Với cách khắc hoạ riêng về những hình tượng chung, cách xây dựng một số hình tượng tiêu biểu cho thiên tính nữ, sự quan tâm đến các chi tiết nhỏ nhặt của đời thường..., thơ nữ đã để lại
Trang 1N T Tuyết một số đặc điểm nghệ thuật của thơ nữ , tr 66-72
một số đặc điểm nghệ thuật của thơ nữ
thế hệ chống Mỹ giai đoạn 1965-1975
Nguyễn Thị Tuyết(a)
Tóm tắt Bài viết đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm nghệ thuật của thơ nữ thế hệ chống Mỹ, ở giai đoạn 1965-1975 Với cách khắc hoạ riêng về những hình tượng chung, cách xây dựng một số hình tượng tiêu biểu cho thiên tính nữ, sự quan tâm đến các chi tiết nhỏ nhặt của đời thường , thơ nữ đã để lại một dấu ấn riêng, độc đáo trong nền thơ cách mạng
1 Trong thơ Việt Nam chống Mỹ
giai đoạn 1965-1975, thơ của các nhà
thơ nữ như Xuân Quỳnh, Phan Thị
Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ, ý Nhi,
Lê Thị Mây đã để lại một dấu ấn tốt
đẹp ở bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu
nghiên cứu những đặc điểm nghệ thuật
của thơ họ, nhằm khẳng định đóng góp
của các nhà thơ nữ thế hệ chống Mỹ cho
nền thơ chung Bài viết sẽ tập trung
làm sáng tỏ mấy vấn đề chính sau đây:
cách khắc hoạ riêng của các nhà thơ nữ
về những hình tượng “chung”, một số
hình tượng tiêu biểu cho thiên tính nữ
và sự quan tâm của họ đến cái đời
thường
2 Những năm tháng chống Mỹ, chủ
nghĩa yêu nước chi phối suy nghĩ của
hết thảy mọi người, chi phối cả cảm
hứng sáng tác thi ca Chính vì thế, Tổ
quốc, đất nước, nhân dân đã trở thành
những hình tượng trung tâm của nhiều
tác phẩm Trong thơ, đất nước thật lớn
lao, kì vĩ, đau thương nhưng rất đỗi hào
hùng Đất nước còn hiện diện trong lý
tưởng sống của những cá nhân cụ thể,
nhưng đó cũng là lý tưởng chung của
một thế hệ người lính Không những
cảm nhận Tổ quốc bằng tình cảm, thơ
chống Mỹ còn khám phá, phát hiện Tổ
quốc bằng nhận thức sâu sắc, bằng sức mạnh tư tưởng của thời đại Thơ nữ thế
hệ chống Mỹ cũng đã tạc khắc hình tượng Tổ quốc, đất nước trong niềm xúc
động, tự hào như thế Nhưng với bản tính của người phụ nữ, các chị đã xây dựng nên hình tượng đất nước từ những gì gần gũi và thân thiết trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Cũng viết về những địa danh cụ thể, nhưng ở các nhà thơ nam giới, cái nam tính thể hiện rất
rõ trong cảm xúc, trong sự lựa chọn hình ảnh Nguyễn Trọng Tạo đã viết như thế này về một vùng quê ven biển: Quê cát nắng từng cơn bỏng rát/Quân thù hòng cướp giọt nước trong/Chúng
đâu hiểu từ trong lòng cát nóng/Lửa bay lên thiêu chúng giữa tầng không (Cát - Nguyễn Trọng Tạo) Còn nhà thơ Xuân Quỳnh, với sự rung cảm của tâm hồn người phụ nữ, cát vùng quê ấy đã trở thành nơi lưu giữ nỗi nhớ thương Mặc dù hiện thực tàn khốc của chiến tranh vẫn hiện hữu trong từng thớ cát (Máu đồng đội và máu tôi đã đổ/Trên cát này mà gió quạt vừa se) nhưng thiên tính nữ vẫn tìm về với những rung động sâu xa từ những gì thật gần gũi:
