ bằng (Trang 46 - 51)

Tải bản đầy đủ (PDF)

(112 trang)