Ngọn gió bỏng khi đi thành nỗi nhớ Cát khô cằn ở mãi hóa yêu thương (Gió lào cát trắng - Xuân Quỳnh)
Nhận bài ngày 25/02/2009 Sửa chữa xong 08/4/2009
Trang 2trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
Để làm hiện lên hình tượng đất
nước, với sự chi phối của thiên tính nữ,
thơ nữ còn đi sâu vào đời sống sinh hoạt
hằng ngày, đời sống tâm hồn của người
dân Việt Nam trong thời lửa đạn Thơ
gợi thức hình ảnh Tổ quốc, đất nước qua
sự hiện diện của chiếc nôi, cái tã dành
cho trẻ thơ, những mầm sống lớn lên
bất chấp sự vùi dập của kẻ thù:
Cái nôi thôi mắc cửa hầm
Trắng tinh cái tã xanh trong bầu trời
(Xuân Quỳnh)
Đất nước còn hiện diện qua những
lời hát ru con của các bà mẹ trẻ:
Ngủ yên con, ngủ đẫy giấc nghe con
Lời mẹ ru làm chiến hào che chở
(Lời ru - Xuân Quỳnh) Những lời hát ru con ngân vang
giữa sự oanh tạc tàn khốc của kẻ thù là
một minh chứng hùng hồn cho sức sống
bất diệt của con người Việt Nam, dân
tộc Việt Nam
Trong thơ ca chống Mỹ, các nhà thơ
nữ cũng cố gắng xây dựng nên những
hình tượng mang đậm chất sử thi
Nhưng nếu các nhà thơ nam giới
thường quan tâm xây dựng những hình
tượng lớn lao, kì vĩ thì thơ nữ lại chú ý
tạc khắc hình tượng ấy từ những gì cụ
thể, gần gũi Từ hình ảnh hố bom, Lâm
Thị Mỹ Dạ đã khái quát thành biểu
tượng về sự bất tử của con người Việt
Nam, Tổ quốc Việt Nam nhân hậu, giàu
yêu thương Nhiều khi Tổ quốc, đất
nước còn được gọi về từ trong những
tình cảm riêng tư, tình yêu đôi lứa
Chút hương bưởi dịu nhẹ mà “đầm ấm
thanh tao” tỏa lan theo bước đường
hành quân ra trận của người lính trong
thơ Phan Thị Thanh Nhàn cũng đã lặng
lẽ gợi thức bao điều trong lòng bạn đọc
về đất nước Việt Nam, con người Việt
Nam thời chống Mỹ Những người lính
ra trận ngày ấy tuổi còn rất trẻ Lý
tưởng cách mạng trong tâm hồn những
chàng lính trẻ bao giờ cũng hòa chung cùng với khát vọng về hạnh phúc, tình yêu
Phát hiện về Tổ quốc cũng có nghĩa
là khám phá về dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam Bên cạnh hình tượng
đất nước, hình tượng nhân dân cũng
được thơ nữ xây dựng bằng những nét riêng Tập thể nhân dân trong thơ nam giới thường là những con người xông pha nơi chiến trận Họ đại diện cho sức mạnh của lòng dũng cảm, của đức hi sinh, của sức mạnh quật khởi: Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai (Bằng Việt); Lớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùng áo lính/Xanh màu áo lính (Thanh Thảo) Nhân dân trong một số tác phẩm của các nhà thơ nam giới là hình tượng hội tụ sức mạnh của con người Việt Nam: Ôi nhân dân tấm lá chắn diệu kì/Người nhận mọi vết xăm cho căn hầm nguyên vẹn! (Hữu Thỉnh) Nhân dân trong thơ nữ, có vô vàn những con người bình thường, vô danh, thầm lặng Họ là những người mẹ, người chị, người em… ở mọi nơi, mọi vùng, tiền tuyến và hậu phương, miền Nam và miền Bắc ở họ toát lên vẻ đẹp của lòng nhân hậu, bao dung, gan dạ và dũng cảm Thơ các chị đã chú ý nhiều
đến nét đời thường, đến vẻ đẹp đậm chất nữ tính Người mẹ trong thơ các chị bên cạnh phẩm chất kiên trinh và lòng dũng cảm còn là người mẹ với bản tính lo toan, chắt chiu trong cuộc sống
đời thường:
Khi làng xóm đằng sau tàn trong lửa Gói hạt rau mẹ nhớ vẫn mang theo
Đất lại xanh dưới tay mẹ trồng gieo Con cóc vàng về dưới làn cải bẹ
(Rau - Xuân Quỳnh) Người con gái trong thơ các chị có thể là cô thanh niên xung phong gan dạ, kiên cường (Khoảng trời, hố bom - Lâm Thị Mỹ Dạ, Nỗi nhớ con đường - ý
Trang 3N T Tuyết một số đặc điểm nghệ thuật của thơ nữ , tr 66-72 Nhi), cũng có thể là cô gái gặt lúa trong
đêm trăng lãng mạn, yêu đời (Gặt đêm -
Lâm Thị Mỹ Dạ), là cô dân quân, du
kích hồn nhiên, lãng mạn: Đêm trực
đường sao rơi đầy mắt em (Ngã ba -
Lâm Thị Mỹ Dạ), là em giao liên nhỏ
bé, quanh năm gắn bó với con đường
trong những năm tháng tàn khốc của
chiến tranh (Con đường của em - ý
Nhi) Từ gương mặt những con người cụ
thể, những mảnh đời cụ thể, các tác giả
nữ đã xây dựng nên hình tượng nhân
dân trong thơ ca Mặc dù chưa có nhiều
những hình tượng khái quát đạt đến độ
điển hình như trong thơ của các tác giả
nam giới nhưng với cách khắc họa
riêng, thơ nữ đã đưa những hình tượng
lớn lao ấy về gần với cuộc sống đời
thường khiến cho nó trở nên gần gũi,
quen thuộc Mỗi người dân Việt Nam có
thể tìm thấy chính bản thân mình trong
những hình tượng đó
3 Thơ ca thời kì chống Mỹ cứu nước
tập trung xây dựng hai loại hình tượng
“cái tôi” trữ tình đó là: “cái tôi” sử thi và
“cái tôi” thế hệ Với định hướng này,
một số bài thơ của các tác giả nữ đã xây
dựng được những hình tượng như thế:
Tất cả chúng tôi đều là bộ đội/Chúng
tôi biết bắn súng, đâm lê/Và sống trong
những chiến hào (Xuân Quỳnh) Nhưng,
một điều dễ nhận thấy, trong thơ các
chị thường xuất hiện nhiều hơn những
hình tượng mang đậm thiên tính nữ
như: anh, em, mẹ, con… Khi xây dựng
những hình tượng này các nhà thơ nam
thường chú ý tạc khắc “cái tôi” sử thi,
“cái tôi” thế hệ Còn các nhà thơ nữ lại
chú ý nhiều hơn những biểu hiện trong
cuộc sống đời thường
Cũng là hình tượng “anh”, với các
nhà thơ nam đó là một cách tự xưng
danh để bộc bạch khát vọng chiến công,
lí tưởng cao đẹp Cũng có khi người
“anh” ấy bộc bạch những nỗi niềm thầm kín riêng tư, nhưng tình cảm ấy chưa bao giờ rời xa nhiệm vụ, lí tưởng cách mạng: Anh lên xe trời đổ cơn mưa/Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ/Em xuống núi nắng về rực rỡ/Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư (Phạm Tiến Duật) Thơ nữ xây dựng hình tượng “Anh” trong một cái nhìn có nét khác biệt Đó là người anh của niềm cảm phục, tự hào, là tấm gương để các chị noi gương, phấn đấu (Anh phi công, anh lính lái xe - Xuân Quỳnh, anh Trỗi - Phan Thị Thanh Nhàn) Nhưng nhiều nhất trong thơ các chị vẫn là hình tượng người anh trong mối quan hệ đời thường, trong tình yêu
đôi lứa Đó có thể là người yêu, có thể là người chồng mà các chị yêu thương, mong nhớ Thơ các chị viết nhiều về người anh trong mối tương quan như thế:
Anh hãy là đầm sen Hay là nhành cỏ úa
(Xuân Quỳnh) Anh là nụ cười lần gặp mặt
Là ánh mắt tự tin những lúc khó khăn
Có cuộc đời em lại có riêng anh
(ýNhi)
“Anh đừng khen em”, “Anh có tốt không” (Lâm Thị Mỹ Dạ)… Anh là đối tượng để các chị giãi bày, chia sẻ bao dự
định, mong ước của chính mình, và nhiều khi nó đã vượt thoát khỏi tư duy
sử thi để hiện hữu lên trang thơ bằng những hình ảnh đời thường, chân thật nhất:
Sao không cài khuy áo lại anh Trời lạnh đấy, hôm nay trời trở rét
(Xuân Quỳnh) Anh ơi anh có biết không
Vì anh em buồn biết mấy Tình yêu khắt khe thế đấy Anh ơi anh đừng khen em
(Lâm Thị Mỹ Dạ)
Trang 4trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
Là người phụ nữ, điều mà họ quan
tâm nhiều nhất vẫn là tình yêu và hạnh
phúc Dẫu bị chi phối bởi cảm quan của
thời đại thì những lúc làm thơ, những
thời khắc hiếm hoi các chị được sống
đúng với lòng mình, thơ lúc ấy sẽ là
những nỗi niềm thầm kín, những tâm
sự riêng tư tự đáy lòng Hình ảnh người
“anh” xuất hiện nhiều trong thơ nữ
cũng vì lẽ đó
Cùng xuất hiện với hình ảnh “anh”
là hình ảnh “em” Thơ nữ xây dựng
hình ảnh “em” như chính là bản tự
thuật về cái tôi cá nhân của người phụ
nữ “Em”, đó có thể là em giao liên kiên
cường, gan dạ hay cô thanh niên xung
phong anh hùng, dũng cảm… Nhưng
trong thơ nữ, nhiều hơn cả vẫn là “em”
của cuộc sống đời thường - “em” của
những thao thức, khao khát trong tình
yêu đôi lứa, của những bộc bạch thầm
kín, riêng tư
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức
(Xuân Quỳnh) Tình em như hương cau
Phải anh là ngọn gió
(Hương cau - Lâm Thị Mỹ Dạ)
Đốt lòng em câu hỏi
Yêu em nhiều không anh?
(Xuân Quỳnh) Không có sự cách điệu của nghệ
thuật, không còn bị chi phối bởi tư duy
sử thi, thơ chỉ là những lời nói tự đáy
lòng người phụ nữ Hình ảnh “em” hiện
lên trong thơ với tất cả yêu thương,
khao khát, trăn trở, day dứt giữa cuộc
sống đời thường Chính sự bộc bạch một
cách chân thành những nỗi niềm thầm
kín của nhân vật “em” đã mang đến
cho thơ ca chống Mỹ một chất giọng
riêng, bổ sung vào “giọng cao” đơn nhất
của thơ lúc bấy giờ Cảm hứng đời tư đi
vào thơ ca chống Mỹ cũng từ những
hình ảnh này
Bên cạnh người yêu, người chồng, người em, trong thơ nữ thế hệ chống Mỹ còn xuất hiện hình tượng người con Hầu hết các nhà thơ nữ đều có thơ viết
về đối tượng trữ tình này Đây cũng là
điều dễ hiểu Bởi với người phụ nữ dù sống trong bất kì thời đại nào thì mối quan tâm lớn nhất của các chị vẫn là hạnh phúc tình yêu, mái ấm gia đình Con chính là hạt nhân qui tụ mọi niềm hạnh phúc ấy Dù chiến sự có diễn ra ác liệt, dù sự sống và cái chết chỉ nằm trong gang tấc, sau bao bộn bề những lo toan thường nhật, lắng sâu trong cõi lòng người phụ nữ vẫn là những khắc khoải về tình yêu, hạnh phúc, về tổ ấm gia đình Chính vì thế cho nên dẫu sáng tác trong bầu khí quyển chung của thời
đại, nhưng với sự thôi thúc của tấm lòng người mẹ các nhà thơ nữ nhiều khi
đã vượt thoát ra khỏi tư duy sử thi để viết về đứa con yêu bé bỏng của chính mình Xuân Quỳnh ngay giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt vẫn liên tục cho ra đời một loạt các bài thơ dành riêng cho con: Khi con ra đời, Ngủ ngoan bé ơi, Đưa con đi sơ tán, Con gà, Lời ru, Trưa hè, Tuổi thơ của con, Mẹ và con Lâm Thị Mỹ Dạ có Nói chuyện với con trước giấc ngủ, Trắng trong, Nếu
mẹ là; Phan Thị Thanh Nhàn có bài Hát ru, ý Nhi có Mẹ đến trường con… Nếu như hình tượng “anh” là nơi để các chị mong nhớ, lo âu và thao thức trong khát vọng hạnh phúc tình yêu, hạnh phúc gia đình, thì người con chính là tâm điểm để các chị chăm sóc, yêu thương, vỗ về bằng tất cả tấm lòng của người mẹ Cảm xúc trong thơ là tình cảm đích thực của tấm lòng người mẹ Tình cảm ấy đã chi phối cách lựa chọn
từ ngữ hình ảnh, cử chỉ để xây dựng nên hình tượng Vì vậy, thế giới trẻ thơ
đã hiện lên trong thơ thật đầy đủ và sinh động Người đọc có thể hình dung
Trang 5N T Tuyết một số đặc điểm nghệ thuật của thơ nữ , tr 66-72
về đứa con yêu từ thủa ấu thơ đến lúc
trưởng thành với tất cả những nét ngây
thơ, hồn nhiên, ngộ nghĩnh, đáng yêu
của nó:
Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi
Con chơi với đất, con chơi với hầm
Mong ngày, mong tháng, mong năm
Một năm con vịn vách hầm con đi
(Tuổi thơ của con - Xuân Quỳnh)
Nắm bắt được đặc trưng lứa tuổi,
thấu hiểu những tâm tư suy nghĩ của
trẻ thơ, các chị đã hóa thân vào tâm hồn
con trẻ để xây dựng nên những hình
tượng về trẻ thơ thật độc đáo Cuộc đời
đi vào thơ một cách chân thực, sống
động hơn, mang nhiều ý nghĩa hơn một
phần cũng từ những hình ảnh thân
thương và đáng yêu của con trẻ qua
những vần thơ như thế
4 Vì đặc trưng của thiên tính nữ là
yêu thích những gì nhỏ bé, giản dị, dễ
thương, thơ các chị cũng thường quan
tâm đến những chi tiết “nhỏ nhặt”
Khác với các nhà thơ nam giới thường
chú ý đến những chi tiết hoành tráng
đậm nam tính, các nhà thơ nữ đã lựa
chọn những gì quen thuộc, gắn bó với
cuộc sống của mỗi một con người, như
tiếng dế, tiếng gà nhảy ổ, lời mẹ ru
con… để đưa vào thơ:
Trên đường hành quân xa
Dừng chân bên xóm nhỏ
Tiếng gà ai nhảy ổ
“Cục…cục tác cục ta”
(Xuân Quỳnh) Tiếng gà cục tác vẳng đến trên
đường hành quân giữa thời mưa bom
bão đạn Âm thanh ấy gọi về cuộc sống
bình yên ngàn đời nơi quê hương thôn
dã Việt Nam Âm thanh ấy thật đời
thường, quen thuộc nhưng nó lại có sức
tỏa lan mãnh liệt Nó ngân vang sự
sống bất diệt, như thách thức với kẻ thù
về sự hủy diệt tàn bạo của chúng Sau
bao oanh tạc của kẻ thù sự sống vẫn sinh sôi nảy nở, cuộc sống lại trở về bình yên Với cách nhìn như thế nên mục đích chiến đấu, lí tưởng cách mạng của người lính trẻ trong thơ cũng thật giản dị:
Cháu chiến đấu hôm nay Vì lòng yêu Tổ quốc
Vì tiếng gà cục tác
ổtrứng hồng tuổi thơ
(Xuân Quỳnh)
Để làm nổi bật sự tàn khốc của chiến tranh, sự gian lao, vất vả cũng như sự kiên cường, lạc quan của con người Việt Nam, các chị đã không tìm
đến những chi tiết có ý nghĩa biểu tượng mang tầm khái quát như: Việt Nam máu và hoa (Tố Hữu), Nhân dân tấm lá chắn diệu kì (Chế Lan Viên)…
mà tìm đến những chi tiết rất đỗi quen thuộc: cát, ngọn cỏ, ngọn rau, cái tã, lời
ru con của người mẹ, tiếng cười, tiếng khóc của trẻ thơ… Hiện thực chiến tranh hiện hình trên từng hình ảnh tưởng chừng như nhỏ nhặt nhất Đau
đáu trong lòng nỗi nhớ quê, lời hỏi thăm của những người lính về quê nhà nghe sao mà nhức nhối: - Đất quê mình cỏ
đã mọc lên chưa? (Xuân Quỳnh) Một câu hỏi bình thường nhưng ẩn chứa trong đó bao xót xa, thương cảm Nó gọi
về trong thơ rõ mồn một hiện thực tàn khốc của chiến tranh và cả nỗi đau lòng của bao người con yêu quê khi phải chứng kiến trong xa cách hình ảnh quê hương mình bị tàn phá, hủy diệt Chỉ bằng những chi tiết nhỏ nhặt như thế, thơ nữ vừa tái hiện trên những trang thơ hiện thực chiến tranh, vừa làm hiện hữu cả đời sống tâm hồn của con người Việt Nam trong thời lửa đạn
Chiến tranh đồng nghĩa với mất mát và hi sinh Thơ nữ lại có một cách lựa chọn chi tiết riêng khi viết về điều
Trang 6trường Đại học Vinh Tạp chí khoa học, tập XXXVIIi, số 2b-2009
đó Hình ảnh “hố bom” không còn mới lạ
trong thơ chống Mỹ Nhưng tìm đến với
“khoảng trời hố bom” thì có lẽ chỉ có
Lâm Thị Mỹ Dạ “Khoảng trời” ấy nói
với chúng ta nhiều điều về cô gái thanh
niên xung phong Chị đại diện cho Tổ
quốc, cho nhân dân Chị là hình tượng
bất tử về lí tưởng cao đẹp, về đức hi
sinh, về lòng dũng cảm…Tuy nhiên,
những điều này ta đã bắt gặp đâu đó
trong thơ của một số nhà thơ nam giới
Nhưng, có một chi tiết thật nhỏ nhặt
nhưng nó lại gây xúc động sâu xa trong
lòng người đọc Nếu không có sự tinh tế,
mẫn cảm của tâm hồn người phụ nữ
chắc gì Lâm Thị Mỹ Dạ đã chọn để
thành thơ
Có phải thịt da em mềm mại trắng trong
Đã hóa thành những làn mây trắng
(Khoảng trời, hố bom - Lâm Thị Mỹ Dạ)
Một chi tiết, một hình ảnh đậm
chất đời thường Nó không hàm ẩn
khẩu khí của người xả thân vì lí tưởng
Nó chỉ là những chi tiết có thật trong
cuộc đời, nhưng lại có sức ám ảnh ghê
gớm Đọc câu thơ ta thoáng rùng mình
Vì nuối tiếc, vì đớn đau, và vì cả tự hào,
ngưỡng mộ Ngày ấy đã có biết bao
người con gái như em, tuổi đời còn rất
trẻ… Lâm Thị Mỹ Dạ thấm thía nỗi
đau có thực này, chị đã tìm đến nhờ thơ
hóa giải mọi nuối tiếc, bất tử hóa cho
những người con gái “trẻ măng” ấy
Cuộc sống thời chiến thật bất bình
thường Nỗi lòng của con người trong
cuộc chiến vì thế cũng thường ngổn
ngang trăm mối Thơ nữ đã gợi thức về
thế giới tình cảm ấy cũng từ những chi
tiết nhỏ nhặt Khi viết về tình mẹ, để
nói lên sự hi sinh, vất vả của người mẹ,
thơ nữ đã tìm đến những chi tiết thật
đời thường nhưng đầy ám ảnh:
Mẹ ru con hạt cát sạn hàm răng
(Xuân Quỳnh)
Đọng lại cuối cùng sau bao chiêm
nghiệm, thấm thía vẫn là cái tình của
mẹ Lời mẹ ru con thấm cái mặn mòi của thiên nhiên khắc nghiệt, thấm cái cay cực, tảo tần lam lũ của một đời khốn khó Người lính nơi chiến trường nhớ mẹ, nghĩ về mẹ trong những nỗi niềm như thế sẽ vững vàng và quyết liệt hơn khi chống chọi với kẻ thù Thơ không nói nhiều, chỉ từ một chi tiết ngỡ như nhỏ nhặt ấy nhưng nó cứ ám ảnh mãi người đọc
Ngay cả khi viết về tình yêu thơ nữ cũng có một cách lựa chọn như thế Không rực rỡ chói ngời sắc đỏ, tươi như cánh nhạn lai hồng (Cuộc chia li màu
đỏ - Nguyễn Mỹ), những gam màu tượng trưng cho lí tưởng và khát vọng… thơ nữ tìm đến với chút “hương thầm” dịu nhẹ, đầm ấm, thanh tao (Hương thầm - Phan Thị Thanh Nhàn) để nói về tình yêu và lí tưởng sống của thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ Đi suốt cả bài thơ không có lời tỏ tình, thề thốt của tình yêu, cũng không có sự hô hào của một con người nén tình riêng vì lí tưởng cách mạng, chỉ có hương bưởi âm thầm tỏa lan, quấn quýt Thế mà chút “hương thầm” ấy cứ thấm mãi, ngấm mãi trong tâm hồn bao thế hệ về vẻ đẹp của tình yêu cũng như lí tưởng sống cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam một thời lửa đạn Việc lựa chọn các chi tiết nhỏ nhặt trong cuộc sống hằng ngày để đưa vào thơ thể hiện quan niệm thẩm mĩ của các nhà thơ nữ Điều này một mặt do sự chi phối của lối tư duy mang thiên tính nữ; mặt khác nó cũng nằm trong xu hướng chung của lớp nhà thơ trẻ thời chống Mỹ: gia tăng chất liệu hiện thực
đời sống trong thơ Chính sự quan tâm những chi tiết nhỏ nhặt đã trả thơ về với cuộc sống vốn có của nó, đã mở rộng phạm vi phản ánh cũng như chất liệu cho thơ Đi từ những chi tiết nhỏ nhặt,
Trang 7N T Tuyết một số đặc điểm nghệ thuật của thơ nữ , tr 66-72 những rung động đời thường để khái
quát thành những vấn đề về nhân sinh,
về lẽ sống, thơ nữ dễ đi vào lòng người,
dễ được bạn đọc đón nhận Thơ ca chống
Mỹ phong phú, đa dạng hơn trong mọi
dạng thức biểu hiện một phần cũng nhờ
những đóng góp trên của thơ nữ
Tóm lại, xét riêng về phương diện
nghệ thuật, với cách khắc hoạ riêng về những hình tượng chung, xây dựng một
số hình tượng mang thiên tính nữ và sự quan tâm đến các chi tiết nhỏ nhặt đời thường thơ nữ thế hệ chống Mỹ đã để lại một dấu ấn riêng, độc đáo trong nền thơ cách mạng giai đoạn 1965-1975
Tài liệu tham khảo
[1] Vũ Tuấn Anh, Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1954-1975, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1979
[2] Phong Lê, Vũ Văn Sĩ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ, Thơ Việt Nam hiện đại, NXB Lao động, Hà Nội, 2002
[3] Vũ Tiến Quỳnh, Anh Thơ, Vân Đài, Lâm Thị Mỹ Dạ, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, 1998
[4] Lưu Khánh Thơ, Thơ và một số gương mặt thơ hiện đại, NXB Khoa học Xã hội,
Hà Nội, 2005
Summary
The art prominence in poems by woman poets
of Anti - American war generation period from 1965 to 1975
In this paper, we studied the art prominence in poems by woman poets of Anti- American war generation from 1965 to 1975 With their own building of popular images to build some typical images for woman inborn character, caring for the common details, women poetry has left a special, unique mark in Revolution poems